Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG
DOANH NGHIỆP.
1.1. Tài sản ngắn hạn
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm về tài sản ngắn hạn
Để đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có tư liệu sản
xuất mà nó bao gồm hai bộ phận chính là tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Nếu như tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất
không thay đổi từ chu kỳ đầu tiên cho tới khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất thì đối
tượng lao động lại khác, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và sẽ được thay thể
bởi những đối tượng lao động khác ở những chu kỳ tiếp theo.
Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực
thể của sản phẩm, một số khác lại bị mất đi như các loại nhiên liệu. Bât kì hoạt động
sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có các đối tượng lao động. Lượng tiền ứng
trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh
nghiệp.
Tón lại, tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian
thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kì của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kì
kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi
vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc kế toán năm được coi là tài sản

ngắn hạn.
[1]
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản ngắn
hạn chiếm tỷ trọng lớn, thường là từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần biết rõ số lượng và
giá trị của mỗi loại tài sản ngắn hạn để sử dụng hợp lý và đạt hiệu quả cao.
1.1.1.2. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
 Vận động và luân chuyển không ngừng
TSNH tham gia vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh: dự trữ sản xuất – lưu thông. Quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tài
sản ngắn hạn. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản ngắn hạn lại thay đổi
hình thái biểu hiện. Tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không
giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần
1

Thang Long University Library


vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, sau mỗi chu kỳ
kinh doanh thì tài sản ngắn hạn hòa thành một vòng chu chuyển.
 Có tính thanh khoản cao
TSNH dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ để đáp ứng nhu cầu
thanh toán của doanh nghiệp nà không tốn chi phí lớn nên cũng rất phức tạp và khó
quản lý, tránh thất thoát.
 Được phân bố trong tất cả các khâu
TSNH được phân bổ trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất với tư cách là
đối tượng lao động hoặc tư liệu lao động, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được
diễn ra liên tục và không bị gián đoạn, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.
 Đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh số và sản xuất
Các khoản đầu tư TSNH thường có thể điều chỉnh tăng giảm tùy thuộc vào sự
biến động của hoạt động sản xuất kinh doanh nên có thể nhanh chóng ứng biên theo
tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của tài sản ngắn hạn
TSNH của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản
xuất và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tài sản ngắn hạn giúp cho quá
trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định và tránh lãng phí, tổn thất vốn,
không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài
sản.
Do vậy, TSNH là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của doanh
nhiệp. Ngoài việc đầu tư cho các tài sản dài hạn như máy móc, nhà xưởng,… doanh

nghiệp còn phải bỏ ra một khoản tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên nhiên
vật liệu, công cụ, dụng cụ,.. phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy có
thể thấy TSNH là điều kiện tiên quyết cần có để doanh nghiệp thực hiệc hoạt động
kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường và
liên tục. Lượng TSNH có hợp lý đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình sản
xuất.
Bên cạnh đó, TSNH cũng là một công cụ giúp phản ánh quá trình mua sắm, dự
trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Nhu cầu lượng hàng hóa, vật tư dự trữ ở
các khâu nhiều hay ít phản ánh nhu cầu TSNH. TSNH luân chuyển nhanh hay chậm
phản ánh số hàng hóa vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian luân chuyển và mức độ
luân chuyển có hợp lý và đạt yêu cầu hay không. Bở vậy thông qua sự vận động của
2


tài sản ngắn hạn có thể đánh giá được hiện trạng sử dụng TSNH của doanh nghiệp có
hợp lý hay không.
Không những thế, TSNH còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của
doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được tự chủ trong việc sử
dụng vốn, vì vật khi muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp thì cần có thêm một lượng
vật tư hàng hóa nhất định để dự trữ và đưa và sản xuất. Đặc biệt còn giúp cho doanh
nghiệp nắm được các cơ hội kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
TSNH đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thanh toán và duy
trì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, giúp doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng
mất khả năng thanh toán và góp phần chặn đứng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp.
Vì vậy có thể nói TSNH góp phần quan trọng, giúp doanh nghiệp hoạt động bình
thường và liên tục, ổn định. TSNH là không thể thay thế được trong bất kì loại hình
doanh nghiệp nào, thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào. Do đó quản lý TSNH là hoạt
động không thể thiếu trong quản lý doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Doanh nghiệp cần phải thường xuyên phân tích tình hình TSNH và từ đó đưa
ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
1.1.3. Phân loại tài sản ngắn hạn
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà TSNH được phân chia theo các tiêu chí khác
nhau. Thông thường là phân chia theo hai cách với các tiêu chí sau đây:
Phân loại tài sản ngắn hạn theo vai trò của TSNH đối với quá trình sản xuất
kinh doanh
Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, TSNH được chia thành:
- Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao
gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường,
nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước
cho người bán.
- Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất
kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác
phục vụ cho quá trình sản xuất…
- Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại
trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng dự trữ
trong kho, hàng gửi bán, tài sản trong quá trình lưu thông như tiền mặt, các khoản nợ
phải thu của khách hàng.
3

Thang Long University Library


Cách phân chia này giúp xác định tỷ trọng của TSNH trong từng khâu. Do đó,
nhà quản trị sẽ có những điều chỉnh kịp thời khi có những dấu hiệu bất ổn trong việc
phân bổ TSNH ở từng khâu. Đặc biệt là tại khâu lưu thông vì khi mà tỷ trọng TSNH
trong khâu này tăng lên đồng nghĩ với việc doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn.
Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Đây có thể nói là cách phân loại phổ biến trong các doanh nghiệp Việt Nam. Tài
sản ngắn hạn được phân loại dựa trên khả năng huy động cho việc thanh toán. Theo
cách phân loại này, TSNH bao gồm các thành phần sau:
- Tiền mặt
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh
nghiệp ở ngân hàng. Tiền mặt được sử dụng để trả lương cho cán bộ công nhân viên,
mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ.
Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt
thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất.
- Đầu tư tài chính ngắn hạn
Tài sản tài chính ngắn hạn bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn
thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kì kinh doanh như tín phiếu kho Bạc, Kỳ
phiếu ngân hàng,.. hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời
và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm.
- Phải thu ngắn hạn
Các khoản phải thu ngắn hạn như phải thu của khách hàng, phải thu về việc trả
trước cho người bán, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có
thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm.
- Hàng tồn kho
Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng gửi
bán, hàng mua đang đi đường,..
- Tài sản ngắn hạn khác
Tài sản ngắn hạn khác bao gồn: Chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được
khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.
Dựa vào các khoản mục trên hệ thống tài khoản kế toán mà các nhà quản trị sẽ
dựa vào đó để đưa ra các quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh cũng như tỷ
trọng của từng loại tài sản sao cho đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động của
công ty

