Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TỪ DÂN CƯ TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH TỈNH HÀ NAM

CHƢƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY
ĐỘNG TIỀN GỬI TỪ DÂN CƢ CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về nguồn vốn và nguồn vốn huy động của Ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng được hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với nhiều
hình thái kinh tế xã hội khác nhau từ đơn giản đến phức tạp theo sự xuất hiện và phát
triển của xã hội loài người. Do đó, để đưa ra được một định nghĩa về NHTM, người ta
thường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính,
và đôi khi còn kết hợp tính chất mục đích và đối tượng hoạt động.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
Theo giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, ở Mỹ: NHTM là một công ty
kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài
chính. Đạo luật ngân hàng ở Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “NHTM là những xí
nghiệp thường xuyên nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức tiền gửi hay hình
thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Luật
ngân hàng Ấn Độ năm 1950, được bổ sung năm 1952 đã nêu: “NHTM là cơ sở xác
nhận các khoản tiền gửi để cho vay, tài trợ và đầu tư”.
Ở Việt Nam theo điều 4 khoản 3 Luật các tổ chức tín dụng (Luật số
47/2010/QH12) có đưa ra khái niệm như sau: “NHTM là loại hình ngân hàng được
thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy

định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc
kinh doanh, cung ứng một hoặc một số các nghiệp vụ: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng,
cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Tuy các định nghĩa có khác nhau về ngôn từ, diễn đạt và một số nội dung nhưng
cơ bản đều phản ánh hoạt động của NHTM là kinh doanh tiền tệ, tín dụng: Nhận tiền
gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân.
1.1.2. Khái niệm về vốn của Ngân hàng thương mại
Từ trước tới nay đã có rất nhiều định nghĩa về vốn, mặc dù được nhìn nhận dưới
nhiều giác độ khác nhau, song vốn bao giờ cũng gắn liền với các hoạt động nhằm mục
đích kiếm lời.
Trong giáo trình “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại” định nghĩa: Nguồn vốn của
NHTM là toàn bộ các vốn tiền tệ được NHTM tạo lập bằng nhiều hình thức để cho vay,
đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Về bản chất, chủ yếu vốn của ngân hàng là
một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối
1


và tiêu dùng, mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục
đích khác nhau. Hay nói cách khác, họ chuyển nhượng cho ngân hàng quyền sử dụng
vốn tiền tệ, để có một tài khoản thu nhập hay lợi ích nào đó. Và như vậy, ngân hàng đã
thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh
quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển đồng
thời chính các hoạt động đó lại quyết định đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Vốn là một trong những yếu tố quyết định đến quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp cũng như quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nguồn
vốn của NHTM là một trong những kênh chuyển tải có hiệu quả để giúp các doanh
nghiệp tái sản xuất mở rộng, cải tiến quy trình công nghệ, nâng cao năng suất lao động,
giúp cho doanh nghiệp không những đứng vững ở thị trường trong nước mà còn vươn
ra thị trường thế giới. Đồng thời, vốn của NHTM còn là một công cụ hữu hiệu để Nhà
nước điều hành nền kinh tế thông qua các công cụ chính sách tiền tệ nhằm góp phần
ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mức tăng trưởng của nền kinh tế. Vì vậy, có thể nói
nguồn vốn của NHTM được xem là huyết mạch của nền kinh tế, là điểm khởi đầu cho
sự phát triển của một quốc gia. Đối với hoạt động của NHTM, vốn không chỉ là
phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, quyết định đến sự
tồn tại cũng như quy mô, chất lượng hoạt động. Để huy động được nguồn vốn, đòi hỏi
các NHTM phải có nhiều giải pháp linh hoạt và đồng bộ như chiến lược huy động vốn,
chính sách lãi suất, chính sách khách hàng, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, mạng
lưới hoạt động, quy trình thủ tục, phong cách giao dịch phục vụ…, trong đó chính sách
khách hàng đóng vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu được. Nhìn chung, vốn

chi phối toàn bộ hoạt động và quyết định đến việc thực hiện các chức năng của NHTM.
1.1.3. Nguồn vốn huy động của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Tính chất của nguồn vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ
chức kinh tế, cá nhân trong xã hội thông qua các nghiệp vụ của mình và được dùng
làm vốn để kinh doanh. Do vậy, vốn huy động có các tính chất và đặc điểm khác biệt
với các nguồn vốn khác:
- Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có
quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc
và lãi khi đến kì hạn (đối với tiền gửi có kì hạn). Chính vì vậy đòi hỏi ngân hàng phải
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.

2

Thang Long University Library


- Vốn huy động có tính chất phân tán, vốn huy động được hình thành từ nhiều
nguồn khác nhau, do vậy đây là một nguồn vốn rất phong phú. Vì thế các ngân hàng
nên có nhiều biện pháp đề khai thác nguồn vốn này.
- Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn
vốn của các ngân hàng, tuy nhiên nguồn vốn này luôn biến động do đó để đảm bảo khả
năng thanh toán ngân hàng phải tuần thủ các quy định về dự trữ.
1.1.3.2. Phân loại nguồn vốn huy động
Quá trình huy động vốn của các NHTM đều giống nhau về bản chất, nhưng tùy
theo tiêu thức lựa chọn để phân loại hình thức huy động của NHTM thì có sự khác
nhau. Phần sau đây là các hình thức huy động vốn của NHTM theo một số tiêu thức cơ
bản. Cụ thể:
- Theo tiêu thức thời gian
Huy động vốn ngắn hạn: vốn huy động ngắn hạn là những khoản tiền mà ngân
hàng huy động được với thời gian dưới 12 tháng. Nguồn vốn này được sử dụng chủ
yếu cho các khoản tín dụng ngắn hạn: cho vay vốn lưu động đối với các tổ chức kinh
tế và một phần của nguồn vốn này được sử dụng để cho vay trung và dài hạn.
Huy động vốn trung, dài hạn: vốn huy động trung, dài hạn bao gồm những
khoản tiền mà ngân hàng huy động được với thời gian từ 01 năm trở lên. Nguồn vốn
này được sử dụng chủ yếu cho các khoản tín dụng trung dài hạn: cho vay để mua sắm
các thiết bị, để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng cơ sở, các công
trình mới.
Ở nước ta, vốn huy động trong thời hạn dưới 01 năm được gọi là vốn ngắn hạn,
từ 01 năm đến 03 năm gọi là vốn trung hạn và từ 03 năm trở lên được gọi là vốn dài
hạn. Mặc dù NHTM có thể sử dụng một phần vốn ngắn hạn để cho vay đối với các kỳ
hạn dài hơn, nhưng điều này dễ đẩy ngân hàng đến tình trạng mất khả năng thanh toán.
Do vậy, các món vay của NHTM nên được tài trợ từ các nguồn vốn huy động có kỳ
hạn tương ứng hoặc dài hơn một chút. Cách làm này làm giảm rủi ro thanh khoản đối
với ngân hàng.
- Theo đối tượng huy động vốn
Huy động từ các tổ chức kinh tế, các cơ quan Nhà nước: Khối lượng giao dịch
tiền tệ giữa các tổ chức kinh tế, các cơ quan Nhà nước chiếm đa số trong tổng khối
lượng lưu chuyển vốn của nền kinh tế. Với tư cách là một trung gian thanh toán,
NHTM mở tài khoản cho các chủ thể của nền kinh tế, nhận tiền gửi của các tổ chức và
thực hiện thanh toán theo yêu cầu của họ. Tuy nhiên, trong mỗi ngân hàng do có sự
không ăn khớp giữa xuất và nhập trên một tài khoản hay giữa các tài khoản làm cho
3


nhập lớn hơn xuất, tạo nên tồn khoản mà ngân hàng dùng một phần làm vốn kinh
doanh. Đây là một nguồn tiền tương đối lớn, vì thế các ngân hàng đã và đang quan tâm
rất nhiều tới nguồn vốn huy động này.
Huy động vốn từ dân cư: Đây là hình thức ngân hàng huy động nguồn vốn từ
các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn
để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Nguồn vốn huy động từ dân cư thường khá ổn định.
Song có đặc điểm thường là những khoản nhỏ lẻ, nằm phân tán trong dân cư, do vậy
chi phí cho nguồn huy động vốn này thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí
huy động của các NHTM đồng thời để huy động được nguồn này thì các NHTM cũng
cần phải nắm bắt được tâm lý cũng như tập quán của đối tượng này. Vì vậy nguồn vốn
này là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các NHTM nên các NHTM thường tìm mọi
cách để duy trì.
Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng và các NHTM khác: Trong quá trình
hoạt động, các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi lẫn nhau để thuận tiện trong
giao dịch, thanh toán… Ngoài ra, việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăng
nguồn vốn huy động. Điều này tuy không thường xuyên nhưng lại cần thiết trong hoạt
động kinh doanh của NHTM. Huy động vốn từ các NHTM và các tổ chức tín dụng
khác tuy dễ dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí hoạt động thường cao
hơn. Do vậy, hình thức này ít được sử dụng.
Huy động vốn từ NHTW: Trong số những người cho ngân hàng vay có một chủ
thể đặc biệt đó là NHTW. NHTW là người cho vay cuối cùng để cứu NHTM khỏi các
trục trặc xảy ra.
- Theo các hình thức huy động vốn
Huy động tiền gửi không kỳ hạn: Mục đích của các khoản tiền gửi này không
phải để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền chủ yếu là những
tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng
hóa, dịch vụ liên tục. Người gửi tiền có thể rút tiền bất cứ lúc nào hoặc để trả cho
người thứ ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thánh toán bằng
séc. Đặc biệt người gửi tiền không cần trực tiếp đến NHTM lấy mà có thể rút tiền
thông qua các máy rút tiền tự động.
Huy động tiền gửi có kỳ hạn: Là các khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá
nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời gian nhất định. Phần tiền gửi này ngân
hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn. Người
gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ của ngân hàng còn có mục đích kiếm lời.
Do đó, sự thay đổi về lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét với nguồn vốn huy
động này của ngân hàng.
4

