Tải bản đầy đủ

Tiểu luận về phân quyền

Trường Đại Học Luật Hà Nội

A. Phần mở đầu.
Trong quá trình học tập và trau dồi kiến thức bộ môn lý luận chung về nhà nước và
pháp luật thì "tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước" hay còn gọi là "tư tưởng phân
quyền" là một trong những những học thuyết về chính trị và pháp lý khiến bản thân em
cảm thấy băn khoăn, muốn đi sâu vào tìm hiểu thu nhận thêm kiến thức. Và hơn hết là
hiểu biết một cách rõ ràng nhất lịch sử hình thành, phát triển cũng như những giá trị to lớn
mà nó đã đem lại trong việc xây dựng một xã hội tôn trọng pháp luật.
Học thuyết phân quyền đã ra đời trong bối cảnh khi mà con người đã bước ra khỏi
bóng tối của sự u mê, cùng với những sự phát triển của khoa học tự nhiên họ mất dần
niềm tin nơi Kinh thánh và bắt đầu hoài nghi về quyền lực thần thánh tối cao trong tay nhà
vua_người được coi là thiên tử có quyền cai quản và định đoạt mọi thứ.
Và các học giả đã cố gắng để tìm ra một cách thức tổ chức nhà nước hoàn thiện nhất.
Họ lại bùng cháy lên một nhà nước lý tưởng như thời Platon:
"... so với nước Cộng hòa của Platon
Tôi chẳng kém gì, thậm chí còn hơn;
Bởi đó chỉ là những huyền thoại trên giấy,
Còn tôi là hiện thực của những gì ông ta viết
Về một khuôn khổ vững chắc cho con người, của cải và luật
pháp

Một điểm đến của tất cả những người thông sáng"
(Thomas More_Địa đàng trần gian, NXB Hội nhà văn)
Phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị - pháp lý có ý nghĩa hết sức quan
trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính trị thế giới. So với các tư tưởng chính trị trong
chế độ chuyên chế độc tài, lý thuyết phân quyền được coi là tư tưởng thời đại, đánh dấu sự
chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên chế sang việc
thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ. Sự hình thành và phát triển của lý
thuyết này gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội, hướng
đến xác lập các mối quan hệ cơ bản giữa pháp luật và quyền lực, cá nhân và cộng đồng,
công dân và nhà nước nhằm đảm bảo tính hiệu quả cao nhất của việc thực thi quyền lực.
Chính vì vậy, phân quyền được coi là một tất yếu khách quan trong các nhà nước dân chủ,
là điều kiện đảm bảo cho những giá trị tự do được phát huy, là tiêu chí đánh giá sự tồn tại
và phát triển của nhà nước pháp quyền, nơi chủ quyền nhân dân giữ vai trò tối thượng.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1

Tiểu luận về vấn đề phân quyền


Trường Đại Học Luật Hà Nội

Để hiểu rõ tư tương phân chia quyền lực nhà nước ta cần nắm rõ một số khái niệm
sau:
 Khái niệm nhà nước: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính
trị,có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội
nhằm bảo duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thông trị
trong xã hội.
 Khái niệm quyền lực nhà nước: Quyền lực nhà nước là sức mạnh mang tính ý
chí của nhà nước, có tính bắt buộc phải tuân theo đối với mọi cá nhân, tổ chức, lực lượng
trong xã hội; được đảm bảo thực hiện bởi một bộ máy chuyên nghiệp quản lý mọi mặt đời
sống xã hội,bởi các công cụ sức mạnh như nhà tù, tòa án, quân đội...và bởi hệ thống các
qui tắc xử sự chung thống nhất cho toàn xã hội. Quyền lực nhà nước vê bản chất là biểu
hiện tập trung cho quyền lực chính trị của lực lượng chiếm ưu thế về kinh tế trong xã hội.
 Khái niệm phân chia quyền lực: Phân chia quyền lực nhà nước là nguyên tắc tổ
chức quyền lực nhà nước sao cho không một cá nhân hay cơ quan nào nắm trọn vẹn
quyền lực.
 Khái niệm tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước - còn gọi tắt là tư tưởng
phân quyền là tổng thể các quan điểm về việc chia tách quyền lực nhà nước thành các loại
quyền lực khác nhau, về cơ chế vận hành của từng loại quyền lực và mối quan hệ theo

