Tải bản đầy đủ

TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI ( WORLD TRADE ORGANIZATION – WTO )

Nhóm 3

TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
( WORLD TRADE ORGANIZATION – WTO )
Năm thành lập: 1994.
Trụ sở: Giơ - ne- vơ (Thụy Sĩ).
Số thành viên: 155 (tính đến tháng 12/2011). Việt
Nam thức trở thành thành chính viên thứ 150 của WTO vào 1/2007.

I. Lịch sử hình thành và phát triển WTO
1. Tổ chức tiền thân của WTO
-

-

-

-

-


-

WTO tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization) là tổ chức quốc tế
duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới.
WTO được thành lập do kết quả của Hội nghị Hiệp định chung về Thuế quan và
Mậu dịch GATT (The General Agreement Tariffs and Trade).
Ngày 30/10/1947 GATT được 23 nước sáng lập và cùng một số nước khác tham
gia Hội nghị về thương mại và việc làm, dự thảo Hiến chương Lahavana để thành
lập tổ chức Thương mại quốc tế (ITO).
ITO với tư cách là chuyên môn của Liên Hợp Quốc, có chức năng thực hiện mục
tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công
ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho nhân dân các nước thành viên.
Tháng 11/1947 (ITO) Hiến chương thành lập tổ chức thương mại quốc tế đã được
thỏa thuận tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và việc làm, đến ngày
23/4/1948 do gặp một số khó khăn nên việc hình thành ITO không thành.
Tháng 1/1948, tổ chức Thuế quan và thương mại (GATT) chính thức có hiệu lực,
GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán về thuế quan, xây dưng các hiệp định, luật,
hàng rào phi thuế quan về thương mại, dịch vụ, về cơ chế giải quyết tranh chấp,...
Năm 1986, các bộ trưởng thương mại GATT bắt đầu vòng đàm phán thứ 8 tại
Urugoay về buôn bán hàng hóa và dịch vụ, kéo dài trong 4 năm.
Năm 1994 Hiệp định đàm phán Urugoay được kí kết tại Maroc. Một ủy ban trù bị
được thành lập để chuẩn bị những công việc cần thiết cho việc thành lập WTO.
Ngày 1/1/1995 WTO ra đời, đã góp phần to lớn vào quá trình thiết lập một hệ
thống mậu dịch thế giới cởi mở, tự do, bình đẳng và có hiệu quả hơn.
Sư phạm địa lí k33

Page 1


Nhóm 3
-

Hiện nay WTO đã có 150 nước thành viên chính thức và 25 nước quan sát viên,
chiếm trên 70% tổng giá trị thương mại toàn cầu, đóng vai trò quan trọng nhất
trong việc quyết định các nguyên tắc, quy tắc và các định chế chung trong thương
mại quốc tế.

1. Sự

-


-

-

ra đời của tổ chức thương mại thế giới WTO

Mặc dù đã đạt được những thành công lớn, nhưng đến cuối những năm 1980, đầu
1990, trước những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và sự phát triển
của khoa học-kỹ thuật, GATT bắt đầu tỏ ra có những bất cập, không theo kịp tình
hình.
Trước tình hình đó các bên tham gia GATT nhận thấy cần phải có nỗ lực để củng
cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Từ năm 1986 đến 1994, Hiệp định
GATT và các hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước thảo luận sửa đổi và cập
nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường thương mại thế giới.
Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và một vài biên bản giải
thích khác đã hợp thành GATT 1994. Một số hiệp định riêng biệt cũng đạt được
trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt may, Trợ cấp, Tự vệ và các lĩnh vực
khác; cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của các Hiệp định
Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá. Vòng đàm phán Uruguay cũng
thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh thương mại Dịch vụ và Quyền
Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại. Một trong những thành công lớn nhất
của vòng đàm phán lần này là, cuối Vòng đàm phán Uruguay, các nước đã cho ra
Tuyên bố Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bắt đầu đi
vào hoạt động từ ngày 1/1/1995.
Thứ nhất, những thành công của GATT trong việc giảm và ràng buộc thuế quan ở
mức thấp cộng với một loạt các cuộc suy thoái kinh tế trong những năm 70 và 80
đã thúc đẩy các nước tạo ra các loại hình bảo hộ phi thuế quan khác nhau để đối
phó với hàng nhập khẩu, kí kết các thỏa thuận song phương, các hình thức hỗ trợ
và trợ cấp.
Thứ hai, những năm 80, GATT đã không còn thích ứng với thực tiễn thương mại
thế giới. Hiệp định GATT chủ yếu điều tiết thương mại hàng hóa hiện nay thương
mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, mở rộng sang các lĩnh vực khác; ngân
hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tư vấn,...
cùng với các vấn đề thương mại trong đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã
phát triển nhanh chóng trở thành một bộ phận thương mại quan trọng của quốc tế.
Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hóa GATT còn có những lổ
hỏng cần phải cải thiện.
Thứ tư, về mặt cơ cấu và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng không tỏ ra
thích ứng với tình hình thế giới. GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia chỉ
Sư phạm địa lí k33