Thang Long University Library


Huy động tiền gửi tiết kiệm: Tiền tiết kiệm là tiền tạm thời nhàn rỗi của tầng lớp
dân cư, họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy một cách an toàn và hưởng một
phần lãi từ số tiền đó. Ngân hàng sử dụng tài khoản tiền gửi tiết kiệm để theo dõi các
khoản tiền tiết kiệm được gửi vào và rút ra tại ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm
các loại: loại không kỳ hạn, loại có kỳ hạn.
Huy động vốn qua phát hành các công cụ nợ trên thị trường tài chính: Công
cụ nợ của ngân hàng là những giấy tờ nhận nợ mà ngân hàng trao cho khách hàng cho
ngân hàng vay tiền. Những giấy chứng nhận nợ này xác nhận khoản tiền mà ngân hàng
đã vay của khách hàng với mức lãi suất, hạn trả nợ đã thỏa thuận, như là: trái phiếu, kỳ
phiếu. Phát hành các công cụ nợ là một hình thức huy động vốn chủ động của ngân
hàng.
Huy động vốn qua việc đi vay các NHTM, các tổ chức tín dụng và NHTW:
Sau khi đã sử dụng hết vốn nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu vay vốn của
khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và dự trữ, các NHTM có thể đi vay
ở NHTW, ở các NHTM khác hay các TCTD khác.
Huy động vốn qua nghiệp vụ ủy thác: ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư… Theo
đó, ngân hàng thực hiện các hoạt động cho vay, đầu tư, giải ngân cho khách hàng của
mình bằng nguồn vốn của họ. Ngân hàng cũng thực hiện nghiệp vụ ủy thác, bên cạnh
những lợi ích thu được từ việc thu phí dịch vụ, ngân hàng còn được nắm giữ vốn ủy
thác của khách hàng và có thể sử dụng nguồn vốn không trả lãi này trong khoảng thời
gian nhất định.
- Theo loại tiền huy động
Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng của bản thân và khả năng cung cấp của thị trường
mà NHTM có thể huy động vốn bằng các loại tiền tệ khác nhau. Huy động vốn bằng
đồng ngoại tệ, các NHTM phải cân nhắc đến rủi ro hối đoái, lạm phát, lãi suất tương
ứng trên thị trường quốc tế để có lãi suất, kỳ hạn, quy mô huy động cho phù hợp, đảm
bảo kế hoạch huy động và hiệu quả sử dụng.
Theo tiêu thức phân loại này, huy động vốn chia làm hai loại là huy động vốn
bằng đồng nội tệ và huy động vốn bằng đồng ngoại tệ. Ở Việt Nam hiện nay, USD và
EUR là những đồng ngoại tệ chủ yếu được NHTM có tổ chức huy động và nó đã trở
thành một nguồn vốn quan trọng, chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng nguồn vốn
huy động của NHTM. Vì hoạt động huy động vốn là rất đa dạng nên việc phân loại
nguồn vốn huy động nhằm giúp ngân hàng quản lý tốt hơn và đáp ứng nhu cầu vốn để
cho vay hiệu quả hơn. Với các cách phân loại như trên sẽ giúp ngân hàng tiếp cận tốt
hơn đối với nhu cầu gửi tiền của khách hàng, thu hút được nhiều người có tiền nhàn
rỗi hơn đến ngân hàng gửi tiền.
5


1.2. Dân cƣ và nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cƣ ở Ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm
- Dân cư và tiền gửi dân cư
“Dân cư” là toàn bộ những người đang cư trú trên cùng một địa bàn, lãnh thổ.
Xét trong phạm vi khách hàng của một ngân hàng thì dân cư được coi là những cá
nhân, chủ thể riêng lẻ chứ không đại diện cho bất kì tổ chức hay doanh nghiệp nào.
(Nguồn: Từ điển Tiếng Việt trực tuyến: www.tratu.soha.vn)
“Tiền gửi” là số tiền được các chủ thể trong xã hội gửi tại một chủ thể khác với
những mục đích khác nhau.
Như vậy, tiền gửi dân cư là số tiền mà người dân gửi vào ngân hàng với mục
đích đảm bảo an toàn tài sản, sinh lời và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng.
Dân cư là bộ phận giàu tiềm năng nhất trong những đối tượng huy động vốn của
ngân hàng. Dân cư là đối tượng có những nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi và NHTM
với vai trò trung gian tài chính, kênh dẫn vốn trong thị trường tài chính có quan hệ
kinh tế với dân cư thể hiện dưới quan hệ giữa “người đi vay” và “người cho vay”. Dân
cư có thu nhập và có tích lũy nhưng một bộ phận không nhỏ lại không có điều kiện
hoặc khả năng trực tiếp đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Nhu cầu sinh lời đã khiến bộ
phận dân cư này tiến hành đầu tư gián tiếp thông qua việc gửi tiền vào ngân hàng. Bên
cạnh đó, người dân gửi tiền vào ngân hàng là do nhu cầu đảm bảo an toàn cho tiền vốn
của họ hoặc giúp họ thực hiện các chương trình tiết kiệm cho tương lai, những tiện ích
mà sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đem lại.
- Nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư
Huy động tiền gửi từ dân cư là quá trình các NHTM tìm đến nguồn tiền nhàn rỗi
từ dân cư bằng nhiều cách thức khác nhau với cam kết nắm giữ an toàn và hoàn trả đủ
gốc và lãi đúng thời hạn. Huy động vốn từ dân cư chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
vốn huy động và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các NHTM, vì vậy họ thường
làm mọi cách để duy trì và thu hút nguồn vốn huy động từ dân cư. Nguồn vốn huy
động từ tiền gửi dân cư đối với NHTM là số tiền ngân hàng huy động được từ người
dân gửi vào để đảm bảo an toàn tài sản, sinh lời và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng.
1.2.2. Đặc điểm của nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư
Tiền gửi dân cư là nguồn có quy mô lớn trong tổng nguồn huy động của NHTM.
Đặc điểm này là do bản chất những khoản huy động từ dân cư chính là những khoản
tiền nhàn rỗi tạm thời trong xã hội và được người dân tích trữ lại như một khoản tiết
kiệm để phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong tương lai. Dân cư cũng đồng thời là thành
phần chính của nền kinh tế, nên xét về tổng thể nếu nguồn tiền gửi dân cư được tập
6

Thang Long University Library


trung sẽ tạo ra nguồn vốn lớn cho ngân hàng. Và chi phí hoạt động từ tiền gửi dân cư
có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí huy động chung của tổng nguồn huy động và là một
trong những chỉ tiêu quan trọng để ngân hàng quyết định lãi suất cho vay.
Nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư thường có thời gian tương đối dài, là cơ
sở để NHTM quyết định cho vay trung và dài hạn. Điều này được quyết định bởi hành
vi tích lũy của người dân khi gửi tiền vào NHTM. Còn các nguồn khác như vay từ các
tổ chức kinh tế - xã hội hay từ ngân hàng trung ương thì thời hạn thường rất ngắn
hoặc không có kỳ hạn.
Ngoài ra, nguồn vốn huy động này là nguồn ổn định nhất, là cơ sở để NHTM
quyết định tỷ lệ dự trữ và tỷ lệ cho vay. Nguồn vốn huy động từ các tổ chức tín dụng,
các tổ chức kinh tế thường không ổn định do sự chuyển động liên tục của dòng tiền
trong nền kinh tế. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu lại có chi phí hoạt động cao nên không
mang lại hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh. Trong khi đó, vốn huy động từ tiền
gửi dân cư có tính chất ổn định do người dân khi gửi tiền vào NHTM để tích lũy, tiêu
dùng những việc lớn hơn trong tương lai, thường có kế hoạch và có thể dự báo được.
Như vậy tổng nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư có vai trò chủ chốt trong
việc các NHTM quyết định khối lượng vốn cung cấp cho nền kinh tế, giúp các doanh
nghiệp có khả năng tài chính lớn mạnh để đầu tư sản xuất, cạnh tranh với các doanh
nghiệp nước ngoài, tăng thu nhập trong nền kinh tế.
1.2.3. Vai trò của nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư
- Đối với khách hàng cá nhân
Khách hàng khi tham gia vào hoạt động huy động vốn của NHTM cụ thể ở đây là
huy động tiền gửi dân cư sẽ có được thu nhập từ tài khoản sinh lợi của tài khoản tiền
gửi ở ngân hàng. Nếu người dân không gửi tiền vào NHTM mà thay vào đó là chi tiêu
hay đầu tư vào một hình thức khác như kinh doanh bất động sản, đầu tư vàng… thì họ
sẽ bỏ qua cơ hội có được khoản tích lũy lớn hơn trong tương lai và chi phí rủi ro cũng
sẽ cao hơn. Bên cạnh đó họ còn được hưởng các dịch vụ và tiện ích khác mà ngân
hàng mang lại.
Một số NHTM hiện nay đã có nhiều chính sách linh hoạt trong việc mở tài khoản
tiền gửi thanh toán và tiết kiệm thông qua nhau để tối ưu hóa nhu cầu khách hàng. Sản
phẩm “Tiết kiệm tự động” của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt
Nam là một ví dụ điển hình. Để giúp người dân, đặc biệt là những người có thu nhập
ổn định, định kỳ trên tài khoản không kỳ hạn gia tăng thêm số tiền tiết kiệm và có
thêm thu nhập trong tương lai. Sản phẩm này hoạt động theo hình thức: số tiền khách
hàng yêu cầu sẽ được chuyển tự động theo định kỳ từ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
sang tài khoản tiền gửi tiết kiệm tự động với lãi suất cao hơn. Tài khoản tiết kiệm tự
7