4


1.2. Tổng quan về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh như hiện nay đều
phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế. Có thể nói nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục
tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp. Đó cũng là cơ sở để doanh nghiệp có thể tiếp tục
tồn tại và phát triển.
Theo P.Samuelson và W.Nordhaus, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi không thể
tăng sản lượng của một loạt hàng hoá này mà không cắt giảm một loạt hàng hoá khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó." Quan
điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất
xã hội, việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất sẽ làm cho nền
kinh tế có hiệu quả cao.
Có tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỉ lệ giữa sự
tăng lên của 2 đại lượng kết quả và chi phí. Quan điểm này chỉ đề cập đến hiệu quả
của phần tăng thêm chứ không phải hiệu quả của toàn bộ phần tham gia vào quá trình
kinh tế.
Có quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả
và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho quan điểm này là Manfred Kuhn
"Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho
chi phí kinh doanh". Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản
chất của hiệu quả kinh tế, nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh
doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí.
Hai tác giả Wohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế. Đó là
hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị.
Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. "Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản
lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg...) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao
động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu...) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật
hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện
thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về
mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ
giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu
quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy
móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của
hoạt động quản trị chi phí.

5

Thang Long University Library


Từ những quan điểm trên, có thể hiểu hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù
kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các
mục tiêu xác định trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì những mục tiêu khác nhau như tối đa
hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo
doanh nghiệp,.. song tất cả các mục tiêu đó đều nhằm một mục tiêu bao trùm nhất là
tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Để đạt được mục tiêu này, tất cả các
doanh nghiệp cần phải nỗ lực khai thác triệt để và có hiệu quả nguồn tài sản của mình.
Như vậy, có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một thước đo giúp
phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá
trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất. Hay có
thể hiểu rằng hiệu quả sử dụng TSNH chính là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các
yếu tố đầu vào của doanh nghiệp được xét trong một kì kế toán nhất định.
Để đảm bảo mục đích trên, doanh nghiệp cần phải có những chính sách sử dụng
hợp lý, hiệu quả từng đồng TSNH, làm sao để TSNH mỗi năm mua được nhiều
nguyên, nhiên,vật liệu được hơn, đồng thời tăng mức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ góp phần nâng cao doanh thu.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH
Quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ giai đoạn cung cấp dùng tiền
để mua nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, sau đó và tiến hành sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm. Muốn cho quá trình sản xuất liên tục, doanh nghiệp cần có một
lượng vốn lớn nhất định để đầu tư vào từng giai đoạn của quá trình sản xuất. Đối với
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu như Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu
thì TSNH đóng một vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm
sao sử dụng các loại TSNH một cách hiệu quả.
Để đạt được hiệu quả sử dụng TSNH đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cố gắng và
có nhưng chiến lược hợp lý từ khâu sản xuất tới khâu cung ứng sản phẩm cho người
tiêu dùng. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH là yêu cầu tất yếu, quan trọng của
mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
1.2.3. Thông tin sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Để phân tích được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp, thông tin
sử dụng cần phải chính xác và khách quan, đảm bảo mọi chỉ tiêu đều được tính toán
một cách thuận tiện và dễ dàng nhất. Có hai nguồn thông tin được sử dụng đó là nguồn
thông tin đầu vào và nguồn thông tin đầu ra, trong đó, bao gồm “Bảng cân đối kế toán”
với hệ thống khoản mục tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn và “Báo cáo kết quả kinh
6


doanh” của doanh nghiệp” trong giai đoạn 2012-2014. Không chỉ giới hạn trong phạm
vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà còn mở rộng sang các thông tin chung về kinh
tế, thuế, tiền tệ; các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp, mà cụ thể là
ngành hóa chất.
1.2.4. Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh
nghiệp
1.2.4.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu và được sử dụng phổ biến trong
phân tích hoạt động kinh doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ
tiêu cần phân tích. Để tiến hành so sánh cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần
phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính. Như
sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán. Đồng
thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh, mục tiêu so sánh.
-Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để
so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước ) và có thể
được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.
-Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch.
-Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian.
Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:
+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay
đổi vềtài chính của doanh nghiệp.
+So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số
liệutrung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh
nghiệp được hay chưa được.
+So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so
sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ
Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, các kỹ thuật so sánh được sử dụng là:
 So sánh bằng số tuyệt đối:
 Số tuyệt đối: là số biểu hiện quy mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế
nào đó ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế. Nó là cơ sở để tính toán
các loại số liệu khác.

7

Thang Long University Library


 So sánh bằng số tuyệt đối: là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh tế kỳ phân
tích so với gốc. Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối lượng, quy mô
của các hiện tượng kinh tế.
 So sánh mức biến động tƣơng đối điều chỉnh theo hƣớng quy mô chung:
+ So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung là kết
quả so sánh của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích cới trị số kỳ gốc đã được điều
chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu phân tích có liên quan theo hướng quyết định quy mô
chung.
 Công thức
Mức biến động
tương đối

=

Chỉ tiêu

-

kỳ phân tích

Chỉ tiêu
kỳ gốc

x

Hệ số
điều chỉnh

 So sánh bằng số tƣơng đối:
+ Số tương đối hoàn thành kế hoạch tính theo tỷ lệ: là kết quả của phép chia giữa
trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Nó phản ánh tỷ lệ hoàn
thành kế hoạch của chỉ tiêu kinh tế.
Chỉ tiêu kỳ phân tích

Số tương đối hoàn thành kế hoạch

=

Chỉ tiêu kỳ gốc

x

100%

So sánh số tương đối hoàn thành kế hoạch vừa tính được với 100%.
+ So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là dạng đặc biệt của số tương đối, nó
biểu hiện tính chất và đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm
chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thế chung nào đó có cùng một tính
chất.
1.2.4.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên
ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và
phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo
từng giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp
đầy đủ hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt
các tỷ lệ như:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các
khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.