Page 2


Nhóm 3

mang tính tùy ý. Trong khin thương mại quốc tế đòi hỏi phải có một tổ chức
thường trực, có nền pháp lí vững chắc để đảm bảo thực hiện các hiệp định, quy
định chung của thương mại. Về hệ thống giải quyết tranh chấp, GATT có cơ chế
điều tiết thủ tục tố tụng chặt chẽ, không có thời gian biểu cố định do đó, các vụ
việc tranh chấp thường kéo dài và dễ bị bế tắc. Để thúc đẩy hoạt động thương mại
quốc tế một cách có hiệu quả cần phải cải thiện GATT.
+ Năm 1986 – 1994, Hiệp định GATT và các hiệp định phụ trợ, được thảo luận
sửa đổi và cập nhật để thích ứng với các điều kiện của môi trường thương mại thế
giới. Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và một vài biên bản
giải quyết khác đã hợp thành GATT 1994.
+ Một số hiệp định riêng biệt đã đặt được trong các lĩnh vực: nông nghiệp, diệt
may, trợ cấp cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của hiệp định
thương mại đa phương về thương mại hàng hóa.
+ Tại vòng đàm phán Uruguay cũng đã thông qua một loạt các quy định mới điều
chỉnh thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Một
trong những thành công lớn nhất của cuộc đàm phán là, các nước đã cho ra tuyên
bố Marrakesh thành lập tổ chức thương mại thế giới WTO, bắt đầu đi vào hoạt
động từ năm 1/1/1995.

I. Cơ cấu tổ chức.
1.Hội nghị Bộ trưởng
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai
năm một lần. Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO. Các thành
viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng hạn như Cộng
đồng châu Âu). Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề
trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO..
2.Đại Hội đồng
Công việc hàng ngày của WTO được đảm nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại Hội đồng,
Hội đồng giải quyết tranh chấp và Hội đồng rà soát chính sách Thương mại. Tuy
tên gọi khác nhau, nhưng thực tế thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau, đều
bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước
thành viên. Điểm khác nhau giữa chúng là chúng được nhóm họp để thực hiện
các chức năng khác nhau của WTO.
+ Đại Hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva,
được nhóm họp thường xuyên. Đại Hội đồng bao gồm các đại diện ( thường là
các đại xứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên có thẩm quyền
Sư phạm địa lí k33

Page 3


Nhóm 3

quyết định nhân danh Hội nghị Bộ trưởng ( họp 2 năm một lần ) đối với tất cả các
thành viên của WTO.
+ Hội đồng giải quyết tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phê chuẩn các
phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm
đệ trình. Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấp đại sứ
hoặc tương đương).
+ Hội đồng rà soát chính sách thương mại được nhóm họp để thực hiện việc rà
soát chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà soát chính
sách thương mại. Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát
diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần. Đối với những thành viên khác, việc rà
soát có thể được tiến hành cách quãng hơn.
3.Các Hội đồng thương mại.
Các Hội đồng thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hội đồng. Có ba Hội
đồng thương mại là: Hội đồng thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại dịch
vụ và Hội đồng các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại.
Một hội đồng đảm trách một lĩnh vực riêng. Cũng tương tự như Đại Hội đồng,
các Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên WTO. Bên cạnh ba
Hội đồng này còn có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác chịu trách nhiệm báo
cáo lên Đại Hội đồng các vấn đề riêng rẽ như thương mại và phát triển, môi
trường, các thỏa thuận thương mại khu vực, và các vấn đề quản lý khác. Đáng
chú ý là trong số này có nhóm công tác về việc gia nhập chịu trách nhiệm làm
việc với các nước xin gia nhập WTO.
+ Hội đồng thương mại hàng hóa chịu trách nhiệm đối với các
hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về hàng hóa.
+ Hội đồng thương mại dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt
động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), tức là
các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ.
+ Hội đồng các khía cạnh liên quan đến thương mại của
Quyền sở hữu trí tuệ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi
của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền sở hữu trí
tuệ (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh
vực quyền sở hữu trí tuệ.
4.Các Ủy ban và Cơ quan
Sư phạm địa lí k33