hướng ngăn cản, kiềm chế, kiểm soát hoặc đối trong với nhau giữa các loại quyền lực ấy
trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước.
1. Nguồn gốc và sự phát triển của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước
Tư tưởng phân quyền đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị phương
Tây.Ngay từ thời cổ đại,Aristote (384-322 tr.CN) quan niệm rằng trong bất kỳ nhà nước
nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi
việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án. Tuy nhiên các yếu tố này, lúc đầu,
được mô tả một cách đơn giản về mặt cấu trúc,chức năng và thẩm quyền chứ chưa chỉ ra
rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó.
Những tư tưởng phân quyền sơ khai thời cổ đại được phát triển thành học thuyết ở
Tây Âu vào thế kỉ 17-18.Người khai sinh ra học thuyết này là triết gia người Anh,John
Locke (1632-1704) và người có đóng ghóp lớn nhất trong việc phát triển nó một cách
hoàn chỉnh là nhà luật học người Pháp S.montesquieu (1689-1755) - Người mà sau này
khi nói đến thuyết phân quyền người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của Ông.
Vào thời điểm đó, Montesquieu kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp
lúc bấy giờ. Ông cho rằng đó là một tổ chức quyền lực phi lý là bởi nhà nước tồn tại vốn
biểu hiện ý chí chung nhưng trong chế độ chuyên chế nó lại biểu hiện ý chí đặc thù; chế
độ chuyên chế với bản chất vô pháp luật và ý chí tuỳ tiện của nó lại trái với bản chất pháp
luật và nhu cầu pháp luật. Montesquieu nhận thấy pháp luật gồm nhiều lĩnh vực, phân
ngành rõ rệt, cho nên tập trung vào một người duy nhất là trái với bản chất của nó. Gắn
với bản chất của chế độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền. Vì vậy việc thanh toán hiện
tượng lạm quyền chỉ có thể là đồng thời, là sự thanh toán chế độ chuyên chế. Theo
Montesquieu một khi quyền lực được tập trung vào một mối, kể cả một người hay một tổ
chức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn.
Từ đó, Montesquieu cho rằng, tổ chức quyền lực nhà nước theo phương thức phân
chia quyền lực nhà nước là để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền,
bảo đảm quyền tự do của con người. Montesquieu viết: "Khi mà quyền lập pháp và quyền
hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì không còn tự do
nữa; vì nguời ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy sẽ đặt ra những luật độc tài để thi hành
2

