Tải bản đầy đủ

Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt của năm 2014

Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ
đặc biệt của năm 2014 và mối quan hệ với Luật sửa đổi bổ sung Luật thuế tiêu
thụ đặc biệt 2014
Cùng với sự thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, đến năm 2008 Quốc hội khóa XII đã
thông qua Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thay thế Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998
(sửa đổi, bổ sụng năm 2003 và năm 2005), tiếp đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2014. Nhìn chung khung pháp lý về thuế tiêu thụ
đặc biệt ở Việt Nam xuất hiện muộn hơn các nước khu vực và trên thế giới. Và việc
thực thi pháp luậ thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam như thế nào còn là một vấn đề
cần được quan tâm. Chính vì vậy em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích những yếu tố
ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt của năm 2014 và mối
quan hệ với Luật sửa đổi bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2014” để thể hiện quan
điểm và sự hiểu biết của mình về vấn đề này.
NỘI DUNG
I. Khái quát về thuế tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt
1. Một số khái niệm
Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệtϖ
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 không có điều khoản nào giải thích từ ngữ mà
chỉ liệt kê những hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, tuy
nhiên có thể đưa ra một khái niệm ngắn gọn về thuế tiêu thụ đặc biệt như sau:
“Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, đánh vào một số loại hàng hóa và dịch

vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh, nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời
làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước”


Thuế tiêu thụ đặc biệt về bản chất là loại thuế gián thu, do người tiêu dùng gánh
chịu. Do vậy, thuế tiêu thụ đặc biệt có có nhiều điểm tương đồng với các loại thuế
gián thu khác. Tuy nhiên, có thể nhận diện thuế tiêu thụ đặc biệt thông qua một số
đặc điểm sau :
- Thứ nhất, thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp: Khác với các loại thuế gián thu khác
như thuế bán hàng (sale tax), thuế doanh thu (gross receipt tax) và thuế giá trị gia
tăng là những loại thuế có đối tượng chịu thuế rộng rãi, bao quát hầu hết các loại
mặt hàng và dịch vụ được tiêu thụ trong nền kinh tế, thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ tập
trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được nhà nước khuyến
khích tiêu dùng. Tùy theo quan điểm của từng quốc gia mà danh mục hàng hóa và
dịch vụ phải chịu thuế này là rất khác nhau.
Nhìn chung, các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thường có các tính
chất sau:
• Một số hàng hóa, dịch vụ có giá bán cao, được coi như mặt hàng cao cấp, xa xỉ (ô
tô dưới 24 chỗ ngồi, tàu bay, du thuyền, dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát – xa, ka
– ra – ô – kê…)
• Hàng hóa không thiết yếu với đời sống, gây lãng phí (hàng mã, vàng mã….)
• Hàng hóa có thể có hại cho sức khỏe con người, hoặc tác động không tốt đến môi
trường (thuốc lá, rượu, bia…)
- Thứ hai, thuế suất thuế TTĐBt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỷ lệ và
thường cao hơn các loại thuế suất của các loại thuế gián thu khác: Đối với thuế suất
tỷ lệ việc điều chỉnh mức thu thường được đặt ra khi Nhà nước chủ trương thay đổi
chính sách hướng dẫn phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng xã hội hoặc khi cần
thay đổi tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước. Đối với thuế suất cố định, ngoài
việc chịu ảnh hưởng của những yếu tố dẫn đến việc sửa đổi mức thu như trường


hợp thuế suất tỷ lệ nói trên, mức độ lạm phát cũng là một tác nhân quan trọng khiến
các nhà làm luật phải thường xuyên chỉnh sửa mức thu theo kịp sự biến động của
giá trị đồng tiền. Ở Việt Nam áp dụng thuế suất tỷ lệ cho thuế tiêu thụ đặc biệt, ví
dụ như: thuốc lá điếu, xì gà và các loại chế phẩm khác từ cây thuốc là chịu thuế tiêu
thụ đặc biệt là 65%, dịch vụ kinh doanh vũ trường chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là
40%, kinh doanh đặt cược là 30%, kinh doanh gôn là 20%...
- Thứ ba, thuế TTĐBthường chỉ được thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu:
Cùng một mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt khi luân chuyển qua khâu lưu thông
sẽ không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Đặc điểm này cho thấy thuế tiêu thụ đặc

biệt khác với thuế doanh thu và thuế giá trị gia tăng ở chỗ các loại thuế này đánh
trên toàn bộ doanh thu bán hàng, hoặc trên giá trị tăng thêm của hàng hóa ở mỗi
khâu lưu thông.
Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệtϖ
Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình đăng ký, kê khai, nộp thuế, quản lý và quyết toán thuế tiêu thụ đặc biệt.
Từ khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt và các nghiên cứu cơ bản về pháp luật thuế tiêu
thụ đặc biệt, có thể rút ra đặc trưng của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt so với các
quy định pháp luật thuế khác là pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt có phạm vi tác động
tương đối hẹp. Xuất phát từ nội dung được pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt điều
chỉnh cho thấy thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ áp dụng đối với những đối tượng có hành
vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ có tính chất đặc biệt là đối tượng chịu thuế theo quy
định của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Trong khi đó, thuế giá trị gia tăng (VAT)
có phạm vi tác động rộng, đến tất cả đối tượng trong xã hội.
Khái niệm thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệtϖ


Thực thi pháp luật được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thi hành pháp
luật. Theo nghĩa hẹp thực thi pháp luật chỉ là hoạt động của riêng cơ quan quản lý
nhà nước trong việc áp dụng, thi hành pháp luật. Nhưng cách hiểu đó là phiến diện
và chưa đầy đủ vì pháp luật là những chuẩn mực chung và bất cứ ai trong xã hội
phải tuân theo. Vì vậy, thực thi pháp luật phải là hoạt động thực hiện pháp luật của
tất cả mọi công dân. Đối với pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế tiêu thụ đặc
biệt nói riêng việc thực thi pháp luật chia thành 2 nhóm: Hoạt động thu thuế (quản
lý thuế) và hoạt động đóng thuế, tương ứng với 2 nhóm đối tượng đó là cơ quan nhà
nước (chủ thể quyền lực) và chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế (chủ thể mang nghĩa vụ).
Việc thực thi tốt pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ Nhà nước quản lý dễ dàng hơn
đối với các cơ sở sản xuất, nhập khẩu hàng hóa dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,
giảm dần tình trạng trốn thuế, vi phạm pháp luật về thuế nói chung và thuế tiêu thụ
đặc biệt nói riêng. Mặt khác còn giúp tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, giúp
điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong nước, hướng dẫn tiêu dùng….Do
đó, việc thực thi tốt pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt mang một ý nghĩa rất quan
trọng, góp phần không nhỏ và quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
2. Vai trò của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thứ nhất, pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt là một trong những công cụ giúp Nhà
nước thực hiện chính sách pháp lý đối với cơ sở sản xuất kinh doanh và nhập khẩu
hàng hóa, dịch vụ. Việc thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất giúp cho Nhà
nước có thể nắm bắt được một cách tương đối chính xác số lượng thực tế các cơ sở
sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trong nền kinh tế, cũng như năng lực
sản xuất của từng cơ sở sản xuất từng loại mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Việc
thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu nhập khẩu sẽ giúp Nhà nước quản lý được hoạt
động nhập khẩu mặt hàng, dịch vụ được coi là đặc biệt, không khuyến khích tiêu
dùng, đồng thời còn nhằm hạn chế việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài
qua đó khuyến khích dùng hàng trong nước. Thứ hai, pháp luật thuế tiêu thụ đặc


biệt là công cụ để Nhà nước điều tiết thu nhập của các tầng lớp nhân dân có thu
nhập cao, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng xã
hội. Thuế tiêu thụ đặc biệt không đánh vào tất cả các loại hàng hóa mà chỉ đánh vào
một số loại hàng hóa nhất định, nhà nước không khuyến khích tiêu dùng, do đó thuế
suất của thuế tiêu thụ đặc biệt thường cao hơn so với các loại thuế khác. Khi thuế
suất cao sẽ làm hàng hóa, dịch vụ tăng cao. Hệ quả là không phải mọi tầng lớp nhân
dân đề có thể sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ đó mà chỉ những tầng lớp nhân
dân khá giả trong xã hội mới có khả năng chi trả cho những loại mặt hàng này. Ví
dụ như rượu, bia, thuốc lá, kinh doanh vũ trường, mát – xa, Karaoke, casino, tàu
bay, du thuyền… Qua đó, một mặt nhà nước vừa có thể hướng dẫn tiêu dùng, vừa
có thể huy động thu nhập của một bộ phận dân cư có thu nhập cao và có khả năng
chi trả cho những loại mặt hàng, dịch vụ không thiết yếu tiêu dùng vào ngân sách
nhà nước để sử dụng cho những mục tiêu công cộng, góp phần đảm bảo công bằng
xã hội
- Thứ ba, pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ quan trọng được sử dụng nhằm
ổn định và tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Theo quyết toán ngân
sách Nhà nước, thu ngân sách từ thuế tiêu thụ đặc biệt với hàng sản xuất trong nước
với hàng sản xuất trong nước năm 2008 đạt 22,123 tỷ đồng, năm 2009 đạt 29,728 tỷ
đồng, năm 2010 ước đạt 37,906 tỷ đồng, trong 9 tháng đầu năm 2011 đạt 33,425 tỷ
đồng, 9 tháng đầu năm 2013 thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước đạt
38,606 tỷ đồng , năm 2014 thuế tiếu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước đạt
38,432 tỷ đồng
II. Những tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc
biệt của năm 2014 và mối quan hệ với Luật sửa đổi bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt 2014
1. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm
2014.


a. Chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
Pháp luật là cụ thể hóa đường lối, cơ sở phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà
nước. Bởi vậy, tất cả các văn bản pháp luật được ban hành đều phải dựa trên đường
lối, cơ sở của Đảng và Nhà nước, lấy đó làm thước đo, làm kim chỉ nam để cụ thể
hóa nó, đưa nó vào đời sống xã hội.
Thông qua thuế tiêu thụ đặc biệt, nhà nước thực hiện chính sách quản lý đối với các
cơ sở sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh đối với một số
hàng hóa, dịch vụ; là công vụ kinh tế để nhà nước điều tiết thu nhập của các tầng
lớp dân cư, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý. Chẳng hạn những mặt hàng nhà nước thấy
rằng việc sử dụng thuốc lá ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người dân nên
đánh thuế rất cao đối với sản phẩm này (65%).
Các chính sách chủ trương của Đảng và Nhà nước có thể ảnh hưởng trực tiếp đến
việc thực thi pháp luật về thuế. Nếu các chính sách thuế phù hợp với hoàn cảnh điều
kiện thực tế của đất nước thì pháp luật về thuế được tôn trọng và tuân theo. Các quy
định về thuế đánh quá nhẹ ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách nhà nước, tuy nhiên
nếu quy định về pháp luật thuế quá hà khắc, nặng nề dẫn đến tư tưởng “làm liều”
của người dân chính sách về thuế không đảm bảo. Vì vậy Đảng và Nhà nước cần
cân nhắc hợp lý các quy định của pháp luật với thực tiễn của đất nước.
Thế nhưng, nhà nước chỉ ban hành các quy định của pháp luật thể hiện đường lối,
chủ trương của mình chưa đủ để người dân tuân thủ theo. Vì vậy, nhà nước ban
hành các biện pháp chế tài mạnh đối với những người không thực hiện đúng theo
quy định thuê s tiêu thụ đặc biệt.Những quy định này tác động đến suy nghĩ của
người dân buộc phảo thực thi đúng pháp luật.
Một ví dụ điển hình: Năm 2006, mức thuế TTĐB tăng 25%, 45%, 65% thành một
mức thống nhất 55% và năm 2008: từ 55% tăng lên 65% (tăng 10%, tương tự mức
đang được đề xuất cho 2015 và 2018). Khi điều chỉnh tăng thuế suất, các nhà làm


