Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – PHÕNG GIAO DỊCH ĐÔNG CỨU

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhiều chuyên gia kinh tế ở Việt Nam cho rằng khái niệm doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở Việt Nam và sau đó là khái niệm doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ được du nhập từ
nước ngoài vào Việt Nam bắt nguồn từ cụm từ SMEs (Small and medium enterprises).
Theo cộng đồng Châu Âu (EU), doanh nghiệp vừa và nhỏ là một công ty độc lập có ít
hơn 250 lao động và/hoặc doanh thu hàng năm không quá 40 triệu Euro hoặc tổng tài
sản trên bảng cân đối kế toán không quá 27 triệu Euro.Theo Quỹ phát triển khu vực
Châu Âu (European Regional Development Fund Grant), doanh nghiệp vừa và nhỏ là
những công ty sử dụng ít hơn 250 người, có doanh thu nhỏ hơn 50 triệu Euro hoặc
tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán không quá 43 triệu Euro, và không bị sở hữu quá
25% bởi một chủ thể không phải là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ trước tiên
phải dựa vào quy mô của doanh nghiệp. Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công,
vốn đăng kí, doanh thu,…các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương
trình phát triển khác nhau.
Theo điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của chính phủ ngày 23 tháng 11 năm
2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo đó định nghĩa: Doanh
nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo

pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình
hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của
ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có
thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ
tiêu nói trên.
Còn theo khoản 1 Điều 3 nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ ngày 30 tháng 06 năm 2009 có ghi: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ
sở kinh doanh đẫ đăng kí kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp:
siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài
sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình
quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể trong bảng 1.1. Phân loại doanh
nghiệp vừa và nhỏ theo số lao động, khu vực và tổng nguồn vốn được nhắc đến trong
phần phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tại điểm a khoản 1 thông tư số 16/2013/TT-BTC, ban hành ngày 08 tháng 02
năm 2013 (Hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách nhà
1

Thang Long University Library


nước theo nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của chính phủ về một
số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ
xấu) thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhận dạng như sau: Doanh nghiệp có quy mô
vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác
xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm
không quá 20 tỷ đồng) (gọi chung là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ).
Tóm lại doanh ngiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh theo pháp luật hiện
hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình năm không
quá 300 người. Tại Việt Nam quy mô vốn trung bình của các DNVVN vẫn ở mức
khiêm tốn, với gần 50% số DNVVN có mức vốn dưới 1 tỷ đồng, gần 75% DNVVN có
mức vốn dưới 2 tỷ đồng và 90% DNVVN có mức vốn dưới 5 tỷ đồng. [11]
1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam được nhận định là sẽ có những bước phát
triển mạnh về số lượng và quy mô trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều
thành phần. Tuy nhiên trước tình hình khó khăn do dư âm của khủng hoảng kinh tế
khiến một lượng lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ giải thể, phá sản song đây cũng là bài
học kinh nghiệm để các doanh nghiệp có thể thận trọng hơn trong những năm tiếp theo
bởi doanh nghiệp vừa và nhỏ có những đặc điểm sau:
Một là, doanh nghiệp vừa và nhỏ có tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt,

gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp
qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp vừa
và nhỏ có tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ có thể dễ dàng phát hiện thay đổi
nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng
động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén. Ví dụ như một doanh nghiệp vừa và nhỏ dưới sự quản
lý của một giám đốc và kế toán cũng như thủ quỹ là người nhà của anh ta với xưởng
sản xuất tại gia, người đó có thể dễ dàng kiểm soát cũng như toàn quyền ra quyết định
cá nhân một cách nhanh chóng.
Hai là, doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lao động không nhiều và chủ yếu sử dụng
lao động tại địa phương nên việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý tương đối
gọn nhẹ, quan hệ giữa người chủ doanh nghiệp và các cán bộ có sự gần gũi, thân thiết.
Vì thế nên các quyết định, chỉ tiêu, chính sách đến với người lao động một cách nhanh
chóng không phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm chi phí.
Tuy nhiên do các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn chủ yếu sử dụng lao
động là người trong địa phương. Hơn nữa trình độ tay nghề, học vấn của lao động ở
khu vực này rất thấp. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2012 số người có trình
2


độ trung cấp trở lên chỉ chiếm 9,8%; số người là nghệ nhân trong các làng nghề chiếm
0,06%. Theo điều tra thị trường lao động của Tổng cục dạy nghề năm 2012, trong các
doanh nghiệp được điều tra, số lao động được gọi là có trình độ cao, lành nghề chỉ
chiếm khoảng 23%, trong đó ở các DNVVN là 25%. Khả năng thích ứng và khả năng
hợp tác, làm việc theo nhóm của người lao động trong các DNVVN còn thấp do không
qua các trường lớp đào tạo chuyên nghiệp. Mặt khác, người lao động lành nghề và cả
lao động quản lý, khả năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ còn yếu, nên gặp nhiều khó
khăn trong hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài. Ví dụ như một doanh
nghiệp chuyên sản xuất phụ tùng xe đạp điện cho đối tác là người Trung Quốc song lại
không biết tiếng Trung Quốc sẽ gây khó khăn trong giao tiếp, ký kết hợp đồng.
Bên cạnh đó công tác đào tạo tay nghề cho lao động lại chưa được các doanh
nghiệp thực sự quan tâm, theo Tổng cục dạy nghề năm 2012 thì chỉ mới có khoảng gần
6% doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về tay nghề. Những hạn chế về tay nghề của đội
ngũ lao động làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời làm tăng chi phí về sư
dụng lao động của doanh nghiệp. Cùng một sản phẩm người lao động có tay nghề cao
sẽ sản xuất trong thời gian nhanh hơn và tốt hơn, ngược lại người lao động tay nghề
thấp sẽ làm lâu hơn, kém hơn phải làm lại, gây tốn kém thời gian, tốn nguyên vật liệu.
Ba là, đội ngũ chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý doanh nghiệp vừa
và nhỏ còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý. Trong số các DNVVN
cũng có những chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, có trình độ chuyên môn khá cao và
năng lực quản lý tốt; tuy nhiên số này còn chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ doanh
nghiệp và giám đốc tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn
thiếu kiến thức kinh tế xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng
lực kinh doanh quốc tế. Theo Tổng cục thống kê năm 2012 thì 55,63% số chủ doanh
nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp
có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Do những hạn chế đó, một số
người có khuynh hướng hoạt động theo kinh nghiệm, chưa có tầm nhìn chiến lược,
thiếu kiến thức về quản lý tổ chức, về phát triển thương hiệu, về cạnh tranh, về máy
tính và công nghệ thông tin. Một số chủ doanh nghiệp thậm chí mở công ty chỉ vì có
sẵn tiền vốn và thích làm kinh doanh trong khi hoàn toàn thiếu kiến thức và kỹ năng về
kinh doanh, vì vậy dẫn đến nhiều rủi ro và thất bại.
Bốn là, doanh nghiệp vừa và nhỏ cần ít diện tích xây dựng cơ sở sản xuất, có khả
năng phân tán sản xuất, không nhất định phải tập trung sản xuất ở một phân xưởng
lớn, có thể thâm nhập dễ dàng vào các thị trường nhỏ lẻ mà các doanh nghiệp lớn còn
bỏ ngỏ như tại các địa phương nơi doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động.

