Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN CẨM KHÊ

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG
TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Một số vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Theo Luật của các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Cho vay là hình thức cấp tín
dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để
sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng. Cho vay được phân
thành hai loại: cho vay kinh doanh và cho vay tiêu dùng.
Ngày nay, khi đời sống của con người ngày càng nâng cao, thì nhu cầu tiêu dùng
cũng tăng lên, tuy nhiên với mức thu nhập hiện nay thì khó lòng đáp ứng được nhu cầu
tiêu dùng của họ, vì vậy mà các ngân hàng đã phát triển nghiệp vụ CVTD.
Dựa trên khái niệm về cho vay và nhu cầu tiêu dùng của con người trong cuộc
sống hàng ngày, khái niệm cho vay tiêu dùng đã được PGS.TS Lê Văn Tề đúc kết như
sau: “Cho vay tiêu dùng là khoản cho vay để phục vụ nhu cầu chi tiêu của người tiêu
dùng, bao gồm các cá nhân và hộ gia đình. Để được chi tiêu, sử dụng những loại hàng
hóa và dịch vụ mong muốn như nhà ở, phương tiện đi lại, du lịch, y tế,… trước khi có
khả năng chi trả thì người tiêu dùng phải tuân thủ những thỏa thuận ký kết với ngân
hàng (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả,…). Ngân hàng cung cấp dịch vụ
cho vay tiêu dùng này giúp người tiêu dùng có cuộc sống đầy đủ và sung túc hơn

(thống kê theo phản hồi của người tiêu dùng trực tiếp dịch vụ này).”
Như vậy, cho vay tiêu dùng là một trong những hình thức cho vay, trong đó
ngân hàng thƣơng mại giao hoặc cam kết giao cho khách hàng cá nhân, hộ gia
đình một khoản tiền nhất định để sử dụng vào mục đích chi tiêu đáp ứng cho nhu
cầu cuộc sống trong một khoảng thời gian nhất định.
1.1.2. Phân loại cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng có nhiều cách phân loại khác nhau, tùy theo tiêu thức thì cho
vay tiêu dùng được phân chia như sau:
(1) Phân theo mục đích vay
Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua
sắm, xây dựng hoặc/và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải
các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch.
1


(2) Phân loại theo thời hạn cho vay
Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: là các khoản cho vay tiêu dùng có thời hạn từ đủ
12 tháng trở xuống.
Cho vay tiêu dùng trung hạn: là những khoản cho vay tiêu dùng có thời hạn trên
12 tháng nhưng không quá 60 tháng.
Cho vay tiêu dùng dài hạn: là những khoản cho vay tiêu dùng trên 60 tháng
(3) Phân loại theo phƣơng thức hoàn trả
Cho vay tiêu dùng trả góp: theo hình thức tài trợ này thì người đi vay tiêu dùng
trả nợ cho ngân hàng (cả gốc và lãi) theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định do
ngân hàng quy định. Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc
những khách hàng mà thu nhập định kì của họ không đủ để thanh toán hết một lần số
nợ vay.
Cho vay tiêu dùng phi trả góp: là phương thức cho vay tiêu dùng mà trong đó
khách chỉ thanh toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn. Các khoản cho vay tiêu dùng
phi trả góp này thường có quy mô nhỏ, thời hạn cho vay ngắn.
(4) Phân loại theo hình thức đảm bảo tiền vay.
Cho vay cầm cố: là một hình thức cho vay tiêu dùng mà ngân hàng cho khách
hàng vay vốn và ngân hàng giữ tài sản của khách hàng. Điều kiện để hình thức vay này
được thực hiện là các tài sản cầm cố có giá trị mua bán thuộc quyền sở hữu hợp pháp
của người vay tiêu dùng hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Thông thường thì tài sản dùng để cầm đồ sẽ có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay của
khách hàng.
Cho vay đảm bảo bằng thu nhập của người lao động: ngân hàng cho khách
hàng vay để trang trải chi tiêu trên cơ sở khách hàng thế chấp bằng thu nhập. Những

khách hàng này thường có thu nhập ổn định. Ngân hàng căn cứ vào thu nhập của
khách hàng có xác nhận của đơn vị trả lương hay thù lao để xem xét cho vay. Mức cho
vay tiêu dùng tùy thuộc vào khoản thu nhập thường xuyên của khách hàng, nhu cầu
vay của khách hàng và theo quy định của ngân hàng. Khách hàng cam kết trả nợ theo
kỳ hạn, nếu không trả nợ theo kỳ hạn cam kết thì ngân hàng có quyền thu nợ từ khoản
tiền lương hay thu nhập của khách hàng.
Cho vay có đảm bảo từ tài sản hình thành từ tiền vay: là hình thức cho vay
thường được áp dụng đối với những khoản vay tiêu dùng có giá trị lớn, thời gian sử
dụng lâu dài như vay để mua nhà, mua xe…

2

Thang Long University Library


(5) Phân loại theo nguồn gốc của các khoản nợ
Cho vay tiêu dùng trực tiếp: là khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực
tiếp tiếp xúc cho khách hàng vay và cũng như trực tiếp thu hồi nợ từ khách hàng vay
tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình thức cho vay mà trong đó ngân hàng mua
các khoản nợ phát sinh từ nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ cho khách hàng vay tiêu
dùng.
1.1.3. Đặc điểm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng nhằm tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng của cá
nhân hay hộ gia đình. Khác với cho vay kinh doanh, ở đây người vay sử dụng tiền vay
vào các hoạt động không sinh lời, nguồn trả nợ độc lập so với việc sử dụng tiền vay, vì
vậy cho vay tiêu dùng có các đặc điểm sau:
Quy mô khoản vay thƣờng nhỏ nhƣng số lƣợng khoản vay lại lớn: Phần lớn
khách hàng trước khi mua sắm hay tiêu dùng họ đã tích lũy, tiết kiệm tiền từ trước đó.
Vì vậy, nhu cầu vay vốn tiêu dùng của khách hàng thường không quá lớn đối với ngân
hàng. Tuy nhiên, số lượng cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay tiêu dùng lớn, nhu
cầu đa dạng, hơn nữa hoạt động cho vay tiêu dùng phổ biến với mọi tầng lớp dân cư,
nên giá trị các khoản vay nhỏ nhưng lại có số lượng khách hàng vay vốn tiêu dùng lớn.
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế: Khi
nền kinh tế phát triển, thu nhập tăng, đời sống được nâng cao, nhu cầu mua sắm tiêu
dùng sẽ tăng theo, do đó mà nhu cầu vay tiêu dùng tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế
suy thoái, thu nhập của người dân giảm hoặc không ổn định, giá cả hàng hóa tăng cao,
vì vậy người dân sẽ có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là chi tiêu.
Cho vay tiêu dùng ít nhạy cảm với lãi suất: Khách hàng vay tiêu dùng thường
quan tâm đến số tiền họ phải thanh toán nhiều hơn là lãi suất phải trả. Hơn nữa, giá trị
khoản vay nhỏ, số tiền thanh toán được đưa ra phù hợp với thu nhập định kì của khách
hàng nên khách hàng thường quan tâm tới tiện ích và giá trị mà cho vay tiêu dùng đem
lại hơn là chi phí phải trả cho khoản vay đó.
Chất lƣợng thông tin khách hàng cung cấp thƣờng không cao: Các khách
hàng vay tiêu dùng thường là khách hàng cá nhân và hộ gia đình, việc họ cung cấp
thông tin tài chính cho ngân hàng đều phụ thuộc vào yếu tố thu nhập. Những thông tin
này thường mang tính chủ quan một chiều nên không có giá trị cao. Ngoài ra, để xác
minh được thông tin khách hàng cung cấp thì CBTD cần phải đi tìm hiểu, tuy nhiên
CBTD khó lòng mà có thể tìm hiểu được chính xác thông tin tài chính khách hàng
cung cấp.
3