Luật cũng nhằm tới mục tiêu tăng giá bán để hạn chế lượng tiêu thụ thuốc lá. Tuy
nhiên, theo Báo cáo sức mua thuốc lá của Bộ Tài chính năm 2013, giá bán lẻ trên
danh nghĩa của mặt hàng này tăng trong cả hai lần tăng thuế 2006-2008 nhưng giá
thực tế (đã loại bỏ lạm phát) chỉ tăng trong lần tăng thuế 2006 và lại giảm trong lần
tăng thuế 2008. Thậm chí những năm gần đây việc thuế tăng dẫn đến việc nhập lậu
ngày càng tăng: Theo báo cáo của Hiệp hội Thuốc lá do ông Vũ Văn Cường, Chủ
tịch hiệp hội và cũng là Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam nêu số
thuốc lá nhập lậu năm 2013 là 21,9 tỷ điếu, chiếm 20,7% thị phần; 9 tháng đầu năm
2014, theo số liệu khảo sát của công ty khảo sát nổi tiếng là AC NIELSEN, thuốc lá
lậu đã tăng lên 30-40%.
b. Yếu tố kinh tế
Có thời kỳ kinh tế của nước ta hầu như không phát triển với cơ chế quản lý bằng kế
hoạch hóa tập trung, con người sống và chịu áp đặt của cơ chế và vì vậy trong tư
tưởng người ta cũng thường thấy bóng dáng của sự bao cấp – bao cấp cả trong suy
nghĩ…sự trì trệ đó là do cơ sở kinh tế thấp kém, ít phát triển thậm chí ở một mức độ
nào đó còn có thể khẳng định nhà nước quyết định số hàng hóa cụ thể đối với từng
người cụ thể. Công bằng mà nói trong giai đoạn này việc ban hành luật thuế tiêu thụ
đặc biệt không thực sự cần thiết, do đó đến năm 1990 luật thuế tiêu thụ mới được
đưa vào Việt Nam và áp dụng với những hàng hóa ảnh hưởng đến sức khỏe con
người là chủ yếu.
Tuy nhiên sự hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung không thể chống lại sự phát
triển của kinh tế theo một xu hướng mới – cơ chế thị trường với cơ cấu nhiều thành
phần. Cơ chế kinh tế mới đã thức dậy những khả năng tiềm ẩn trong xã hội, đời
sống xã hội của người dân tăng lên. Kinh tế phát triển kéo theo sự chạy đua về nhu
cầu nhất là tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Họ bắt đầu mới về đời sống cũng như
tinh thần, đặc biệt trong đó có cả nhu cầu về những hàng hóa dịch vụ được quy định
trong Luật thuế tiêu thụ đặc biệt…Khi nhu cầu về những hàng hóa này xuất hiện thì


người dân càng muốn tìm hiểu về luật thuế tiêu thụ đặc biệt, buộc phải thực thi pháp
luật thuế tiêu thụ đặc biệt.
Chẳng hạn, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng – Bộ trưởng Bộ tài chính cho rằng đến nay,
các cơ sở sản xuất bia địa phương đã phát triển đủ mạnh và có thể cạnh tranh được
trên thị trường. Mặt khác, việc hạ thuế suất đối với mặt hàng bia đã làm tăng sức
mua (tiêu thụ) đối với bia dễ dẫn đến lạm dụng bia. Tính riêng năm 2014, lượng bia
tiêu thụ là 3 tỷ lít và tính bình quân đầu người là 32 lít/người. Do đó, việc tăng thuế
đối với bia, rượu và đồ uống có cồn nếu quá đột ngột sẽ gây ra vấn nạn bia, rượu
lậu, bất hợp pháp. Khi đó, nguồn thu của Chính phủ sẽ không được tối ưu hóa do
việc rò rỉ thuế, trong khi người tiêu dùng sẽ gặp rủi ro cao hơn khi lượng bia, rượu
không rõ nguồn gốc tăng mạnh trên thị trường. "Bởi vậy, việc tăng thuế cần phải có
lộ trình và tránh gây sốc đối với DN, vì đây là đối tượng ảnh hưởng trực tiếp, do đó
bất kỳ sự thay đổi nào cũng cần phải thực hiện một cách công bằng và hợp lý, nếu
tăng thuế cũng cần xem xét về mặt thời gian, tăng theo từng giai đoạn để tạo điều
kiện giúp các DN ổn định sản xuất,
chứ không nên tăng từng năm một và tăng với mức cao như đề xuất hiện nay của
nhà quản lý”, một chuyên gia nhận định.
c. Yếu tố xã hội
Sự phát triển của nền kinh tế đương nhiên sẽ dấn đến sự thay đổi của xã hội. Các
điều kiện xã hội phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như văn hóa, giáo dục, y tế…Ngay
những cái được coi là bản sắc cũng có thể bị mai một, thậm chí còn nhiều biến chất
trước sự thay đổi các điều kiện mới. Nhờ các điều kiện về kinh tế được nâng lên nên
các điều kiện về xã hội cũng có nhiều chuyển biến. Sự chuyển biến này cũng xảy ra
theo hai xu hướng hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực. Khi nền kinh tế càng phát triển
thì sự giao lưu văn hóa, lượng thông tin, tri thức…cũng có nhiều hạn chế và do vậy
làm khả năng hiểu biết của con người cũng bị giới hạn. Giới hạn này cũng có thể
làm cho con người không được tiếp xúc với pháp luật và vì vậy mà dẫn đến không
biết pháp luật mà vi phạm quy định của pháp luật. Ngược lại khi có nhiều thông tin