3

Thang Long University Library


Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa xây dựng được các thương
hiệu mạnh, tính cạnh tranh còn thấp. Đặc biệt tại các vùng nông thôn của Việt Nam,
thương hiệu mang tính chất làng nghề truyền thống, lao động thủ công, gắn liền với
địa danh, lịch sử phát triển là lâu đời song mô hình không tập trung, sản xuất nhỏ lẻ
như lụa Hà Đông, bưởi Phúc Trạch, đúc đồng Đại Bái, tre Xuân Lai, sắt thép Đa Hội...
dẫn đến thương hiệu, uy tín mai một theo thời gian. Xây dựng và phát triển thương
hiệu là một vấn đề quan trọng giúp DNVVN có thể cạnh tranh trên thị trường trong và
ngoài nước mang sản phẩm của Việt Nam ra với thị trường quốc tế.
Năm là, doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu sử dụng công nghệ lạc hậu và chậm
đổi mới làm hạn chế năng suất và sản lượng, chất lượng sản phẩm, làm tăng chi phí
sản xuất. Cũng Theo Tổng cục thống kê năm 2012 thì khoảng 80 - 90% máy móc và
công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp của Việt Nam là nhập khẩu và 76% từ thập
niên 1980 - 1990, 75% máy móc và trang thiết bị đã hết khấu hao. Điều này khiến
doanh nghiệp không thể đáp ứng yêu cầu sản phẩm của khách hàng làm hạn chế năng
lực cạnh tranh của DNVVN. Các sản phẩm sản xuất chất lượng thấp, khó đáp ứng
được tiêu chuẩn xuất khẩu nên chỉ phục vụ thị trường trong nước, thậm chí trong một
địa phương nhỏ hẹp.
Sáu là, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thiếu thông tin, khó khăn trong tiếp cận thị
trường tài chính. Các DNVVN hiểu biết hạn chế về chính sách cho vay của ngân hàng
thương mại, có tâm lý sợ thủ tục vay vốn của ngân hàng rườm rà, phức tạp, việc giải
quyết cho vay của ngân hàng khó khăn. Phần lớn các DNVVN khi làm thủ tục vay vốn
của ngân hàng không đúng quy định mà ngân hàng yêu cầu, cung cấp không đủ chứng
từ liên quan đến các bộ hồ sơ, dẫn đến không được ngân hàng chấp nhận cho vay.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động hiện nay gặp nhiều khó khăn như khó khăn công
nghệ, hiệu quả sản xuất thấp, hàng tồn kho lớn... Trong đó đặc biệt là khó khăn về
thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh. Trong đó, 55% trở ngại cho các DNVVN hiện nay
đến từ thủ tục vay do hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn giản cho
doanh nghiệp, 50% trở ngại đến từ yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế
chấp, các ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các
khoản thu...), 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp, các điều kiện vay vốn chưa khả thi.
Hiện nay chỉ có 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được vốn từ ngân hàng;
70% còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay từ các nguồn khác, trong đó có nhiều
doanh nghiệp vẫn chịu vay ở mức lãi suất 15% - 18%.. [11]
Nhiều doanh nghiệp, nhất là các công ty trách nhiệm hữu hạn, tài sản pháp nhân
và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngân hàng rất khó thẩm định, đánh giá
về năng lực thực sự của doanh nghiệp. Thực chất các công ty trách nhiệm hữu hạn ở
4


nông thôn hiện nay qua tiến hành nghiên cứu với số mẫu khá nhỏ chia làm ba loại.
Thứ nhất, đó là các doanh nghiệp vốn trên thực tế chỉ là của một nhà đầu tư, khi đăng
kí dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ đầu tư đã ghi tên con cái, anh em bà
con thân thích trong gia đình vào làm thành viên góp vốn. Trên thực tế, sở hữu vốn và
mọi quyết định kinh doanh đều do chủ đầu tư thực hiện. Loại thứ hai là các doanh
nghiệp trong đó các thành viên có đóng góp vốn ít nhiều để cùng nhau kinh doanh,
nhưng thường thì sự đóng góp này mang tính chiếu lệ và các hợp đồng góp vốn thường
không rõ ràng thậm chí không có. Trường hợp thứ ba là các doanh nghiệp lúc đầu thực
hiện đăng kí góp vốn theo đúng sở hữu của các thành viên, nhưng trong quá trình kinh
doanh do quan hệ phức tạp nên các thành viên không có quan hệ thân thiết, ruột thịt đã
rút khỏi danh sách thành viên, nhượng lại vốn cho người khác trong gia đình của thành
viên còn lại.
Hệ thống sổ sách kế toán, nội dung và phương pháp hạch toán kế toán của doanh
nghiệp thường không đầy đủ, chính xác và thiếu minh bạch. Năng lực tài chính của
doanh nghiệp yếu, các hệ số tài chính không đảm bảo theo yêu cầu của ngân hàng bởi
vậy không tính toán được đúng khả năng trả nợ trong tương lai. Một số lớn các
DNVVN lập phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư còn mang nặng
tính cá nhân, áp đặt của lãnh đạo doanh nghiệp, hoặc dựa trên kinh nghiệm tự có. Nội
dung của phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đôi khi được phân
tích và lập một cách sơ sài, bởi vậy thiếu thuyết phục ngân hàng khi xem xét thẩm
định cho vay.
1.1.3. Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu và quy định khác nhau tuỳ
theo từng nơi. Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: chỉ tiêu định tính
và chỉ tiêu định lượng. Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của
doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, mức độ phức tạp
của quản lý thấp....Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề
nhưng thường khó xác định trên thực tế nên ít được sử dụng. Nhóm tiêu chí định lượng
có thể dựa vào quy mô của doanh nghiệp với các tiêu chí như số lao động, giá trị tài
sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó: Số lao động có thể dao động trong danh
sách lao động thường xuyên và lao động thực tế; Tổng tài sản hay vốn, tài sản hay vốn
cố định, giá trị tài sản còn lại; Tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm. Trong
các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Cũng có một số
tiêu chí khác tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước.
[3] Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính
tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
5

Thang Long University Library


 Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì thị số
các chỉ tiêu càng tăng lên. Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì có chỉ
số về lao động, vốn để phân loại DNVVN sẽ thấp hơn so với các nước phát triển. Ví
dụ như tại Singapore thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có số lao động nhỏ
hơn 100 người và tổng số vốn nhỏ hơn 499 triệu USD.
 Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều
lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất,
điện... Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chiếu trong phân loại các
DNVVN giữa các ngành với nhau.
 Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy mô doanh
nghiệp cũng khác nhau. Do đó cần tính đến cả hệ số vùng để đảm bảo tính tương thích
trong việc so sánh quy mô doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau.
 Tính lịch sử: một doanh nghiệp trước đây được coi là lớn, nhưng với quy mô
như vậy, hiện tại hoặc tương lai có thể được coi là vừa hoặc nhỏ.
 Mục đích phân loại: khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau tuỳ theo
mục đích công việc phân loại.
Bảng 1.1 Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo số lao động, khu vực và
tổng nguồn vốn
Quy mô

DN siêu nhỏ

Khu vực

Số

Số lao

Tổng

lao động

động

nguồn vốn

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp vừa
Số lao động

Tổng
nguồn vốn

Nông lâm

10 người trở

Từ trên 10 Từ 20 tỷ

Tử trên 200

Từ trên 20

nghiệp và
thủy sản

xuống

người đến
200 người

người đến
300 người

tỷ đồng đến
100 tỷ đồng

Công
nghiệp và
xây dựng

10 người trở
xuống

Từ trên 10 Từ 20 tỷ
người đến đồng trở
200 người xuống

Tử trên 200
người đến
300 người

Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng

Thƣơng
mại và
dịch vụ

10 người trở
xuống

Từ trên 10 Từ 10 tỷ
người đến đồng trở
50 người
xuống

Tử trên 50
người đến
100 người

Từ trên 10
tỷ đồng đến
50 tỷ đồng

đồng trở
xuống

(Nguồn: khoản 1 Điều 3 nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ ngày 30 tháng 06 năm 2009)