động là tài khoản có kỳ hạn do khách hàng đăng ký để định kỳ chuyển tiền vào, có thể
bằng VND hoặc USD với lãi suất tại thời điểm hiện hành. Sản phẩm này đã gián tiếp
giúp khách hàng tiết kiệm được tiền từ chính khoản thu nhập hàng tháng của mình mà
không cần tới ngân hàng giao dịch nhiều lần, giảm được chi phí giao dịch cho khách
hàng và ngân hàng. Hay đối với Agribank thì hình thức gửi tiết kiệm ở một nơi có thể
rút ở nhiều nơi cũng đem lại nhiều thuận lợi và tiện ích cho khách hàng.
- Đối với NHTM
Huy động vốn nói chung cũng như huy động vốn từ dân cư nói riêng đều không
trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nhưng lại là nghiệp vụ rất quan trọng. Do
vốn là điều kiện tiền đề để ngân hàng có thể thực hiện hoạt động kinh doanh của mình,
cũng chính vì thế nếu không xét đến ảnh hưởng của các yếu tố khác thì ngân hàng
càng thu hút được nhiều nguồn vốn khác nhau, lượng vốn dồi dào thì sẽ càng có nhiều
cơ hội kinh doanh. Vai trò này rõ nét hơn cả vì đặc thù của ngân hàng là huy động để
cho vay mà dân cư là đối tượng rộng nhất và quan trọng nhất mà mọi ngân hàng đều
hướng tới. Nguồn vốn huy động tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng lớn trên bảng cân đối
tài khoản của ngân hàng. Số lượng vốn huy động được từ tiền gửi dân cư sẽ đánh giá
khả năng tài chính của một NHTM có vững mạnh hay không.
Quy mô nguồn vốn quyết định quy mô và phạm vi mở rộng kinh doanh của ngân
hàng, quyết định quy mô tín dụng của ngân hàng. Các ngân hàng có số vốn lớn thì
họ có khả năng mở rộng ra cả thị trường nước ngoài thông qua việc tăng số lượng
mạng lưới chi nhánh và đa dạng hóa hoạt động. Không những thế, các ngân hàng
trường vốn này còn có khả năng phản ứng nhanh chóng trước những biến động của
thị trường tiền tệ.
Hiện nay, khi xuất hiện càng nhiều các NHTM trên thị trường thì năng lực cạnh
tranh giữa các ngân hàng càng được thể hiện rõ nét hơn. Huy động vốn nói chung và
huy động vốn từ dân cư nói riêng có tác động không nhỏ vào việc mở rộng quy mô,
đồng thời tạo điều kiện nâng cao tay nghề cho cán bộ công nhân viên, áp dụng các
phương tiện hiện đại trong quá trình kinh doanh, các chiến lược marketing… Đó là
những lợi thế cạnh tranh của NHTM.
Hơn thế nữa, nguồn vốn huy động từ dân cư còn quyết định khả năng thanh toán
và uy tín của ngân hàng. Khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng phải đảm bảo
tốt, khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân
hàng càng lớn. Ngân hàng có vốn lớn thì dự trữ thực tế lớn và khả năng thanh toán ít
bị ảnh hưởng khi có khách hàng rút tiền. Từ đó giúp ngân hàng đa dạng hóa kinh
doanh, mở rộng phạm vi kinh doanh, giảm rủi ro và tăng uy tín trên thị trường.
8

Thang Long University Library


- Đối với xã hội
Huy động tiền gửi từ dân cư của NHTM được sử dụng để bổ sung lượng vốn cho
nền kinh tế và nâng cao mức sống cho người dân thay vì người dân sử dụng nguồn vốn
đó vào việc chi tiêu khác. Nhờ việc tiết kiệm chi tiêu của một số đối tượng khách hàng
đã giúp các doanh nghiệp tăng cường các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo thêm
công ăn việc làm cho người lao động, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế có thể tiếp
cận với các nguồn vốn ngân hàng để thúc đẩy kinh tế phát triển. Thông qua việc huy
động tiền gửi dân cư sẽ góp phần phát triển tiền gửi thanh toán cá nhân từ đó phát triển
các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí phát hành và lưu thông
tiền mặt trong nền kinh tế.
Nghiệp vụ huy động vốn nói chung và huy động vốn từ dân cư nói riêng đã và
đang làm luân chuyển vòng quay tiền tệ một cách đều đặn. Do NHTM được coi là một
trung gian tài chính nên nghiệp vụ huy động vốn giúp NHTM điều hòa vốn từ nơi dư
thừa đến nơi thiếu vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, nó còn góp phần làm ổn định hệ thống tài chính quốc gia. Các
NHTM luôn có ảnh hưởng to lớn tới nền kinh tế của một quốc gia cũng như thế giới,
nên khi các NHTM có nguồn vốn dồi dào, hoạt động kinh doanh tốt thì nền kinh tế
cũng sẽ ổn định và vững chắc.
Tóm lại hoạt động huy động tiền gửi dân cư không những đem lại lợi ích cho nền
kinh tế, cho các NHTM mà còn mang lại lợi ích cho chính những khách hàng dân cư.
1.2.4. Nguyên tắc huy động vốn tiền gửi từ dân cư
Huy động vốn tiền gửi từ dân cư là một trong những hoạt động chính của công
tác huy động vốn trong NHTM. Vì vậy nguyên tắc huy động vốn tiền gửi từ dân cư
cũng tuân thủ những nguyên tắc huy động vốn của NHTM.
Nguyên tắc thứ nhất: huy động vốn tiền gửi từ dân cư phải đảm bảo cân đối về
thời hạn và quy mô giữa nguồn vốn huy động được và thời gian sử dụng vốn huy động
đó. Việc huy động vốn phải dựa trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn trong từng thời kỳ để
xác định số vốn cần huy động, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn của NHTM.
Nguyên tắc thứ hai: NHTM nhận tiền gửi của khách hàng cụ thể ở đây là bộ
phận dân cư phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo thỏa thuận giữa
ngân hàng với khách hàng khi khách hàng có yêu cầu. Để đảm bảo khả năng chi trả
theo nguyên tắc trên, pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính
quy định các NHTM phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước và duy trì trên
tài khoản đó số tiền dự trữ bắt buộc (do NHNN qui định), ngân hàng không được huy
động quá 20 lần tổng số vốn tự có và quỹ dự trữ của mình.
9