có thể mang đến ảnh hưởng mạnh mẽ và cũng xảy ra theo hai xu hướng. Xu hướng
thứ nhất đem lại hiểu biết của con người, các kiến thức về pháp luật thường thức, nó
tạo ra thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thói quen đấu tranh với những biểu
hiện tiêu cực. Xu hướng thứ hai là nó có thể đem lại những hiểu biết có hại, nếu các
thông tin được cung cấp là những thông tin không “sạch”, có hại chẳng hạn như:
Các thông tin về lẩn tránh pháp luật, mặt hạn chế của thuế tiêu thụ đặc biệt với kích
động không thực thu thuế…dễ dấn đền sự lệch chuẩn trong cách ứng xử, trong đó
có vi phạm pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Do đó, vấn đề kiểm soát thông tin và
xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật là vấn đề hết sức
quan trọng đối với nhà nước.
Trong những năm qua, dư luận cũng chỉ đích danh Bộ Tài chính, hoặc ám chỉ
“người ta” áp mức thuế cao quá, tổng thuế và phí đến hơn 8 ngàn đồng/lít xăng. Tuy
nhiên, mỗi nước có chính sách thuế khác nhau. Như ở Thái Lan, mỗi lít xăng gánh
21,14 baht thuế và phí, tương đương 13.800 đồng/lít. Điều đáng nói ở đây là hình
như Bộ Tài chính bị oan. Dư luận trách Bộ Tài chính sao lại áp thuế tiêu thụ đặc
biệt lên xăng. Nhưng Luật thuế tiêu thụ đặc biệt do Quốc hội ban hành năm 2008,
ghi rõ mức 10% cho xăng các loại. Đâu phải Bộ Tài chính? Luật thuế bảo vệ môi
trường do Quốc hội ban hành năm 2008 ghi rõ: xăng các loại chịu thuế từ 1.000 đến
4.000 đồng/lít. Từ đó đến nay, Bộ Tài chính luôn luôn áp mức tối thiểu là 1.000
đồng/lít. Bộ đâu có thể phá luật để thu thấp hơn? Tương tự với các loại thuế khác.
Tuy nhiên, nếu có trách thì trách việc không minh bạch thông tin. Hàng chục năm
qua, Cơ quan Chính sách Năng lượng của Thái Lan (EPPO) công khai hàng ngày
rất chi tiết mọi thành phần cấu thành giá xăng: giá xuất xưởng, thuế trung ương,
thuế địa phương, thuế môi trường, quỹ xăng dầu, thuế VAT, định mức chi phí
marketing, chi phí phân phối... Đó là điều hàng chục năm qua chúng ta đã không
làm được, hoặc không muốn làm, để cho dư luận đặt dấu hỏi! Thêm một điều nho
nhỏ: các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là doanh nghiệp. Đừng giao cho họ
thêm nhiệm vụ làm công tác xã hội, phân phát trợ giá, cân bằng giàu nghèo... Chúng
ta đã thử làm như vậy trước đây và kết quả là thảm họa.


d. Trình độ năng lực quản lý của bộ máy quản lý thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế là công cụ quan trọng để nhà nước tồn tại và phát triển, qua đó duy trì trật tự
công bằng xã hội. Hiện nay nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đòi hỏi phải có một đội
ngũ các nhà làm luật có trình độ nhận thức cao, nắm bắt được xu hướng phát triển
của đất nước, nhạy bén trước những biến đổi của đời sống kinh tế xã hội trên thế
giới. Như vậy có thể thấy trình độ năng lực của các nhà xây dựng pháp luật thuế có
ảnh hưởng lớn đến nội dung của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Bởi pháp luật thuế
tiêu thụ đặc biệt được ban hành phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với yêu cầu phát
triển của đất nước, thể hiện được nguyện vọng của nhân dân. Ngược lại, nếu trình
độ nhận thức của các nhà làm luật cao thì tất nhiên pháp luật thuế sẽ đảm bảo được
tính khả thi, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước, thể hiện được nguyện
vọng của nhân dân. Ngược lại, nếu trình độ nhận thức của các nhà làm luật còn hạn
chế, không nắm bắt được xu thế phát triển chung thì pháp luật thuế nói chung và
thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng khó có thể được thực hiện tốt và nghiêm minh, hơn
nữa cũng không đảm bảo được sự công bằng xã hội
Trong những năm quan nhà nước đã chăm lo nhiều đến công tác đào tạo, bồi dưỡng
nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, phẩm chất đạo
đức, tác phong cho đội ngũ cán bộ quản lý thuế, tăng cường các điều kiện cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý thuế, đổi mới cơ cấu tổ chức ngành thuế
cho phù hợp, đổi mới cải cách thủ tục hành chính…Trong điều kiện nền kinh tế phát
triển, diện đối tượng cần quản lý khá rộng, lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, việc nâng cao khả năng quản lý thuế phụ thuộc rất lớn vào công nghệ thông
tin với những phần mềm quản lý hiện đại. Song hiện tại hệ thống thông tin vẫn chưa
đáp ứng được một khâu toàn diện trong các khâu quản lý nhà nước còn chưa được
thực hiện hoàn chỉnh.
e. Yếu tố tâm lý