6


1.1.4. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại
hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay cũng
như đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế Việt Nam. Tính đến thời điểm năm 2015,
cả nước có 495.000 doanh nghiệp, trong đó số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm
tới 96%.
Có thể khẳng định, DNVVN đống một vai trò vô cùng quan trọng đối với kinh
tế- xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay. Số tiền thuế và phí mà các doanh nghiệp vừa
và nhỏ đã nộp cho Nhà nước tăng 18,4 lần sau 10 năm. Hoạt động kinh tế từ doanh
nghiệp vừa và nhỏ đóng góp 40% GDP, 30% tổng thu ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên,
trong giai đoạn khó khăn vừa qua, doanh thu và lợi nhuận của nhóm doanh nghiệp vừa
và nhỏ đang bị thu hẹp, chi phí sản xuất tăng cao khiến lợi nhuận giảm. Tỷ lệ doanh
nghiệp kinh doanh có lãi giảm từ 64,12% năm 2010 xuống còn 34,12% vào hết tháng
9/2013. Cũng theo tổng cục thống kê giai đoạn 2011-2015, doanh nghiệp vừa và nhỏ
đóng góp 40% GDP cả nước, 30% tổng thu ngân sách nhà nước, tạo thêm 3,5-4 triệu
việc làm mới.
Nếu như các doanh nghiệp lớn thường có trụ sở ở các thành phố lớn thì doanh
nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở các địa phương, góp phần phát triển kinh tế, tạo
công việc cho các lao động tại địa phương đó, góp phần xóa đói giảm nghèo tại những
vùng, địa phương đó.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ với số lượng đông đảo, quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh
hoạt động kinh doanh sản xuất của mình cho phù hợp với giai đoạn phát triển của nền
kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động hơn.
1.2. Tổng quan về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
Cho vay của ngân hàng thương mại là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng
giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang doanh nghiệp vay (người sử dụng) sau một thời
gian nhất định quay trở lại NHTM với giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Hay có thể
hiểu cho vay NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách
chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên người vay (khách hàng vay) để sử dụng trong
một thời gian nhất định gắn với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi
đến hạn. [8, Tr 40]
Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. [5, Tr 53]
7

Thang Long University Library


Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại là việc người cho
vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên vay (khách hàng vay cụ
thể đối tượng là các DNVVN) sử dụng trong một thời gian nhất định với mục đích đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi doanh nghiệp nhận vốn
vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa
ngân hàng và doanh nghiệp. Dựa vào thời hạn, cho vay DNVVN cũng được chia thành
vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
1.2.2. Nguyên tắc cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cũng như các đối tượng doanh nghiệp khác, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
cũng phải đảm bảo tuân thủ nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại.[8, Tr 41]
Một là, tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng
tín dụng. Mọi khoản vay đều phải được xác định trước mục đích kinh tế, các DNVVN
có nhu cầu vay vốn phải trình bày được mục đích vay vốn, gửi cho ngân hàng các kế
hoạch hay dự án sản xuất kinh doanh, các tài liệu kế toán để ngân hàng xem xét cho
vay và phải cam kết sử dụng tiền vay đúng mục đích ghi trong hợp đồng. Ngân hàng
có trách nhiệm kiểm soát việc sử dụng vốn của doanh nghiệp và áp dụng các biện pháp
chế tài thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng khi doanh nghiệp
sử dụng vốn sai mục đích.
Hai là, tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi. Đại đa số
nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là nguồn vốn huy động từ khách hàng
gửi tiền. Sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định khách hàng vay tiền, ở đây là
doanh nghiệp vừa và nhỏ phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại
cho khách hàng gửi tiền. Nếu ngân hàng không thu hồi hoặc không thu hồi đúng hạn
các khoản vay thì có khả năng dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản. Để có có
thể thực hiện nguyên tắc này trong quản lí vốn vay ngân hàng phải xác định thời hạn
cho vay, các kì hạn nợ của từng khoản vay, đồng thời thường xuyên theo dõi đôn đốc
khách hàng trả nợ.
1.2.3. Điều kiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể vay vốn của ngân hàng khi họ thỏa mãn tất
cả các điều kiện vay vốn của ngân hàng thương mại.[8, Tr 43]
Một là, doanh nghiệp phải có đủ tư cách pháp lý. Quan hệ tín dụng giữa doanh
nghiệp và ngân hàng được pháp luật bảo vệ cho nên các chủ thể tham gia phải có tư
cách pháp lý. Doanh nghiệp vừa và nhỏ phải có năng lực pháp lý và chịu trách nhiệm
trước pháp luật theo quy định,điều kiện “Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành
8


vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật”, quy định của luật
Doanh nghiệp năm 2014.
Hai là, vốn vay phải được sử dụng hợp pháp, vốn vay phải được sử dụng hợp
pháp và mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với đăng kí kinh doanh của DNVVN. Nếu
DNVVN sử dụng vốn vay bất hợp pháp thì tài sản đó sẽ bị phong tỏa hoặc bị tịch thu,
tư cách pháp lý của khách hàng có thể bị mất, ảnh hưởng tới mối quan hệ tín dụng hợp
pháp giữa ngân hàng với khách hàng.
Ba là, phải có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo hoàn trả tiền vay đúng
hạn đã cam kết. DNVVN có tình hình tài chính lành mạnh tức là doanh nghiệp có khả
năng quản lý tốt, chứng minh sự phát triển ổn định của doanh nghiệp, doanh nghiệp có
cơ sở vững chắc về tài chính, đảm bảo cam kết hoàn trả tiền vay đúng hạn.
Bốn là, phải có phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi và hiệu quả để đảm
bảo nguyên tắc sinh lời. Bởi trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại,
nguồn thu từ dự án vay vốn được coi là nguồn thu “thứ nhất” đảm bảo an toàn vốn
cũng như sự phát triển của doanh nghiệp và ngân hàng.
Năm là, phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định. Bởi đảm bảo tiền vay là
công cụ đảm bảo cho trách nhiệm, nghĩa vụ trong quan hệ vay vốn giữa doanh nghiệp
và ngân hàng, đây cũng là nguồn thu thứ hai của ngân hàng thương mại (trong trường
hợp khách hàng không trả được nợ).
1.2.4. Các hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
Dựa trên quyết định 1627/2001 Quy chế cho vay và quyết định 127/2005 sửa dổi
1627 về quy chế cho vay, [12, Tr 358] thì cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể có
các hình thức sau:
1.2.4.1. Hình thức cho vay theo món (từng lần)
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn
mức thấu chi. Chỉ khi doanh nghiệp có nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ, hay mở rộng
sản xuất đặc biệt doanh nghiệp mới vay ngân hàng.
Mỗi lần vay doanh nghiệp phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng
vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích hồ sơ xin vay và ký hợp đồng cho vay, xác định quy
mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu tài sản đảm bảo nếu
cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.
Số tiền cho vay được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, giá trị
tài sản đảm bảo, khả năng hoàn trả của doanh nghiệp, khả năng nguồn vốn của ngân
hàng.
9