1.2.5. Phân loại nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư
1.2.5.1. Theo loại tiền
Tiền gửi tiết kiệm nội tệ: là khoản tiền gửi bằng VND, loại tiền gửi tiết kiệm này
thường được hưởng lãi suất cao và thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền gửi của
ngân hàng. NHTM có thể dễ dàng kiểm soát và sử dụng rộng rãi nguồn vốn này trong
hầu hết mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhưng lãi suất để huy động vốn nội
tệ lại cao hơn so với huy động vốn bằng ngoại tệ.
Tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ: người dân có thể gửi tiền vào ngân hàng bằng ngoại
tệ mạnh như USD, EUR. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng như thanh toán xuất nhập khẩu hay mua bán ngoại tệ. Do tính ổn
định của ngoại tệ thấp hơn so với nội tệ và tâm lý của người dân nên số tiền gửi tiết
kiệm bằng nội tệ có xu hướng tăng lên. Nhưng với loại tiền gửi này có chi phí trả lãi
thấp, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngoại tệ cho hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM:
xuất nhập khẩu, L/C…
1.2.5.2. Theo kỳ hạn
Kỳ hạn vốn có liên quan đến tính ổn định, tính an toàn và khả năng sinh lời của
vốn huy động, thời hạn hoàn trả của khách hàng. Vì vậy phân loại nguồn vốn huy động
theo kỳ hạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với một NHTM. Theo kỳ hạn, nguồn vốn
huy động từ dân cư được chia làm ba loại:
Nguồn vốn ngắn hạn: là nguồn vốn huy động có kỳ hạn nhỏ hơn hoặc bằng 1
năm thông qua các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn của khách hàng. Nguồn vốn ngắn
hạn được sử dụng cho các hoạt động đầu tư, cho vay ngắn hạn hoặc dùng để chuyển
kỳ hạn phục vụ cho các khoản vay trung và dài hạn. Tuy loại nguồn vốn này có tính ổn
định kém, nhất là huy động từ tiền gửi thanh toán nhưng chi phí trả lãi thấp và dễ dàng
huy động.
Nguồn vốn trung hạn: là nguồn vốn có kỳ hạn trên 01 năm tới 05 năm thông
qua các tài khoản tiền gửi trung hạn của khách hàng. Đây là nguồn vốn quan trọng đối
với ngân hàng vì nó có tính ổn định cao, phù hợp với các hoạt động đầu tư, cho vay
trung và dài hạn với lãi suất cao. Nhưng lãi suất huy động cao hơn loại vốn huy động
ngắn hạn.
Nguồn vốn dài hạn: là nguồn vốn có kỳ hạn trên 5 năm, được ngân hàng huy
động qua tài khoản tiền gửi dài hạn của khách hàng. Nguồn vốn này thường được sử
dụng vào các hoạt động đầu tư phát triển theo định hướng của Nhà nước hoặc cho vay
dài hạn để thực hiện các công trình dân sinh. Vì là kỳ hạn dài nên tính ổn định của
nguồn vốn này cao nhất và lãi suất huy động cũng chuyển động cùng chiều với kỳ hạn.
10

Thang Long University Library


Do đó, ngân hàng sẽ có nguy cơ gặp phải rủi ro lãi suất nếu huy động nhiều vốn dài
hạn hay chính sách lãi suất ngân hàng thay đổi theo hướng tiêu cực.
1.2.5.3. Theo phương thức trả lãi
Tiết kiệm trả lãi trước: là hình thức tiết kiệm trả lãi ngay khi khách hàng gửi tiền.
Khi đến hạn khách hàng sẽ được lĩnh phần gốc đúng như số tiền gửi trên sổ tiết kiệm.
Nếu khách hàng yêu cầu rút trước hạn thì sẽ giải quyết theo quy định của ngân hàng.
Tiết kiệm trả lãi sau: là hình thức tiết kiệm trả lãi khi đáo hạn. Vào thời điểm đó
nếu khách hàng không đến rút vốn và lãi thì số tiền lãi được nhập vào vốn và coi là
vốn của kỳ hạn tiếp theo.
Tiết kiệm trả lãi định kỳ: là hình thức tiết kiệm trả lãi cho từng kỳ hạn mà khách
hàng và ngân hàng đã thỏa thuận. Đến kỳ tính lãi, khách hàng có thể rút phần lãi của
kỳ đã đăng ký vào bất cứ ngày làm việc nào của ngân hàng. Nếu khách hàng không
tính lãi theo kỳ hạn đã đăng ký thì ngân hàng chỉ thực hiện sao kê tính lãi, hết kỳ tính
lãi cuối cùng thì số lãi còn lại chưa lĩnh được nhập vào gốc.
1.2.5.4. Theo phương thức nộp gốc
Tiết kiệm gửi một lần: là loại hình tiết kiệm mà khách hàng chỉ gửi vào đó một
lần cho đến khi đáo hạn. Với hình thức này ngân hàng không tốn nhiều chi phí quản lý
do số dư của khách hàng không biến động. Chính vì vậy lãi suất của loại tiền gửi này
cao.
Tiết kiệm gửi nhiều lần: tiết kiệm gửi nhiều lần hay tiết kiệm gửi góp là hình
thức tiết kiệm theo định kỳ đã đăng ký với ngân hàng. Khách hàng gửi tiền vào ngân
hàng một số tiền, số tiền gửi từng lần có thể là cố định hoặc thay đổi theo khả năng của
khách hàng. Lãi suất của loại tiền gửi này thấp hơn tiết kiệm thông thường và ngoài
việc phụ thuộc vào kỳ hạn gửi thì lãi suất tiết kiệm còn phụ thuộc vào khoảng cách
giữa hai lần gửi, khoảng cách này càng nhỏ thì lãi suất càng cao.
1.2.6. Các hình thức huy động vốn tiền gửi từ dân cư
1.2.6.1. Huy động vốn tiền gửi từ dân cư qua tài khoản tiền gửi thanh toán
NHTM có thể huy động tiền gửi từ dân cư dưới hình thức mở tài khoản tiền gửi
thanh toán cá nhân cho khách hàng. Tài khoản tiền gửi thanh toán cá nhân là loại tài
khoản mà chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trong phạm vi số dư. Cụ thể, khách
hàng có thể rút tiền tại quầy giao dịch hoặc máy ATM. Về phía ngân hàng phải thực
hiện trích tài khoản để thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, chỉ được từ chối thanh
toán nếu số tiền thanh toán vượt quá số dư của tài khoản hoặc giấy tờ thanh toán
không rõ ràng. Về phía khách hàng phải tuân thủ các quy định, hướng dẫn của ngân
hàng trong quá trình giao dịch.
11


Bên cạnh đó, NHTM có thể bán các sản phẩm dịch vụ của mình và sử dụng số
tiền nhàn rỗi đó bổ sung cho nguồn vốn của mình. Hình thức huy động vốn này có
những ưu và nhược điểm:
- Ưu điểm: Các dịch vụ ngân hàng thuận tiện, đơn giản, an toàn nên càng được
sử dụng nhiều.
- Nhược điểm: Người dân Việt Nam vẫn chưa quen với việc thanh toán không
dùng tiền mặt, các dịch vụ hiện đại để phục vụ cho quá trình thanh toán cũng chưa phổ
biến, phí dịch vụ của ngân hàng cao…
1.2.6.2. Huy động vốn tiền gửi từ dân cư qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Hình thức huy động vốn này được coi là hình thức huy động vốn truyền thống
của NHTM, được thực hiện qua việc thu hút số tiền tạm thời nhàn rỗi của bộ phận dân
cư chưa sử dụng đến, họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy một cách an toàn
cho tương lai. Tuy lượng vốn huy động được từ loại hình này phụ thuộc vào biến động,
xu hướng của nền kinh tế và thu nhập của khách hàng. Nhưng đây vẫn là loại hình thu
hút được nhiều vốn nhất và luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động
của ngân hàng. Loại hình huy động vốn này được chia làm hai loại: Tiền gửi tiết kiệm
không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào nhưng
không được sử dụng các công cụ thanh toán. Loại tiền này có lãi suất cao hơn tiền gửi
thanh toán, tuy nhiên mức lãi suất không cao nên mục đích chủ yếu của người gửi là
đảm bảo an toàn vốn. Chi phí chi trả lãi cho phương thức huy động vốn này thấp do
tính ổn định của nó thấp.
Tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền có sự thỏa thuận về thời hạn gửi tiền và rút
tiền, khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn, nếu rút trước hạn thì chỉ được hưởng lãi
suất không kỳ hạn tại thời điểm rút. Loại tiền gửi này thường được hưởng lãi suất cố
định và phụ thuộc vào kỳ hạn, kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Tiền gửi tiết kiệm
kỳ hạn còn được chia thành ngắn, trung và dài hạn. Do tính ổn định của nguồn vốn này
cao nên chi phí trả lãi cho nguồn vốn này cũng cao.
Với những đặc điểm trên của nguồn vốn huy động qua phương thức mở tài khoản
tiền gửi tiết kiệm dân cư, hình thức này cũng có những ưu và nhược điểm:
- Ưu điểm: Hình thức mở tài khoản này đơn giản, dễ hiểu, dễ quản lý; đa dạng
các loại kỳ hạn; đảm bảo an toàn vốn nên người dân dễ tiếp cận và sử dụng.
- Nhược điểm: Loại tài khoản tiền gửi tiết kiệm này không thể sử dụng các dịch
vụ của ngân hàng; khi tỷ lệ lạm phát tăng cao hơn lãi suất tiết kiệm thì người gửi tiền
không được hưởng lợi…
12

