Tải bản đầy đủ

Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh theo luật cạnh tranh

I. Khái quát về tố tụng cạnh tranh
1. Khái niệm
Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục
giải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật. Tố tụng cạnh
tranh tiến hành theo thủ tục hành chính có những điểm khác với thủ tục tư pháp tại
Tòa án và hiện hành được quy định trong Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15
tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh. Việc
giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh
không lành mạnh thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính (Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Nghị
định 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 năm 2005 quy định về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực cạnh tranh).
2. Các chủ thể tham gia tố tụng:
• Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Cơ quan quản lý cạnh tranh
và Hội đồng cạnh tranh.
• Người tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Thành viên hội đồng cạnh
tranh, thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư ký phiên
điều trần.
• Người tham gia tố tụng cạnh tranh bao gồm: Bên khiếu nại, bên bị điều tra,
Luật sư; người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

II. Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh
1. Cơ quan quản lí cạnh tranh
Luật cạnh tranh quy định về cơ quan quản lí cạnh tranh như sau:
1


“Điều 49. Cơ quan Quản lý cạnh tranh.
Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổ chức, bộ máy của cơ quan quản lý
cạnh tranh. Cơ quan quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Kiểm
soát quá trình tập trung kinh tế theo quy định của Luật này. Thụ lý hồ sơ đề nghị
hưởng miễn trừ; đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ thương mại quyết định hoặc trình
Thủ tướng Chính phủ quyết định. Điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến
hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Xử lý, xử
phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Các nhiệm vụ khác theo quy định của
pháp luật.”
Từ quy định trên đây, Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam là một cơ quan
thuộc hệ thống cơ quan hành pháp mà cụ thể là thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ
Công thương).
“Điều 7. Trách nhiệm quản lý nhà nước về cạnh tranh.
Chính phủ thống nhất Nhà nước quản lý về cạnh tranh. Bộ Thương mại chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh”
Trong khi đó, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh là do Bộ trưởng Bộ thương
mại (nay là Bộ công thương) để Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm. Hơn
nữa ở các quy định liên quan đến thủ tục thực hiện miễn trừ, cơ quan quản lý cạnh
tranh có vai trò như một cơ quan tham mưu, thay mặt cho bộ công thương đứng ra
thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ công thương
quyết định hoặc Bộ trưởng Bộ công thương trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Nếu căn cứ vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tổ chức bộ
máy nhà nước, có thể thấy rằng trong hệ thống cơ quan hành pháp của Việt Nam,
Cơ quan quản lý cạnh tranh có vị trí tương đương với một Tổng cục thuộc Bộ.
Theo quy định tại nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007 của chính phủ
2


quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, Cơ quan
ngang Bộ thì trong cơ cấu, tổ chức, bộ máy của Bộ có thể có Cục hoặc Tổng Cục.
Tuy nhiên với cơ quan cấp Cục thì chức năng, nhiệm vụ là do Bộ trưởng quy định
còn với cơ quan cấp Tổng cục thì chức năng, nhiệm vụ là do Thủ tướng chính phủ
quy định.
a. Chức năng

Theo quy định tại Điều 49 Luật cạnh tranh, Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt
Nam vừa là cơ quan điều tra vừa là cơ quan xử lý vừa là cơ quan hành chính. Tính
chất cơ quan điều tra thể hiện qua nhiệm vụ sau đây:
• Điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh.
• Điều tra các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Tính chất cơ quan xử lý thể hiện qua quyền hạn được trực tiếp xử phạt các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh.
Tính chất cơ quan hành chính thế hiện qua nhiệm vụ quyền hạn kiểm soát quá trình
tập trung kinh tế và thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, đề xuất ý kiến để Bộ
trưởng Bộ Công Thương quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
b. Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh
Do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ
thương mại. Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm tổ chức, chỉ
đạo cơ quan quản lý cạnh tranh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản
2 Điều 49 của Luật này.