Thang Long University Library


Nhu cầu vốn
Số tiền cho vay =

sản xuất kinh

Vốn chủ sở hữu
tham gia



doanh



Các nguồn vốn
khác tham gia

Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Số tiền cho vay

=

Giá trị tài sản đảm bảo



Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản
đảm bảo

Theo từng kỳ hạn trả nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá
trình doanh nghiệp sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử
dụng vốn. Nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn
hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời gian tính lãi.
Hình thức cho vay từng lần tương đối đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng
món vay tách biệt, tiền cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo của doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
1.2.4.2. Hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng
Hình thức này thường được ngân hàng áp dụng cho đối tượng các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có nhu cầu vay vốn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá
trình sản xuất kinh doanh. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì
trong một thời gian nhất định mà ngân hàng và doanh nghiệp đã thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng. Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi
khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, tạo sự chủ động quản lý ngân quỹ cho
khách hàng. Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên
ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề
khi doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút. Cho vay thao
hạn mức tín dụng có ưu điểm là thủ tục đơn giản, doanh nghiệp chủ động được nguồn
vốn vay, lãi trả cho ngân hàng thấp..
1.2.4.3. Hình thức cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng.
Ngân hàng chấp thuận cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được sử dụng số vốn vay
trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền
mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng. Khi cho
vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp phải tuân theo các
quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng
thẻ tín dụng như quyết định 23-NHNN/QĐ của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt
Nam ngày 06-03-1991 về việc ban hành thể lệ tín dụng trung hạn, dài hạn đối với các
tổ chức kinh tế.
10


1.2.4.4. Hình thức cho vay theo dự án đầu tư
Ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Doanh
nghiệp phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình
thực hiện dự án sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp có tình hình tài chính vững
mạnh là cơ sở để ngân hàng quyết định cho vay để thực hiện dự án.
1.2.4.5. Hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn
trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để giúp doanh nghiệp chủ động thu xếp các
nguồn vốn cần thiết nhằm thực hiện dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất
kinh doanh. Doanh nghiệp được phép rút vốn trog thời hạn hiệu lực rút vốn của hợp
đồng tín dụng dự phòng.
1.2.4.6. Hình thức cho vay trả góp
Ngân hàng và doanh nghiệp vừa và nhỏ xác định thỏa thuận số lãi vốn vay phải
trả cộng với nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
Cho vay trả góp thường được áp dụng với các khoản vay trong trung và dài hạn, tài trợ
cho các tài sản cố định hoặc hàng hóa lâu bền.
Cho vay trả góp với doanh nghiệp vừa và nhỏ rủi ro cao do doanh nghiệp thường
thế chấp hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của
doanh nghiệp. Vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất
trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
1.2.4.7. Hình thức cho vay luân chuyển vốn
Doanh nghiệp vừa và nhỏ khi đi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho
vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Doanh nghiệp cam kết các
khoản vay sẽ được trả cho người bán. Theo đó, giá trị hàng hóa mua vào (có hóa đơn
hợp pháp, hợp lệ đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay, thu nhập
bán hàng đều là nguồn chi trả cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất
định tùy theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của doanh nghiệp. Các khoản
phải thu và cả hàng hóa trong kho sẽ trở thành vật đảm bảo cho khoản vay.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt
động trong lĩnh vực thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn
ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các doanh nghiệp, thủ tục vay chỉ cần
thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Doanh nghiệp được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

11

Thang Long University Library


thanh toán cho người cung cấp. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu
thụ hàng hóa sẽ khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn.
1.2.4.8. . Cho vay theo hạn mức thấu chi
Là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép doanh nghiệp vừa và nhỏ chi
trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong
thời gian xác định. Giưới hạn này là hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi doanh nghiệp vừa và nhỏ xin ngân hàng hạn mức thấu chi và
thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá trình hoạt
động, DNVVN có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi,…vượt quá số dư tiền gửi để chi trả
song trong hạn mức thấu chi.
Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là
không có đảm bảo, có thể cấp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong vài ngày trong
tháng, vài tháng trong năm để doanh nghiệp có thể trả lương, chi trả các khoản phải
nộp, mua hàng,…. Tuy nhiên hình thức này chỉ áp dụng với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
1.2.5. Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Cho vay là một hoạt động rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro, đặc biệt với đối
tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng cần phải thiết lập một quy trình cho vay
đúng đắn, tiết kiệm thời gian, chi phí cho cả ngân hàng và khách hàng. Để đảm bảo an
toàn vốn trong kinh doanh ngân hàng thì hoạt động cho vay cần phải tuân thủ nghiêm
ngặt quy trình cho vay.
Quy trình cho vay là một trình tự các bước cụ thể, được soạn thảo với mục đích
giúp cho quả trình cho vay được diễn ra một cách thống nhất, khoa học, hạn chế phòng
ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phấn đáp ứng nhu cầu vay vốn của
DNVVN.
Hầu hết các ngân hàng thương mại tự thiết kế cho mình một quy trình cho vay
riêng bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau.Việc thiết kế quy trình phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như khả năng tổ chức quản lý, đặc điểm khách hàng. Tuy nhiên quy trình cho
vay cơ bản hiện nay bao gồm 4 bước [8, Tr 54]:
Bước 1: Thiết lập hồ sơ vốn vay
 Hồ sơ pháp lý là hồ sơ chứng minh cho ngân hàng biết về năng lực pháp luật
dân sự, năng lực hành vi nhân sự của doanh nghiệp vay vốn, bao gồm:
 Quyết định hoặc giấy phép thành lập doanh nghiệp
 Điều lệ của doanh nghiệp
 Quyết định bổ nhiệm tổng giám đốc (giám đốc, kế toán trưởng)
12


 Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
 Giấy phép đầu tư (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
 Hợp đồng liên doanh liên kết (đối với doanh nghiệp liên doanh)
 Quyết định giao vốn và các văn bản bàn giao tài sản của Cục quản lý vốn và
tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp (nếu là doanh nghiệp nhà nước)
 Biên bản góp vốn, danh sách thành viên sáng lập (nếu là công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn)
 Giấy chứng nhận vốn đầu tư ban đầu (nếu là doanh nghiệp tư nhân)
 Hồ sơ dự án (đối với cho vay trung và dài hạn)
 Hồ sơ kinh tế bao gồm
 Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kì
 Bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước liền kề với kỳ
vay vốn
 Báo cáo thực hiện sản xuất kinh doanh kỳ trước liền kề với kỳ vay vốn
 Hồ sơ vay vốn mỗi lần vay
 Giấy đề nghi vay vốn
 Dự án, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ
 Bản sao hợp đồng mua hàng hoặc báo giá, phiếu nhập kho, các chứng từ
thanh toán (nếu có)
 Hồ sơ bảo đảm tiền vay: Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản cầm cố
thế chấp, giấy tờ chứng minh năng lực quản lí, năng lực tài chính của người bảo lãnh.
Bước 2: Phân tích cho vay
Mục tiêu kinh doanh hàng đầu của các ngân hàng thương maị là lợi nhuận. Trên
con đường tìm kiếm lợi nhuận tối đa, các ngân hàng thương mại luôn gặp phải một
“rào cản” đó là rủi ro. Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro các ngân hàng thương mại đã áp
dụng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp cơ bản, có vị trí quan trọng nhất là phân tích
đánh giá một cách toàn diện các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước khi cho vay. Các ngân
hàng tập trung phân tích đánh giá những mặt chủ yếu sau:
 Năng lực pháp lý của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
 Uy tín của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
 Phân tích tài chính các dooanh nghiệp vừa và nhỏ
 Đánh giá về năng lực điều hành sản xuất kinh doanh của ban lãnh đạo các
doanh nghiệp này.
13