Tiểu luận về vấn đề phân quyền


Trường Đại Học Luật Hà Nội

một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập
pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽ
độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật.
Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp, thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của
kẻ đàn áp”.
2. Nội dung của tư tưởng phân quyền
Tư tương phân chia quyền lực nhà nước có quá trình hình thành và phát triển khá lâu
dài, từ thời cổ đại cho tới thời kì Cách mạng tư sản và hiện nay nên nội dung của nó được
thể hiện ngày càng rõ ràng,cụ thể,có hệ thống và khoa học hơn. Toàn bộ quá trình ấy được
thể hiện qua các thời kì:
2.1. Thời kì cổ đại
Ngay tư thời cổ đại ,tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước đã hình thành với nhiều
quan điểm, trường phái khác nhau. Aistote - nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời kì cổ đại, khối
óc toàn diện nhất trong số những nhà triết học Hy Lạp. Trên cơ sở nghiên cứu hiến pháp
của 158 nhà nước đơn nhất và liên bang, Aristote đã cho ra đời tác phẩm Politics (chính
trị) trong đó có thể hiện tư tương phân quyền mặc dù mới chỉ dừng lại ở mức sơ khai, đặt
nền móng cho nó.
Aristote cho rằng để đảm bảo sự công bằng trong dân chúng và để có được những
đạo luật công bằng thì nhà nước phải được tổ chức có qui củ bằng cách phải có 3 bộ phận:
bộ phận tư vấn pháp lý về hoạt động của nhà nước, bộ phận thứ hai là các tòa thi chính, bộ
phận thứ ba là các cơ quan Tư pháp.Không dừng lại ở đó, ông còn trình bày về cách thức
hình thành, chức năng, quyền hạn và cơ cấu từng bộ phận cụ thể và đề cập một cách khái
quát mối quan hệ giữa các bộ phận ấy. Chẳng hạn Hội nghị nhân dân có thể lựa chọn,
thẩm tra tư cách đạo đức cũng như khiển trách các pháp quan, các quan tòa. Các pháp
quan có thể tham gia hoạt động trong Hội nghị nhân dân, có thể soạn thảo và trình dự luật
ra trước Hội nghị cũng như báo cáo trước Hội nghị; theo dõi việc thực hiện các quyết định
hoặc bản án của Tòa án. Các Thẩm phán lại có quyền phán xét các pháp quan khi họ bị
kiện tụng...Dù chưa đi sâu vào phân tích cũng chưa lý giải lý do phải chia tách nhà nước
thành những bộ phận như vậy nhưng Aistote đã nhận thức khá chính xác rằng ở những
chế độ dân chủ nơi mà quyền lực tối cao thuộc về toàn thể nhân dân thì nhân dân phải có
cơ hội tham gia vào tất cả các bộ phận đó khi được lựa chọn và có quyền lựa chọn tất cả
các quan chức nhà nước, có quyền thẩm tra tư cách đạo đức và có thể khiển trách những
người đó.
Sau Aristote, Polybe (201-120 tr.CN) ngoài sự phân biệt như trên còn nêu lên tính
độc lập tương đối cần có trong quyền lực và hoạt động của mỗi cơ quan.Ông đã đi xa hơn
ở chỗ đòi hỏi các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước phải độc lập với nhau, không
được vượt quyền song vẫn phải hợp tác với nhau để mang lại hiệu quả cao cho hoạt động
của nhà nước.
2.2. Thời kì Cách mạng tư sản
Bên cạnh sự khủng hoảng của nhà nước phong kiến, sự xuất hiện và phát triển của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra nhiều quan điểm mới về nhà nước, cũng
như vai trò của nó trong đời sống xã hội. Các học giả thời kì này đã dựa vào tư tưởng thời
cổ xưa - tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước để loại trừ sự độc đoán quyền lực trong
tay một người hay một nhóm người, bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của mọi cá nhân trong
xã hội bằng pháp luật.
John Locke (1632- 1704), một nhà triết học người Anh là người đã khởi thảo học
thuyết phân quyền, Đưa ra học thuyết đan xen các tư tưởng pháp quyền tự nhiên, khế ước
3