Các khoản cho vay tiêu dùng thƣờng có lãi suất cao: Thông tin tài chính mà
khách hàng cung cấp thường không đầy đủ, rõ ràng, cụ thể nên ngân hàng phải bỏ ra
một khoản chi phí để điều tra, thu thập thông tin, xác minh tính chính xác từ nguồn
thông tin của khách hàng trước khi quyết định cho vay. Hơn nữa, quy mô của cho vay
tiêu dùng lớn nên ngân hàng tốn chi phí để quản lý các khoản cho vay. Bên cạnh đó,
rủi ro trong cho vay tiêu dùng cao cho nên lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn
lãi suất của sản phẩm cho vay khác của ngân hàng.
Nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguồn trả nợ của
khách hàng vay tiêu dùng chủ yếu là thu nhập hàng tháng. Trong qua trình làm việc
thu nhập có thể thay đổi tùy vào năng lực, kinh nghiệm, tình trạng sức khỏe, chu kì
kinh tế. Nếu khách hàng làm việc tốt sẽ có thu nhập ổn định đảm bảo được việc trả nợ
cho ngân hàng, ngược lại nếu thu nhập của khách hàng bất ổn thì khách hàng sẽ khó có
thể hoàn trả được vốn vay.
Rủi ro cho vay tiêu dùng cao: Nguyên nhân là do nguồn trả nợ chủ yếu của
khách hàng vay tiêu dùng là đến từ thu nhập hàng tháng. Mà tình hình tài chính của
khách hàng lại phụ thuộc vào yếu tố, tính chất công việc, thu nhập của họ sẽ thay đổi
theo mức độ hoàn thành công việc, sức khỏe…, cho nên họ khó có thể vượt qua khó
khăn về tài chính so với một doanh nghiệp. Các thông tin về khả năng tài chính lại
không rõ ràng, minh bạch và dễ xác nhận như các doanh nghiệp, cho nên CVTD là
một hình thức cho vay có rủi ro cao trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng thƣờng phải có TSĐB: Vì cho vay tiêu dùng là hình thức
cho vay có rủi ro cao cho nên ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có TSĐB để
ngân hàng có thể hạn chế rủi ro trong cho vay. Bởi, nếu khách hàng vay tiêu dùng
không có khả năng hoàn trả nợ thì NHTM có quyền thu giữ và bán tài sản đảm bảo của
khách hàng để thu hồi vốn gốc, việc vay tiêu dùng có TSĐB sẽ giúp NHTM yên tâm
hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay vốn tiêu dùng. Hơn nữa, việc khách
hàng mang tài sản ra để đảm bảo sẽ tạo động lực cho họ mau chóng trả nợ để lấy lại tài
sản đảm bảo của mình.
1.1.4. Vai trò của cho vay tiêu dùng
Đối với khách hàng
Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của con người không ngừng tăng cao, làm
cho nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của con người ngày một nhiều hơn. Tuy nhiên, thu
nhập của người tiêu dùng có tính chất ổn định, nếu chỉ dựa vào thu nhập hiện tại thì sẽ
khó đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của họ. Điều này đặt ra cho người tiêu
dùng yêu cầu về một nguồn tài chính đủ mạnh để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của
họ. Nguồn vốn cho vay tiêu dùng của ngân hàng đã giúp cho người tiêu dùng giải
4

Thang Long University Library


quyết kịp thời nhu cầu về vốn. Đồng thời, cho vay tiêu dùng sẽ kích thích người tiêu
dùng làm việc chăm chỉ để có thể nhanh chóng thanh toán các khoản nợ cho ngân hàng,
từ đó hiệu quả lao động sẽ được tăng lên.
Đối với ngân hàng thƣơng mại
Cho vay tiêu dùng thường có số lượng khách hàng rất lớn, vì vậy mà nó giúp
ngân hàng mở rộng mối quan hệ, để từ đó làm tăng khả năng khách hàng sử dụng các
dịch vụ khác của ngân hàng như: chuyển tiền hoặc trả lương qua tài khoản tại ngân
hàng..., giúp cho ngân hàng thực hiện đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh, tăng thu
nhập đồng thời giúp ngân hàng phân tán rủi ro tín dụng.
Làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường tín dụng: ngân hàng
thương mại đa dạng hóa loại hình dịch vụ cho vay, mở rộng mạng lưới và nâng cao
chất lượng sản phẩm sẽ thu hút được khách hàng ngày một nhiều hơn. Cho vay tiêu
dùng là một trong những công cụ marketing hiệu quả, thu hút khách hàng. Từ đó các
ngân hàng sẽ nâng cao được uy tín, hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng sẽ dễ
dàng, thuận lợi hơn.
Đối với nền kinh tế
Cho vay tiêu dùng giúp kích cầu tiêu dùng trong dân chúng, từ đó giúp ngành
công nghiệp sản xuất phát triển, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Việc cho vay tiêu dùng làm tăng tính cạnh tranh gữa các nhà sản xuất, chất lượng sản
phẩm sẽ ngày một tăng lên. Để đáp ứng và thỏa mãn đúng và đầy đủ nhất nhu cầu của
khách hàng, các nhà sản xuất sẽ luôn phải đổi mới công nghệ, tìm hiểu thị trường, như
vậy sẽ làm cho nền kinh tế trở nên năng động.
Hoạt động cho vay tiêu dùng cũng góp một phần không nhỏ trong việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước với hàng hóa nước
ngoài từ đó sẽ giúp nền kinh tế phát triển, giảm tỉ lệ thất nghiệp, nâng cao chất lượng
cuộc sống.
1.1.5. Nguyên tắc cho vay tiêu dùng
Tiền vay phải đƣợc sử dụng đúng mục đích theo hợp đồng vay vốn mà hai
bên đã thỏa thuận. Việc sử dụng vốn vay đúng mục đích không những là nguyên tắc
mà còn là phương châm hoạt động của ngân hàng thương mại. Việc thực hiện đúng
cam kết trong hợp đồng vay vốn là một trong những yếu tố đảm bảo khả năng thu nợ
của ngân hàng.
Để thực hiện nguyên tắc này, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải sử
dụng tiền vay đúng mục đích như đã cam kết trong hợp đồng, bởi vì mục đích đó đã

5


được ngân hàng thẩm định. Nếu phát hiện khách hàng vi phạm ngân hàng được quyền
thu hồi nợ trước hạn, trường hợp khách hàng không có tiền thì chuyển nợ quá hạn.
Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ, đồng thời
giúp khách hàng đảm bảo được khả năng hoàn trả nợ của mình. Hơn nữa, việc sử dụng
vốn vay đúng mục đích sẽ làm nâng cao uy tín của khách hàng với ngân hàng, từ đó
tạo dựng được mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng trong quá trình vay vốn sau
này.
Tiền cho vay phải đƣợc hoàn trả sau một thời gian nhất định cả vốn lẫn lãi:
Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì đa số nguồn vốn CVTD của ngân hàng là
nguồn vốn huy động từ nền kinh tế. Nguyên tắc hoàn trả phản ánh đúng bản chất quan
hệ tín dụng, tính chất của tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắc này không được thực
hiện đầy đủ. Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản tín dụng mà ngân
hàng đã cung cấp không được hoàn trả đúng hạn nhất định sẽ ảnh hưởng tới khả năng
thanh toán và thu nhập của ngân hàng. Do đó, khách hàng khi vay vốn phải cam kết trả
cả gốc và lãi trong một thời hạn nhất định, cam kết này được ghi trong hợp đồng vay
nợ.
1.1.6. Điều kiện cho vay tiêu dùng
Khách hàng phải có đầy đủ tƣ cách pháp lý: Mối quan hệ cho vay và đi vay
giữa ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ được pháp luật bảo vệ. Cho nên, quan
hệ đó phải được lập trên cơ sở quy định của luật pháp. Vì vậy, các chủ thể tham gia
vào hợp đồng vay vốn phải có đầy đủ tư cách pháp lý. Trong quá trình giao dịch có
những giấy tờ liên quan đến tài sản, tiền bạc do đó cần có sự xác nhận của các bên
tham gia theo đúng quy định của luật pháp.
Vốn vay phải đƣợc sử dụng hợp pháp: Có nghĩa là vốn vay đó được sử dụng
đúng mục đích không vi phạm pháp luật và phù hợp với nguyên tắc sử dụng vốn mà
khách hàng đã cam kết trong hợp đồng vay vốn. Có hai trường hợp trong CVTD đó là:
trường hợp thứ nhất, ngân hàng trực tiếp giải ngân cho nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ
cho khách hàng. Ở trường hợp này thì khó có thể xảy ra tình trạng sử dụng vốn sai
mục đích. Thế nhưng, trường hợp thứ hai là ngân hàng trực tiếp giải ngân cho khách
hàng, ví dụ như trong trường hợp khách hàng vay vốn tiêu dùng để sửa chữa nâng cấp
nhà ở…, có thể xảy ra tình huống khách hàng vay vốn tiêu dùng sử dụng vốn sai mục
đich. Khách hàng vay tiêu dùng phải sử dụng vốn vay hợp pháp vì nếu khách hàng sử
dụng vốn sai mục đích, trái với pháp luật, toàn bộ số tài sản sẽ bị tịch thu hoặc phong
tỏa, nó sẽ làm ảnh hưởng tới việc hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Ngoài ra, khi
6