e.1. Tâm lý và lợi ích cá nhân
Vì hành vi của con người được hình thành từ những động cơ mang tính chủ quan,
trong quá trình thực thi pháp luật bên cạnh những lợi ích không thể không tính đến
mức độ hiểu biết pháp luật, các nhu cầu, nguyện vọng mục đích của chủ thể. Nhấn
mạnh yếu tố chủ quan Resetov cho rằng: “Cần phải làm sao để mỗi công dân nhận
thức được một cách rõ ràng cách thức và biện pháp thực thi các quyền của mình,
biết vận dụng chúng và hiểu được mối quan hệ không tác rời của quyền và nghĩa
vụ. Đây là một kênh cần thiết để củng cố sự thống nhất của các quyền lợi nhà nước
với lợi ích của cá nhân đồng thời cũng nhằm hoàn thiện quá trình thực thi pháp
luật”.
Thông thường mọi người quan tâm đến một văn bản pháp luật sẽ ảnh hưởng như thế
nào đến quyền lợi của cá nhân và quyền lợi của nhóm đối tượng. Trong phần lớn
các trường hợp, chủ thể không tiếp nhận một đạo luật và không tự giác thực thi
pháp luật đó (ở đây không bao gồm trường hợp chủ thể không biết đến sự tồn tại
của các văn bản hoặc cố ý vi phạm một cách công khai) mà theo họ đạo luật này
không đề cập đến lợi ích cá nhân thiết thực của mình. Vì vậy, những mục đích, lợi
ích được thể hiện trong đạo luật và được luật bảo vệ cho có thể hiện tính hữu ích đối
với xã hội
Ví dụ như việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá không chỉ vì ngân sách,
mà chủ yếu là hướng dẫn tiêu dùng. Thế giới cũng đã tổng kết rằng một trong
những phương cách tốt nhất để hạn chế sử dụng thuốc lá là tăng thuế. Với người
đang hút không hẳn thuốc lá đắt lên họ sẽ bỏ, vì bỏ thuốc lá rất khó, nhưng với
người chưa hút hoặc mới hút thì việc tăng thuế sẽ có tác động mạnh. Bởi tâm lý của
người tiêu dùng là giá cả phải rẻ mới được ưa chuộng chính vì thế sẽ phần nào giảm
được số lượng người hút thuốc.
e.2. Nhận thức cá nhân và sự trợ giúp


Nhận thức pháp luật được hình thành bởi mức độ năm bắt và khả năng phân tích
thông tin pháp luật – điều mà không phải ai cũng được trang bị đầy đủ. Đó chính là
kiến thức pháp luật, sự am hiểu các thuật ngữ, các phương pháp giải thích, phương
pháp logic chuyên ngành… Thực thi pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào trình độ văn
hoá pháp lý của mỗi công dân, nghĩa là phụ thuộc vào mức độ được thông tin trong
lĩnh vực pháp luật.Lẽ dĩ nhiên những hiểu biết của cá nhân và các quyền và nghĩa
vụ của mình đóng một vai trò quan trọng trong quá trình thực thi pháp luật. Tuy
nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng hiểu một cách chính xác từng câu, từng chữ
được thể hiện trong văn bản. Bên cạnh đó, những lập luận của những người không
có khả năng chuyên môn giải thích pháp luật cũng có thể dẫn đến những điều không
hợp pháp.
“Trong thực tế, có rất nhiều các quy phạm pháp luật được đón nhận một cách tự
nhiên thông qua giáo dục, đặc biệt là những quy phạm trùng hợp với các quy phạm
đạo đức. Có những quy phạm thì người tự tìm hiểu bằng chính hiểu biết của mình.
Nhưng có những quy định của pháp luật, để hiểu được cần có sự giúp đỡ của các
chuyên gia pháp lý”. Tuy nhiên, để phát triển tình cảm pháp chế, ngoài việc có môi
trường thuận lợi, công dân cần phải được tiếp cận với pháp luật của nhà nước. Thật
khó trông đợi sao sự tuân thủ pháp luật chỉ theo thói quen và sự tôn trọng, khi một
người không hề được biết đến những quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ cơ
bản của mình.
e.3. Mục tiêu đồng thuận với mục đích cá nhân
Một trong những điều kiện bảo đảm cho thực thi pháp luật có kết quả là sự đồng
thuận giữa các mục tiêu đặt ra của văn bản và định hướng trong quá trình thực thi.
Khi xây dựng các quy phạm pháp luật, nhà làm luật luôn mong sao cho các quy
định đó được thực thi một cách tự nguyện. Vì vậy, điều quan trọng là mục tiêu của
luật phải hoà nhập được vớimục đích của các chủ thể với sự khác biệt thấp nhất.
Nếu không, các kết quả thu được của quá trình thực thi pháp luật sẽ xa rời với
những dự kiến ban đầu của nhà làm luật. Chẳng hạn: Hiện nay nhằm khuyến khích