8


+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: qua chỉ tiêu này phản
ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.
+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho
việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp
nhất của doanh nghiệp.
1.2.4.3. Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp phân tích dùng để xác định mức
đô ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu phân tích.
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố được xác định bằng cách thay thế lần lượt và
liên tục các yếu tố giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu thay
đổi. Từ đó xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến đối đối tượng kinh tế
nghiên cứu. Để áp dụng phân tích các hoạt động kinh tế cần thực hiện theo trình tự nội
dung sau:
- Trước hết, phải biết đựơc số lượng các nhân tốt ảnh hưởng, mối quan hệ của
chung với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính của chỉ tiêu.
- Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân tố số
lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng
cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo
lộn trình tự này.
- Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn các nhân tố chưa được
thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch - Thay thế xong một nhân
tố, phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó, lấy kết quả này so với (trừ đi) kết
quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của
nhân tố vừa được thay thế.
- Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh
hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh
lệch giữa thực tế với kế hoạch hoặc kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích).
- Ví dụ khái quát như sau:
Giả định chỉ tiêu A cần phân tích; A tuỳ thuộc vào 3 nhân tố ảnh hưởng, theo thứ
tự a, b và c; các nhân tố này có quan hệ tích số chỉ tiêu A, từ đó chỉ tiêu A được xác
định cụ thể như sau: A = a . b . c

9

Thang Long University Library


 Ta quy ước thời kỳ kế hoạch được ký hiệu là số 0 (số không) còn kỳ thực tế
được ký hiệu bằng số 1 (số một) - Từ quy ước này, chỉ tiêu A kỳ kế hoạch và
kỳ thực tế lần lượt được xác định như sau
 A0 = a 0 . b 0 . c 0
 A1 = a 1 . b 1 . c 1
Đối tượng cụ thể của phân tích được xác định là: A1 - A0 = ΔA
 Chênh lệch nói trên có thể được giải thích bởi ảnh hưởng của ba nhân tố cụ thể
là a, b và c; bằng phương pháp thay thế liên hoàn, mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố lần lượt được xác định như sau:
 Thay thế lần 1: Thay thế nhân tố a:
a1 . b0 . c0 - a0 . b0 . c0 = Δa
Δa là ảnh hưởng của nhân tố a.
 Thay thế lần 2: Thay thế nhân tố b.
a1 . b1 . c0 - a1 . b0 . c0 = Δb
Δb là kết quả ảnh hưởng của nhân tố b.
 Thay thế lần 3: Thay thế nhân tố c.
a1 . b1 . c1 - a1 . b1 . c0 = Δc
Δc là nhân tố ảnh hưởng của nhân tố c.
 Tổng hợp ảnh hưởng của ba nhân tố:
Δa + Δb + Δc = ΔA = A1 - A0
Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích, được sử dụng kết hợp nhằm
tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để thực hiện mục đích nghiên cứu một cách
tốt nhất.
1.2.5. Đánh giá cơ cấu TSNH và chính sách quản lý tài sản ngắn hạn (Chính sách
quản lý TSNH cấp tiến, thận trọng, dung hòa)
1.2.5.1. Cơ cấu TSNH
Bên cạnh việc so sánh sự biến động TSNH giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, còn
cần phải phân tích xem tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số TSNH và xu
hướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý của việc phân
bổ. Qua việc xem xét cơ cấu tài sản và sự biến động về cơ cấu tài sản của nhiều kỳ
kinh doanh, có thể dễ dàng hơn trong việc chọn ra các quyết định như đầu tư vào loại
tài sản nào là thích hợp, đầu tư và thời điểm nào.

10


Cơ cấu TSNH là tỷ trọng của các TSNH như: tiền và các khoản tương đương
tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, TSNH khác,… so với tổng TSNH có trong
doanh nghiệp.. Từ tỷ trọng này, doanh nghiệp sẽ đưa ra các nhận định về mức độ sử
dụng hiệu quả TSNH, đồng thời thấy được mức chên lệch giữa các khoản mục. Ở các
doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu TSNH cũng không giống nhau. Việc phân tích cơ
cấu TSNH theo cách các khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về những đặc
điểm riêng của TSNH mình đang quản lý, từ đó có những biện pháp quản lý hiệu quả
hơn, phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.
Mặt khác, thông qua việc đánh giá, tìm hiểu sự thay đổi cơ cấu TSNH trong
những thời kỳ khác nhau có thể cho thấy những chuyển biến tích cực cũng như tiêu
cực trong công tác quản lý TSNH của doanh nghiệp.
Tỷ trọng tiền các khoản tương đương tiền (K)
Tiền và các khoản tương đương tiền
K =
Tổng TSNH

x

100%

Tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới dạng giá trị, bao gồm tiền
mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Nó được sử dụng để trả lương,
mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả thuế, trả nợ,… Đây là một loại tài sản
đặc biệt, nó là loại tài sản có tính lỏng cao nhất, được sử dụng tức thời để đáp ứng như
cầu thanh khoản khi doanh nghiệp có dòng tiền ra. Ngoài ra tiền mặt là loại tài sản có
tỷ lệ sinh lời thấp. thậm chí tiền giấy tại quỹ và tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp
tại ngân hàng có tỷ lệ sinh lời bằng không.
Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng TSNH của doanh nghiệp thì khoản mục tiền và
các khoản tương đương tiền chiếm bao nhiêu phần trăm. Chỉ tiêu này càng lớn chứng
tỏ lượng tiền công ty đang nắm giữ càng đáp đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp,
thuận lợi trong hoạt động đầu tư, chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh
nghiệp cao. Tuy nhiên nếu tiền và các khoản tương đương tiền quá lớn cũng sẽ không
tốt bởi khi đó khả năng sinh lời thấp khiến cho việc sử dụng TSNH không hiệu quả,
khả năng xảy ra gian lận, rủi ro, mất mát càng cao.
Ngược lại, nếu chỉ tiêu này quá nhỏ thì doanh nghiệp cũng gặp phải những hạn
chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh như khả năng thanh toán nhanh thấp. Do đó,
doanh nghiệp cần phân tích tỷ trọng này và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
nhằm xác định lượng dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền một cách hợp lý.
Tỷ trọng các khoản phải thu của doanh nghiệp
Tỷ trọng các khoản phải thu