Thang Long University Library


vốn vay sử dụng không đúng với mục đích, vi phạm pháp luật thì tư cách pháp lý của
khách hàng sẽ mất đi từ đó mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng sẽ bị mất đi.
Khách hàng phải có năng lực, tài chính đủ mạnh để đảm bảo trả tiền vay
theo đúng cam kết: Khách hàng có thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống hàng ngày
sẽ là cơ sở vững chắc để chứng minh việc sẽ hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc lẫn
lãi theo cam kết vay vốn. Nếu khách hàng không có đủ năng lực tài chính để đảm bảo
hoàn trả nợ gốc cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro trong cho vay tiêu dùng,
dẫn đến tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu tăng cao, từ đó làm cho việc phát triển CVTD
gặp khó khăn.
Khách hàng phải có phƣơng án tiêu dùng khả thi: Bởi ngân hàng cho vay vốn
với mục đích sinh lời, việc khách hàng sử dụng vốn vay hiệu quả, ổn định và cải thiện
chất lượng cuộc sống giúp cho họ yên tâm lao động, sản xuất tạo ra nguồn thu nhập
đảm bảo để trả đầy đủ vốn vay và lãi cho ngân hàng theo cam kết trong hợp đồng vay
vốn tiêu dùng.
Khách hàng phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định: Các ngân hàng
thương mại thường quan tâm tới đảm bảo tiền vay vì việc đảm bảo tiền vay là công cụ
thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của khách hàng trong quan hệ vay vốn. Đồng thời,
bảo đảm tiền vay cũng là nguồn thanh toán thứ hai cho ngân hàng thương mại trong
trường hợp khách hàng không thể hoàn trả vốn vay. Nguồn trả nợ của khách chủ yếu
đến từ thu nhập hàng tháng, tuy nhiên khoản thu nhập có tính biến động cao, phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, khó có thể đảm bảo được việc hoàn trả nợ đúng hạn. Vì vậy,
để hạn chế rủi ro, các ngân hàng yêu cầu các khách hàng khi vay vốn phải có tài sản
đảm bảo tiền vay.
1.1.7. Quy trình cho vay tiêu dùng
Quy trình cho vay tiêu dùng là quy trình tổng hợp, mô tả các bước đi cụ thể từ
khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn tiêu dùng của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra
quyết định cho vay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng. Việc thiết lập và không
ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động cho
vay tiêu dùng của ngân hàng. Quy trình cho vay tiêu dùng hợp lý góp phần nâng cao
chất lượng và giảm thiểu rủi ro của ngân hàng khi cho vay. Tùy theo đặc điểm tổ chức
và quản trị, mỗi ngân hàng đều tự thiết kế và xây dựng cho mình một quy trình cho
vay tiêu dùng riêng.
Bƣớc một: Lập hồ sơ vay vốn.
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn tiêu dùng tại ngân hàng, họ sẽ đến ngân hàng
để xin vay vốn tiêu dùng. Ngân hàng sẽ cử ra một CBTD tiếp nhận nhu cầu vay vốn
tiêu dùng của khách hàng và hướng dẫn họ lập hồ sơ.
7


Hồ sơ vay vốn tiêu dùng được lập ra gồm có các giấy tờ chứng minh năng lực
pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng. Các tài liệu chứng minh khả năng tài
chính, phản ánh thu nhập của khách hàng xin vay vốn tiêu dùng, mục đích vay vốn,
các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản hợp pháp đem cầm cố hay thế chấp tại
ngân hàng (nếu có).
Bƣớc hai: Thu thập thông tin khách hàng
CBTD của ngân hàng sẽ là người thu thập thông tin của khách hàng thông qua
các thông tin đã được lưu trữ tại ngân hàng đối với trường hợp các khách hàng đã từng
vay vốn tại ngân hàng trước đó, hay đi điều tra, tìm hiểu về khách hàng thông qua các
trung tâm tín dụng, đơn vị lao động của khách hàng, địa phương khách hàng đang sinh
sống đối với các khách hàng vay lần đầu.
Bƣớc ba: Thẩm định tín dụng
Sau quá trình thu thập, tìm hiểu và xác minh thông tin của khách hàng, CBTD
chuyển sang bước tiếp theo trong quy trình CVTD đó là thẩm định tín dụng, từ đó có
cơ sở đưa ra phán quyết tín dụng của ngân hàng. Nội dung của thẩm định tín dụng bao
gồm: thẩm định phi tài chính và thẩm định tài chính.
Thẩm định phi tài chính là việc xem xét năng lực chuyên môn của khách hàng.
Còn thẩm định tài chính là việc đánh giá khả năng tài chính của khách hàng vay vốn
tiêu dùng thông qua bảng lương, giấy xác nhận thu nhập của cơ quan, đơn vị công tác
của khách hàng vay tiêu dùng. Đồng thời, xem xét nhu cầu vay vốn tiêu dùng của
khách hàng có khả thi hay không. Phân tích lợi ích nhận được từ việc CVTD đối với
khách hàng của ngân hàng khi khoản vay được phê duyệt. Thẩm định kĩ lưỡng giá trị
TSĐB của khách hàng, để hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
Sau quá trình thẩm định này, CBTD sẽ lập ra tờ trình tín dụng và trình lên ban
lãnh đạo ngân hàng để ra quyết định cấp tín dụng.
Bƣớc bốn: Ra quyết định cấp tín dụng
Sau ba bước trên ở bước thứ tư này, ngân hàng sẽ quyết định có cho khách hàng
vay vốn tiêu dùng hay không. Nếu như hồ sơ vay vốn không được chấp thuận, CBTD
có trách nhiệm thông báo lí do cho khách hàng vay vốn tiêu dùng biết, hoặc đối với
trường hợp hồ sơ vay vốn tiêu dùng còn thiếu các tài liệu liên quan thì CBTD sẽ yêu
cầu khách hàng cung cấp thêm tài liệu để bổ sung.
Bƣớc năm: Ký hợp đồng cho vay
Ở bước thứ tư, khi hợp đồng vay vốn được chấp thuận, thì sang tới bước thứ năm
đại diện phía ngân hàng và khách hàng sẽ tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng và hợp
đồng đảm bảo tiền vay.
8