Thang Long University Library


1.3. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng huy động vốn tiền gửi từ dân cƣ của
NHTM
1.3.1. Mở rộng huy động tiền gửi ở dân cư
Khái niệm “mở rộng” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau: sự tác động bổ
sung lên một mặt nào đó của đối tượng đã có sẵn theo chiều hướng tăng lên về mặt
lượng so với trạng thái ban đầu. Vì vậy với khái niệm “dân cư” đã trình bày ở trên thì:
“Mở rộng huy động tiền gửi dân cư là việc ngân hàng sử dụng các phương tiện, cách
thức để làm tăng lên về quy mô, phạm vi hoạt động huy động vốn hướng tới đối tượng
là dân cư nhằm thực hiện mục tiêu cụ thể của ngân hàng thông qua việc thỏa thuận
giữa khách hàng cá nhân với ngân hàng”. (Nguồn: Từ điển Tiếng Việt trực tuyến:
www.tratu.soha.vn)
1.3.2. Các chỉ tiêu định tính
1.3.2.1. Công nghệ ngân hàng
Trong xu hướng mà tài khoản tiền gửi giao dịch không chỉ dành cho các tổ chức
kinh tế mà còn hướng về cả bộ phận dân cư là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
thanh toán qua ngân hàng thay thế cho thói quen sử dụng tiền mặt của đại bộ phận dân
cư ở một số nước có nền kinh tế đang phát triển hiện nay.
Công nghệ ngân hàng hiện đại giúp khách hàng thuận tiện hơn trong quá trình sử
dụng dịch vụ của ngân hàng. Với tài khoản thanh toán, hiện nay nhiều ngân hàng đã
cho ra đời công cụ thanh toán trực tuyến hoặc thanh toán qua internet. Điều này giúp
cho cả ngân hàng và khách hàng tiết kiệm được thời gian, chi phí giao dịch tại quầy
đồng thời cũng giúp khách hàng dễ dàng quản lý số dư tài khoản của mình. Do đó, sự
đa dạng của phương tiện thanh toán và sự hiện đại của công nghệ ngân hàng được coi
là tiêu chí đánh giá mức độ mở rộng của hoạt động huy động vốn qua tài khoản tiền
gửi dân cư.
Sự thành công của công nghệ thông tin ngân hàng những năm gần đây đã giúp
cho hoạt động thanh toán của hệ thống NHTM được thông suốt từ trung ương đến các
phòng giao dịch, tạo thuận lợi đối với nhu cầu thanh toán của người dân, thúc đẩy
người dân sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt và sử dụng những
tiện ích của NHTM.
1.3.2.2. Uy tín
Uy tín luôn là yếu tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của
mỗi NHTM. Những NHTM có mức tín nhiệm trong thị trường tiền tệ, nền kinh tế và
uy tín trong lòng khách hàng thường có một lượng khách đông đảo và trung thành,
lượng tiền huy động được lớn, số lượng tài khoản nhiều. Uy tín đó được xây dựng
13


thông qua kết quả hoạt động kinh doanh, từ những nghiệp vụ nền tảng của ngân hàng.
Đồng thời ngày càng được nhân rộng nếu ngân hàng giữ vững và nâng cao chất lượng
cũng như mở rộng quy mô hoạt động. Vì vậy, uy tín của mỗi ngân hàng được coi là
một trong những tiêu chí phản ánh mức độ mở rộng huy động vốn.
1.3.3. Các chỉ tiêu định lượng
1.3.3.1. Số lượng khách hàng
Khách hàng nói đến ở đây là đối tượng huy động vốn của các NHTM – Bộ phận
dân cư có thu nhập nhàn rỗi. Trong nền kinh tế phát triển như ở Việt Nam hiện nay,
khi nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp ngày càng tăng thì sự cạnh tranh trong hoạt
động huy động vốn của các NHTM ngày càng trở nên gay gắt. Với những ưu việt của
hình thức huy động tiền gửi dân cư mà các NHTM luôn trong cuộc chạy đua để tìm
kiếm khách hàng mới và giữ chân khách hàng lâu năm. Các NHTM thực hiện mở rộng
huy động tiền gửi dân cư thông qua đa dạng kỳ hạn gửi tiền, loại tiền gửi, phạm vi
hoạt động (có mối liên hệ với thị trường liên ngân hàng thông qua các công cụ nợ) đều
nhằm mục tiêu là gia tăng số lượng khách hàng. Vì vậy, hiệu quả của việc mở rộng
này thể hiện qua những khách hàng tìm đến với ngân hàng.
1.3.3.2. Số lượng tài khoản
Việc mở rộng huy động vốn từ tiền gửi sẽ đồng thời làm tăng số lượng tài khoản
trong NHTM. Bên cạnh việc huy động vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm có mục đích là
tích lũy cho tương lai thì việc huy động vốn thông qua tiền gửi thanh toán cũng giữ vai
trò quan trọng, đặc biệt có ý nghĩa đối với nền kinh tế.
Những khách hàng là dân cư có nhu cầu thực hiện thanh toán và chi tiêu thường
nghiêng về mở tài khoản tiền gửi giao dịch. Số lượng tài khoản giao dịch sẽ tăng lên
cùng với mức độ mở rộng huy động tiền gửi dân cư của ngân hàng. Nhưng ở nền kinh
tế của những nước đang phát triển như Việt Nam, nếu người dân có tiền tạm thời nhàn
rỗi nhưng chưa xác định được thời gian cần sử dụng, do đó không thể gửi tiết kiệm có
kỳ hạn, họ sẽ tự cất giữ số tiền đó ở nhà thay vì gửi số tiền đó vào tài khoản thanh toán
ở ngân hàng. Có điều đó là thói quen sử dụng tiền mặt của người dân, họ chưa thấy
được sự thuận tiện của việc thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên lợi ích của việc
mở tài khoản tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt là rất lớn không chỉ đối với
khách hàng, ngân hàng mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy đánh giá công tác
mở rộng huy động qua tài khoản tiền gửi dân cư phải gắn liền với tiêu chí tăng số
lượng tài khoản.
1.3.3.3. Lượng tiền gửi của khách hàng
Mở rộng huy động vốn tiền gửi dân cư là việc làm tăng số lượng khách hàng dân
cư, tăng số lượng tài khoản… nhưng mục đích cuối cùng vẫn là tăng lượng tiền gửi
14

Thang Long University Library


của người dân vào ngân hàng. Hay nói cách khác là tăng nguồn vốn ngân hàng có
được từ bộ phận dân cư, để ngân hàng có lượng vốn lớn hơn, cho vay được nhiều hơn
và từ đó thu được lợi nhuận cao hơn. Vì vậy, lượng tiền gửi của người dân tăng lên là
tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá quy mô mở rộng công tác huy động vốn từ tiền
gửi dân cư.
Với việc tăng trưởng về lượng tiền gửi dân cư, các NHTM sẽ có thêm vốn để đáp
ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của mình; quy mô tín dụng có thể được mở rộng,
cơ sở hạ tầng có thể được nâng cấp, trình độ cán bộ có thể được nâng cao qua các lớp
đào tạo chuyên môn nghiệp vụ.
1.3.3.4. Loại tiền gửi
Khi nền kinh tế đang hội nhập và phát triển như hiện nay thì bắt buộc các ngân
hàng phải có những sản phẩm dịch vụ mang tính quốc tế như nghiệp vụ xuất nhập
khẩu và thanh toán quốc tế… Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang cố gắng thắt
chặt việc kiểm soát ngoại tệ trong nước nên NHTM là nơi duy nhất được phép kinh
doanh ngoại tệ. Vì vậy, các NHTM tăng cường mở tài khoản và nhận tiền gửi tiết kiệm
bằng ngoại tệ mạnh cho khách hàng cá nhân để có thể dễ dàng thực hiện vai trò của
mình.
Các NHTM không những muốn huy động vốn bằng ngoại tệ để thực hiện các
khoản cho vay trong nước mà còn muốn huy động vốn bằng đồng ngoại tệ để thực
hiện các giao dịch với nước ngoài, thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài… Do đó, mở
rộng loại tiền gửi cũng là một trong các chỉ tiêu xem xét hiệu quả mở rộng huy động
vốn từ dân cư.
1.3.3.5. Đa dạng hóa phương tiện thanh toán
Để mở rộng huy động vốn từ tiền gửi dân cư, các NHTM cần tìm mọi cách để cải
thiện chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, từ đó thu hút được sự quan tâm và ưa
thích của khách hàng. Trong đó, đa dạng hóa phương tiện thanh toán là yếu tố quyết
định thúc đẩy việc mở tài khoản của người dân. Điều này sẽ giúp cho NHTM vừa tăng
thêm số lượng khách hàng, vừa tăng thêm số lượng tài khoản giúp cho ngân hàng có
thêm nguồn vốn mới phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
Trong hệ thống NHTM ở Việt Nam, các NHTM ngày càng đa dạng hóa và nâng
cao chất lượng phương tiện thanh toán. Thanh toán trực tuyến là một trong những lợi
ích quan trọng của Thương mại điện tử đối với người tiêu dùng. Giờ đây, người dùng
cần sử dụng một vài click chuột để thanh toán cho những sản phẩm mình lựa chọn,
thúc đẩy quá trình tiêu dùng nhanh - gọn hơn. Với những phương thức thanh toán trực
tuyến như: thanh toán bằng thẻ, thẻ ghi nợ, séc, thanh toán bằng ví điện tử, thanh toán
qua điện thoại di động… Những phương thức này rất thuận tiện, nhanh chóng, sử dụng
15