Page 4


Nhóm 3

Dưới các hội đồng trên là các ủy ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vực chuyên
môn riêng biệt.
+
Dưới Hội đồng thương mại hàng hóa là 11 ủy ban, 1 nhóm công tác, và
1 ủy ban đặc thù.
+ Dưới Hội đồng thương mại dịch vụ là 2 ủy ban, 2 nhóm công tác, và 2 ủy
ban đặc thù.
+ Dưới Hội đồng Giải quyết tranh chấp (cấp thứ 2) là Ban Hội thẩm và Cơ
quan phúc thẩm.
Ngoài ra, do yêu cầu đàm phán của Vòng đàm phán Doha, WTO đã thành lập
Ủy ban đàm phán thương mại trực thuộc Đại Hội đồng để thức đẩy và tạo điều
kiện thuận lợi cho đàm phán. Ủy ban này bao gồm nhiều nhóm làm việc liên
quan đến các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.

III.Mục tiêu.
WTO với tư cách lả một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới,
thực hiện những mục tiêu của Hiệp định GATT 1947: nâng cao mức sống của
nhân dân các thành viên, đảm bảo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
thương mại, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của thế giới.
Cụ thể WTO có 3 mục tiêu sau:
+ Thúc đẩy tăng trưởng hàng hóa và thương mại, dịch vụ trên thế giới, phục vụ
cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường
+ Thúc đẩy phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh
chấp thương mại giữa các nước thành viên trong quan hệ đa phương, phù hợp với
các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế; bảo đảm cho các nước đang phát
triển và đặc biệt là các nước kém phát triển được hưởng thụ những lợi ích thật sự
từ sự tăng trưởng thương mại của quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển của các
nước và khuyến khích các nước hộp nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
+ Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên,
bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu.

IV.Chức năng.
WTO thực hiện 5 chức năng sau:
+ Thống nhất quản lí việc thức hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa
phương và nhiều bên nhằm giám sát, tạo thuận lợi, trợ giúp kĩ thuật cho các nước
thành viên dể thực hiện nghĩa vụ thương mại quốc tế.
Sư phạm địa lí k33

Page 5


Nhóm 3

WTO có cả một hệ thống Hiêp định đa phương bắt buộc và Hiệp định nhiều
bên không bắt buộc, điều chỉnh các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại,
dịch vụ, các biện pháp về đầu tư liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí
tuệ.
+ Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa hương
trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ Trưởng WTO.
+ Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc
thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các Hiệp định thương mại đa phương
và nhiều bên.
+ Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm
thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO đối
với tất cả các nước thành viên.
+ Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác: Qũy Tiền tệ Quốc
Tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về
những xu hướng phát triển tương lai của nền kinh tế toàn cầu.
V.Nguyên tắc hoạt động.
Về phương diện pháp lý, Ðịnh ước cuối cùng của vòng đàm phán Uruguay ký
ngày 15-4-1999 tại Marrakesh là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh
rộng lớn nhất và có tính chất kỹ thuật pháp lý phức tạp nhất trong lịch sử ngoại
giao và luật pháp quốc tế. Về dung lượng, các hiệp định được ký tại Marrakesh
và các phụ lục kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy
định về các nguyên tắc và nghĩa vụ pháp lý chung của các nước thành viên như
sau:
- Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới.
- 20 hiệp định đa phương về thương mại hàng hoá.
- 4 hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh
chấp, kiểm điểm chính sách thương mại.
- 4 hiệp định nhiều bên về Hàng không dân dụng, mua sắm của chính phủ, sản
phẩm sữa và sản phẩm thịt bò.
- 23 tuyên bố và quyết định liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thỏa
thuận trong vòng đàm phán Uruguay.
Các nguyên tắc hoạt động của WTO.
- Không phân biệt đối xử: là nguyên tắc quan trọng nhất của WTO, thể hiện thông
qua hai chế độ là đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT). Đối xử
MFN quy định một thành viên phải đối xử bình đẳng với tất cả các thành viên
khác. Đối xử NT quy định phải dành cho hàng hoá, dịch vụ và doanh nghiệp
Sư phạm địa lí k33