Thang Long University Library


Bƣớc sáu: Giải ngân
Ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân từng lần hoặc một lần tùy theo nhu cầu vay vốn
tiêu dùng của khách hàng. Ngân hàng chỉ giải ngân cho khách hàng vay tiêu dùng sau
khi họ đã hoàn thành các thủ tục vay vốn.
Ngân hàng cũng có thể giải ngân trực tiếp cho phía nhà cung cấp hàng hóa, dịch
vụ cho khách hàng.
Bƣớc bảy: Kiểm tra và giám sát
CBTD có trách nhiệm theo dõi quá trình sử dụng vốn của khách hàng, kiểm tra
khả năng trả nợ của họ. CBTD lập hồ sơ theo dõi khoản vay và ghi chép các chi phí
phát sinh trong quá trình quản lý khoản vay tiêu dùng.
CBTD sẽ kiểm tra theo định kì hàng tháng, quý, hoặc đột xuất kiểm tra mục đích
sử dụng vốn cũng khả năng tài chính của khách hàng, để kịp thời phát hiện rủi ro. Nếu
phát hiện rủi ro, ngân hàng sẽ đưa ra biện pháp thích hợp để xử lý khoản vay.
Bƣớc tám: Thanh lý hợp đồng tín dụng
Khách hàng không có khả năng trả nợ khi đến hạn thì ngân hàng sẽ tìm ra
nguyên nhân khách hàng không trả nợ đúng hạn. Nếu nguyên nhân đến từ phía khách
hàng thì ngân hàng sẽ chuyển khoản vay đó sang nợ quá hạn. Ngân hàng cho vay tiêu
dùng có quyền khởi kiện trước pháp luật, sau khi đã áp dụng các hình thức kỉ luật thích
hợp đối với các khách hàng không trả được nợ.
Nếu khách hàng bị phá sản thì TSĐB được xử lý theo quy định của pháp luật về
phá sản theo Nghị định số 71/2010/NĐ-CP để thực hiện nghĩa vụ.
Trong trường hợp khách hàng đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ bao gồm cả gốc và lãi
thì ngân hàng sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng và lưu trữ thông tin khách hàng.
1.2. Một số vấn đề về phát triển cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thương mại.
Phát triển được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của một vấn đề trong một
thời kì nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô, sản lượng và chất
lượng trong lĩnh vực đó. Hay nói cách khác đó là sự thay đổi về mặt lượng đồng thời
cũng có sự biến đổi sâu sắc về mặt chất. Theo cách hiểu này, phát triển cho vay tiêu
dùng chính là sự đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khác khách hàng về quy mô vay
tiêu dùng, làm tăng tỷ trọng của cho vay tiêu dùng trong cơ cấu tổng dư cho vay, cũng
như làm nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại trong một
thời kì nhất định.
Phát triển cho vay tiêu dùng phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
về vốn cho nền kinh tế, theo một cơ cấu hợp lý, phù hợp với tốc độ phát triển xã hội
9


trong từng thời kì, đồng thời cũng phản ánh chất lượng cho vay tiêu dùng được nâng
cao hay không.
Như vậy, phát triển cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thƣơng mại là sự
tăng thêm về quy mô, số lƣợng cho vay tiêu dùng cũng nhƣ nâng cao chất lƣợng
cho vay tiêu dùng trong một thời kỳ nhất định để đảm bảo an toàn và sinh lợi
cho ngân hàng.
1.2.2. Sự cần thiết phải phát triển cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thương mại
Đối với khách hàng
Xã hội phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng cũng vì
thế mà ngày một tăng. Khách hàng muốn tiêu dùng nhiều thêm nhưng khả năng thanh
toán có hạn, nắm bắt được nhu cầu đó các NHTM nhận thấy cần phát triển CVTD để
giúp khách hàng thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng.
Phát triển CVTD sẽ tạo điều kiện cho các khách hàng có nhiều cơ hội tiếp cận
với vốn vay, tạo điều kiện cho họ mua sắm chi tiêu, cải thiện, nâng cao chất lượng
cuộc sống.
Đối với các ngân hàng
Trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay, việc đa dạng hóa loại
hình dịch vụ, hoạt động cho vay là điều vô cùng cần thiết của các ngân hàng. CVTD là
một hoạt động cho vay đầy tiềm năng bởi khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng trong
xã hội đang phát triển này ngày một lớn. Phát triển CVTD sẽ tạo dựng được mối quan
hệ của ngân hàng với các khách hàng, đồng thời nâng cao vị thế cạnh tranh của ngân
hàng trong nền kinh tế.
Ngoài ra, cho vay của ngân hàng khó có thể tránh khỏi các rủi ro, vì vậy việc
phát triển các hoạt động cho vay khác nhau sẽ giúp ngân hàng phân tán rủi ro để từ đó
sẽ giảm thiểu được rủi ro trong hoạt động tín dụng. Cho nên, việc phát triển CVTD là
một sự lựa chọn đúng đắn.
Phát triển CVTD không chỉ tạo thuận lợi cho khách hàng mà còn tạo điều kiện
cho các NHTM thực hiện được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Đối với nền kinh tế
Phát triển CVTD không chỉ mang lại lợi ích cho khách hàng và ngân hàng mà
còn là đòn bẩy để kích cầu nền kinh tế. Các mặt hàng tiêu dùng được tiêu thụ sẽ thúc
đẩy sản xuất, phát triển các loại hình dịch vụ kinh doanh để thỏa mãn tối đa nhu cầu
của người tiêu dùng, vì vậy mà nền kinh tế sẽ có những bước phát triển rõ rệt. Từ đó
cho thấy việc phát triển CVTD là một yêu cầu khách quan của nền kinh tế.

10

Thang Long University Library


1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng phát triển cho vay tiêu dùng trong ngân hàng
thương mại
1.2.3.1. Các chỉ tiêu định tính
Khả năng gia tăng uy tín của ngân hàng đối với khách hàng: đây là một chỉ
tiêu quan trọng, ảnh hưởng đến hoạt động cho vay nói chung và hoạt động CVTD nói
riêng của ngân hàng. Nếu ngân hàng có khả năng gia tăng uy tín thì cho thấy khả năng
phát triển CVTD của ngân hàng càng tốt và ngược lại.
Mức độ hài lòng của khách hàng: chỉ tiêu này đánh giá mức độ hài lòng của
khách hàng đối với chất lượng CVTD của ngân hàng. Nếu chất lượng CVTD của ngân
hàng tốt, từ đó sẽ tạo được niềm tin cho khách hàng, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất
cho khách hàng đến vay vốn. Mức độ hài lòng của khách hàng càng cao thì khả năng
thu hút lượng khách hàng mới sử dụng dịch vụ CVTD của ngân hàng ngày càng nhiều,
đồng thời cho thấy phát triển CVTD của ngân hàng ngày càng tốt và ngược lại.
Mức độ đa dạng hóa sản phẩm cho vay tiêu dùng: số lượng sản phẩm CVTD
là yếu tố đánh giá đầu tiên về mức độ phát triển các dịch vụ của ngân hàng. Số lượng
sản phẩm CVTD càng lớn, càng đa dạng thì ngân hàng sẽ càng thu hút được khách
hàng đến giao dịch với ngân hàng. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay,
các ngân hàng luôn chú trọng đầu tư, nghiên cứu đưa ra thị trường các sản phẩm
CVTD đa dạng, phong phú với nhiều tiện ích. Các sản phẩm CVTD này với các đặc
tính khác nhau, hướng tới nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, từ đó cho thấy khả
năng phát triển CVTD của ngân hàng là tốt và ngược lại.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu định lượng
(1) Chỉ tiêu doanh số CVTD là chỉ tiêu phản ánh tổng số vốn CVTD được ngân
hàng giải ngân trong kì, thường tính theo chu kì một năm tài chính.
Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số CVTD tuyệt đối được tính bằng
công thức:
Giá trị tăng trưởng
doanh số CVTD
tuyệt đối

=

Tổng doanh số
Tổng doanh số
CVTD năm (t)
CVTD năm (t-1)

Chỉ tiêu này cho biết doanh số CVTD năm t thay đổi bao nhiêu so với năm t-1,
nếu giá trị tăng trưởng doanh số CVTD tuyệt đối > 0 thì chứng tỏ rằng việc CVTD của
ngân hàng tăng lên, đồng thời nó cũng thể hiện CVTD của ngân hàng đang ngày càng
phát triển và ngược lại.