sử dụng ô tô phục vụ sản xuất kinh doanh, vận chuyển hành khách công cộng, hạn
chế sử dụng ô tô cá nhân, pháp luật quy định ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên không
thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, điều này cũng phù hợp với tình hình đất nước
cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho những doanh nghiệp sản xuất vận tải phục
vụ lợi ích công cộng.
f. Mức đồng bộ và hoàn thiện của hệ thống pháp luật nước ta
Tính đồng bộ giữa các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật khác nhau
sẽ là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt được thuận
lợi và có tính đồng bộ cao. Trong những năm quan thuế tiêu thụ đặc biệt đã đạt
được nhiều kết quả trong việc thực hiện cải cách, nhưng với mục tiêu đặt ra trong
cải cách là nâng cao trình độ quản lý thuế tiêu thụ đặc biệt ngang tầm với các nước
tiên tiến trong khu vực thì chúng ta còn chưa làm được. Điều này đòi hỏi chúng ta
phải xây dựng một hệ thống pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt chặt chẽ hơn. Sự hoàn
thiện của hệ thống pháp luật có vai trò chủ chốt đối với việc thực thi pháp luật thuế
tiêu thụ đặc biệt. Nếu hệ thống pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt phù hợp với điều
kiện hoàn cảnh đất nước cũng như mục đích chung của cá nhân thì pháp luật thuế
tiêu thụ đặc biệt sẽ được đảm bảo thực thi trên thực tế. Ngược lại nếu pháp luật có
nhiều lỗ hổng lớn tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi trốn thuế diễn ra
Tổng kết gần 20 năm thực hiện Luật Thuế TTĐB và các Luật sửa đổi, bổ sung đã
cho thấy về cơ bản, thuế TTĐB đã đạt được mục tiêu đặt ra là hướng dẫn sản xuất,
tiêu dùng của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng một cách hợp lý, tăng
cường quản lý sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hoá và dịch vụ. Thuế suất
cao áp dụng đối với nhiều mặt hàng như thuốc lá, rượu, bia, ôtô du lịch, kinh doanh
vũ trường,... không chỉ nhằm mục tiêu động viên nguồn thu cho NSNN mà còn thực
hiện vai trò định hướng tiêu dùng. Chính sách miễn, giảm thuế TTĐB được công bố
trước theo lộ trình giảm dần bảo hộ đối với doanh nghiệp sản xuất bia hơi, sản xuất,
lắp ráp ôtô trong nước,... tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp lại SXKD trong
nước và cùng với thuế nhập khẩu đã góp phần vào việc hình thành nên một ngành


công nghiệp mới. Mặc dù đạt được nhiều kết quả thiết thực nhưng trước sự phát
triển kinh tế xã hội hiện nay và trong thời gian tới, Luật Thuế TTĐB của nước ta
vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện.
2. Mối quan hệ với Luật sửa đổi bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2014 trong việc
thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt.
Sau gần 5 năm thực hiện, Luật thuế TTĐB cơ bản đã đạt được các mục tiêu, yêu
cầu đề ra. Trong đó, Thuế TTĐB đã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần định
hướng sản xuất, tiêu dùng của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng cho
ngân sách nhà nước một cách hợp lý. Thuế TTĐB góp phần ổn định và tăng nguồn
thu cho ngân sách nhà nước. Tỷ trọng thu ngân sách từ thuế TTĐB trong tổng thu
ngân sách từ thuế, phí và lệ phí luôn ổn định trong những năm qua: tổng thu từ thuế
TTĐB chiếm tỷ trọng khoảng 8% - 9% tổng thu ngân sách nhà nước và chiếm tỷ
trọng khoảng 1,8% - 2,6% trên GDP hàng năm (chi tiết số thu thuế TTĐB từ năm
2010 đến năm 2013 trong Báo cáo tổng kết, đánh giá trình kèm).
Để khuyến khích hơn nữa việc sử dụng nhiên liệu sinh học, sử dụng nhiên liệu cồn
từ sản xuất trong nước, góp phần bảo vệ môi trường,định mức thuế suất thuế TTĐB
ưu đãi đối với xăng sinh học là 9% đối với xăng E5 và 8,5% đối với xăng E10. Đối
với mặt hàng thuốc láphương án lộ trình tăng thuế suất thuế TTĐB đối với thuốc lá
như sau: từ ngày 01/01/2016 tăng từ 65% lên 70%; từ ngày 01/01/2019 tăng từ 70%
lên 75%.
Việc tăng thuế đối với mặt hàng này là có lý do. Chính phủ cho biết, theo Tổ chức Y
tế thế giới, thuốc lá là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử
vong trên thế giới. Việc sử dụng thuốc lá gây ra 25 loại bệnh khác nhau, như: ung
thư phổi, ung thư thanh quản, ung thư khoang miệng, ung thư da, các bệnh tim
mạch,… Việt Nam thuộc nhóm 15 nước có số người hút thuốc lá cao trên thế giới,
một trong những nguyên nhân là do giá bán lẻ thuốc lá còn thấp, thanh thiếu niên dễ


tiếp cận với thuốc lá. Mục tiêu của Chính phủ nêu tại Chiến lược Phòng chống tác
hại thuốc lá đến năm 2020 là phải giảm tỷ lệ hút thuốc trong nam giới 8,4% (từ mức
47,4% hiện nay xuống mức 39%).
Về thuế suất đối với mặt hàng rượu, bia, để hạn chế sử dụng rượu, tăng thuế suất
thuế TTĐB đối với các mặt hàng này như sau: Đối với rượu: Rượu từ 20 độ trở lên
tăng từ mức thuế suất 50% lên thuế suất 65% (tăng 15%); rượu dưới 20 độ áp dụng
thuế suất 35% (tăng 10%). Đối với bia: từ ngày 01/7/2015 tăng từ 50% lên 55%; từ
ngày 01/01/2017 tăng lên 60%; từ ngày 01/01/2018 tăng lên 65%.
Sở dĩ, có quyết định này là do việc lạm dụng rượu, bia đã gây tác hại đến sức khỏe
người dân, ngoài ra còn là một trong những căn nguyên của nhiều vấn đề xã hội
khác như: mất trật tự an toàn xã hội và tai nạn giao thông.Bên cạnh đó, tại Quyết
định số 244/QĐ-TTg ngày 12/2/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách quốc
gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020 có quy định:
Áp dụng chính sách thuế phù hợp đối với rượu, bia và đồ uống có cồn khác nhằm
giảm sử dụng, lạm dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác cũng như hạn chế buôn
lậu và sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác không đạt tiêu chuẩn...Theo Bộ
trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, nhìn chung, do những nội dung sửa đổi, bổ
sung thuế suất thấp và có lộ trình nên doanh nghiệp vẫn có lãi. Vì vậy các phương
án thuế suất đưa ra đều không ảnh hưởng tới việc làm và thu nhập của người lao
động trong các ngành sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB cũng
như trong ngành, lĩnh vực liên quan (như người dân trồng cây thuốc lá).
Đối với thu NSNN, xét về tổng thể số thu có xu hướng tăng theo lộ trình tăng thuế
suất và theo tốc độ tăng thu do tăng trưởng kinh tế, do thay đổi về thu nhập và mức
sống của người dân, sự gia tăng dân số, thay đổi trong cơ cấu dân số,… Theo ước
tính, năm 2015 tăng thêm khoảng 571 tỷ đồng, năm 2016 tăng thêm khoảng 2.773
tỷ đồng, năm 2017 tăng thêm khoảng 4.395 tỷ đồng, năm 2018 tăng thêm khoảng
6.436 tỷ đồng, năm 2019 tăng thêm khoảng 9.312 tỷ đồn