3


c. Điều tra viên vụ việc cạnh tranh
Do Bộ trưởng bộ công thương bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan quản
lý cạnh tranh và điều tra viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định tại Điều
52 Luật cạnh tranh:
“Người có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể được bổ nhiệm làm điều tra viên:
1. Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan;
2. Có trình độ cử nhân luật hoặc cử nhân kinh tế, tài chính
3. Có thời gian công tác thực tế ít nhất là năm năm thuộc một trong các lĩnh vực
quy định tại khoản 2 Điều này;
4. Được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ điều tra.”
2. Hội đồng cạnh tranh
Theo quy định của Luật Cạnh tranh, đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, Cục
Quản lý cạnh tranh( cơ quan quản lý cạnh tranh) chỉ đảm nhận vai trò điều tra, thu
thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan đến một vụ việc, còn việc xét xử, xử lý,
đưa ra các quyết định, giải quyết khiếu nại có liên quan đến vụ việc cạnh tranh thì
do Hội đồng cạnh tranh (Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh) đảm nhận.
Theo quy định tại Điều 53 Luật cạnh tranh có thể thấy Hội đồng cạnh tranh là một
cơ quan thuộc hệ thống cơ quan hành pháp. Luật cạnh tranh khẳng định Hội đồng
cạnh tranh là cơ quan có vị trí độc lập tương đối trong mối quan hệ với Bộ Công
thương. Có thể thấy điều này qua cơ chế giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh quy định tại mục 7 Chương V Luật cạnh tranh (Điều 107, 115).
Như vậy, Luật cạnh tranh quy định Bộ công thương là cơ quan chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, các thành viên hội đồng
4


cạnh tranh do Bộ trưởng Bộ công thương đề nghị Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm
nhưng Bộ trưởng Bộ công thương lại không có quyền giải quyêt các khiếu nại đối
với quyết định của Hội đồng cạnh tranh theo nguyên tắc “ việc giải quyết khiếu nại
của cơ quan hành chính trước hết phải do cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp xử
lý” quy định tại Luật khiếu nại tố cáo.
Nói cách khác, quyết định giải quyết khiếu nại của hội đồng cạnh tranh là quyết
định chung thẩm trong hệ thống cơ quan hành chính vì sau khi Hội đồng cạnh
tranh giải quyết khiếu nại mà các bên vẫn không đồng ý thì các bên phải kiện ra
Tòa.
Hội đồng cạnh tranh có từ 11 đến 15 thành viên do thủ tướng chính phủ bổ nhiệm,
miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ thương mại. Hội đồng cạnh tranh có
nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên
quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật cạnh tranh. Như vậy,
Hội đồng cạnh tranh có vị trí đặc thù, nó không thuộc bộ công thương, được thành
lập do quyết định của chính phủ song nó cũng không thuộc chính phủ (trong một
số trường hợp có thể hiểu thuộc chính phủ vì do chính phủ thành lập. Ban thư kí
hoạt động thường xuyên. Hội đồng cạnh tranh chỉ giải quyết các việc liên quan đến
hành vi hạn chế cạnh tranh, mà không giải quyết các vụ việc liên quan đến cạnh
tranh không lành mạnh.
• Hoạt động nghiệp vụ: được thực hiện thông qua hoạt động của hội đồng xử
lí vụ việc cạnh tranh. Khi có vụ việc thì chủ tịch hội đồng cạnh ttranh sẽ
thành lập một hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh ( theo vụ việc).
• Vị trí của Hội đồng cạnh tranh: Điều 2 Nghị định 05/2006/NĐ-CP quy định
hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập, có chức
năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh.