11


Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số CVTD tương đối:
Giá trị tăng trưởng
doanh số CVTD

Giá trị tăng trưởng doanh số CVTD tuyệt đối
=

x 100%
Tổng doanh số CVTD (t-1)

Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng của doanh số CVTD của năm t so với
năm (t-1). Giá trị của chỉ tiêu này càng lớn thì càng cho thấy sự phát triển CVTD và
ngược lại.
Chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng doanh số CVTD trong tổng doanh số cho vay
Tổng doanh số CVTD
Tỷ trọng =

x 100%
Tổng doanh số cho vay

Chỉ tiêu này cho biết doanh số CVTD chiếm tỷ trọng bao nhiêu % trong tổng
doanh số cho vay của ngân hàng. Chỉ tiêu này tăng thì chứng tỏ rằng ngân hàng đang
chú trọng phát triển CVTD.
(2) Chỉ tiêu phản ánh doanh số thu nợ cho vay tiêu dùng
Doanh số thu nợ cho vay tiêu dùng là tổng số vốn gốc mà ngân hàng thu hồi
được trong một thời kì. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu hồi nợ cũng như khả năng
quản lý các khoản vay của ngân rủi ro hay an toàn, khách hàng vay vốn tiêu dùng có
sử dụng vốn đúng mục đích, hiệu quả hay không.
Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng thu nợ CVTD tuyệt đối
Giá trị tăng trưởng doanh
Tổng thu nợ
Tổng thu nợ
=
số thu nợ tuyệt đối
CVTD năm (t)
CVTD năm (t-1)
Chỉ tiêu này cho biết doanh số thu nợ CVTD năm t so với năm (t-1) về số tuyệt
đối là bao nhiêu. Chỉ tiêu này tăng cho thấy số vốn gốc ngân hàng thu nợ từ khách
hàng tăng lên, chứng tỏ chất lượng CVTD tốt, việc phát triển cho vay tiêu dùng đang
được đảm bảo an toàn và ngược lại.
Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số thu nợ CVTD tương đối
Giá trị tăng trưởng
CVTD tương đối

Giá trị tăng trưởng doanh số thu nợ tuyệt đối
=

x 100%
Tổng thu nợ CVTD năm (t-1)

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng của doanh số thu nợ CVTD tương đối,
chỉ tiêu này càng tăng càng thể hiện tốc độ tăng trưởng doanh số thu nợ càng nhanh.
Chỉ tiêu này tăng lên chứng tỏ chất lượng CVTD của ngân hàng ngày càng được nâng
cao, cho thấy khả năng phát triển CVTD càng bền vững và ngược lại.
12

Thang Long University Library


Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng
Tổng doanh số thu nợ CVTD
Tỷ trọng =

x 100%
Tổng doanh số thu nợ cho vay

Chỉ tiêu này cho chúng ta biết doanh số thu nợ CVTD chiếm tỷ trọng bao nhiêu
trong tổng doanh số thu nợ cho vay. Chất lượng CVTD được thể hiện thông qua việc
thu hồi được cả gốc và lãi đúng hạn. Nếu chỉ tiêu này tăng chứng tỏ công tác thu nợ
hiệu quả, chất lượng CVTD tốt, mà chất lượng CVTD tốt là cơ sở để phát triển CVTD.
(3) Chỉ tiêu phản ánh dƣ nợ cho vay tiêu dùng. Dư nợ CVTD cho biết số vốn
khách hàng vay tiêu dùng đang nợ ngân hàng tại một thời điểm nhất định, được xác
định dựa trên số tiền cho vay cuối kì trên bảng cân đối kế toán.
Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng tuyệt đối
Giá trị tăng trưởng dư nợ
CVTD tuyệt đối

=

Dư nợ CVTD
năm (t)

-

Dư nợ CVTD
năm (t-1)

Chỉ tiêu này cho biết dư nợ năm t tăng giảm bao nhiêu so với năm (t-1). Nếu chỉ
tiêu này lớn hơn 0 có nghĩa là tổng dư nợ CVTD tăng, cho thấy CVTD của NHTM
đang phát triển và ngược lại.
Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng tương đối
Giá trị tăng trưởng dư nợ
=
CVTD tương đối

Giá trị tăng tưởng dư nợ CVTD tuyệt đối
Tổng dư nợ CVTD năm (t-1)

x 100%

Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng (giảm) dư nợ CVTD của năm t so với năm (t-1).
Nếu chỉ tiêu này tăng thì nó cho thấy tốc độ tăng dư nợ CVTD tốt, kéo theo đó thì khả
năng phát triển CVTD có xu hướng tốt và ngược lại.
Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng
Dư nợ CVTD
Tỷ trọng =

Tổng dư nợ cho vay

x 100%

Chỉ tiêu này cho biết dư nợ CVTD chiếm tỷ lệ bao nhiêu % trong tổng dư nợ cho
vay của ngân hàng. Tỷ lệ này tăng cho thấy hoạt động CVTD đang được phát triển và
ngược lại.
(4) Chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng cho vay tiêu dùng
Theo thông tư TT 02/2013/TTNHNN quy định tổ chức tín dụng thực hiện phân
loại nợ theo năm nhóm như sau:
13


Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
 Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi
đúng hạn.
 Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ
gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn.
 Nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
 Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
 Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
 Nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
 Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
 Nợ gia hạn nợ lần đầu.
 Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ
theo hợp đồng tín dụng.
 Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
 Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng
mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín
dụng theo quy định của pháp luật.
 Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty
con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ
chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo
đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp.
 Nợ không có bảo đảm hay được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt
quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi
cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định
của pháp luật.
 Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc
doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các
tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật.
 Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép
vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật.
 Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối
và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài.
14

Thang Long University Library


 Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính
sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
 Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra.
 Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
 Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
 Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần đầu.
 Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
 Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60
ngày mà vẫn chưa thu hồi được.
 Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
 Nợ quá hạn trên 360 ngày.
 Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
 Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ
cấu lại lần thứ hai.
 Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã
quá hạn.
 Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60
ngày mà vẫn chưa thu hồi được.
 Nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định.
Trong đó, các khoản nợ quá hạn bao gồm các nhóm nợ 2,3,4 và 5, còn nợ xấu
bao gồm các nhóm nợ 3,4,5.
Chỉ tiêu nợ quá hạn cho vay tiêu dùng
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được nợ và lãi cho ngân hàng
khi nợ đã đến hạn trả, có nguy cơ dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
Ngân hàng luôn hướng tới mục tiêu thu hồi được cả gốc và lãi khi đến hạn trong
CVTD. Nhưng trong hoạt động cho vay thì khó tránh khỏi các rủi ro, tỷ lệ nợ quá hạn
thường rất cao do tính chất rủi ro của các khoản cho vay. Tỷ lệ nợ quá hạn trong
CVTD được xác định bằng công thức:
Tỷ lệ nợ quá hạn CVTD =