Giá trị các khoản phải thu KH
=

x

100%

Tổng TSNH
11

Thang Long University Library


Các khoản phải thu của doanh nghiệp có nhiều loại, trong đó chủ yếu là các
khoản phải thu người mua và trả trước cho người bán. Ngoài ra còn có một số khoản
khác như thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác
và dự phòng các khoản phải thu khó đòi. Có nhiều loại chi phí phát sinh như chi phí
đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ khi các khoản
phải thu tăng lên và rủi ro khách hàng không trả được nợ, rủi ro này càng lớn khi thời
gian cấp tín dụng càng dài.
Tỷ trọng các khoản phải thu cho biết các khoản phải thu chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng TSNH của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ doanh nghiệp
đang quản lý tốt các khoản nợ phải thu, có chính sách bán hàng và thu nợ hợp lý.
Ngược lại, nếu chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn
nhiều, làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp.
Khoản phải thu này tăng hoặc giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau và rất khó
nắm bắt. Vì thế nhà quản trị cần theo dõi sát sao các khoản phải thu của doanh nghiệp,
có những chính sách quản lý chặt chẽ trong khâu thanh toán. Xem xét kỹ năng lực tài
chính của khách hàng và tình hình thanh toán của khách hàng trước khi đưa ra quyết
định cấp tín dụng.
Tỷ trọng hàng tồn kho của doanh nghiệp
Tỷ trọng hàng tồn kho

Giá trị hàng tồn kho
=

x

100%

Tổng TSNH
Trong quá trình luân chuyển TSNH phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn
tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình
thường của doanh nghiệp. Dự trữ tồn kho bao gồm: hàng mua đang đi đường, nguyên
vật liệu, công cụ, dụng cụ trong kho, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thành phẩm
tồn kho, hàng hóa gửi bán, dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Chỉ tiêu này cho biết giá trị hàng tồn kho chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng
TSNH của doanh nghiệp.
Để quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và không bị gián đoạn, đòi hỏi
doang nghiệp phải xác định được lương hàng tồn kho dự trữ hợp lý. Lượng hàng tồn
kho dự trữ hợp lý là lượng dự trữ vừa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục, vừa
không gia tăng chi phí tồn kho gây ứ đọng vốn. Một doanh nghiệp có hệ thống cung
cấp tốt sẽ giảm được lượng hàng tồn kho mà không ảnh hưởng đến tính liên tục của
quá trình kinh doanh.
Tuy nhiên giá trị của chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất
kinh doanh của từng doanh nghiệp (sản xuất hay kinh doanh thương mại) và chính
12


sách dự trữ cũng như tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp. Phân
tích tỷ trọng hàng tồn kho cũng cần xem xét trong mối tương quan với sự tăng trưởng
của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hoạt động ở thị trường mới bùng nổ và doanh thu
của doanh nghiệp tăng nhiều năm có thể dẫn đến gia tăng dự trữ hàng tồn kho để đáp
ứng cầu nhu của thị trường.Ngược lại, trong giai đoạn kinh tế suy thoái thì tỷ trọng
hàng tồn kho có xu hướng giảm. Khi hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
TSNH và có xu hướng tăng cho thấy lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp là lớn, kéo
theo các loại chi phí sẽ tăng theo, đồng thời khả năng tiêu thụ sản phẩm giảm và trựn
tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSNH. Ngược lại nếu hàng tồn kho chiếm tỷ
trọng nhỏ và có xu hướng giảm có nghĩa là doanh nghiệp dự trữ quá ít hàng và sẽ
không có khả năng đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của khách hàng, đánh mất cơ hội
kinh doanh và cũng khiến hiệu quả sử dụng TSNH giảm.
Các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần thường xuyên xác định và so sánh
các chỉ tiêu tài chính căn bản theo thời gian hoặc so với mục tiêu cần đạt được để đánh
giá thực trạng và diễn biến tình hình tài chính của doanh nghiệp hàng năm. Nhất là khi
đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TSNH.
1.2.5.2. Chính sách quản lý TSNH cấp tiến
Hình 1.1. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn.

Tài sản ngắn hạn

Tài sản dài hạn

Chính sách cấp tiến

Tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn

Tài sản dài hạn

Tài sản dài hạn

Chính sách thân trọng

Chính sách dung hòa

[2]
Sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản cấp tiến và quản lý nợ cấp tiến tạo nên
chính sách tài sản ngắn hạn cấp tiến. Với chính sách này, doanh nghiệp đã sử dụng
một phần nguồn tài sản ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định, duy trì TSNH ở mức
thấp nhất. Việc dùng nguồn vốn huy động với chi phí thấp, thời gian ngắn để đầu tư
vào những tài sản có giá trị lớn và thời gian thu hồi dài sẽ ảnh hưởng đến cân bằng tài
13