Thang Long University Library


 Thẩm định dự án đề nghị vay vốn
 Thẩm định đảm bảo nợ vay
Bước 3: Quyết định cho vay
Kết quả quá trình phân tích tín dụng là đưa ra quyết định cho vay. Trong thực tế
những yêu cầu vay vốn có chất lượng tốt, việc quyết định cho vay được thực hiện một
cách dễ dàng.
Đối với những khoản vay nhỏ ngân hàng thường giao quyền cho cán bộ tín dụng
quyết định. Đối với những khoản vay lớn thuộc về quyền phán quyết của hội đồng tín
dụng. Trường hợp này cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ vay vốn có trách nhiệm
kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của hồ sơ, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và phải đưa ra
được ý kiến có nên cho vay hay không cho vay và lập tờ trình hội đồng tín dụng.
Bước 4: Kiểm tra, giám sát và xử lí vốn vay
Ngân hàng thương mại có trách nhiệm và có quyền kiểm tra, giám sát quá trình
vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Giám sát và quản lý tín dụng được tiến hành từ khi phát tiền vay cho đến khi
khoản vay được hoàn trả, nhằm đôn đốc khách hàng thực hiện đúng và đầy đủ những
cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với đặc điểm hoạt động ngân
hàng và đặc điểm kinh doanh sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.3. Hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thƣơng mại
1.3.1. Khái niệm hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại
Hiệu quả (efficiency) là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với
đầu ra hàng hóa và dịch vụ. Mối tương quan này có thể được đo lường theo hiện vật,
gọi là hiệu quả kỹ thuật, hoặc theo chi phí, được gọi là hiệu quả kinh tế [10, Tr 366].
Hiệu quả (efficiency) là mối quan hệ giữa các yếu tố nhập lượng hiếm và sản
lượng hàng hóa dịch vụ. Mối quan hệ này có thể được đo lường theo điều kiện vật chất
(hiệu quả công nghệ) hoặc theo điều kiện chi phí (hiệu quả kinh tế). Nhận thức về hiệu
quả được sử dụng coi như là một tiêu chuẩn để điều chỉnh thị trường sao cho việc phân
phối tài nguyên là có hiệu quả [16].
Tóm lại hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả đạt được với hao phí bỏ ra để đạt
được kết quả đó, bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả tài chính tức là khả năng sinh lời và an toàn trong
hoạt động ngân hàng.

14


Hiệu quả xã hội tức là sự đóng góp của ngân hàng vào sự phát triển của xã hội
địa phương, quốc gia.
“Một cách đơn giản, công thức để đánh giá hiệu quả của một tổ chức gồm:
Hiệu quả tuyệt đối:
Hiệu quả hoạt động = Kết quả - Hao phí để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả tương đối:
Hiệu quả hoạt động = Kết quả/Hao phí để đạt được kết quả đó.
Hoặc hiệu quả hoạt động = Hao phí/ Kết quả.
Hoặc hiệu quả hoạt động = Mức tăng kết quả /Mức tăng hao phí.”[15]
Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện ở mối
tương quan giữa kết quả thu được và hao phí bỏ ra. Nếu xét về tổng lượng, ta chỉ thu
được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả lớn hơn hao phí, chênh lệch giữa hai đại lượng
này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng nỗ lực, trình độ quản
lý ở mỗi khâu mỗi cấp trong hệ thống công việc và gắn với việc giải quyết những yêu
cầu kinh tế với yêu cầu, mục tiêu chính trị xã hội.
Thông qua quan điểm trên có thể kết luận: Hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa
và nhỏ của ngân hàng thương mại là mối tương quan giữa lợi ích của ngân hàng khi
cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ (lãi và các khoản phí) cho các hao phí ngân hàng
phải bỏ ra để đạt được mục tiêu lợi nhuận (hiệu quả kinh tế), đồng thời góp phần gián
tiếp vào công cuộc phát triển xã hội (hiệu quả xã hội). Do đó ngân hàng muốn gia tăng
lợi nhuận, phát triển bền vững thì cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng thương mại
1.3.2.1. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
“Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng
nhất không chỉ đối với sự phát triển của doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh
tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch
vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các
nguồn vốn.
Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc sử dụng tín dụng
tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thị trường.
Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn
15

Thang Long University Library


tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho
các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp”[6].
Từ nhận xét trên cho thấy tầm quan trọng của nguồn vốn vay ngân hàng đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ
nói riêng. Dẫn đến cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ làm tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nguồn vốn vay ngân hàng là nguồn tài trợ
quan trọng với doanh nghiệp vừa và nhỏ, giải quyết nhu cầu về vốn trong thời gian
nhất định của doanh nghiệp. Tuy nhiên doanh nghiệp phải chịu áp lực về việc trả nợ
bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi, cho nên các doanh nghiệp cần phải có kế hoạch sử dụng
vốn an toàn, hợp lý mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và cũng là nguồn để trả nợ
ngân hàng.
Nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ làm tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Trước khi cho doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng phải kiểm tra
đánh giá hiệu quả khả thi phương án vay vốn của doanh nghiệp, sau khi giải ngân ngân
hàng giám sát kiểm tra quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp buộc các doanh nghiệp
phải sử dụng vốn đúng mục đích, nhạy bén với thị trường, đưa ra chiến lược cạnh
tranh với các doanh nghiệp khác, đảm bảo đầu ra tiêu thụ tốt, thu lợi nhuận về cho
doanh nghiệp.
1.3.2.2. Đối với các Ngân hàng thương mại
Nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp các ngân hàng tăng
doanh thu và lợi nhuận từ lãi vay và phí dịch vụ. Các ngân hàng thường không chú
trọng cho vay đối với các DNVVN bởi quy mô doanh nghiệp nhỏ mà rủi ro cao. Tuy
nhiên với sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại cùng sự tham gia của các
ngân hàng nước ngoài khiến môi trường ngân hàng ngày càng cạnh tranh gay gắt buộc
các ngân hàng phải quan tâm hơn tới đối tượng khách hàng này. Không như các doanh
nghiệp tập đoàn kinh tế lớn, có quan hệ với nhiều ngân hàng cùng một lúc, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ thường chỉ có quan hệ với một hoặc hai ngân hàng cho nên ngân
hàng có thể cung cấp và thu phí trọn gói các dịch vụ tài chính của mình.
Việc nâng cao hiệu quả cho vay đòi hỏi ngân hàng phải có sự phát triển toàn diện
về sản phẩm và dịch vụ của mình để có thể phục vụ tốt khách hàng điều này sẽ giúp
nâng cao uy tín và hình ảnh của ngân hàng. Đặc biệt khi ở Việt Nam, số lượng doanh
nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 96% tổng số các doanh nghiệp.
Số lượng các doanh nghiệp rất lớn, hoạt động trong nhiều lĩnh vực ngành nghề,
khoản vay của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đối nhỏ không quá tập trung vốn
nên cho vay DNVVN giúp ngân hàng phân tán rủi ro, dễ quản lý việc sử dụng vốn vay
16