Tiểu luận về vấn đề phân quyền


Trường Đại Học Luật Hà Nội

xã hội và phân chia quyền lực. Ông chia quyền lực nhà nước thành các quyền: lập pháp,
hành pháp và liên minh.J Locke đã đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp, cho
rằng " tùy việc quyền lực lập pháp được đặt ở cương vị nào mà hình thức của cộng đồng
quốc gia là như thế đó".Bởi vậy Locke cho rằng cơ quan lập pháp không những là quyền
lực tối cao của cộng đồng quốc gia mà còn là quyền lực thiêng liêng nhất và không thể
hoán đổi một khi cộng đồng đã nhất trí đặt nó vào cương vị đó.Quyền lập pháp thuộc về
nghị viện; nghị viện phải họp định kì để thông qua các đạo luật, nhưng không thể can
thiệp vào việc thực hiện chúng. Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua. Nhà vua lãnh
đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các bộ trưởng, chánh án và các quan chức khác.
Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào
đối với nghị viện,để nhằm không cho phép nhà vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay
mình và xâm phạm các quyền tự nhiên của công dân.Nhà vua cũng thực hiện quyền liên
minh, tức là giải quyết các vấn đề về chiến tranh, hòa bình và đối ngoại.
Tư tưởng phân quyền của Locke là một bước phát triển hơn hẳn so với các học giả
thời kì cổ đại Hy Lạp- La Mã. Tuy vần còn một số điểm hạn chế chủ yếu là chưa phân
tách quyền tư pháp ra độc lập với quyền hành pháp nhưng nó vẫn là nền tảng vững trãi
cho các học giả tư sản về sau tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện.
Những luận điểm phân quyền của J.Locke được nhà khai sáng người Pháp là
Montesquieu (1689-1755) phát triển. Ông đã phát triển toàn diện học thuyết phân quyền,
được coi như là tác giả của thuyết "tam quyền phân lập".Học thuyết phân chia quyền lực
của Montesquieu không phải là một sự suy luận pháp lý diễn dịch mà từ sự quan sát nước
Anh lúc bấy giờ.
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này cho rằng quyền lực nhà nước phải được chia
thành các loại quyền khác nhau trao cho các cơ quan riêng biệt.Các cơ quan khi được trao
cho nhánh quyền lực nào đó thì chỉ chuyên thực hiện trong lĩnh vực mình được giao,
không lấn sang hoạt động của cơ quan nhà nước khác.Montesquieu cho rằng quyền lực tối
thượng phải được phân chia thành ba hình thái quyền lực cơ bản là: lập pháp, hành pháp,
và tư pháp. Không có khái niệm quyền lực chính trị tối thượng. Ba quyền này phải phân
và lập, nghĩa là chia tách ra khỏi nhau và độc lập với nhau, không quyền nào hơn quyền
nào. Ba quyền đó được giao cho những cơ quan khác nhau, độc lập với nhau có phương
thức hình thành riêng, cách thức hoạt động, lĩnh vực hoạt động riêng. Tương ứng với ba
quyền đó là ba cơ quan: cơ quan lập pháp là quốc hội, cơ quan hành pháp là chính phủ, cơ
quan tư pháp là toà án.
Tuy nhiên, nguyên tắc phân quyền còn đi đến một mục đích cao hơn là cơ chế kiểm
soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực hay còn gọi là cơ chế kiềm chế và đối trọng.Kiềm
chế và đối trọng tạo lập nên mối quan hệ chính trị-pháp lý giữa các nhánh quyền lực sao
cho các nhánh đó vừa có thể độc lập thực thi nhiệm vụ bằng những thẩm quyền pháp lý
của mình, đồng thời có thể ngăn chặn sự lạm quyền của một nhánh nào đó.Theo đó, cơ
chế này được thể hiện qua: lập pháp ban hành luật, giám sát việc thực hiện các đạo luật
do nó ban hành và truy tố những quan chức bộ máy hành pháp khi họ vi phạm trách
nhiệm; hành pháp có nhiệm vụ thực thi pháp luật, ngăn chặn những dự định tuỳ tiện của
cơ quan lập pháp; sự độc lập của cơ quan tư pháp và các quan toà nhằm bảo vệ công dân
khỏi sự xâm hại bởi những đạo luật của cơ quan lập pháp cũng như hành vi tuỳ tiện của cơ
quan hành pháp.
Thông qua cơ chế trên, Montesquieu nhận định quyền tự do chính trị và quyền bình
đẳng về cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân sẽ được bảo đảmvà phát huy ở mức tối đa.
Tuy còn mang nặng tư duy bảo thủ phong kiến, đòi hỏi đặc quyền cho tầng lớp quí
tộc nhưng tư tưởng phân quyền của Montesquieu có ảnh hưởng sâu sắc đến những quan
4