Thang Long University Library


chính của doanh nghiệp, nó làm cho cân bằng tài chính kém bền vững và mất an toàn
do không có dự cân bằng giữa tài sản và nguồn tài trợ của nó. Vì vậy doanh nghiệp sẽ
gặp phải vấn đề mất khả năng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên ưu điểm của chính
sách này là chi phí huy động tài sản thấp hơn, thời gian quay vòng tiền được rút ngắn.
Tóm lại, với chính sách này, chi phí thấp đem lại cho doanh nghiệp thu nhập cao và rủi
ro cao, vì thế kỳ vọng cũng tăng cao.
1.2.5.3. Chính sách quản lý TSNH thận trọng
Chính sách này là sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản thận trọng và quản lý
nợ thận trọng. Doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài
sản ngắn hạn, duy trì TSNH ở mức cao nhất. Do đó cân bằng tài chính trong trường
hợp này là bền vững và doanh nghiệp sẽ không gặp phải cấn đề mất khả năng thanh
toán trong ngắn hạn. Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như: khả năng thanh
toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn tài sản cao và hạn chế các rủi ro trong kinh
doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp lại mất chi phí huy động tài sản cao hơn do lãi suất
dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn, thời gian quay vòng tiền dài. Tóm lại, với
chính sách này, doanh nghiệp có mức rủi ro thấp nhưng mang lại thu nhập cũng thấp.
1.2.5.4. Chính sách quản lý TSNH dung hòa
Để dung hòa giữa rủi ro và thu nhập, doanh nghiệp có thể lựa chọn chính sách
dung hòa: kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lý tài
sản cấp tiến với quản lý nợ thận trọng. Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc
tương thích: TSNH được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn ngắn hạn và TSCĐ được
tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn. Hay cũng có thể nói doanh nghiệp cố gắng duy trì
nguồn TSNH bằng nguồn tài sản dài hạn. Với chính sách này, gần như doanh nghiệp
sẽ không gặp phải rủi ro nào. Do đó sự cân bằng về thời gian giữa tài sản và nguồn
vốn. Tuy nhiên hầu như không một doanh nghiệp nào áp dụng được chính sách này.
Trên đây là các mô hình cơ bản về ba chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong
doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một chính sách tài sản ngắn hạn
riêng và việc quản lý tài sản ngắn hạn tại mỗi doanh nghiệp sẽ mang những đặc điểm
khác nhau. Tuy nhiên, nội dung chính của quản lý tài sản ngắn hạn vẫn là quản lý các
bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn.

14


1.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thông qua
các chỉ tiêu
1.3.1. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tổng quát
1.3.1.1. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngắn hạn là năng lực đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán trong
thời gian ngắn hạn của doanh nghiệp. Các chỉ số này xác định năng lực đáp ứng các
nghĩa vụ tài chính đến hạn của doanh nghiệp. Với dòng tiền đủ lớn, doanh nghiệp có
thể trang trải các nghĩa vụ tài chính của mình, nhờ vào đó mà doanh nghiệp sẽ không
lâm vào tình trang kiệt quệ tài chính hay vỡ nợ. Chỉ số đo lường khả năng thanh toán
phổ biến nhất là hệ số thanh toán hiện hàng và hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán hiện hành
Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp,
được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành.
Hệ số thanh toán hiện hành

Tài sản ngắn hạn
=
Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể
chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hay có thể
nói, 1 đồng nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Hệ số
này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Hệ số thanh toán hiện hành càng cao
thì doanh nghiệp càng được các nhà đầu tư tin tưởng.
Nếu hệ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy khả năng thanh toán của
doanh nghiệp đang ở mức báo động và có dấu hiệu khó khăn về tài chính. Nếu hệ số
này lớn hơn 1, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản
nợ. Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu
tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn, hay nói cách khác việc quản lý TSNH không hiệu
quả.
Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh

Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
=
Nợ ngắn hạn

Trong các tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho có độ rủi ro cao (dễ gặp khó khăn
trong vấn đề tiêu thụ, giá trị hàng tồn kho hàng kì thường chỉ là đánh giá chủ quan của
doanh nghiệp) nên các nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh. Vì thế
có thể nói hệ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một công ty có lành
15

Thang Long University Library


mạnh không. Nếu một công ty có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ
khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và, cần phải rất cẩn
trọng khi đầu tư vào những công ty như vậy. Phân tích sâu hơn nữa, nếu hệ số thanh
toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán ngay rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ
thuộc rất lớn vào hàng tồn kho, đây là một ví dụ của các công ty bán lẻ. Trong trường
hợp này tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp. Ngoài ra cần phải so
sánh hệ số thanh toán nhanh của năm nay so với năm trước để nhận diện xu hướng
biến động, so sánh với hệ số của doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá tương quan
cạnh tranh.
Khả năng thanh toán tức th i
Hệ số thanh toán tức thời

Tiền + Các khoản tương đương tiền
=

∑Nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán tức thời là một chỉ tiêu thể hiện khả năng sử dụng tiền mặt
và các khoản tương đương tiền để thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu
này phản ánh một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu
đơn vị tiền và các khoản tương đương tiền.
Nếu chỉ tiêu này cao, doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ nhanh chóng do
giữ lượng lớn TSNH dưới dạng tiền mặt và đầu tư tài chính ngắn hạn, tuy nhiên nếu
lượng tiền mặt dự trữ quá lớn sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, giảm khả năng sinh lời. Ngược
lại, nếu chỉ tiêu này quá thấp, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian hơn để đáp ứng các
khoản nợ.
Tuy nhiên khó có thể nói khả năng thanh toán tức thời cao hay thấp ở mức nào là
tốt hay không tốt. Vì chỉ tiêu này phụ thuộc vào các khoản phải thu và dự trữ mà nó
phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh của từng doanh nghiệp và của người phân
tích.
1.3.1.2. Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH là các hệ số đo lường khả
năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải
biết tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra lợi ích cho doanh
nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả.
Hệ số hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số luân chuyển hay hệ số hiệu quả do đó
khi phân tích hệ số này thì cần phân tích các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh l i
 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
16


Tỷ suất sinh lời trên doanh thu được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu =

Doanh thu thuần
Chỉ tiêu ROS cho biết khả năng tạo lợi nhuận từ doanh thu, phản ánh cứ 1 đồng
doanh thu thuần thì có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROS càng cao
chứng tỏ doanh nghiệp có các biện pháp quản lý chi phí hiệu quả. Khi so sánh tỷ suất
giữa các năm, sự biến động của tỷ suất này phản ánh sự biến động về hiệu quả ảnh
hưởng các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Ý nghĩa: Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỉ số
càng lớn có nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số này mang giá trị âm có nghĩa là công ty kinh
doanh thua lỗ.
 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA được tính bằng công thức sau:
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

Lợi nhuận sau thuế
=

Tổng tài sản

Từ đó có thể thấy ROA là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận đầu tư tài sản, phản
ánh 1 đồng đầu tư vào tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROA
càng cao chứng tỏ hiệu quả sản xuất của tài sản càng cao, hay có thể nói doanh nghiệp
sử dụng tài sản có hiệu quả. Để có được cái nhìn khách quan và chính xác, cần so sáng
chỉ số này với các doanh nghiệp cùng ngành hoặc tỷ lệ chung của ngành.
Ý nghĩa: Nếu tỷ số này lớn hơn 0, có nghĩa doanh nghiệp đang làm ăn có lãi. Tỷ
số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình
quân tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản
để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp.
Theo phương pháp DuPont (1 chỉ số được tách thành 2 hay nhiều chỉ số khác) thì
ROA được tính bằng:
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

=

Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần

x

Doanh thu thuần
Tổng tài sản

Như vậy, ROA chịu tác động của 2 yếu tố là ROS và số vòng quay tổng tài sản.
Để tăng ROA, doanh nghiệp cần thay đổi hợp lý 2 yếu tố trên. Để đánh giá chính xác
ROA, cần so sánh với bình quân hoặc với các doanh nghiệp tương tự cùng ngành do

17

Thang Long University Library


chỉ số này phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh trong kỳ và đặc điểm kinh doanh
từng ngành nghề khác nhau.
 Tỷ suất sinh lời trên tài sản chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời trên tài sản chủ sở hữu đo khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản
cổ phần phổ thông, phản ánh 1 đồng tài sản cổ đông tạo ra bao nhiêu lợi nhuận sau
thuế. ROE càng cao chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh.
Ý nghĩa: Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi, nếu mang
giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ.
Lợi nhuận sau thuế
ROE =

Tài sản chủ sở hữu

ROE còn được tính bằng:
Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần

Tổng tài sản

Doanh thu thuần

Tổng tài sản

Tài sản chủ sở hữu

ROE =
Như vậy, ROE chịu tác động của ROS, vòng quay tài sản và đòn bẩy tài chính.
Muốn đẩy mạnh ROE, cần thay đổi hợp lý các yếu tố trên.
1.3.2. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá chung
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (Số vòng quay TSNH)
Chỉ tiêu này còn được gọi là số vòng quay tổng tài sản ngắn hạn, là thước đo khái
quát nhất hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Công thức tính là:
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn

=

Doanh thu thuần
Tổng tài sản ngắn hạn

Tỷ số này cho biết mỗi đồng tài sản ngắn hạn tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêu
đồng doanh thu. Hay có thể nói các tài sản quay được bao nhiêu vòng. Giúp doanh
nghiệp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa kết
quả sản xuất (doanh thu thuần) và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong một kỳ. Chỉ tiêu này
càng cao chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của
doanh nghiệp. Khi phân tích chỉ tiêu này, cần xem xét kĩ ngành nghề kinh doanh và
đặc điểm tài sản của doanh nghiệp để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp hợp lý
nhằm tăng tốc độ quay vòng của tài sản.

18


Tỷ suất sinh l i trên tài sản ngắn hạn (ROCA)
Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn (ROCA) đo khả năng sinh lời trên mỗi đồng
tài sản ngắn hạn, phản ánh 1 đồng tài sản ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau
thuế. chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng
mạnh.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng tốt, góp phần nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp được đánh giá sử
dụng TSNH tốt hay kém một phần là do chỉ tiêu này phản ảnh.
ROCA

=

Lợi nhuận sau thuế
Tài sản ngắn hạn

Mô hình Dupont là một kỹ thuật được dùng để phân tích khả năng sinh lời của
mọt doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont
tích hợp nhiều yếu tố của Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh. Trong
phân tích tài chính doanh nghiệp, mô hình Dupont được vận dụng để phân tích mối
liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài
chính để phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân chỉ tiêu cần phân tích
theo một trình tự nhất định
Theo đó ROCA được tính bằng:
ROCA

=

Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần

x

Doanh thu thuần
Tài sản ngắn hạn

Như vậy, ROCA chịu tác động của hai yếu tố là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và
số vòng quay tài sản ngắn hạn.
Thứ nhất là hiệu suất sử dụng số vòng quay tài sản ngắn hạn càng cao chứng tỏ
sức sản xuất của các tài sản ngắn hạn càng nhanh, đó là nhân tố tăng sức sinh lời của
tài sản ngắn hạn, cụ thể hơn số vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn lại bị ảnh hưởng
bởi hai nhân tố là tổng số luân chuyển thuần và tài sản ngắn hạn. Nếu tổng số luân
chuyển thuần lớn và tài sản ngắn hạn nhỏ thì số vòng quay lớn. Tuy nhiên trong thực
tế hai chỉ tiêu này thường có mối quan hệ cùng chiều, khi tài sản ngắn hạn tăng thì
tổng số luân chuyển thuần cũng tăng ví dụ như khi doanh nghiệp nới lỏng hơn chính
sách tín dụng thương mại, dẫn đến khoản phải thu khách hàng tăng, hàng tồn kho tăng
và doanh thu thuần cũng tăng lên…. Trên cơ sở đó, nếu doanh nghiệp muốn tăng vòng
luân chuyển của tài sản ngắn hạn thì cần phân tích các nhân tố liên quan phát hiện
những mặt tích cực và tiêu cực của từng nhân tố để có biện pháp nâng cao số vòng
quay của tài sản ngắn hạn thích hợp.
19