Dư nợ CVTD quá hạn
Dư nợ CVTD
15

x 100%


Chỉ tiêu này phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng trong
CVTD. Tỷ lệ nợ quá hạn CVTD thấp, chứng độ an toàn tín dụng của ngân hàng; nó
càng thấp chứng tỏ chất lượng các khoản vay càng cao. Theo quy định của NHNN cụ
thể là thông tư số 13/2010/TT-NHNN, tỷ lệ nợ quá hạn < 5% thì chất lượng CVTD
được đánh giá cao, còn nếu như nợ quá hạn CVTD > 5% chứng tỏ hoạt động CVTD
đang gặp rủi ro, thậm chí có nguy cơ mất vốn, bởi doanh số CVTD tăng mà ngân hàng
không kiểm soát được nợ quá hạn, không thu hồi được nợ chứng tỏ chất lượng CVTD
không tốt, đồng thời cũng cho thấy CVTD chưa phát triển bền vững.
Tỷ lệ nợ xấu trong dư nợ CVTD
Nợ xấu CVTD
Tỷ lệ nợ xấu CVTD

=

Dư nợ CVTD

x 100%

Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4
(nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn). Nếu tỷ lệ nợ xấu lớn hơn 3% cho thấy
ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý và kiểm soát nợ. Nợ xấu càng cao,
chất lượng CVTD càng thấp, từ đó cho thấy việc phát triển CVTD không bền vững.
Ngược lại, nếu tỷ lệ nợ xấu CVTD của ngân hàng dưới mức 3%, chứng tỏ CVTD đang
có chất lượng tốt, ngân hàng kiểm soát nợ xấu tốt, giảm thiểu được rủi ro cho ngân
hàng, đồng thời phản ánh CVTD đang phát triển.
Tỷ lệ nợ xấu CVTD trên nợ quá hạn CVTD
Nợ xấu CVTD

Tỷ lệ nợ xấu CVTD trong
nợ quá hạn CVTD

=

Nợ quá hạn CVTD

Tỷ lệ này cho biết số khoản nợ khó đòi trên tổng số nợ quá hạn CVTD là bao
nhiêu. Nếu tỷ lệ nợ xấu CVTD trên nợ quá hạn CVTD cao chứng tỏ chất lượng CVTD
của ngân hàng không tốt, công tác quản lý và thu hồi nợ kém. Tỷ lệ này cao cũng cho
thấy CVTD khó phát triển tốt.
(5) Hệ số thu nợ CVTD
Doanh số thu nợ CVTD
Hệ số thu nợ CVTD

=
Doanh số CVTD

Chỉ tiêu hệ số thu nợ CVTD đánh giá chất lượng CVTD trong việc thu nợ của
ngân hàng. Nó phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số CVTD nhất định thì
ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn.

16

Thang Long University Library


Tỷ lệ này càng cao càng tốt, bởi nếu số vốn ngân hàng bỏ ra CVTD mà thu hồi
được đầy đủ cả gốc và lãi, chứng tỏ chất lượng CVTD tốt, cho thấy CVTD càng phát
triển tốt và ngược lại.
(6) Vòng quay vốn cho vay tiêu dùng
Vòng quay vốn CVTD

Doanh số thu nợ CVTD
=

Dư nợ CVTD bình quân

Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, cho biết
thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì
chất lượng CVTD là tốt, vốn tín dụng càng quay vòng nhanh càng phản ánh CVTD
phát triển tốt.
(7) Chỉ tiêu thu lãi từ hoạt động CVTD
Tỷ trọng thu lãi CVTD

Thu lãi từ CVTD
=

Tổng thu lãi từ cho vay

Chỉ tiêu này phản ánh thu lãi từ CVTD chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng thu
lãi từ cho vay. Nếu chỉ tiêu này tăng thì chứng tỏ lợi nhuận của ngân hàng hầu hết đến
từ CVTD, cho thấy CVTD đang phát triển tốt và ngược lại.
1.3. Những nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng phát triển cho vay tiêu dùng của
ngân hàng thƣơng mại
1.3.1. Nhân tố khách quan
Môi trƣờng pháp lý
Bao gồm hệ thống văn bản của Nhà nước, là một trong những nhân tố có ảnh
hưởng rất lớn tới hoạt động CVTD của NHTM. Các quy định pháp lý của nhà nước sẽ
là yếu tố khuyến khích hoặc hạn chế cho vay nói chung và CVTD nói riêng.
Môi trường pháp lý có các quy định rõ ràng, chặt chẽ, chi tiết, đồng bộ thì sẽ tạo
ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng, đồng thời sẽ thúc đẩy hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, vì thế mà hoạt động CVTD sẽ dễ dàng phát triển hơn.
Còn nếu hệ thống pháp luật lỏng lẻo, quy định không rõ ràng, ổn định, không có sự
thống nhất giữa các văn bản pháp lý sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của
toàn nền kinh tế nói chung và hệ thống NHTM nói riêng, hơn nữa nó sẽ tạo ra khe hở
dẫn đến rủi ro cho cả ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, việc xây dựng một môi trường
pháp lý ổn định, thống nhất sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển CVTD trong NHTM.

17


Môi trƣờng kinh tế
CVTD phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế, nó là điều kiện thuận lợi để
thúc đẩy phát triển CVTD. Khi nền kinh tế phát triển bền vững, tốc độ tăng trưởng cao
và ổn định, mức sống của nhân dân cũng được nâng cao thì nhu cầu về tiêu dùng cũng
tăng lên. Khi có thu nhập ổn định, khách hàng có niềm tin vào việc có thể trả lãi và
gốc trong tương lai cho khoản nợ vay tiêu dùng của mình, vì vậy, mà CVTD cũng phát
triển. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập không ổn định, lạm phát, thất
nghiệp xảy ra sẽ làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm đi một cách rõ rệt, người dân sẽ có
xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là chi tiêu, CVTD của NHTM khó phát triển.
Môi trƣờng văn hóa xã hội
Bao gồm phong tục tập quán, thói quen, lối sống, trình độ dân trí… những yếu tố
này ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi tiêu dùng của khách hàng, vì vậy mà nhân tố này
cũng là một trong những nhân tố quan trong quyết định đến nhu cầu vay tiêu dùng của
khách hàng. Nếu NHTM áp dụng dịch vụ CVTD ở nơi có trình độ dân trí thấp, nhu
cầu chỉ tiêu chỉ là những mặt hàng thiết yếu thì việc phát triển CVTD là điều không
thể. Ngược lại, nếu phát triển CVTD ở nơi có trình độ dân chí cao, người dân am hiểu
về hoạt động của ngân hàng, có nhu cầu chi tiêu lớn thì việc đó có khả năng thành
công là rất lớn, đồng thời các dịch vụ khác của ngân hàng cũng có cơ hội để phát triển.
Môi trƣờng công nghệ kỹ thuật
Công nghệ được xem là một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân
hàng trong toàn hệ thống ngân hàng. Áp dụng khoa học công nghệ vào quá trình kinh
doanh sẽ tạo điều kiện tốt nhất để ngân hàng phát triển các loại hình dịch vụ của mình.
Đặc biệt, trong CVTD thì các ứng dụng công nghệ hiện đại là không thể thiếu, bởi số
lượng khách hàng và lượng thông tin khách hàng cung cấp cho ngân hàng rất lớn. Việc
sử dụng các thiết bị công nghệ sẽ làm cho các giao dịch CVTD của ngân hàng trở nên
nhanh chóng, dễ dàng hơn, từ đó sẽ giúp ngân hàng tiết kiệm thời gian và chi phí, tạo
điều kiện cho CVTD phát triển.
Chính sách kinh tế của Nhà nƣớc
Các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước là những chính sách mang tầm vĩ
mô, nên nó có thời gian thực hiện tương đối dài và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới cho vay
của ngân hàng nói chung và CVTD nói riêng. Nếu chính sách kinh tế của Nhà nước
kích thích được sự phát triển của nền kinh tế trong nước, làm cho GDP tăng, tỷ lệ thất
nghiệp giảm, thu nhập tăng sẽ dẫn đến nhu cầu tiêu dùng tăng, vì thế mà CVTD cũng
phát triển.