dễ dàng nên sẽ làm tăng sự yêu thích sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt,
dễ dàng huy động vốn hơn và qua đó mở rộng quy mô vốn của ngân hàng.
Tóm lại, việc mở rộng hoạt động huy động từ tiền gửi dân cư được đánh giá dựa
trên những chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng. Việc tuân thủ các chỉ tiêu trên sẽ
giúp ngân hàng tránh được các rủi ro, đảm bảo hoạt động huy động vốn tăng trưởng
nhanh, ổn định và vững chắc.
1.3.4. Ý nghĩa công tác mở rộng hoạt động huy động tiền gửi từ dân cư của Ngân
hàng thương mại
Tất cả mọi NHTM đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Nguồn vốn là yếu tố đầu
vào và là yếu tố quyết định sự sống còn của NHTM, nó chiếm khoảng 90% trong tổng
nguồn vốn. Sự tăng trưởng về quy mô cũng như chất lượng nguồn vốn là yếu tố không
thể thiếu cho sự phát triển của NHTM. Nếu NHTM có nguồn vốn và cơ cấu hợp lý thì
sẽ cung cấp được các loại hình tín dụng tốt nhất, đáp ứng nhu cầu về sử dụng dịch vụ
ngân hàng tối đa nhất trong phạm vi. Từ đó tạo nên uy tín và thương hiệu mạnh cho
NHTM.
Ở các nước phát triển thì tỷ trọng vốn huy động từ dân cư chiếm khoảng 80%
tổng vốn huy động. Do đó, công tác huy động vốn từ tiền gửi dân cư được các NHTM
đặc biệt chú trọng, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Những quốc gia
có tỷ lệ tiết kiệm cao thì quy mô huy động vốn từ tiền gửi sẽ tăng lên.
Sự hợp lý về số lượng và cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng được dùng để đánh
giá hiệu quả công tác mở rộng huy động vốn. Ngày nay thì các NHTM đã không
ngừng đưa ra các hình thức huy động vốn của riêng mình để có thể thu hút khách hàng
và tối đa lượng tiền gửi dân cư. Bởi vậy, ý nghĩa của công tác huy động vốn qua tài
khoản tiền gửi dân cư không chỉ quan trọng đối với NHTM mà còn đối với cả người
dân và toàn bộ nền kinh tế:
Đối với bản thân NHTM: nhờ nguồn vốn huy động được từ tài khoản tiền gửi
dân cư mà các NHTM có thể vận hành bộ máy kinh doanh tiền tệ của mình, có thể tạo
ra lợi nhuận qua chênh lệch giữa thu từ hoạt động cho vay và chi từ hoạt động huy
động vốn.
Đối với người dân có vốn nhàn rỗi: việc huy động vốn của ngân hàng trước hết
sẽ giúp họ có những khoản tiền lãi, vì vậy các khoản tiền nhàn rỗi của họ sẽ không bị
chết, luôn được vận động và quay vòng thông qua các hoạt động của ngân hàng. Bên
cạnh đó, họ sẽ được sử dụng nhiều dịch vụ thanh toán của ngân hàng, tạo sự an toàn,
thuận tiện và nhanh chóng trong việc chi trả.
Đối với những người cần vốn: họ sẽ có thêm những cơ hội đầu tư, phát triển sản
xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng với mức chi phí hợp lý.
16

Thang Long University Library


Hoạt động cấp tín dụng của NHTM là loại hình tài chính gián tiếp, giúp cho những cá
nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn có thể kịp thời tiếp cận vốn. Loại tài chính gián tiếp
này có ưu điểm là thời gian vay vốn xác định, số vốn vay tập trung, chi phí vay vốn
phù hợp. Trong khi đó, loại tài chính trực tiếp (người cần vốn tiếp cận và vay vốn của
người thừa vốn) thường không chắc chắn về thời hạn vay vốn, số vốn vay từ một chủ
thể có vốn có thể không đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho người cần vốn. Đồng thời chi phí
vay vốn trực tiếp thường không được pháp luật quy định nên có thể người vay vốn sẽ
phải chịu thiệt thòi.
Đối với nền kinh tế: giảm thiểu chi phí cho việc in ấn, cung ứng và quản lý tiền
mặt. Tập trung được lượng tiền dư thừa nhỏ lẻ của người dân để giúp các doanh
nghiệp và tổ chức kinh tế mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và cũng là để phát
triển kinh tế.
Nếu không có hoạt động huy động vốn của NHTM thì những nguồn vốn nhỏ lẻ
của người dân sẽ không được tập trung, lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường lớn sẽ
làm cho tiền mặt nhanh chóng cũ, hỏng, mất khả năng sử dụng, làm cho Ngân hàng
Nhà nước phải chi một khoản lớn cho việc in ấn tiền mới để bù đắp, đặc biệt với các
loại tiền có mệnh giá nhỏ, giá trị của nó có thể không đủ bù đắp cho chi phí in ấn.
Vì vậy, việc huy động vốn từ tiền gửi dân cư sẽ thúc đẩy mọi người sử dụng
nhiều hơn các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, giảm lượng tiền lưu thông
trên thị trường, có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế.
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng tới khả năng huy động vốn tiền gửi từ dân cƣ
Mỗi hoạt động kinh doanh đều diễn ra trong một môi trường nhất định. Mỗi môi
trường đều có tính hai mặt của nó, một mặt nó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh, nhưng mặt khác nó cũng có thể hạn chế sự phát triển các hoạt động của
doanh nghiệp. Vì vậy, hoạt động kinh doanh luôn chịu sự tác động của môi trường
xung quanh. Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM nói chung và huy động vốn từ tiền
gửi dân cư nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên để tiến hành hoạt
động dù dưới hình thức nào đi nữa thì phải tồn tại chủ thể và khách thể. Do đó, chúng
ta cần xem xét các yếu tố tác động tới huy động tiền gửi dân cư gồm yếu tố khách
quan và yếu tố chủ quan để có được giải pháp tốt nhất nhằm nâng cao khả năng huy
động vốn từ dân cư của NHTM.
1.4.1. Yếu tố khách quan
1.4.1.1. Môi trường chính sách pháp lý
Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của ngân hàng đều phải chịu sự
điều chỉnh của luật pháp. Các hoạt động của NHTM chịu sự điều chỉnh của luật các tổ
chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhà nước như: Luật các tổ
17


chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật đầu tư... Các NHTM đều phải hoạt
động kinh doanh trong một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ được xây dựng trên nguyên tắc
đảm bảo lợi ích chung cho toàn xã hội trong đó có quyền lợi của người gửi tiền và
ngân hàng.
Việc đề ra chính sách tiền tệ quốc gia: hệ thống ngân hàng là công cụ đắc lực để
thực hiện. Chẳng hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt
tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút người dân gửi tiền tiết kiệm nhiều
hơn để có thu nhập cao hơn, các doanh nghiệp sẽ vay ít hơn để không mất quá nhiều
chi phí; khi nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh bằng
cách hạ lãi suất, thay vì gửi tiền tiết kiệm ít lợi nhuận thì người dân sẽ dùng tiền để đầu
tư và chi tiêu nhiều hơn.
Việc sử dụng công cụ chính sách tiền tệ: trong việc vận hành các công cụ để
thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW, mỗi công cụ đều tác động đến nghiệp vụ tạo
vốn nói chung cũng như hoạt động huy động tiền gửi dân cư của NHTM nói riêng. Hai
công cụ chính đó là lãi suất chiết khấu và dự trữ bắt buộc.
Chính sách đầu tư của nhà nước: chính sách đầu tư của nhà nước hợp lý hay
không hợp lý đều ảnh hưởng đến chính sách huy động vốn của ngân hàng. Bởi vì trên
thực tế, những chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường kinh doanh không
chỉ đối với khách hàng mà còn đối với cả ngân hàng.
Trong quá trình đổi mới, các định chế liên quan đến công tác ngân hàng cũng
như huy động vốn ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ đòi hỏi các ngân hàng phải hiểu biết
một cách đầy đủ từ đó tuân thủ và vận dụng một cách sáng tạo, có hiệu quả các định
chế, chính sách đó tuyệt đối tránh vi phạm pháp luật.
1.4.1.2. Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội
Hoạt động của NHTM nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng không thể
thoát ly khỏi môi trường kinh doanh đặc biệt là môi trường kinh tế - chính trị - xã hội .
Trong các hoạt động của ngân hàng thì hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn
luôn bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, tình trạng thất nghiệp,
lạm phát… tác động trực tiếp. Khi nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, từ đó
tạo điều kiện cho người dân tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút
vốn của ngân hàng thuận lợi. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm
cho quá trình sản xuất bị trì trệ, kinh doanh không có hiệu quả, thu nhập của người dân
bị ảnh hưởng sẽ khiến quá trình tạo vốn của ngân hàng gặp khó khăn.
Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình
kinh tế của một quốc gia. Điều đó đem lại nhiều cơ hội đầu tư, tuy nhiên cũng gây ra
một vài ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế đất nước; tất nhiên có tác động tới hoạt động
18