5


o Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước chứ
không phải là Hội đồng tư vấn. Đây là cơ sở quan trọng để phân biệt
Hội đồng cạnh tranh với Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá,
chống trợ cấp và tự vệ trong giao thương quốc tế (gọi tắt là Hội đồng
xử lý). Theo Nghị định 04/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006, Hội đồng
xử lý chỉ có chức năng tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Công thương trong
việc xử lý các vụ việc về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.
Trong khi đó, Hội đồng cạnh tranh là cơ quan xử lý kết quả điều tra
của cơ quan quản lý cạnh tranh về các vụ việc hạn chế cạnh tranh.
Quyết định của Hội đồng cạnh tranh có giá trị bắt buộc thi hành và
được đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhànước.
o Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thuộc hệ thống hành pháp có chức
năng xử lý vụ việc về cạnh tranh. Luật Cạnh tranh và Nghị định
05/2006/NĐ-CP không khẳng định rõ ràng về bản chất lưỡng tính của
Hội đồng cạnh tranh, song nếu dựa vào quy trình tố tụng cạnh tranh
mà cơ quan này thực hiện trong việc xử lý vụ việc cạnh tranh, có thể
thấy rõ tính chất tài phán của nó.
• Chức năng của Hội đồng cạnh tranh: Theo quy định tại Điều 53 Luật Cạnh
tranh (2004), Hội đồng cạnh tranh của Việt Nam là một cơ quan chuyên xử
lý – “xét xử hành chính” đối với các vụ việc hạn chế cạnh tranh. Nói một
cách khác, Hội đồng cạnh tranh là một loại cơ quan tài phán vì có đầy đủ
những yếu tố cần thiết sau đây:
o Áp dụng pháp luật để ra phán quyết;
o Thủ tục xử lý mang tính tranh tụng;
o Quyết định của Hội đồng cạnh tranh chỉ bị xét lại bởi hệ thống Tòa
án.
Tuy nhiên, khác với các cơ quan xử lý hành chính hiện có trong bộ
máy nhà nước, Hội đồng cạnh tranh tổ chức xử lý theo chế độ tập thể
6


chứ không theo chế độ thủ trưởng. Cụ thể, trong số 11 đến 15 thành
viên của Hội đồng cạnh tranh,Chủ tịch Hội đồng sẽ lựa chọn ít nhất
05 người để tham gia xử lý một vụ việc cụ thể. Hội đồng xử lý này sẽ
quyết định vụ việc theo nguyên tắc biểu quyết đa số.
• Thẩm quyền của Hội đồng cạnh tranh: Theo Nghị định số 05/2006/NĐ-CP
về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Hội đồng cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử
lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi
hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh. Các nhà làm luật
Việt Nam đã lựa chọn mô hình hệ thống gồm hai cơ quan có thẩm quyền
thực thi luật cạnh tranh và việc phân chia thẩm quyền là tư tưởng căn bản
trong việc thực thi luật cạnh tranh. Điều đó đương nhiên sẽ giới hạn thẩm
quyền của các cơ quan trong hệ thống thi hành pháp luật theo chiều hướng
phân công và chuyên môn hóa khi xử lý vụ việc cạnh tranh. Theo Luật
Cạnh tranh, thẩm quyền của Hội đồng cạnh tranh được giới hạn bởi những
nội dung sau:
o Tổ chức xử lý và giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh
liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật;
o Việc tổ chức xử lý vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh được thực
hiện dựa trên kết quả điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh. Nói
cách khác, Hội đồng cạnh tranh không có chức năng điều tra vụ việc
cạnh tranh;
o Hội đồng cạnh tranh không giải quyết triệt để mọi vấn đề đặt ra từ vụ
việc cạnh tranh. Theo Luật Cạnh tranh, thủ tục tố tụng cạnh tranh
được tiến hành để Hội đồng cạnh tranh xử lý hành vi hạn chế cạnh
tranh chứ không giải quyết yêu cầu về bồi thường thiệt hại;