18

Thang Long University Library


Các nhân tố thuộc về bản thân của khách hàng
Nhu cầu của khách hàng là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của ngân
hàng trong việc phát triển cho vay tiêu dùng. Nhu cầu ở đây không chỉ là về nhu cầu
tiêu dùng mà còn là khách hàng có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng. Dịch vụ mà
ngân hàng cung cấp có tiện ích tới đâu mà khách hàng không sử dụng hoặc không đủ
điều kiện để sử dụng thì dịch vụ đó cũng không thể phát triển được.
Khả năng tài chính của khách hàng, được thể hiện thông qua thu nhập. Thu nhập
của khách hàng vay tiêu dùng quyết định đến nhu cầu vay tiêu dùng của họ và quyết
định việc có cho vay hay không của ngân hàng. Ngân hàng khi CVTD sẽ căn cứ vào
thu nhập của khách hàng, bởi thu nhập của khách hàng là nguồn trả nợ chính của họ.
Do vậy, thu nhập có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vay vốn, quy mô khoản vay và đến
việc phát triển CVTD. Khách hàng vay tiêu dùng cần có thu nhập ổn định để đảm bảo
khả năng trả nợ cho ngân hàng. Nếu khách hàng vay tiêu dùng là người có đạo đức tốt,
có ý thức trả nợ đúng hạn thì rủi ro CVTD thấp, tạo điều kiện để ngân hàng phát triển
CVTD. Ngược lại nếu khách hàng không có đạo đức tốt, trả nợ không đúng hạn, dẫn
đến tình trạng nợ quá hạn và nợ xấu nhiều thì sẽ kìm hãm sự phát triển CVTD.
1.3.2. Các nhân tố chủ quan
Hoạt động cho vay tiêu dùng ngày càng phát triển phụ thuộc phần lớn vào các
nhân tố tạo nên sức mạnh của ngân hàng.
Nguồn vốn của Ngân hàng
Một ngân hàng cũng như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh thì phải có vốn. Hai nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là vốn tự có và vốn
huy động.
Ngân hàng thương mại nằm trong hệ thống ngân hàng chịu sự tác động của chính
sách tiền tệ, chịu sự quản lý của ngân hàng trung ương và tuân thủ các qui định của
luật ngân hàng. Một ngân hàng chỉ được huy động một số vốn gấp 20 lần số vốn tự có.
Điều đó có nghĩa là nếu vốn tự có càng lớn, khả năng được phép huy động vốn càng
cao, và ngân hàng càng dễ dàng hơn trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh
của mình.
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng là hệ thống các chủ trương, định hướng quy
định, chi phối hoạt động tín dụng do hội đồng quản trị đưa ra nhằm sử dụng nguồn vốn
cho vay có hiệu quả. Thông thường các chính sách tín dụng có các khoản mục sau: hạn
mức tín dụng, các loại hình cho vay, quy định về tài sản đảm bảo, các thức thanh toán
nợ,.. Chính sách tín dụng là căn cứ để CBTD xem xét nhu cầu vay vốn của khách hàng.
19


vì vậy, những yếu tố trong chính sách tín dụng của ngân hàng có tác động mạnh mẽ tới
phát triển cho vay nói chung và phát triển CVTD nói riêng.
Thông tin tín dụng
Khó có thể tưởng tượng nổi trong một môi trường luôn biến động và cạnh tranh
gay gắt như hiện nay mà không cần đến thông tin. Thông tin trở thành vấn đề thiết yếu,
không thể thiếu được với mọi doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói
riêng. Trong cho vay tiêu dùng, ngân hàng cho vay chủ yếu dựa trên sự tin tưởng đối
với khách hàng. Mức độ chính xác của sự tin tưởng này lại phụ thuộc vào chất lượng
thông tin mà ngân hàng có được.
Để phát triển cho vay tiêu dùng đạt hiệu quả, chất lượng cao, NHTM phải nắm
bắt những thông tin cả bên trong và bên ngoài của ngân hàng (những thông tin bên
ngoài gồm có: khách hàng, những biến đổi của môi trường kinh tế, dân số, văn hoá, xã
hội, chính trị, luật pháp, tự nhiên công nghệ, đối thủ cạnh trạnh nhu cầu khách hàng,...).
Luồng thông tin bên trong cung cấp cho biết rõ những điểm mạnh, yếu của các nguồn
lực khác nhau trong ngân hàng mình. Yêu cầu thông tin: đầy đủ, chính xác, kịp thời.
Quy trình cấp tín dụng
Quy trình cho vay tiêu dùng không rườm ra, phức tạp cũng là một trong các yếu
tố thu hút khách hàng. Việc xây dựng một quy trình cho vay hiệu quả, nhanh chóng là
một việc có ý nghĩa lớn trong công tác ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, gây được thiện
cảm với khách hàng giúp cho việc phát triển CVTD thuận lợi hơn.
Chất lƣợng nguồn nhân lực
Cho vay tiêu dùng có thực hiện được hay không là do sự điều hành đến từ cán bộ
công nhân viên của ngân hàng. Bởi vậy, muốn phát triển CVTD thì trước tiên phải
quan tâm đến việc phát triển và nâng cao nguồn nhân lực. Nếu như đạo đức của khách
hàng được xem là nhân tố hàng đầu trong các nhân tố khách quan, thì đạo đức của cán
bộ tín dụng trong ngân hàng lại được xem là nhân tố hàng đầu trong số các nhân tố chủ
quan. Nếu CBTD không có đạo đức, thì trình độ chuyên môn có tốt đến mấy cũng vô
giá trị. Bởi, vì cái lợi trước mắt của bản thân mà họ có thể làm tổn hại đến lợi ích của
ngân hàng. Tuy nhiên, có đạo đức thôi thì chưa đủ, CBTD trong ngân hàng cần có
trình độ chuyên môn cao, trình độ hiểu biết rộng thì mới thẩm định được thông tin của
khách hàng vay vốn tiêu dùng một cách chính xác, để từ đó đưa ra các quyết định đúng
đắn. Một CBTD có trình độ nghiệp vụ cao, khả năng giao tiếp tốt, marketing giỏi,
nhiệt tình, tận tâm trong công việc…, sẽ tạo được ấn tượng tốt trong mắt khách hàng.
Bởi, dưới con mắt của khách hàng thì họ chính là hình ảnh của ngân hàng. Vì vậy, nếu
chất lượng nguồn nhân lực tốt và ngày càng được nâng cao sẽ thu hút khách hàng, từ
đó tạo điều kiện để phát triển CVTD.
20

Thang Long University Library


Cơ sở vật chất, thiết bị công nghệ
Cơ sở vật chất, thiết bị cũng ảnh hưởng đến CVTD của ngân hàng. Nếu một ngân
hàng được trang bị các thiết bị công nghệ hiện đại thì có thể tăng tiện ích cho khách
hàng và các dịch vụ của ngân hàng sẽ được biết đến nhiều hơn. Ví dụ, ngân hàng đầu
tư vào dịch vụ thẻ thanh toán, có nhiểu cây ATM, có các giao dịch với khách hàng qua
internet,… thì ngân hàng có thể phát triển CVTD thông qua các tài khoản mà khách
hàng đã sử dụng dịch vụ trên của ngân hàng như vay thấu chi, thẻ tín dụng… Hơn nữa,
việc áp dụng khoa học kĩ thuật công nghệ vào quy trình CVTD của ngân hàng sẽ giúp
cho ngân hàng quản lý được thông tin của khách một cách dễ dàng hơn, ngân hàng sẽ
tiết kiệm được thời gian và chi phí, để CVTD có thể phát triển một cách tốt nhất.