Tiểu luận về vấn đề phân quyền


Trường Đại Học Luật Hà Nội

niệm sau này về tổ chức nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức nhà nước của các nước tư
bản. Đa số Hiến pháp của các nước tư bản hiện nay đều khẳng định nguyên tắc phân
quyền như một nguyên tắc cơ bản cuả việc tổ chức quyền lực nhà nước.Sau Aristote,
Charles Louis Montesquieu đã làm hồi sinh trở lại tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước,
làm cho nó thực sự trở thành một học thuyết trọn vẹn, đầy đủ.Ông xứng đáng được mệnh
danh là cha đẻ tư tưởng phân quyền hiện đại.
2.3. Trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, khi nhắc đến phân chia quyền lự nhà nước ta không chỉ nghĩ đến việc
phân lập theo chiều ngang thành các nhánh quyền lực, mà còn là sự phân chia quyền lực
theo chiều dọc giữa cơ quan trung ương và cơ quan địa phương trong một quốc gia.
Phân quyền ngang là cách thức phân quyền cổ điển đã có từ thời của Aristote, và
được hoàn thiện bởi J.Locke và Montesquieu. Nội dung chủ yếu của phân quyền ngang là:
- Quyền lực nhà nước được phân chia thành các nhánh khác nhau, do các cơ quan
khác nhau nắm giữ, không một cá nhân hay tổ chức nào nắm trọn vẹn quyền lực nhà
nước. Cụ thể: Nghị viện nắm quyền lập pháp, chính phủ nắm quyền hành pháp, và tòa án
nắm quyền tư pháp.
- Mỗi cơ quan hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng riêng của mình, không ảnh
hưởng tới công việc của các cơ quan khác.
- Giữa các cơ quan quyền lực tồn tại thế cân bằng, các cơ quan có thể giám sát, kiểm
tra, đối trọng nhau để không một cơ quan nào có khả năng lạm quyền.
Tuy nhiên ở nhiều nhà nước hiện nay, tư tưởng phân quyền ngang có một số sự thay
đổi, mà chủ yếu là ở số nhánh quyền lực được phân chia ra từ quyền lực nhà nước. Chẳng
hạn ở một số nước Mỹ Latinh quyền lực nhà nước ngoài ba quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp còn có thêm quyền bầu cử được giao cho Hội đồng bầu cử. Hay như ở Iran, tuy
vẫn có sự phân công hoạt động của các cơ quan nhà nước nhưng toàn bộ quyền lực thực tế
lại thuộc về người đứng đầu giáo hội...
Phân quyền dọc là cách thức phân quyền mới và chính Polybe và Cicéon là những
người đầu tiên đề ra tư tưởng này. Theo đó tồn tại hệ thống các cơ quan quyền lực nhà
nước song song với bộ máy nhà nước trung ương và có sự phân công nhiệm vụ, trách
nhiệm, quyền hạn trong những lĩnh vực cụ thể. Bên cạnh đó chính quyền trung ương
không có quyền điều hành, chỉ đạo chính quyền địa phương mà chỉ xây dựng chủ trương,
chính sách, tạo dựng khuôn khổ pháp lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền
cấp dưới và mọi vi phạm của chính quyền địa phương do tòa án hành chính xét xử độc
lập.Từ đó mà phân quyền dọc còn được gọi là phi tập trung hóa hay tản quyền. Nó tồn tại
ở hầu khắp các chính thể nhà nước hiện đại ví dụ Philipine, Đức, New Zealand và với mỗi
nhà lại có mức độ khác nhau, tùy thuộc đặc điểm từng nước. Nếu như Philipine mới dừng
lại ở mức độ tự chủ tương đối của chính quyền địa phương trong việc định hướng, phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương. Thì tới Đức đã thừa nhận mỗi cấp chính quyền
chỉ chuyên trách một số lĩnh vực nhất định, không có sự trùng lặp, chồng chéo quản lý
giữa các cấp.
Ngoài ra nguyên tắc phân quyền dọc còn được thể hiện trong mối liên hệ giữa nhà
nước liên bang với nhà nước thành viên. Có thể nhận thấy điều đó được thể hiện ở nhà
nước Liên bang Thụy Sĩ với 23 bang. Mỗi bang được phép có hiến pháp, chính phủ, nghị
viện, tòa án và hệ thống pháp luật riêng; được hưởng một nền tự do và tự quyết rộng rãi.
Đây là sự kết hợp của nhiều nhà nước thành một nhà nước. Dù vậy xu hướng hiện nay ở
các nhà nước liên bang là tập trung quyền lực vào chính quyền liên bang như ở Thụy Sỹ.