Thang Long University Library


Thứ hai là, tỷ suất sinh lời trên doanh thu càng cao thì sức sinh lời của tài sản
ngắn hạn càng tăng. Tuy nhiên có thể thấy rằng sức sinh lời của doanh thu ảnh hưởng
bởi hai nhân tố là doanh thu và chi phí, nếu doanh thu cao và chi phí thấp thì tỷ suất
sinh lời trên doanh thu tăng và ngược lại. Tuy nhiên, trong thực tế khi doanh nghiệp
tăng doanh thu thì kéo theo mức chi phí cũng tăng lên như chi phí giá vốn, chi phí
quản lý, chi phí bán hàng… Chính vì vậy, để có thể tăng được tỷ suất sinh lời trên
doanh thu, doanh nghiệp cần nghiên cứu những nhân tố cấu thành nên tổng chi phí để
có các biện pháp điều chỉnh phù hợp, đồng thời có các biện pháp đẩy nhanh tốc độ bán
hàng, tăng doanh thu và giảm các khoản giảm trừ doanh thu.
Có thể thấy phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn bằng mô hình Dupont
có ý nghĩa lớn đối với quản trị doanh nghiệp thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và
khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và
hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản
lý của doanh nghiệp.
Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn
Mức tiết kiệm TSNH là lượng tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp tiết kiệm được
do tăng tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn ở kỳ này so với kỳ trước. Mức tiết
kiệm tài sản ngắn hạn do tăng tốc độ luân chuyển được thể hiện qua hai chỉ tiêu:
Mức tiết kiệm tuyệt đối
Nếu quy mô doanh nghiệp không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển TSNH
đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng TSNH rút ra khỏi luân chuyển
dùng vào việc khác. Nói cách khác, do mức luân chuyển TSNH không thay đổi nhưng
do tăng tốc độ luân chuyển TSNH nên doanh nghiệp cần ít vốn hơn cũng như có thể
tiết kiệm một lượng TNSH. Lượng TSNH doanh nghiệp tiết kiệm được được tính theo
công thức:

Trong đó:

: Tài sản ngắn hạn tiết kiệm tuyệt đối
M0

: Doanh thu thuần kỳ trước

V0 , V 1

: Vòng quay tài sản ngắn hạn kỳ trước và kỳ này (V1> V0)

20


Mức tiết kiệm tƣơng đối
Nếu quy mô doanh nghiệp được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển TSNH đã
giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm TSNH hoặc bỏ ra số TSNH ít hơn so với
trước. Lượng TSNH doanh nghiệp tiết kiệm được là mức tiết kiệm tương đối, được
tính theo công thức:

Trong đó:

: Tài sản ngắn hạn tiết kiệm tương đối
M1

: Doanh thu thuần kỳ này

V0 , V1

: Vòng quay tài sản ngắn hạn kỳ trước và kỳ này (V1>

V0 )
Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn
Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn để phản ánh số ngày thực hiện một vòng quay
TSNH. Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ tốc độ thu hồi TSNH của doanh nghiệp càng
cao và ngược lại. Công thức:
K
Trong đó:

365

=

V

K

: Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn

V

: Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

1.3.3. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá từng bộ phận cấu thành TSNH
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá thời gian quay vòng là các hệ số đo lường khả năng
quay vòng tài sản của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị
phải biết tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho
doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả.
Hệ số hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số luân chuyển hay hệ số hiệu quả do đó
khi đi phân tích hệ số này cần phân tích các chỉ tiêu sau:
Vòng quay khoản phải thu
Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu tiền do thực
hiện chính sách bán chịu cho khách hàng và các khoản tạm ứng chưa thanh toán do
thực hiện các khoản trả trước cho người bán.
Vòng quay các khoản phải thu là một chỉ tiêu cho thấy tính hiệu quả của chính
sách tín dụng mà doanh nghiệp đã áp dụng với khách hàng. Công thức:

21

Thang Long University Library


Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Bình quân các khoản phải thu
Trong đó bình quân các khoản phải thu được tính bằng công thức:
Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ
Bình quân các khoản phải thu =
2
Khi khách hàng thanh toán các khoản nợ đã đến hạn thì có nghĩa các khoản phải
thu đã quay được một vòng. Chỉ số vòng quay càng cao cho thấy doanh nghiệp càng
được khách hàng trả nợ nhanh, đồng nghĩa với việc vốn bị chiếm dụng giảm. Nhưng
cũng cần phải so sánh với doanh nghiệp cùng ngành để có những chiến lược cạnh
tranh tín dụng hợp lý.
Thời gian thu nợ trung bình được tính bằng công thức:
Thời gian thu nợ trung bình

360
=

Vòng quay các khoản phải thu

Thời gian thu nợ trung bình cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày thì doanh
nghiệp có thể thu hồi các khoản phải thu của mình. Như vậy có thể thấy chỉ tiêu này
được dùng để đánh giá khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp. Vòng quay các khoản
phải thu càng lớn thì thời gian thu nợ bình quân càng nhỏ và ngược lại. Kỳ thu nợ bình
quân cao hay thấp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét các mục tiêu và
chính sách của doanh nghiệp. Tuy nhiên với đa số doanh nghiệp thì chỉ tiêu này càng
thấp càng tốt và ngược lại.
Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển
trong kỳ. Số vòng hàng tồn kho càng cao việc kinh doanh càng được đánh giá tốt, bởi
lẽ doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số
cao. Vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng công thức:

Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho =
Bình quân giá trị hàng lưu kho
Trong đó bình quân giá trị hàng lưu kho được tính bằng công thức:

22


Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ
Bình quân giá trị hàng lưu kho =
2
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào. Chỉ
số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và
hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu chỉ số này
quá cao thì cũng không tốt vì chứng tỏ lượng hàng dữ trữ trong kho không nhiều, nếu
như cầu thị trường tăng đột biến thì doanh nghiệp sẽ không có khả năng kịp thời đáp
ứng như cầu của khách hàng và có nguy cơ mất khách hàng. Bên cạnh đó, nếu dữ trữ
không đủ nguyên nhiên vật liệu để đáp ứng cho sản xuất thì sản xuất sẽ bị ngưng trệ,
vì vậy cần duy trì lượng hàng tồn kho đủ lớn để đảm bảo cho sản xuất và đáp ứng nhu
cầu của khách hàng.
Thời gian luân chuyển kho trung bình =