Thang Long University Library


kinh doanh ngân hàng và cụ thể là công tác huy động vốn. Quá trình luân chuyển vốn
từ quốc gia này sang quốc gia khác dễ dàng, thuận lợi, tạo nhiều cơ hội làm ăn sinh lời.
Tuy nhiên sự bất ổn của nền kinh tế cũng tạo áp lực đối với các doanh nghiệp trong
nước nói chung và ngân hàng nói riêng. Các NHTM đẫ gặp rất nhiều khó khăn trong
việc huy động vốn từ tài khoản tiền gửi.
Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu môi trường chính trị không ổn định.
Sự ổn định về chính trị hay về chính sách ngoại giao cũng tác động mạnh mẽ đến quan
hệ vốn của ngân hàng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Điều này
cũng là nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của ngân hàng.
Nhân khẩu học cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới nguồn vốn thông qua việc
phân bổ dân cư, trình độ, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp… Lượng tiền gửi của nhóm
người làm nghề kinh doanh thường nhiều hơn lượng tiền gửi của những đối tượng
khác do những người làm nghề kinh doanh có dòng tiền luân chuyển thường xuyên, có
nguồn thu nhập cao hơn so với những đối tượng còn lại. Tuy nhiên, lượng tiền gửi của
nhóm người làm nghề kinh doanh thường ngắn hạn và tạm thời. Hay khi xét về giới
tính thì phụ nữ thường có thói quen tiết kiệm, phòng xa và không thích rủi ro nên
lượng tiền tích lũy được thường gửi vào ngân hàng, trong khi nam giới thường năng
động hơn, tự tin hơn nên lượng tiền tích lũy được đầu tư vào các kênh khác như bất
động sản, chứng khoán… Vì vậy, ngân hàng cũng nên xem xét yếu tố này trong hoạt
động huy động vốn của mình.
1.4.1.3. Môi trường kinh doanh
Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng có sự tham gia của nhiều loại hình
ngân hàng mới và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Việc thành lập ồ ạt các NHTM
cổ phần trong nước và các ngân hàng nước ngoài đã tạo ra sức ép vô cùng to lớn đối
với mỗi ngân hàng, buộc các ngân hàng phải tự mình đổi mới sản phẩm, nâng cao chất
lượng dịch vụ làm tăng lợi thế cạnh tranh. Xu hướng cạnh tranh trong ngành ngân
hàng càng gia tăng do các yếu tố như thay đổi chính sách tài chính tiền tệ, đổi mới tài
chính của doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ… Môi trường kinh doanh có thể tạo điều
kiện cũng có thể hạn chế sự phát triển của NHTM, cụ thể hơn là có ảnh hưởng tiêu cực
cũng như tích cực tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng
cần nghiện cứu kỹ môi trường kinh doanh trước khi đưa ra các quyết định cho hoạt
động kinh doanh của mình.
1.4.1.4. Thói quen tiêu dùng của khách hàng
Có thể nói rằng ngân hàng là một ngành kinh doanh “lòng tin”, ngân hàng là
người giữ túi tiền cho người dân cũng như các doanh nghiệp, là người nắm hầu bao
19


của nền kinh tế quốc dân, nếu hệ thống ngân hàng không được người dân tin tưởng thì
ngân hàng chắc chắn sẽ không thể phát triển.
Thói quen tiêu dùng của người dân ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các
ngân hàng, đặc biệt là tập quán sử dụng tiền tệ. Nếu người dân có thói quen sử dụng
tiền mặt nhiều thì rõ ràng ngân hàng sẽ mất đi cơ hội kinh doanh. Ở những nước phát
triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt rất phổ biến, người dân có thu nhập cao và
có những khoản tiền để tích lũy, nếu không dùng số tiền đó để đầu tư thì họ thường
mang tới ngân hàng, mở tài khoản thanh toán hoặc tài khoản tiết kiệm. Điều đó rất
thuận lợi cho các NHTM huy động vốn. Nhưng ở những nước đang phát triển như Việt
Nam hiện nay thì nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng chưa nhiều do thu
nhập của đại bộ phận người dân không cao, nhu cầu giao dịch thanh toán qua ngân
hàng còn hạn chế nên ít người mở tài khoản tại ngân hàng. Điều này sẽ hạn chế khả
năng tạo tiền của hệ thống NHTM, không phát huy được tính hiệu quả của tài khoản
giao dịch.
Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng. Nếu
người dân có thói quen dùng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ là chính thì việc huy
động vốn của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn, vào thời kỳ vàng còn có
giá trị thì người dân dùng tiền nhàn rỗi để mua vàng cất trữ, còn khi người dân có nhu
cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì họ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn. Do đó cơ
hội huy động vốn của ngân hàng tăng lên.
Có thể nói, đây không phải là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả huy
động vốn của ngân hàng, nhưng lại có giá trị ở chỗ là nó khiến cho hầu hết tiền nhàn
rỗi trong dân cư được luân chuyển vào ngân hàng.
1.4.2. Yếu tố chủ quan
Là những yếu tố hình thành từ bên trong ngân hàng và ảnh hưởng đến công tác
huy động vốn của ngân hàng.
1.4.2.1. Trình độ cán bộ ngân hàng
Khả năng huy động vốn của ngân hàng gắn trực tiếp với trình độ, kỹ năng, kinh
nghiệm của các cán bộ nhân viên ngân hàng, do đó ở đây, ngay đầu tiên khi đề cập đến
các nhân tố chủ quan tác động đến công tác huy động vốn của một NHTM thì yếu tố
nhân lực được đề cập đến đầu tiên.
Ngân hàng là một ngành chịu nhiều rủi ro nhất, vì thế những người có khả năng
phát hiện và đánh giá được rủi ro là những người có sự thận trọng cần thiết, tôn trọng
các yêu cầu về đạo đức, nghề nghiệp. Coi trọng đạo đức cũng là một phẩm chất quan
trọng đối với các nhân viên ngân hàng. Việc coi trọng đạo đức là cơ sở để ngân hàng
giữ chữ tín với khách hàng, là chỗ dựa niềm tin của công chúng đối với ngân hàng. Do
20

Thang Long University Library


sự đòi hỏi về nguồn tích lũy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nên tập quán về sự gắn
bó nghề nghiệp cũng có ý nghĩa quan trọng. Nếu những nhân viên ngân hàng không có
thói quen thay đổi chỗ làm việc, thường gắn bó với một ngân hàng trong thời gian dài
thì các ngân hàng sẽ có lợi thế trong việc duy trì và liên tục nâng cao trình độ cho đội
ngũ nhân viên của mình, trên cơ sở đó để nâng cao lợi thế cạnh tranh. Vì có rất nhiều
mảng hoạt động của ngân hàng đòi hỏi người cán bộ phải có trình độ cao và đòi hỏi
kinh nghiệm tích lũy liên tục nên khả năng tự học, tự đào tạo của các nhân viên sẽ có ý
nghĩa quyết định đối với việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng.
Về phương diện quản lý: Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, về tài sản nợ,
tài sản có tức là trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình ngân hàng dự đoán
được những rủi ro xảy ra, dự đoán được môi trường đầu tư của mình có hiệu quả hay
không, nắm bắt được những biến đổi ngoài thị trường một cách nhanh chóng để có thể
tư vấn cho khách hàng. Từ đó thu hút được nhiều khách hàng hơn làm cho môi trường
đầu tư của ngân hàng ngày càng mở rộng. Mặt khác, do quản lý tốt nên trong quá trình
hoạt động thì ngân hàng sẽ đảm bảo được an toan vốn, tăng uy tín, từ đó có điều kiện
mở rộng khách hàng dân cư gửi tiền.
Về trình độ nghiệp vụ: Với mọi thao tác nghiệp vụ thì cán bộ ngân hàng cần thực
hiện nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả, từ đó ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng
hoạt động kinh doanh và thu hút được khách hàng.
Về thái độ phục vụ: Đây là những yếu tố mang tính chất chủ quan tác động đến
quy mô tiền gửi. Nếu ngân hàng hoạt động tốt, có danh tiếng lâu đời, các nhân viên
ngân hàng luôn cởi mở, nhiệt tình đối với khách hàng thì sẽ gây được ấn tượng tốt với
khách hàng, sẽ càng có nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi tiền. Vì vậy, để thu hút
được khách hàng gửi tiền thì trong quá trình phục vụ, cán bộ ngân hàng không phải chỉ
có trình độ chuyên môn về nghiệp vụ mà còn phải chú ý đến thái độ phục vụ của mình
sao cho vừa lòng khách hàng.
1.4.2.2. Công nghệ của ngân hàng
Cơ sở vật chất của ngân hàng khang trang hiện đại, công nghệ tiên tiến mang lại
lợi ích thiết thực cho kinh doanh, luôn tạo điều kiện thuận lợi và phục vụ cho khách
hàng tốt hơn, tạo lòng tin cho khách hàng. Thực tế khách hàng tin tưởng yên tâm hơn
khi gửi tiền ở một ngân hàng có trình độ công nghệ cao vì giao dịch dễ dàng, bảo mật
cao về thông tin khách hàng… Và khi khách hàng, đặc biệt là đối tượng dân cư thực sự
yên tâm gửi tiền nhàn rỗi của mình vào ngân hàng thì ngân hàng sẽ dễ dàng trong việc
huy động vốn thông qua các tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc thu thập thông tin là rất cần thiết.
Nhờ có tin học hiện đại giúp ngân hàng thu thập thông tin của khách hàng, thị trường.
21