7


o Về mặt tổ chức, Hội đồng cạnh tranh không trực tiếp xử lý một vụ
việc cạnh tranh cụ thể mà thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh để giải quyết.
o Tòa án có thể can thiệp vào quá trình xử lý vụ việc cạnh tranh. Sau
khi Hội đồng cạnh tranh giải quyết khiếu nại mà các bên vẫn không
đồng ý thì phát sinh quyền khởi kiện ra tòa án. Sự phân chia và giới
hạn thẩm quyền nói trên giữa hai cơ quan thi hành Luật Cạnh tranh
cho thấy vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh được xử lý với thủ tục
chặt chẽ, phức tạp hơn so với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.
Tính phức tạp thể hiện ở vai trò của Hội đồng cạnh tranh trong giai
đoạn xử lý vụ việc, theo đó: a. Một khi vụ việc về hành vi hạn chế
cạnh tranh đã chuyển qua giai đoạn điều tra chính thức thì chỉ có thể
bị đình chỉ hoặc được giải quyết bằng một quyết định xử lý của Hội
đồng cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ phải thực hiện cho
trọn chức trách điều tra và chuyển kết quả cho Hội đồng cạnh tranh
xử lý; b. Vụ việc sẽ được giải quyết bằng một hội đồng xử lý cụ thể
làm việc theo chế độ tập thể thay vì chế độ thủ trưởng của cơ quan
quản lý cạnh tranh như trong vụ việc về cạnh tranh không lành mạnh.
Điều này còn cho thấy thái độ của pháp luật và Nhà nước đối với
hành vi hạn chế cạnh tranh. Dường như Nhà nước đã mạnh tay bằng
các biện pháp mang tính quyền lực công như biện pháp buộc cơ cấu
lại doanh nghiệp; tuyên bố vô hiệu hợp đồng... để đối trọng và kiểm
soát quyền lực thị trường. Do tính chất phức tạp và nhạy cảm của các
vụ việc cạnh tranh nên yêu cầu về tính chính xác, khách quan của
việc xử lý luôn được đặt lên hàng đầu đối với các cơ quan thực thi
pháp luật cạnh tranh. Các vụ việc cạnh tranh luôn gắn liền với các
vấn đề về tự do và bình đẳng trong kinh doanh, đòi hỏi những người
8


có thẩm quyền giải quyết vụ việc phải có những hiểu biết nhất định
về các lĩnh vực kinh tế, thương mại, pháp luật...
III. Những bất cập trong tổ chức và hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng
cạnh tranh Việt Nam
1. Cơ quan quản lý cạnh tranh
- Trong điều kiện mới được thành lập chưa lâu, số lượng chuyên gia cạnh tranh
còn ít thì việc đào tạo, bồi dưỡng điều tra viên, chuyên gia,… chỉ mới đáp ứng
được nhu cầu trước mắt và chất lượng vẫn còn hạn chế. Số lượng các điều tra
viên của Cục chưa đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng doanh
nghiệp, hiệp hội và người tiêu dùng.
- Qua gần 5 năm hoạt động, Cục quản lý cạnh tranh vẫn chưa có nhiều động
thái nhằm thể hiện vai trò của mình trong đời sống xã hội và chức năng chuyên
biệt của nó trong hệ thống cơ quan nhà nước. Theo một khảo sát gần đây của
Cục Quản lý cạnh tranh được thực hiện từ 01/11/2008 đến 31/12/2008 cho thấy
hiểu biết của cộng đồng đối với Luật Cạnh tranh dừng lại ở mức “biết Luật
Cạnh tranh mới ra đời” và nhận thức về cơ quan quản lý cạnh tranh cũng không
khả quan hơn. Điều này xuất phát từ nguyên do kết quả hoạt động của Cục
Quản lý cạnh tranh chưa tạo được con số ấn tượng .
- Hiện nay, Cục Quản lý cạnh tranh được quy định “ôm đồm” quá nhiều chức
năng, từ điều tra xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, điều tra các
hành vi hạn chế cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng đến quản lý nhà nước về
chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương
mại quốc tế. Có một thực tế là không một cơ quan quản lý cạnh tranh nào trên
thế giới được quy định nhiều chức năng, đặc biệt là bao gồm cả các chức năng
thực thi pháp luật về các biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại quốc
9