của khách hàng. Quy mô của doanh nghiệp tương đối nhỏ, hoạt động trong một địa
phương xác định vì vậy ngân hàng dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu, xác minh thông tin
về doanh nghiệp và có thể sàng lọc được những khoản tín dụng tốt nâng cao hiệu quả
cho vay, tăng cường khả năng sinh lời.
1.3.2.3. Đối với nền kinh tế
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền
kinh tế. Nâng cao hiệu quả cho vay DNVVN là ngân hàng đang góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế. Khi doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được với nguồn vốn ngân
hàng thì sẽ phát triển cả về quy mô và chất lượng. Từ đó doanh nghiệp có thể thu hút
thêm lao động, tạo công ăn việc làm, giải quyết được vấn đề thất nghiệp cho nền kinh
tế. Nếu các ngân hàng thực hiện tốt, hiệu quả cho vay DNVVN, điều đó sẽ góp phần
điều chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn (doanh nghiệp vừa và nhỏ), tăng
cường sản xuất kinh doanh tạo ra của cải vật chất, kích thích sự tăng trưởng ổn định
của nền kinh tế.
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân
hàng thương mại
Để đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ thông qua các
chỉ tiêu định tính (sự tuân thủ quy trình cho vay, khả năng thu hút khách hàng,..) mà
còn phải dựa vào các chỉ tiêu định lượng (kết quả kinh doanh, tỉ lệ nợ quá hạn,..).
Đánh giá hiệu quả cho vay DNVVN bao gồm các chỉ tiêu sau [8, Tr 434]:
1.3.3.1. Các chỉ tiêu định tính
Để đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ngân hàng dựa vào các
chỉ tiêu sau:
 Sự tuân thủ quy trình cho vay.
Cho vay là một hoạt động chứa nhiều rủi ro nên khi tiến hành hoạt động cho vay
đòi hỏi cán bộ tín dụng phải luôn luôn đảm bảo tuân thủ quy trình cho vay theo đúng
quy định của ngân hàng.
 Uy tín của ngân hàng
Ngân hàng thương mại cũng như một doanh nghiệp chuyên về dịch vụ, tuy nhiên
sản phẩm của họ đặc biệt hơn, đó là những sản phẩm liên quan đến tiền tệ. Ngân hàng
có mức độ uy tín cao sẽ luôn đưa ra những gói sản phẩm tiện ích, phù hợp với khách
hàng, cũng như tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường ngân hàng. Nếu một ngân
hàng có uy tín thì ngân hàng đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến vay vốn hơn..
Điều này cũng góp phần khẳng định hiệu quả cho vay của ngân hàng.

17

Thang Long University Library


 Khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng.
Ngân hàng có khả năng đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu vay vốn hợp lý của khách
hàng là bằng chứng thể hiện hiệu quả cho vay của ngân hàng. Điều này thể hiện ở thủ
tục thuận tiện, nhanh gọn, cung cấp vốn nhanh song vẫn đảm bảo nguyên tắc an toàn,
sinh lời.
1.3.3.2. Các chỉ tiêu định lượng
Nếu các chỉ tiêu định tính chỉ mang tính chất trừu tượng, khó xác định hiệu quả
thì các chỉ tiêu định lượng bằng những con số cụ thể thông qua các chỉ tiêu sẽ giúp
Ngân hàng đánh giá một cách tương đối chính xác về hiệu quả cho vay DNVVN tại
các ngân hàng. Do đó, việc tính toán cần đảm bảo sự chính xác và đầy đủ.
Chỉ tiêu thu nhập
Tỷ trọng thu nhập từ cho vay DNVVN được tính bằng lãi thu được từ cho vay
DNVVN trên tổng thu nhập của ngân hàng. Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của
các khoản cho vay DNVVN, cho biết tỷ lệ lãi phát sinh từ cho vay DNVVN trên một
đơn vị thu nhập là bao nhiêu. Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ thu nhập từ cho vay
DNVVN càng lớn thể hiện hiệu quả cho vay DNVVN cao.
Tỷ suất lợi nhuận từ cho vay:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận cho vay DNVVN
Tỷ suất lợi nhuận từ cho vay
1
=
Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả cho vay. Chỉ tiêu này
phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay, một khoản cho vay không được
xem là có hiệu quả nếu nó không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Chỉ tiêu này có
giá trị càng cao, lợi nhuận cho vay DNVVN lớn chứng tỏ các khoản cho vay của ngân
hàng có khả năng sinh lời càng cao, đạt hiệu quả trong cho vay DNVVN của ngân
hàng. Ngoài ra khi so sánh hiệu quả cho vay DNVVN giữa các ngân hàng thương mại
không thể kết luận được hiệu quả cho vay của ngân hàng này cao hơn so với ngân
hàng khác bởi có tỷ suất lợi nhuận từ cho vay cao hơn do mỗi ngân hàng lại có một
chính sách lãi suất khác nhau. Cho nên chỉ tiêu này cũng được xét đến một cách tương
đối trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác nhằm đánh giá hiệu quả cho vay.
Tỷ trọng doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ trọng doanh số cho vay
Doanh số cho vay DNVVN
=
1
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tổng doanh số cho vay
18


Doanh số cho vay DNVVN là tổng số tiền ngân hàng cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong thời kì nhất định, tùy vào chu kì kinh tế của ngân hàng
(thường là năm). Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng
doanh số cho vay DNVVN trong tổng số cho vay của ngân hàng trong một năm. Tỷ
trọng doanh số cho vay DNVVN càng cao thể hiện ngân hàng có uy tín, cung cấp các
sản phẩm dịch vụ đa dạng, thu hút nhiều DNVVN đến vay, thể hiện hiệu quả cho vay
DNVVN.
Tỷ trọng doanh số thu nợ
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ trọng doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ DNVVN
=
1
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tổng doanh số thu nợ cho vay
Doanh số thu nợ DNVVN là tổng số vốn cho vay mà ngân hàng thu về khi cho
vay DNVVN trong một thời gian nhất định, thường tính theo năm. Ngân hàng còn sử
dụng chỉ tiêu tương đối là tỷ trọng doanh số thu nợ DNVVN trong tổng doanh soos thu
nợ của ngân hàng trong một năm. Tỷ trọng doanh số thu nợ DNVVN càng cao chứng
tỏ công tác thu nợ cho vay DNVVN của ngân hàng tốt, gặp nhiều thuận lợi. Cho thấy
DNVVN vay vốn của ngân hàng sản xuất kinh doanh có lãi, trả được nợ cho ngân
hàng. Ngược lại tỷ trọng này thấp có thể là do doanh số cho vay giảm sút hoặc công
tác thu nợ gặp khó khăn. Điều này cho thấy ngân hàng chưa đạt được hiệu quả cho vay
DNVVN.
Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay
Chỉ tiêu này giúp đo lường tốc đọ luân chuyển vốn cho vay của ngân hàng trong
một thời kỳ nhất định, phản ánh thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm
trong thời kỳ đó, và được xác định bằng công thức:
Vòng quay vốn cho vay
Doanh số thu nợ DNVVN
=
1
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Dƣ nợ cho vay DNVVN
Đây là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả cho vay của ngân hàng, phản
ánh sự quay vòng vốn nhanh hay chậm trong cho vay DNVVN. Vòng quay càng lớn,
nhanh đi cùng với số dư nợ luôn tăng chứng tỏ đồng vốn mà ngân hàng bỏ ra được sử
dụng một cách có hiệu quả, thể hiện việc thu hồi nợ tốt, tạo ra lợi nhuận cho ngân
hàng. Đặc biệt đối với những năm nhà nước có ra gói cứu trợ hoặc hỗ trợ lãi suất để
doanh nghiệp vay bổ sung vốn lưu động ngắn hạn thì năm đó vòng quay vốn tín dụng
sẽ có thể cao hơn các năm khác. Do có sự hỗ trợ từ nhà nước nên các DNVVN có điều
kiện vay bổ sung vốn lưu động nhiều hơn, trong ngắn hạn doanh nghiệp có thể tạo ra
19

Thang Long University Library


nhiều lợi nhuận từ vốn vay được, trả được nợ cho ngân hàng, doanh số thu nợ tăng,
dẫn đến vòng quay vốn cho vay DNVVN nhanh hơn trong năm đó.
Chỉ tiêu hệ số thu nợ đƣợc xác định bằng công thức:
Hệ số thu nợ cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ

=

Doanh số thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hệ số thu nợ phản ánh trong kì ngân hàng thu hồi được bao nhiêu nợ trên doanh
số cho vay DNVVN thông qua các khoản thu đã đến hạn. Thể hiện mối quan hệ giữa
doanh số cho vay và doanh số thu nợ của cho vay DNVVN.Chỉ tiêu này thể hiện hiệu
quả thu nợ của ngân hàng qua đó đánh giá được hiệu quả cho vay cho vay của ngân
hàng đó.
Chỉ tiêu dƣ nợ đƣợc xác định nhƣ sau:
Dƣ nợ ngắn hạn cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ

=

Dƣ nợ cho vay ngắn hạn DNVVN
Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN

1

Chỉ tiêu này thể hiện dư nợ cho vay DNVVN trong ngắn hạn chiếm bao nhiêu
phần trăm trong tổng dư nợ ngân hàng trong từng thời kì. Tỷ lệ này càng cao thể hiện
sự chú trọng phát triển cho vay DNVVN của ngân hàng cho việc bổ sung vốn lưu động
của DNVVN.
Dƣ nợ trung và dài hạn

Dƣ nợ cho vay trung và dài hạn DNVVN
Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN

Chỉ tiêu này thể hiện dư nợ cho vay DNVVN trong trung và dài hạn chiếm bao
nhiêu % trong tổng dư nợ ngân hàng trong từng thời kì. Tỷ lệ này càng cao thể hiện sự
chú trọng của ngân hàng trong việc cho vay phát triển dự án đầu tư của DNVVN.
Nhóm chỉ tiêu liên quan đến nợ quá hạn:
Việc khách hàng hoàn trả cả nợ gốc và lãi đúng hạn góp phần thể hiện hiệu quả
cho vay của ngân hàng. Tuy nhiên khi đến thời hạn thanh toán khoản vay mà khách
hàng không có khả năng thanh toán thì khoản vay đó được coi là nợ quá hạn. Theo văn
bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 “Ban hành quy định về phân
loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng” thì khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn
bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Nợ quá hạn thể hiện sự kém hiệu quả trong cho vay,
báo hiệu sự rủi ro đối với ngân hàng và khách hàng. Các khoản nợ quá hạn bao gồm:
Nợ cần chú ý (Nhóm 2); Nợ dưới tiêu chuẩn (Nhóm 3); Nợ nghi ngờ (Nhóm 4); Nợ có
khả năng mất vốn (Nhóm 5). Trong đó cũng theo văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày
04 tháng 06 năm 2014 có thể tóm tắt phân loại các nhóm nợ như sau:
20


Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh
giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và
lãi còn lại đúng thời hạn.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nợ
gia hạn nợ lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả
lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ
cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu
lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ phải thu hồi theo kết luận
thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ cơ
cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ
cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa
bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời
hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; Nợ của khách hàng là tổ chức tín
dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản.
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Tỷ lệ nợ quá hạn

Dƣ nợ quá hạn DNVVN
Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN

1

Hoàn trả đầy đủ cả nợ gốc và lãi khi đến hạn thể hiện mối quan hệ cho vay hoàn
hảo giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với ngân hàng. Nợ quá hạn là biểu hiện không lành
mạnh trong quá trình cho vay của các ngân hàng với doanh nghiệp, báo hiệu sự rủi ro
với ngân hàng và doanh nghiệp. Tuy nhiên trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
việc phát sinh nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi.Chỉ tiêu này cho thấy việc
khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín
dụng. Tùy theo nguyên nhân và mức độ mà ngân hàng phân nợ quá hạn thành nhiều
nhóm khác nhau để quản lý. Một số khoản nợ quá hạn do một số lý do khách quan mà
doanh nghiệp chưa thể trả nợ nhưng doanh nghiệp vẫn là đối tượng khách hàng có uy
tín thì khoản nợ đó ngân hàng sẽ phân vào nợ có khả năng thu hồi vốn. Một số khoản
nợ quá hạn do doanh nghiệp cố tình không trả thì sẽ được phân vào nợ có không có
khả năng thu hồi vốn. Như vậy có thể chia nợ quá hạn thành hai loại:
21

Thang Long University Library


Nợ quá hạn có khả năng thu hồi cho vay doanh ghiệp vừa và nhỏ:
Nợ quá hạn có
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi cho vay DNVVN
=
1
khả năng thu hồi
Tổng dƣ nợ quá hạn cho vay DNVVN
Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Nợ quá hạn không
có khả năng thu hồi

=

Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi

1

Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN

Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu:
Nơ xấu hay các khoản nợ khó đòi hay không thể đòi được được định nghĩa theo
văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 thì nợ xấu là nợ thuộc các
nhóm 3,4 và 5.
Nợ xấu mang các đặc điểm như: Doanh nghiệp không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ trả nợ khi mà các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày trở lên; khả năng tài
chính của khách hàng ngày càng xấu đi khiến ngân hàng có khả năng không thu hồi
được cả gốc lẫn lãi cũng như việc tài sản bảo đảm (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được
đánh giá gia trị khi phát mãi tài sản là không đủ trang trải nợ gốc và lãi. Tỷ lệ nợ xấu
được tính bằng công thức:
Tỷ lệ vợ xấu cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ

=

Dƣ nợ xấu cho vay DNVVN
Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN

1

Dư nợ xấu cho vay DNVVN càng lớn trong tổng dư nợ cho vay DNVVN thể
hiện doanh nghiệp vay vốn sản xuất kinh doanh không tốt, ngân hàng không thể thu
hồi nợ (gốc và lãi), cho thấy hiệu quả cho vay DNVVN không đảm bảo. Theo ý b
điểm 1 điều 14 thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20 tháng 11 năm 2014 quy định các
giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, tỷ lệ nợ xấu đảm bảo là dưới 3%.
Hệ số rủi ro cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Hệ số rủi ro cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ

=

Tổng dƣ nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tổng tài sản có

Tài sản có của các ngân hàng thương mại bao gồm các khoản mục: Tài sản ngân
quỹ; tài sản cho vay; tài sản đầu tư, tài sản cố định. Tỷ trọng các khoản cho vay
DNVVN trong tổng tài sản có càng lớn thì rủi ro càng cao song đồng thời khả năng
sinh lời cũng cao hơn.

22


Chỉ tiêu phản ánh những hao phí trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Tỷ lệ trích lập dự phòng
rủi ro cho vay doanh
nghiệp vừa và nhỏ

=

Dự phòng rủi ro cho vay DNVVN đƣợc trích
1
Dƣ nợ nh quân cho vay DNVVN

Tỷ lệ này cho biết dự phòng rủi ro cho vay DNVVN được trích so với dư nợ bình
quân cho vay DNVVN. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả cho vay DNVVN chưa
tốt, còn phải trích lập dự phòng nhiều.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay là khoản mục dự trữ mất vốn, được thể
hiện trong bảng cân đối kế toán, là số cộng dồn của khoản mục dự phòng rủi ro tín
dụng trừ đi nợ quá hạn được xóa. Tỷ lệ này thường ít khi vượt quá 5% [8, Tr 438]
Tỷ lệ nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được xử lý rủi ro:
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Tỷ lệ xử lý nợ doanh
nghiệp vừa và nhỏ