III. Một số ý kiến pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả thực thi tốt thuế tiêu thụ đặc biệt
ở Việt Nam hiện nay
1. Những hạn chế trong việc thực thi thuế tiêu thụ đặc biệt
Với đội ngũ công chức, viên chức, người lao động rất lớn (trên 4 vạn người); đại đa
số công chức ngành thuế đều có tinh thần trách nhiệm, tận tâm tận lực. Tuy
nhiên,đôi lúc cũng không tránh khỏi ở một số nơi hoặc tại một số thời điểm vẫn còn
một số nhỏ công chức chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực chuyên môn; thiếu tu
dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, thiếu tinh thần trách nhiệm, gây
khó khăn, phiền hà cho người nộp thuế... làm ảnh hưởng đến thành tích chung, đến
uy tín và hình ảnh của ngành Thuế nói chung và trong công tác thực hiện thuế tiêu
thụ đặc biệt nói riêng.
Một số quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt còn nhiều vấn đề tranh cãi như việc
bất cập về đối tượng chịu thuế và không chịu thuế, mức thuế suất chưa thỏa đáng,
hình thức văn bản chưa tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng luật. Ví dụ như thuế suất
TTĐB hiện khá phức tạp. Đối với mỗi loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau có mức
thuế suất tương ứng khác nhau, trong một số trường hợp đối với cùng một loại hàng
hóa nhưng lại chia theo các tiêu chí khác nhau để áp dụng các mức thuế suất rất
chênh lệch nhau, nên biểu thuế càng thêm phức tạp, làm cho việc xác định mức thuế
suất áp dụng chính xác rất khó khăn và dễ bị vận dụng tùy tiệnVề thủ tục, người
nộp thuế phải thực hiện rất nhiều loại giấy tờ, thủ tục phức tạp. Không ít doanh
nghiệp thuộc đối tượng hoàn thuế nhưng phải đợi hàng tuần, hàng tháng để được
giải quyết.
Nhận thức của một bộ phận người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt còn chưa cao nên dẫn
đến tình trạng trốn thuế, lách luật để được giảm thuế, hạn chế mức thấp nhất để nộp
thuế, điều này gây ra sự thâm hụt nguồn thu quỹ ngân sách nhà nước. Tình trạng
tham ô, tham nhũng trong ngành thuế vẫn còn nhiều, số tiền thất thoát khá lớn, điều


này phản ánh một phần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiêp của cán bộ quản lý
thuế chưa cao, vừa làm cho NSNN bị giảm sút.
Từ những hạn chế còn tồn tại trên, cần có những giải pháp hữu hiệu để có thể thực
thi tốt thuế tiêu thụ đặc biệt, vừa làm ổn định trong ngành thuế, vừa tăng nguồn thu
cho ngân sách nhà nước và phản ánh đúng bản chất của thuế tiêu thụ đặc biệt là
nhằm hạn chế việc sử dụng các mặt hàng không cần thiết.
2. Một số ý kiến pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả thực thi tốt thuế tiêu thụ đặc biệt ở
Việt Nam hiện nay
a. Hoàn thiện quy định của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và hiệu quả của việc áp
dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt
Sự hoàn thiện các quy định pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt có ảnh hưởngrất lớn tới
hiệu quả thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Vì vậy trong thời gian tới các cơ
quan lập pháp cần rà soát các quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt, thực hiện và báo
cáo Chính phủ thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp. Cụ thể như: Báo cáo Bộ Tài
chính và đề xuấtsửa đổi các văn bản pháp quy (Luật, Nghị định, Thông tư của Bộ
Tài chính) để đơn giản hóa chính sách và thủ tục; hạn chế những khác biệt về quy
định giữa thuế và kế toán doanh nghiệp; Đẩy mạnh ứng dụng CNTT, phấn đấu đến
cuối năm 2014 đạt trên 95% doanh nghiệp khai thuếtiêu thụ đặc biệt điện tử; Tăng
cường công tác hậu kiểm, thanh tra kiểm tra để ngăn chặn, chống thất thu thuế tiêu
thụ đặc biệt; Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý thuế; kiểm soát nội bộ,
giám sát việc thực thi công vụ của cơ quan thuế, cán bộ thuế.
Thêm vào đó hoàn thiện các quy định pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt cần cân
nhắc vấn đề giải quyết các mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia với các nước đối tác
trong ngành, lĩnh vực tương ứng, giữa chính sách bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong
nước và định hướng tiêu dùng chính sách lao động, việc làm, nguồn thu ngân sách