5

Tiểu luận về vấn đề phân quyền


Trường Đại Học Luật Hà Nội

Tóm lại phân quyền dọc đã biểu hiện sự coi trọng cấp chính quyền cơ sở, là biểu
hiện sự thực hiện triệt để tư tưởng dân chủ trong quản lý nhà nước, phát huy sức mạnh
trực tiếp từ công dân, từ cơ sở.
Phân chia quyền lực là tư tưởng chính trị- pháp lý đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch
sử và phát triển ngày càng hoàn thiện cùng sự tiến bộ của loài người. Ngày nay nó đã trở
thành nguyên tắc hàng đầu trong xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước hiện đại, là một
trong những tiêu chí quan trọng nhất đẻ xây dựng nhà nước pháp quyền- nhà nước của
dân, do dân và vì dân.
3.Sự áp dụng tư tưởng phân quyền vào việc tổ chức bộ máy nhà nước.
Biểu hiện cụ thể tư tưởng phân chia quyền lực trong các nhà nước thời kì cổ đại tiêu
biểu nhất là nhà nước Athène ở Hy Lạp và nhà nước Roma cộng hòa.
Ở nhà nước Athène, quyền lực thực tế lúc này thuộc về Viện nguyên lão_ gồm
những đại biểu của tầng lớp quí tộc, có toàn quyền trong các lĩnh vực lập pháp, tư pháp,
giám sát và quyết định mọi vấn đề hệ trọng của đất nước.Athène trở thành một thành bang
theo chế độ Cộng hòa quí tộc chủ nô.
Sau các cuộc cải cách sâu rộng, mang tính dân chủ tiến bộ như của Solon,
Clisthenes, hai thầy trò Ephialtes-Pericles, quyền lực của Viện nguyên lão ngày càng hạn
chế và bộ máy nhà nước Athène đã được xây dựng một cách hoàn thiện nhất bao gồm các
cư quan chủ yếu: Hội nghị công dân, Hội đồng 500 người, Tòa án nhân dân và hội đồng
10 tướng lĩnh. Trong đó Hội nghị công dân là cơ quan quyền lực cao nhất của thành bang,
có quyền thảo luận và biểu quyết các vấn đề hệ trọng của đất nước, thông qua hay phủ
quyết các dự luật, chọn cử những ứng viên nhà nước. Hội đồng 500 người do Hội nghị
công dân bầu ra là cơ quan hành pháp của nhà nước, có nhiệm vụ thay mặt nhân dân thực
hiện các công việc hành chính của nhà nước. Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp của nhà
nước và hội đồng 10 tướng lĩnh là cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước chịu sự
giám sát của Hội đồng 500 người.
Trong mỗi kì họp của hội nghị nhân dân đều có thủ tục biểu quyết chấp thuận hay
khiển trách các viên chức nhà nước. Đây chính là hình thức đầu tiên của hoạt đông kiểm
tra, giám sát của cơ quan quyền lực tối cao với hoạt đông của viên chức, với cơ quan nhà
nước khác.
Bộ máy nhà nước Roma dưới thời cộng hòa bao gồm các bộ phận chủ yếu sau: Đại
hội nhân dân Centuries, Đại hội bình dân Plebs, Viện nguyên lão là các cơ quan nắm
quyền lập pháp của nhà nước; hai chấp chính quan nắm trong tay quyền hành pháp và
một số quyền lập pháp nhất định; Hội đồng các quan bảo dân tương ứng với cơ quan tư
pháp bảo vệ, bênh vực dân trước các quyết định đi ngược lợi ích nhân dân, giám sát và có
ý kiến với những dự luật, việc làm của chính quyền.
Như vậy ta đã thấy tổ chức nhà nước ở Athène và Roma thời kì Cộng hòa là một
hình thức phân quyền khà triệt để, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp tách biệt
nhau trong cơ cấu tổ chức và hoạt động; giữa các cơ quan này đã có sự kiểm tra, giám sát
kiềm chế và đối trọng nhau một cách hợp lí.
Trong tổ chức và hoạt động của các bộ máy nhà nước hiện đại cách thức phân quyền
được áp dụng một cách rộng rãi, nhưng mức độ áp dung nguyên tắc này khác nhau tùy
thuộc vào từng dạng chính thể.
Có thể là cứng rắn trong chính thể cộng hòa tổng thống ví dụ ở các nước như Mỹ,
Mehico, Venezuel...thì Tổng thống nắm toàn quyền hành pháp, được bầu ra do nhân dân
trực tiếp bỏ phiếu. Tổng thống có quyền thành lập chính phủ và các thành viên Chính phủ
chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống, có quyền phủ quyết các dự luật do Nghị viện
6