360
Vòng quay hàng tồn kho

Bên cạnh việc xem xét vòng quay hàng tồn kho, nhà quản trị cũng cần xem xét
thời gian luân chuyển kho trung bình (hay còn gọi là thời gian quay vòng hàng tồn
kho) để có những chính sách bán hàng hợp lý. Thời gian luân chuyển kho trung bình
cho biết cứ bao nhiêu ngày thì lượng hàng tồn kho lại được quay vòng một lần. Hệ số
này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càn bán được nhiều hàng. Tuy nhiên, trong quá
trình phân tích đánh giá cũng cần xem xét cụ thể những yếu tố khác để có nhận xét
khách quan hơn.
Thời gian lưu kho trung bình =

360
Hệ số lưu kho

Cũng giống với thời gian luân chuyển kho trung bình, thời gian lưu kho trung
bình sẽ cho nhà quản trị biết tình hình bán hàng của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các
chính sách hợp lý. Thời gian lưu kho trung bình là khoảng thời gian trung bình hàng
hóa được lưu giữ trong kho. Thòi gian lưu kho được kéo dài đồng nghĩa hệ số lưu kho
thấp, hàng tồn kho nhiều, vòng quay tiền bị kéo dài. Mức dự trữ kho lớn cũng làm cho
doanh nghiệp tốn chi phí lưu kho, bảo quản hàng hóa và ngược lại. Vì thế doanh
nghiệp cần duy trì chỉ số này thấp.
Vòng quay các khoản phải trả
Vòng quay các khoản phải trả =

GVHB
Bình quân phải trả người bán

23

Thang Long University Library


Trong đó bình quân các khoản phải trả người bán được tính bằng công thức:
Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ

Bình quân phải trả người bán=

2
Vòng quay các khoản phải trả cho biết số lần trả nợ của doanh nghiệp trong một
chu kỳ kinh doanh, hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng được các
khoản nợ dài. Tuy nhiên nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản
phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản. Lợi ích của việc chiếm dụng
khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể
hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với
khách hàng.
Thời gian trả nợ trung bình =

360
Hệ số trả nợ

Thời gian trả nợ trung bình cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày
để trả nợ. Thời gian trả nợ càng dài chứng tỏ khả năng chiếm dụng vốn của doanh
nghiệp tốt. Tuy nhiên chiếm dụng quá lâu có thể gây ảnh hưởng không tốt cho mối
quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác.
Th i gian quay vòng tiền
Thời gian quay vòng tiền mặt phản ánh khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp
thanh toán tiền mua hàng hóa đầu vào cho tới khi doanh nghiệp thu được tiền về.
Thời gian
quay vòng tiền mặt

=

Kỳ thu tiền
bình quân

+

Thời gian
quay vòng
hàng lưu kho

-

Kỳ trả tiền
bình quân

Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác
quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Thời gian quay vòng tiền ngắn
chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản
phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên
cũng tùy vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động.
Hầu hết các doanh nghiệp đều mong muốn có thời gian quay vòng tiền ngắn do
chỉ khi nào dòng tiền thực sự quay trở lại doanh nghiệp, kinh doanh mới thực sự đạt
hiệu quả trên thực tế và thời gian quay vòng tiền càng ngắn, doanh nghiệp thu hồi tài
sản càng nhanh. Tuy nhiên, để làm được điều đó các doanh nghiệp buộc phải cung cấp
chính sách tín dụng thương mại thắt chắt, đồng thời tăng khả năng chiếm dụng tài sản

24


của khách hàng. Điều này dẫn tới những ảnh hưởng không có lợi trong mối quan hệ
của doanh nghiệp với các đối tác.
1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh
nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố
khác nhau chính vì vậy để đưa ra một quyết định tài chính, ngoài việc phân tích các chỉ
tiêu, nhà quản trị doanh nghiệp cũng phải xác định và xem xét các nhân tố tác động để
từ đó có cái nhìn khái quát nhất. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng nhưng về cơ bản có thể
chia các nhân tố đó thành góc độ nghiên cứu là chủ quan và khách quan.
1.4.1. Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm bên trong nội tại doanh nghiệp, thuộc
tầm kiểm soát của doanh nghiệp, có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nói chung và đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng.
Đây chính là nhân tố đánh giá trình độ quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn, là nhân tố
chính tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
Nhân tố con ngư i
Để tiến hành hoạt động sản xuất thì không thể thiếu nhân tố con người, nhân tố
con người thể hiện ở hai mặt quản lý và lao động.
Vai trò của nhà quản lý thể hiện thông qua khả năng kết hợp một cách tối ưu các
yếu tố sản xuất để tạo ra lợi nhuận cao với chi phí thấp nhất. Sau mỗi chu kỳ sản xuất
kinh doanh, nhà quản lý sẽ là người phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn
hạn, để từ đó có những giải pháp tối ưu cho doanh nghiệp. Ngoài ra vai trò của nhà
quản lý còn thể hiện qua sự nắm bắt các cơ hội kinh doanh và tận dụng nó một cách
hiệu quả nhất. Nếu nhà quản lý thực hiện tốt vai trò của minh sẽ làm cho doanh nghiệp
ngày càng lớn mạnh, kết quả hoạt động tốt, hiệu quả sử dụng vốn cao.
Vai trò của người lao động thể hiện ý thức trách nhiệm và lòng nhiệt tình trong
công việc, bên cạnh đó là tay nghề chuyên môn cao và am hiểu về quy trình sản xuát
của doanh nghiệp. Người lao động nếu hội tụ đầy đủ các yếu tố này sẽ góp phần thúc
đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp.
Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là yếu tố quyết định trong
việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh. Sản phẩm của mỗi
doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài
nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó có ảnh hưởng đến việc ra
quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn. Để đi vào sản xuất
25

Thang Long University Library


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×