và chống gian lận thương mại. Đây là điều hết sức cần thiết nhằm tạo ra một sân
chơi bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.
b. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt
Với phương châm “đồng hành cùng người nộp thuế”, các cơ quan thuế trong cả
nước cần đẩy mạng công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. Thường xuyên
đổi mới, đa dạng hóa các kênh tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế bằng nhiều hình
thức như: tuyên truyền trên các thông tin điện tử của ngành, báo, hội nghị tập huấn,
tài liệu hướng dẫn, gửi qua địa chỉ email…phù hợp, hiệu quả đối với từng nhóm
người nộp thuế, hàng năm Cục thuế các tỉnh đã tổ chức nhiều hội nghị đối thoại với
hàng nghìn lượt nộp thuế để kịp thời giải đáp những thắc mắc về chính sách thuế
tiêu thụ đặc biệt, đồng thời tổ chức Hội nghị tuyên duyên khen thưởng các doanh
nghiệp, cá nhân tiêu biểu thực hiện tốt nghĩa vụ thuế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nhằm đảm bảo yêu cầu thu chi, cân
đối ngân sách thì nhiệm vụ của ngành thuế được xác định ngày càng nặng nề, khó
khăn hơn, vì vậy để làm tốt công tác tuyên truyền, vận động ngoài việc không
ngừng thực hiện cải cách thủ tục hành chính, trang bị thêm cho từng cán bộ thuế về
kiến thức nghề nghiệp…còn phải tranh thủ sự đồng tình hỗ trợ của cấp ủy, chính
quyền các ngành, các tầng lớp nhân dân, đó là một yêu cầu cần thiết, vừa thực hiện
vừa rút kinh nghiệm để khắc phục thiếu sót của từng cán bộ thuế, từng cơ quan
thuế, có làm được như vậy thì chúng ta tin tưởng rằng dù công tác thu thuế có khó
khăn những ngành thuế cũng sẽ luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng
và Nhà nước giao phó./.
c. Tăng cường chuyên môn nghiệp vụ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho đội
ngũ cán bộ thuế tiêu thụ đặc biệt
Tổng cục Thuếcần triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực nhưđẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với học tập làm theo tấm


gương đạo đức Hồ Chí Minh. Ban hành Tuyên ngôn ngành thuế, đồng thời sửa đổi,
bổ sung các Quy định về “10 điều kỷ luật của ngành”, “Những tiêu chuẩn cần xây,
những điều cần chống”, “Tiêu chuẩn văn hoá công sở và đạo đức công chức
thuế”...; nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương của công chức thuế khi thực thi công
vụ. Gần đây nhất Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Chỉ thị số 01/CTTCT ngày 19/8/2014 về việc tăng cường kỷ cương kỷ luật, chấn chỉnh lề lối làm
việc, thái độ, tác phong ứng xử của công chức thuế với người nộp thuế và đẩy mạnh
cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế. Đây có thể
coi là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn ngành Thuế, nhằm một mặt xây
dựng đội ngũ cán bộ chuyên sâu chuyên nghiệp, một mặt tăng cường kỷ cương kỷ
luật, chấn chỉnh lề lối làm việc, thái độ, tác phong ứng xử của công chức thuế với
người nộp thuế.
d. Cải cách thủ tục hành chính thuế tiêu thụ đặc biệt
Tổng cục Thuếphải đẩy mạnh cải cách toàn diện trong hệ thống thuế bao gồm cả cải
cách về cơ chế, cách thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Theo thông lệ
quốc tế thì một cơ chế quản lý hiệu quả cụ thể là: Xây dựng và dần hoàn thiện bộ
tiêu chí đánh giá rủi ro, thực hiện quản lý thuế theo rủi ro nhằm nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý. Quản lý rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích đánh giá và xử lý
rủi ro phát sinh trong quản lý thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm mục tiêu đạt được lợi ích
bền vững trong hoạt động quản lý; Đề xuất, thiết lập cơ chế trao đổi thông tin giữa
các cơ quan thuế địa phương trong nội bộ ngành và với các đơn vị quản lý ngoài
ngành (như BHXH...) phục vụ công tác xác định và đánh giá rủi ro.
Hơn nữa, việc đơn giản hóa các thủ tục và mẫu biểu sẽ giúp Việt Nam tiến gần hơn
những thực tiễn tốt trên thế giới trong việc khai thuế. Tuy nhiên, còn rất nhiều dư
địa cho cải cách, và Việt Nam cần phát huy những kết quả bước đầu này để xây
dựng các phương án cải cách cơ bản và bền vững hơn nữa.


Các văn bản chính sách thường xuyên thay đổi làm cho doanh nghiệp khó theo dõi
và thực hiện. Do đó, cơ quan thuế phải chủ động, tích cực tuyên truyền về những
nội dung thay đổi này. Đồng thời chỉ đạo thống nhất cán bộ công chức trong ngành
quán triệt thực hiện kỷ cương, kỷ luật theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ
Tài chính nhằm tăng cường quản lý cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho
doanh nghiệp và người dân thực thi tố thuế tiêu thụ đặc biệt.
KẾT LUẬN
Tóm lại, nguồn thuế nói chung luôn là nguồn thu quan trọng nhất đối với ngân sách
nhà nước, trong đó, nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt chiếm một tỉ trọng không
nhỏ và trong tương lai sẽ còn tăng thêm nữa trong cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà
nước ta, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Thuế tiêu thụ đặc biệt là
công cụ kinh tế giúp nhà nước điều tiết thu nhập của các tầng lớp nhân dân có thu
nhập cao, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý. Do vậy việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt là một yêu cầu cấp thiết. Hiện nay việc thực
thi pháp luật thuế tiêu thụ đặcbiệt ở nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định,
góp phân thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật
thuế nói chung và hệ thống pháp luật thuế nói riêng.

BẢNG TỪ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG.
BTC BỘ TÀI CHÍNH
CNTT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
DN DOANH NGHIỆP
NSNN NGÂN SÁCHNHÀ NƯỚC.
TTĐB TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
TS THUẾ SUẤT
VAT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×