tế như Việt Nam. Điều này đã dẫn đến tình trạng quá tải cho hoạt động của Cục
quản lý cạnh tranh trong thời gian qua.
2. Hội đồng cạnh tranh
Tuy mới thành lập và trong điều kiện khó khăn nhất định nhưng thời gian qua,
Hội đồng cạnh tranh đã có những cố gắng trong việc hoàn thiện bộ máy về nhân
sự, cơ sở vật chất cũng như các công tác về nghiệp vụ khác để chuẩn bị cho Hội
đồng cạnh tranh đi vào hoạt động. Bên cạnh đó Hội đồng cạnh tranh cũng đã có
những động thái tích cực trong việc phát triển quan hệ quốc tế, quan hệ công
chúng, góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh và sự hiện diện của Hội đồng cạnh
tranh Việt Nam ở trong nước và quốc tế như tham dự các Hội thảo, diễn đàn,
các khóa học, các chuyến tham quan, thực tập,… ở các nước trên thế giới.
Tuy nhiên, Hội đồng cạnh tranh cũng gặp những khó khăn như tính phức tạp
của các vụ việc cạnh tranh sắp phải xử lý. Thành viên đều là kiêm nhiệm, và bộ
máy còn chưa hoàn chỉnh về nhân sự và biên chế.
- Trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng cạnh tranh còn tồn tại những hạn
chế sau:
Thứ nhất, xét về mặt tổ chức, chúng ta chưa xác định được Hội đồng cạnh
tranh trực thuộc Chính phủ hay Bộ Công thương. Nghị định số 05/2006/NĐ-CP
cũng mới chỉ quy định Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà
nước độc lập mà chưa khẳng định rõ ràng nó trực thuộc cơ quan nào trong bộ
máy hành pháp. Với tình trạng lấp lửng này, những cuộc tranh luận về tổ chức
của Hội đồng cạnh tranh đến nay vẫn chưa thể kết thúc .
Thứ hai, các luận thuyết nền tảng của pháp luật cạnh tranh đã khẳng định rằng
tính độc lập và tự quyết tạo nền tảng vững chắc cho các cơ quan quản lý cạnh
10


tranh hoạt động độc lập và có hiệu quả. Dựa vào nội dung của Nghị định số
05/2006/NĐ-CP khó có thể khẳng định được sự độc lập của Hội đồng cạnh
tranh. Việc Bộ trưởng Bộ Công thương có khả năng: đề nghị Thủ tướng bổ
nhiệm, miễn nhiệm thành viên và chủ tịch Hội đồng cạnh tranh; quy định chức
năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban thư ký Hội đồng cạnh tranh – bộ
phận giúp việc cho Hội đồng; phê duyệt quy chế tổ chức và hoạt động của Hội
đồng cạnh tranh sẽ dẫn đến khả năng chi phối đối với việc tổ chức và hoạt động
của cơ quan này.
- Kinh phí hoạt động của Hội đồng cạnh tranh được bố trí theo dự toán ngân
sách hàng năm của Bộ Công thương . Với những ràng buộc này, các ý định đưa
Hội đồng cạnh tranh thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Bộ Công thương là rất mong
manh. Dù biết rằng, do sự hạn chế về khả năng lựa chọn nhân sự và những non
kém về kinh nghiệm trong việc thực thi pháp luật cạnh tranh đã làm chúng ta
không có nhiều khả năng lựa chọn những phương án tối ưu, song điều đó không
thể là cơ sở để trao toàn bộ khả năng thi hành đạo luật này cho Bộ Công
thương. Nhất là trong điều kiện hiện nay, Bộ này vẫn còn đóng vai trò chủ quản
của một số công ty nhà nước quan trọng và những nghi ngờ về tính khách quan
trong hoạt động của các cơ quan quản lý cạnh tranh vẫn còn cơ sở . Về sự phân
định thẩm quyền giữa Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh. Vấn đề
này có nhiều điểm chưa thực sự hợp lý mặc dù Luật Cạnh tranh đã chỉ rõ sự
phân quyền trong quá trình xử lý vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh. Căn cứ
vào các quy định tại Mục 4 và 5 Chương V của Luật Cạnh tranh 2004 có thể
thấy rằng, trong một vụ việc về hành vi lạm dụng, cơ quan có thẩm quyền xử lý
là Hội đồng cạnh tranh, song xét về thực chất cái bóng của cơ quan quản lý
cạnh tranh là quá lớn và gần như tất cả các hoạt động tố tụng đều do Cục quản
lý cạnh tranh tiến hành. Số lượng vụ việc hạn chế cạnh tranh đã xử lý dừng ở
11