Thông qua đó có thể xác định được thị trường đầu tư vốn, hiệu quả phát triển nghiệp
vụ và các dịch vụ của mình. Mặt khác nhờ thu thập thông tin tốt nên hạn chế rủi ro
trong kinh doanh dẫn đến lợi nhuận tăng, ngân hàng có điều kiện mở rộng nguồn vốn
huy động.
1.4.2.3. Hình thức huy động vốn của ngân hàng
Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đa dạng hóa
hình thức huy động: hình thức huy động càng phong phú thì ngân hàng càng dễ huy
động hơn. Để thực hiện tốt công tác huy động vốn, các ngân hàng thường đưa ra nhiều
hình thức huy động vốn đa dạng như: phát hành kỳ phiếu, huy động tiền gửi tiết kiệm
với nhiều kỳ hạn khác nhau cho các loại tiền gửi có kỳ hạn… Khối lượng vốn huy
động được phụ thuộc trực tiếp vào hình thức huy động mà ngân hàng áp dụng. Khi áp
dụng nhiều hình thức huy động vốn sẽ tạo nhiều cơ hội để người gửi lựa chọn, đáp ứng
được các nhu cầu của người gửi. Mỗi ngân hàng đều tìm cho mình hình thức huy động
vốn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và tâm lý dân cư vùng mà ngân hàng đặt địa
điểm. Khi hình thức huy động vốn đa dạng nghĩa là số lượng vốn huy động được tăng
lên và chi phí huy động có xu hướng giảm xuống.
Bên cạnh đó, lãi suất huy động vốn thường là mối quan tâm hàng đầu của những
cá nhân muốn gửi tiền vào ngân hàng. Tuy nguồn tiền gửi không chỉ phụ thuộc vào lãi
suất mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như kỳ hạn, mức độ rủi ro, uy tín, điều
kiện thanh toán… của ngân hàng, nhưng với lãi suất cao, linh hoạt, hợp lý thì luôn
kích thích được người gửi tiền đặc biệt là loại tiền gửi tiết kiệm từ dân cư.
1.4.2.4. Mạng lưới phục vụ cho việc huy động vốn
Với những ngân hàng có địa bàn gần với khu dân cư hoặc trung tâm thương mại
thì sẽ có nhiều thuận lợi trong việc huy động vốn. Mạng lưới huy động vốn của các
NHTM thường biểu hiện qua số lượng việc tổ chức các phòng giao dịch, điểm giao
dịch. Mạng lưới huy động không chỉ tập trung ở vùng đông dân cư mà còn phải mở
rộng ở các khu vực xa trung tâm như: vùng nông thôn, vùng xâu, vùng xa… Nếu mạng
lưới hẹp sẽ gây khó khăn cho những khách hàng có tiền nhàn rỗi vì phí giao dịch hơn
nữa lại mất nhiều thời gian.
1.4.2.5. Các dịch vụ do ngân hàng cung cấp
Dịch vụ ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng, quyết
định sự ưa thích của khách hàng đối với ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng bao gồm: sản
phẩm dịch vụ ngân hàng cung ứng, vị trí địa lý của ngân hàng, thái độ phục vụ và sự
chuyên nghiệp của nhân viên, thời gian làm việc và công nghệ ngân hàng. Nếu ngân
hàng đưa ra các dịch vụ tốt và đa dạng thì thường có lợi thế hơn so với các ngân hàng
khác có dịch vụ giới hạn. Trình độ, công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khách hàng
22

Thang Long University Library


sẽ cảm thấy hài lòng về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền
vào ngân hàng. Đây là yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh tranh phi lãi suất vì
khách hàng mà ngân hàng phục vụ không quan tâm đến lãi suất mà quan tâm đến chất
lượng và loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng. Với cùng một lãi suất như nhau,
ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách
hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn. Một ngân hàng có dịch vụ tốt sẽ luôn chiếm được
thiện cảm của khách hàng, giữ chân khách hàng lâu hơn, từ đó tạo nên lợi thế cho ngân
hàng.
1.4.2.6. Uy tín và chiến lược marketing của ngân hàng
Thương hiệu là yếu tố chủ quan vô hình có tác động tới công tác huy động vốn
nói chung và huy động vốn từ tiền gửi dân cư nói riêng của ngân hàng. Thương hiệu
bao hàm uy tín của ngân hàng, một ngân hàng có thương hiệu mạnh mẽ sẽ dễ dàng huy
động được vốn lớn hơn do uy tín ngân hàng đó đối với khách hàng là cao, làm tăng sự
đảm bảo an toàn cho số tiền khách hàng gửi. Vì vậy uy tín giúp ngân hàng giữ lại được
những khách hàng cũ và gia tăng những khách hàng mới. Uy tín của ngân hàng được
thể hiện qua hoạt động kinh doanh, giá trị thương hiệu của ngân hàng… Sự tin tưởng
của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động
và tiết kiệm chi phí huy động. Từ đó ngân hàng có thể đề ra chiến lược dự trữ dễ dàng
hơn.
Trong kinh doanh theo cơ chế thị trường thì chiến lược Marketing vô cùng quan
trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Các NHTM hiện
nay đã từng bước học tập và ứng dụng nghệ thuật thông tin quảng cáo, các hình thức
khuyến mãi… Tuy việc đầu tư cho công tác này còn hạn chế, nhưng có thể nói đây
cũng là mặt mạnh của ngành ngân hàng trong việc cạnh tranh để huy động tiền gửi.
Thông tin quảng cáo, tiếp thị khuyến mại, các dịch vụ hậu mãi rõ ràng sẽ phát triển
mạnh mẽ trong cơ chế thị trường.
Qua những phân tích trên ta thấy rằng, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động huy động vốn từ tiền gửi dân cư của ngân hàng là rất cần thiết. Qua đó, ngân
hàng có thể các định được vị trí hiện tại của mình trong hệ thống ngân hàng, có thể
thấy những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như những thách thức mà ngân hàng
phải đối mặt để từ đó có thể phán đoán nghiên cứu và dự báo sự thay đổi của môi
trường để xác định cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến
lược mở rộng quy mô và chất lượng huy động vốn từ tiền gửi dân cư là một bộ phận
hết sức quan trọng.

23


KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Thông qua việc nghiên cứu những lý luận cơ bản về NHTM và hoạt động huy
động vốn qua tài khoản tiền gửi dân cư trong NHTM đã cho thấy hoạt động huy động
vốn là hoạt động vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Những nội dung trình bày trong chương 1 đã tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về
huy động vốn từ tiền gửi dân cư, các hình thức huy động vốn, phân tích các chỉ tiêu
đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác mở rộng huy đống tiền gửi dân cư.
Trên cơ sở lý thuyết đó, tạo tiền đề để nghiên cứu sâu hơn và phân tích cụ thể hơn về
thực trạng hoạt động huy động vốn tiền gửi dân cư nhằm thực hiện tốt cho công tác
mở rộng hoạt động này của Agribank chi nhánh tỉnh Hà Nam ở chương 2.

24

Thang Long University Library


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN
GỬI TỪ DÂN CƢ TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH TỈNH HÀ
NAM
2.1. Những nét khái quát về Agribank chi nhánh tỉnh Hà Nam
2.1.1. Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Ngày 26/03/1988, theo Nghị định số 53/HĐBT, Ngân hàng Phát triển Nông
nghiệp Việt Nam được thành lập, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn. Ngân hàng được hình thành trên cơ sở tiếp nhận vốn từ NHNN.
Quyết định số 400/CT đã quy định ngày 14/11/1990, NHNN Việt Nam được
thành lập thay thế cho Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (NHPTNo VN).
NHPTNo VN đã có những đóng góp rất to lớn cho đất nước lúc bấy giờ, đặc biệt là
kiến nghị thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo và thực hiện bảo trợ cho ngân
hàng đó hình thành và phát triển đến bây giờ vẫn là một niềm tự hào to lớn của
NHPTNo VN trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế đất nước.
Ngày 15/11/1996 là ngày quan trọng nhất của NHPTNo VN khi Thủ tướng
Chính phủ và Thống đốc NHNN đã ký quyết định 180/QĐ-NHNN đổi tên NHPTNo
VN thành NHNo&PTNT Việt Nam (viết tắt là Agribank) như bây giờ.
Với tên gọi như hiện nay, Agribank không chỉ có chức năng là một NHTM mà
còn phải đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn, góp phần thực hiện thành công
công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và đất nước.
Năm 2001 - 2002 là năm quan trọng đối với Agribank khi lần đầu tiên triển khai
đề án tái cơ cấu, đổi mới sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM hiện đại.
Đây cũng là năm Agribank mở rộng kinh doanh, không chỉ phát triển kinh doanh trong
nước mà còn mở rộng ra thị trường quốc tế.
Sau 20 năm hình thành và phát triển, năm 2008 là năm có tính quyết định trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của các NHTM. Vì vậy, Agribank quyết định trở
thành một Tập đoàn tài chính đa ngành, đa sở hữu và hoạt động đa lĩnh vực.
Năm 2011, Agribank lần nữa lại thực hiện việc chuyển đổi mô hình sang Công ty
TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 100% theo quyết định số 214/QĐNHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam.
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh
Agribank chi nhánh tỉnh Hà Nam được thành lập theo Quyết định số 515/QĐNHNo-02 ngày 16/12/1996 của Chủ tịch Hội đồng quản trị (nay là hội đồng thành
viên) Agribank. Agribank Chi nhánh tỉnh Hà Nam, là doanh nghiệp nhà nước, tổ chức
25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×