Tiểu luận về vấn đề phân quyền


Trường Đại Học Luật Hà Nội

thông qua và Nghị viện không có quyền giải tán Chính phủ cũng như Tổng thống không
có quyền giải tán Nghị viện.
Cũng có thể mềm dẻo trong chính thể đại nghị như ở các nhà nước Italia, Áo, Úc,
Phần Lan....Đặc điểm của chính thể này Nguyên thủ chỉ mang tính hình thức, không có
bất cứ thực quyền nào cụ thể là Nguyên thủ do được thừa kế hoặc do Nghị viện bầu ra.
Chính phủ được thành lập bằng con đường Nghi viện dựa trên số ghế đã chiếm đa số
trong hạ viện (hay nghị viện với những nước có chế độ hai viện) của đảng chính trị nào đó
và thủ lĩnh đảng được bầu làm thủ tướng chính phủ.
Với chính thể cộng hòa hỗn hợp như Pháp, Nga, Hàn Quốc, Singapore...thể hiện
mức độ trung gian giữa hai mức độ ấy. Tức là Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất cho
ý chí, lợi ích của giai cấp tư sản, ban hành hiến pháp, pháp luật, thành lập chính phủ và
kiểm tra giám sát chính phủ. Tổng thống do cử tri trực tiếp bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín
và cũng có quyền lực lớn vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là tổng tư lệnh các lực
lượng vũ trang, có quyền bổ nhiệm thủ tướng chính phủ và kiểm tra hoạt động của chính
phủ. Chính phủ vừa trực thuộc Nghị viện vừa trực thuộc tổng thống.
Ở Việt Nam, trong những năm dài của cơ chế tập trung, chúng ta không thừa nhận
sự áp dụng học thuyết phân quyền cho nên học thuyết phân quyền đối với chúng ta là rất
xa lạ, hầu như không biết hoặc biết rất ít về học thuyết này cũng như cách áp dụng nó
trong tổ chức cơ cấu nhà nước.
Cho đến nay, với công cuộc đổi mới, mở cửa, những hạt nhân hợp lý trong học
thuyết phân quyền đã được chúng ta ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung
năm 2001. Điều 2 của Hiến pháp quy định rõ:“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có
sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp".
Từ chỗ phủ nhận hoàn toàn đến thừa nhận cho dù chỉ là một trong những hạt nhân
nhỏ bé của học thuyết là cả một bước chuyển rất lớn trong nhận thức của chúng ta là đã
đến lúc phải áp dụng một cách tương đối sự phân quyền. Khác với nguyên tắc phân quyền
trong tổ chức bộ máy nhà nước tư sản, quyền lực nhà nước ở Việt Nam được tổ chức theo
nguyên tắc tập trung thống nhất (hay còn gọi là tập quyền xã hội chủ nghĩa - XHCN).
Theo nguyên tắc này, Quốc hội được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,
đại diện cho toàn thể nhân dân, các cơ quan nhà nước khác là phái sinh, do Quốc hội
thành lập và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực này. Các cơ quan nhà nước hoạt
động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mô hình này đã có
hiệu quả nhất định trong thời kỳ kế hoạch hoá trước đây. Nhưng sang thời kỳ chuyển đổi,
nó thể hiện sự kém hiệu quả và cần phải được đổi mới. Hiện nay, tổ chức bộ máy nhà
nước ta, về bản chất vẫn bảo đảm tính tập quyền XHCN, song trên thực tế đã vận dụng
những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, nghĩa là nhấn mạnh đến khía cạnh phân
công quyền lực: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Đây là bước phát triển trong nhận thức của Đảng ta về nguyên tắc tập quyền XHCN trong
thời kỳ mới.
Nhưng trên thực tế, có thể thấy rằng, những hạt nhân hợp lý của lý thuyết phân
quyền chưa được chúng ta khai thác đầy đủ. Việc phân công quyền lực giữa các cơ quan
nhà nước còn nhiều bất cập, chưa tạo ra được sự phát triển về kỹ năng chuyên môn của
7