=

Dƣ nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc xử lý
1
Dƣ nợ nh quân cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tỷ lệ nợ đã được xử lý rủi ro cho biết được số nợ có rủi ro đã được ngân hàng xử
lý so với dư nợ bình quân cho vay DNVVN. Tỷ lệ này càng thấp thì hiệu quả cho vay
DNVVN càng cao.
Hệ số khả năng bù đắp rủi ro:
Trong nền kinh tể thị trường cạnh tranh và đày biến động, các doanh nghiệp luôn
phải đối mặt với các rủi ro do sự thay đổi giá cả, khủng hoảng tài chính, thay đổi công
nghệ… khiến các DNVVN gặp khó khăn, thua lỗ dẫn dến phá sản. Mặt khác trong quá
trình cho vay, do sơ xuất ngân hàng không đánh giá đúng năng lực tài chính, khả năng
thanh toán của doanh nghiệp, không kiểm tra được hiệu quả dự án mà mình cho vay
dẫn đến rủi ro trong cho vay DNVVN. Sự tồn tại và phát triển của ngân hàng phụ
thuộc vào khả năng bù đắp rủi ro chung và rủi ro cho vay DNVVN nói riêng. Chỉ tiêu
này được tính bằng công thức:
Hệ số khả năng ù đắp cho vay
Dự phòng rủi ro cho vay DNVVN đƣợc trích
=
DNVVN đã đƣợc xử lý rủi ro
Dƣ nợ cho vay DNVVN đã đƣợc xử lý rủi ro
Hệ số này thể hiện khả năng bù đắp rủi ro cho các khoản cho vay DNVVN, hệ số
này nhỏ hơn 1 thể hiện ngân hàng không đủ khả năng bù đắp rủi ro. Nếu hệ số này lớn
hơn 1 có nghĩa là số trích lập dự phòng rủi ro cao hơn số dư nợ cho vay DNVVN đã
được xử lý rủi ro, ngân hàng vẫn còn khả năng để bù đắp rủi roc ho vay DNVVN. Còn
23

Thang Long University Library


nếu hệ số này bằng 1 thì ngân hàng vừa đủ khả năng bù đắp bù đắp rủi ro cho vay
DNVVN.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng thương mại
Hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố,
trong đó có những yếu tố kiểm soát được như: các chính sách tín dụng, trình độ của
cán bộ tín dụng, chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra giám sát,…Và các yếu tố
không kiểm soát được như môi trường kinh tế, môi trường chính trị - xã hội, chính
sách pháp luật
1.3.4.1. Nhân tố kiểm soát được
Các nhân tố kiểm soát được trong doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Trình độ quản lý cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp vừa và nhỏ: Một doanh
nghiệp với năng lực quản lý tốt, đội ngũ nhân viên giỏi, trình độ cao sẽ quyết định đến
khả năng thành công của doanh nghiệp. Từ đó xây dựng được những phương án kinh
doanh hiệu quả, sử dụng tố nguồn vốn vay từ ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả
cho vay DNVVN của ngân hàng. Tuy nhiên thực tế lại cho thấy trình độ quản lý của
các DNVVN còn rất hạn chế, phần lớn các nhà quản lý doanh nghiệp chỉ dựa trên kinh
nghiệm tự có, chưa qua trường lớp đào tạo một cách bài bản làm hạn chế năng lực
quản lý. Tuy nhiên điều này có thể kiểm soát được nếu như chủ doanh nghiệp tự động
tham gia các khóa đào tạo kiến thức chuyên sâu, nâng cao trình độ quản lý của mình.
Quy mô vốn và năng lực tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Năng lực tài
chính của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định khả năng trả nợ của doanh
nghiệp, được thể hiện ở quy mô vốn tự có, các chỉ số về hiệu quả, về khả năng thanh
toán...Nếu quy mô vốn và năng lực tài chính đủ lớn thì sẽ tạo điều kiện cho doanh
nghiệp tránh được nguy cơ mất khả năng thanh khoản các khoản nợ của ngân hàng,
hạn chế được tổn thất của ngân hàng khi doanh nghiệp mất hả năng trả nợ, góp phần
nâng cao hiệu quả cho vay đối với DNVVN. Trên thực tế các DNVVN quy mô vốn
cũng như khả năng tài chính còn rất hạn hẹp nên thường có xu hướng đầu tư không
hợp lý dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao. Doanh nghiệp vừa và nhỏ khi vay vốn
ngân hàng cần đảm bảo nguồn trả nợ từ chính phương án kinh doanh của mình cũng
như bổ sung các tài sản bảo đảm cần thiết, làm căn cứ để ngân hàng cho vay doanh
nghiệp. Năng lực tài chính yếu kém cũng chính là bất lợi cho doanh nghiệp trong việc
tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng, nếu ngân hàng cho doanh nghiệp vay sẽ dẫn đến
rủi ro cao. Đây cũng là vấn đề mà ngân hàng cần lưu ý khi cho vay DNVVN.
Phương án sản xuất kinh doanh: Khi doanh nghiệp có một phương án sản xuất
kinh doanh tốt, khả năng tạo ra lợi nhuận lớn, đảm bảo khả năng trả nợ, đảm bảo khả
24


năng sử dụng vốn đúng mục đích như vậy hiệu quả cho vay sẽ cao hơn. Trước trong và
sau cho vay DNVVN, ngân hàng phải kiểm tra sự khả thi của phương án vay, giám sát
doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích, đôn đốc doanh nghiệp hoàn thành
nghĩa vụ trả nợ. Về phía doanh nghiệp khi kiểm soát, thực hiện phương án kinh doanh
tốt là doanh nghiệp đã tiến gần hơn tới nguồn vốn vay ngân hàng, đảm bảo khả năng
trả nợ, tăng cường uy tín của mình với ngân hàng.
Đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ: nhân tố con người luôn là
yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả cho vay, không chỉ là đạo đức phía ngân hàng
mà còn là đạo đức phía DNVVN. Đạo đức kinh doanh của DNVVN được thể hiện ở
việc doanh nghiệp cần cung cấp đầy đủ thông tin và trong sạch trong tài chính. Thông
tin doanh nghiệp cung cấp vẫn là nguồn thông tin chính để ngân hàng ra quyết định
cấp tín dụng. Do đó, nếu doanh nghiệp cung cấp các thông tin về báo cáo tài chính,
phương án sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn chính xác và đầy đủ sẽ giúp ngân hàng
xác định chính xác năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Ngược lại,
việc cung cấp thông tin lệch lạc từ phía doanh nghiệp có thể dẫn đến những quyết định
sai lầm của ngân hàng nếu như không có sự kiểm tra lại chất lượng thông tin, dẫn đến
những rủi ro mất vốn.
Các nhân tố kiểm soát được trong ngân hàng:
Quy mô và cơ cấu nguồn vốn trong ngân hàng: Để đạt hiệu quả cho vay trong
ngân hàng thì công tác huy động vốn của ngân hàng cũng phải tốt. Do phải đảm bảo
khả năng thanh toán thường xuyên, cũng như dảm bảo nguyên tắc an toàn và sinh lời
nên ngân hàng luôn cần có chiến lược huy động vốn phù hợp và phân chia thành các
tài sản (khoản vay) thích hợp. Quy mô nguồn vốn quyết định đến quy mô cho vay, khả
năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng cũng như uy tín và vị thế của ngân
hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cho vay. Bằng việc đảm bảo, gia tăng nguồn
vốn chư sở hữu của chính ngân hàng, cũng như đưa ra các gói sản phẩm hợp lý, đa
dạng huy động vốn từ dân cư gia tăng nguồn vốn để phục vụ nhu cầu cho vay
DNVVN.
Công nghệ kỹ thuật: Với sự phát triển ngày càng nhanh của công nghệ đòi hỏi hệ
thống công nghệ ngân hàng cũng phải phát triển theo. Ngân hàng xây dựng một hệ
thống công nghệ kỹ thuật hiện đại sẽ đơn giản hóa, giảm thiểu khối lượng công việc
cho cán bộ ngân hàng, đặc biệt trong cho vay doanh nghiệp thì công nghệ giúp giảm
khối lượng công việc của cán bộ làm công tác tín dụng, giảm thời gian xét duyệt, thẩm
định dự án, hỗ trợ cán bộ trong việc thu thập thông tin, nâng cao chất lượng phục vụ
khách hàng đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch. Sự hỗ trợ của công
nghệ còn giúp ngân hàng thu thập thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, xây dựng
25

Thang Long University Library


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×