21


KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Trong chương 1 của khóa luận, đã nêu những vấn đề từ khái quát cho đến cụ thể
về CVTD như: khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò cũng như khái niệm về phát
triển CVTD, các chỉ tiêu định lượng để đo lường sự phát triển CVTD, cũng như các
nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển cho vay tiêu dùng. Đồng thời, ở chương 1 cũng
cho thấy tiềm năng, và sự quan trọng của phát triển CVTD và lợi ích của nó mang lại
đối với ngân hàng, khách hàng và xã hội.
Ở Việt Nam, phát triển cho vay tiêu dùng là một xu hướng tất yếu và khách quan.
Việc phát triển cho vay tiêu dùng giúp nền kinh tế thị trường phát triển, đồng thời cũng
làm cho hoạt động kinh doanh của các NHTM phát triển. Tuy nhiên, phát triển cho vay
tiêu dùng lại chịu nhiều tác động của nhiều yếu tố, mỗi ngân hàng cần tìm hiểu sự tác
động của các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CVTD một cách kỹ càng. Dựa trên cơ sở
lý thuyết của chương 1, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu thực trạng phát triển CVTD tại
ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Khê.

22

Thang Long University Library


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM CHI NHÁNH HUYỆN CẨM KHÊ
2.1. Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi
nhánh huyện Cẩm Khê
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam
Thành lập ngày 26/3/1988, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam,
đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Agribank là
Ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong phát triển kinh tế
Việt Nam, đặc biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Agribank là Ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ
nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng. Tính đến 31/12/2014, vị thế
dẫn đầu của Agribank vẫn được khẳng định với trên nhiều phương diện:
 Tổng tài sản: 762.869 tỷ đồng.
 Tổng nguồn vốn: 690.191 tỷ đồng.
 Vốn điều lệ: 29.605 tỷ đồng.
 Tổng dư nợ: trên 605.324 tỷ đồng.
 Mạng lưới hoạt động: gần 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc,
Chi nhánh Campuchia.
 Nhân sự: gần 40.000 cán bộ, nhân viên.
Agribank luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục
vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng
tiên tiến. Agribank là ngân hàng đầu tiên hoàn thành Dự án Hiện đại hóa hệ thống
thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Với hệ
thống IPCAS đã được hoàn thiện, Agribank đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng hiện đại, với độ an toàn và chính xác cao đến mọi đối tượng khách hàng
trong và ngoài nước. Hiện nay, Agribank đang có hàng triệu khách hàng là hộ sản xuất,
hàng chục ngàn khách hàng là doanh nghiệp.
Agribank là một trong số các ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lý lớn nhất
Việt Nam với trên 1.000 ngân hàng đại lý tại gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Agribank là Chủ tịch Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á Thái
Bình Dương (APRACA) nhiệm kỳ 2008 - 2010, là thành viên Hiệp hội Tín dụng Nông
nghiệp Quốc tế (CICA) và Hiệp hội Ngân hàng Châu Á (ABA); đăng cai tổ chức nhiều
hội nghị quốc tế lớn như: Hội nghị FAO vào năm 1991, Hội nghị APRACA vào năm
23


1996 và năm 2004, Hội nghị tín dụng nông nghiệp quốc tế CICA vào năm 2001, Hội
nghị APRACA về thuỷ sản vào năm 2002...
Agribank là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam trong việc tiếp nhận và triển khai
các dự án nước ngoài. Trong bối cảnh kinh tế diễn biến phức tạp, Agribank vẫn được
các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á
(ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Đầu tư châu u (EIB)… tín
nhiệm, ủy thác triển khai trên 123 dự án với tổng số vốn tiếp nhận đạt trên 5,8 tỷ USD.
Agribank không ngừng tiếp cận, thu hút các dự án mới: Hợp đồng tài trợ với Ngân
hàng Đầu tư châu u (EIB) giai đoạn II; Dự án tài chính nông thôn III (WB); Dự án
Biogas (ADB); Dự án JIBIC (Nhật Bản); Dự án phát triển cao su tiểu điền (AFD) v.v...
Bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, Agribank còn thể hiện trách nhiệm xã hội của
một doanh nghiệp lớn với sự nghiệp an sinh xã hội của đất nước. Thực hiện Nghị
quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và
bền vững đối với 61 huyện nghèo thuộc 20 tỉnh, Agribank đã triển khai hỗ trợ 160 tỷ
đồng cho hai huyện Mường Ảng và Tủa Chùa thuộc tỉnh Điện Biên. Sau khi bàn giao
2.188 nhà ở cho người nghèo vào 2009, tháng 8/2010 Agribank tiếp tục bàn giao 41
khu nhà ở với 329 phòng, 40 khu vệ sinh, 40 hệ thống cấp nước, 40 nhà bếp, 9.000m2
sân bê tông, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt cho 38 trường học trên địa bàn hai huyện
này. Bên cạnh đó, Agribank ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết tại
nhiều địa phương trên cả nước; tặng sổ tiết kiệm cho các cựu nữ thanh niên xung
phong có hoàn cảnh khó khăn; tài trợ kinh phí mổ tim cho các em nhỏ bị bệnh tim bẩm
sinh; tài trợ kinh phí xây dựng Bệnh viện ung bướu khu vực miền Trung; tôn tạo, tu bổ
các Di tích lịch sử quốc gia. Hằng năm, cán bộ, viên chức trong toàn hệ thống đóng
góp 04 ngày lương ủng hộ Quỹ đền ơn đáp nghĩa, Quỹ Ngày vì người nghèo, Quỹ Bảo
trợ trẻ em Việt Nam, Quỹ tình nghĩa ngành ngân hàng. Số tiền Agribank đóng góp cho
các hoạt động xã hội từ thiện vì cộng đồng tăng dần qua các năm, riêng năm 2011 lên
tới 200 tỷ đồng, năm 2012 là 333 tỷ đồng, năm 2013 trên 400 tỷ đồng, năm 2014 gần
300 tỷ đồng.
Với những thành tựu đạt được, vào đúng dịp kỷ niệm 21 năm ngày thành lập
(26/3/1988 - 26/3/2009), Agribank vinh dự được đón Tổng Bí thư tới thăm và làm
việc. Tổng Bí thư biểu dương những đóng góp quan trọng của Agribank và nhấn mạnh
nhiệm vụ của Agribank đó là quán triệt sâu sắc, thực hiện tốt nhất Nghị quyết 26NQ/TW theo hướng “Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn
lực, phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông
dân”.

24

Thang Long University Library


Với vị thế là Ngân hàng thương mại – Định chế tài chính lớn nhất Việt Nam,
Agribank đã, đang không ngừng nỗ lực, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đóng
góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đất
nước.
2.1.2. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Khê
Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Cẩm Khê được thành lập theo
Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về
việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
nông thôn.
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
ký Quyết định thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát
triển Nông nghiệp Việt Nam. Từ đó Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Cẩm Khê đổi
tên thành Ngân hàng Nông nghiệp Cẩm Khê. Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng
thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một
pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của
mình trước pháp luật.
Ngày 15/11/1996, Ngân hàng Nông Nghiệp Cẩm Khê được đổi tên thành Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cẩm Khê.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hình là
doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và
chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Với tên gọi mới, ngoài
chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông
qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Năm 1998, NHNNo&PTNT Cẩm
Khê có tên gọi chính thức là Chi nhánh NHNNo&PTNT Huyện Cẩm Khê – Chi nhánh
NHNNo&PTNT tỉnh Phú Thọ, có tên ngắn gọn là NHNNo Cẩm Khê. NHNNo Cẩm
Khê đã tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ tồn đọng cũ và quản lý chặt
chẽ hơn công tác thẩm định, xét duyệt các khoản cho vay mới, tiến hành các biện pháp
phù hợp để giảm nợ thấp quá hạn.
Trải qua chặng đường hơn 20 năm hoạt động và phát triển NHNNo & PTNT chi
nhánh huyện Cẩm Khê đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần tăng trưởng
vào nền kinh tế đất nước. Chi nhánh huyện Cẩm Khê luôn luôn hoạt động theo phương
châm của NHNNo & PTNT Việt Nam, đó là tập trung huy động mọi nguồn vốn nhàn
25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×