Tiểu luận về vấn đề phân quyền


Trường Đại Học Luật Hà Nội

các nhánh quyền lực. Tình trạng vừa tập trung quan liêu, trì trệ, vừa phân tán, thiếu thống
nhất đã làm cho cơ cấu quyền lực không phát huy được tính hiệu quả.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa kế thừa và thiết lập được cơ chế kiểm soát quyền lực
hữu hiệu ngay trong bản thân bộ máy nhà nước. Chính vì quyền lực được tập trung nhưng
không được kiểm soát hiệu quả đã dẫn đến tình trạng có nơi, có lúc người dân ủy quyền
nhưng bị mất quyền, các quyền tự do bị bó hẹp trên một số lĩnh vực và quyền dân chủ còn
mang tính hình thức.
4. Đánh giá ưu, nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm như ngăn được sự chuyên quyền rất dễ phát sinh ở xã hội
mà sự thống trị thuộc về thiểu số ít người, tránh được sự chồng chéo, lẫn lộn và là điều
kiện đảm bảo việc thống nhất quyền lực nhà nước thì nguyên tắc phân chia quyền lực
trong điều kiện hiện nay thực tế không phát huy được tác dụng trước đây của nó:
- Không thể áp dụng triệt để hay tuyệt đối với lý thuyết bởi sẽ dẫn tới sự cô lập
tách biệt hoàn toàn, mâu thuẫn với nhau trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Như
vậy, sẽ không bảo đảm được sự thống nhất của quyền lực nhà nước.
- Tư tưởng phân chia quyền lực cũng không thể áp dụng thống nhất ở tất cả các
quốc gia, bắt buộc phải có những biến dạng nhất định tùy thuộc vào hình thức chính thể
và chế độ chính trị của các nước đó.
- Học thuyết chưa chỉ ra sự ảnh hưởng rất lớn của các đảng phái chính trị đến các
hoạt động của chế độ nhà nước sau này. Chính ảnh hưởng của các đảng phái đã làm các
cành quyền lực của nhà nước có những sự biến dạng. Chính sự biến dạng này đã làm cho
các quy định của Hiến pháp nhiều lúc không có hiệu lực thực hiện trên thực tế.
5. Ý nghĩa của thuyết phân chia quyền lực nhà nước
Thứ nhất, thuyết phân quyền được hình thành như là sự phủ định biện chứng về mặt
tư tưởng các lý thuyết thuyết tập quyền chuyên chế, đánh dấu sự chấm dứt của chế độ
quân chủ chuyên chế, độc tài và đặt nền móng cho sự hình thành các thể chế tự do, dân
chủ.
Thứ hai, với việc trao quyền lực của nhân dân cho các nhánh quyền lực nhà nước
khác nhau (lập pháp, hành pháp, tư pháp) đã hình thành nên quá trình phân công lao động
quyền lực nhằm tạo sự chuyên nghiệp hoá, chuyên môn hoá chức năng, nhiệm vụ của mỗi
nhánh quyền lực, tăng cường tính hiệu quả và tác dụng của chính quyền, khẳng định vị trí,
vai trò của mỗi ngành trong cơ chế thực thi quyền lực nhà nước.
Thứ ba, thuyết phân quyền đánh dấu sự phát triển hiện đại về tính kỹ thuật chính trị pháp lý trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, dùng phân quyền để kiểm soát sự
lạm quyền. Đó là cơ chế kiềm chế và đối trọng, kiểm tra và chế ước lẫn nhau trong hoạt
động của ba nhánh quyền lực, nhờ đó loại trừ nguy cơ tập trung tất cả quyền lực nhà nước
vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực duy nhất nào đó - nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hóa trong quá trình thực thi quyền lực.
Thứ tư, thuyết phân quyền là một đóng góp lớn cho lý luận và thực tiễn chính trị về
nhà nước pháp quyền, bởi nó được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc lấy pháp luật làm
tối thượng, lấy bảo đảm các quyền tự do công dân làm mục đích cuối cùng. Nó khẳng
định bất cứ một chế độ nào mà không thực hiện sự phân chia quyền lực, không đề cao
pháp luật và kiểm soát quyền lực thì đó không phải là nhà nước pháp quyền. ở đây, phân
quyền vẫn được khẳng định là đặc trưng căn bản của nhà nước có Hiến pháp, nhà nước
8

Tiểu luận về vấn đề phân quyền


Trường Đại Học Luật Hà Nội

pháp quyền, hay nhà nước tự do dân chủ, trong đó phẩm giá cá nhân được tôn trọng và
quyền tự do được bảo đảm.
C. KẾT LUẬN
Thông qua các nội dung trên chúng ta thấy rằng mặc dù thực tiễn chính trị đã thay
đổi nhiều so với thời kỳ lý thuyết phân quyền ra đời, thế nhưng, tư tưởng phân quyền hay
phân chia quyền lực nhà nước vẫn còn đầy sức sống, những giá trị mang tính phổ quát của
nó vẫn đang được khai thác và nhân rộng trong tổ chức quyền lực của tất cả các nước,
không phân biệt điều kiện kinh tế, văn hoá và chế độ chính trị. ở các nước tư bản phát
triển, phân quyền vẫn là nguyên tắc cơ bản để tiến hành cải cách, đổi mới phương thức tổ
chức quyền lực nhà nước cho phù hợp với sự xuất hiện và biến đổi của những nhân tố
kinh tế, chính trị mới. Còn ở các nước đang phát triển, lý thuyết phân quyền cũng đã gợi
mở nhiều vấn đề mang tính nguyên tắc khách quan trong quá trình tìm kiếm mô hình dân
chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền và thiết lập các yếu tố nền tảng của văn minh chính
trị.
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
 Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật ( nhà xuất bản tư pháp).
 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số
nước (TS Nguyễn Thị Hồi - NXB Tư Pháp).
 Tạp chí cộng sản điện tử.

9

Tiểu luận về vấn đề phân quyền



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×