mức khiêm tốn. Hội đồng cạnh tranh chỉ có thẩm quyền tổ chức phiên điều trần
và ra quyết định xử lý vụ việc, giải quyết các khiếu nại các quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh về hành vi hạn chế cạnh tranh. Như vậy, cho dù là cơ quan có
quyền cao nhất, nhưng kết quả xử lý của Hội đồng cạnh tranh gần như phải lệ
thuộc vào kết quả của các hoạt động tố tụng trước đó của Cục quản lý cạnh
tranh. Nếu có bất cứ nghi ngờ gì về kết quả điều tra thì phải trả lại hồ sơ để cơ
quan điều tra tiến hành điều tra lại.
Rõ ràng, cách thiết kế cơ chế phân quyền theo các quy định hiện hành có vẻ
đảm bảo sự chuyên môn hoá cao độ song lại làm mờ nhạt đi vai trò rất quan
trọng của Hội đồng cạnh tranh là xử lý vụ việc . Điều này đặt ra cho chúng ta
yêu cầu phải xây dựng lại cơ chế phân quyền này. Theo các Điều 100, 101, 102
Luật Cạnh tranh và các quy định trong Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày
15/09/2005, Hội đồng cạnh tranh có các quyền xử lý kết quả điều tra của cơ
quan quản lý cạnh tranh như sau: a. Đình chỉ vụ việc theo đề nghị của thủ
trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc dựa trên ý chí của người khiếu nại nếu
người bị điều tra đã tự nguyện chấm dứt hành vi và khắc phục hậu quả; b. Trả
lại hồ sơ để điều tra bổ sung nếu chứng cứ trong kết quả điều tra chưa đủ để kết
luận về hành vi vi phạm; c. Mở phiên điều trần để giải quyết vụ việc. Do đó,
trong trường hợp có sự xung đột về kết quả điều tra của cơ quan điều tra với kết
quả thẩm tra của Hội đồng cạnh tranh trong phiên điều trần sẽ phát sinh nhiều
vấn đề pháp lý phức tạp. Khoản 2 Điều 101 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy
định “Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh chỉ được căn cứ vào kết quả của việc
hỏi tại phiên điều trần, tranh luận và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại
phiên điều trần”. Nếu như khi thẩm tra, kết quả cho thấy các chứng cứ do cơ
quan điều tra thu thập và sử dụng là không khách quan hoặc có sai lầm khi nhận
định, đánh giá, song chứng cứ thu thập lại được tại phiên điều trần chưa đủ để
12


kết luận về hành vi vi phạm thì Hội đồng cạnh tranh sẽ rất khó xử lý bởi lúc này
không thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
- Bên cạnh đó, Hội đồng chưa có những hoạt động nổi bật về các chức năng còn
lại (quảng bá, tuyên truyền pháp luật cạnh tranh, học hỏi kinh nghiệm xây dựng,
tổ chức của các nước trên thế giới, hoàn thiện pháp luật cạnh tranh,…). Vì vậy,
mô hình tổ chức cũng như hoạt động của Hội đồng cạnh tranh Việt Nam chỉ
mới dừng lại ở mức còn sơ khai, chưa hoàn thiện. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình Luật cạnh tranh, đại học quốc gia/ Đại học kinh tế- Luật. Luật cạnh
tranh năm 2004. Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam: Những bất cập và
phương hướng hoàn thiện/ Trương Hồng Quang (Tạp chí NCLP, số tháng 6,
3/2011) Nghị định số 06/ 2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập và
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý
cạnh tranh. Nghị định số 05/ 2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập
và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng
cạnh tranh.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

13


1.
2.
3.
4.

Giáo trình Luật cạnh tranh, Đại học Luật Hà Nội
Luật cạnh tranh 2004
Nghị định số 06/2006/NĐ-CP
Nghị định số 05/2006/NĐ-CP

14



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×