Page 6


Nhóm 3

nước ngoài sự đối xử bình đẳng như dành cho hàng hoá, dịch vụ và doanh nghiệp
trong nước. WTO cho phép có ngoại lệ về đối xử MFN và NT trong một số
trường hợp nhưng phải theo đúng quy định của WTO.
- Mở rộng tiếp cận thị trường và bảo vệ cạnh tranh công bằng: bao gồm cắt giảm
thuế nhập khẩu, loại bỏ các biện pháp hạn chế định lượng, xử lý các hành vi gây
lệch lạc thương mại, cạnh tranh không lành mạnh.
- Minh bạch hoá: bao gồm minh bạch về chính sách và minh bạch về tiếp cận thị
trường. Minh bạch về chính sách yêu cầu mọi quy định có liên quan đến thương
mại của một thành viên phải được công bố công khai, dễ tiếp cận, phù hợp với
luật lệ của WTO và áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ. Đồng thời, phải dành
cơ hội thoả đáng cho các bên có liên quan được góp ý trong quá trình lập quy.
Minh bạch về tiếp cận thị trường yêu cầu các thành viên nỗ lực ràng buộc mức
trần cho thuế nhập khẩu và đưa ra các cam kết rõ ràng về mở cửa thị trường dịch
vụ, giúp cho các doanh nghiệp có thể dự báo và hoạch định chiến lược kinh
doanh.
VI.Liên hệ Việt Nam.
Ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Ba năm qua, trên con đường hội nhập quốc tế,
nước ta đã tham gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu, mở rộng thị trường
hàng hóa dịch vụ, đầu tư quốc tế, đổi mới mạnh mẽ hơn và đồng bộ hơn các thể
chế, đồng thời, cải tiến nền hành chính quốc gia theo hướng hiện đại. Năm 2010
sẽ là năm đánh dấu nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, nền kinh tế nước ta sẽ
có nhiều chuyển biến. Chúng ta gia nhập WTO đúng thời điểm kinh tế thế giới
diễn biến xấu đến hai lần. Lần thứ nhất là năm 2007 giá cả thị trường thế giới
tăng cao, đặc biệt là giá dầu; lần thứ hai là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
vừa qua. Năm 2008 là năm khá đặc biệt, trong nửa đầu năm, nền kinh tế nước ta
phải đối phó với tình trạng lạm phát cao.
1. Những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO.
a.Thời cơ.
Trong số 155 (năm 2011) thành viên của WTO có khoảng ba phần tư là các nước
đang phát triển, kém phát triển và đang trong thời kỳ quá độ chuyển từ kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Những quốc gia này ngày càng có
vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, và việc xúc tiến thương mại quốc tế
như một giải pháp sống còn trong nỗ lực phát triển đất nước. Ðối với các nước
đang phát triển, cần có cách nhìn nhận và áp dụng những quy chế hoàn toàn khác
biệt so với các nước phát triển. Việt Nam là một trong những nước đang phát
triển, với thu nhập bình quân tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp. Mặc dù đã có
những bước tăng trưởng vượt bậc trong những năm qua, nhưng đến nay nước ta
Sư phạm địa lí k33

Page 7


Nhóm 3

vẫn là một nước có nền kinh tế chưa phát triển, cơ cấu các ngành nghề chưa cân
đối, tỷ trọng nhập khẩu quá lớn so với xuất khẩu... Việc gia nhập WTO là một
trong những nỗ lực nhằm tiếp cận thị trường thương mại toàn cầu, nâng cao vị thế
của Việt Nam trên thị trường thương mại quốc tế, tạo tiền đề hội nhập và phát
triển nền kinh tế. Gia nhập WTO nghĩa là gia nhập thị trường thương mại toàn
cầu, với hành lang pháp lý là Quy chế WTO và những hiệp định thương mại song
phương và đa phương được ký kết với các nước thành viên WTO sẽ mang lại
nhiều lợi ích cho các nước đang phát triển. Những lợi ích này được nhìn nhận
trên nhiều góc độ khác nhau, như về phía Nhà nước, về phía các doanh nghiệp, về
phía người tiêu dùng, nhưng có thể tổng hợp lại ở những lợi ích chủ yếu như sau:
- Thứ nhất, gia nhập WTO sẽ có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Khi chưa gia nhập WTO, với nền kinh tế mở cửa, khuyến khích đầu tư nước
ngoài, Việt Nam đã từng bước mở rộng quan hệ thương mại với các nước khu
vực ASEAN và trên thế giới. Trong mối quan hệ thương mại này, nước ta với lợi
thế là nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ tay nghề cao, chiếm ưu thế trong gia
công sản phẩm xuất khẩu. Nhưng trong những mối quan hệ thương mại quốc tế
thì vẫn là nước chịu nhiều thiệt thòi do chưa thiết lập được hiệp định thương mại
song phương và đa phương với những đối tác của mình, đặc biệt là những thị
trường lớn như thị trường mậu dịch tự do Bắc Mỹ, thị trường mậu dịch tự do EU.
Một minh chứng điển hình là việc xuất khẩu cá da trơn (cá tra, cá ba sa), tôm vào
thị trường Mỹ, giày, dép vào thị trường EU. Với giá xuất khẩu rẻ, các doanh
nghiệp Việt Nam bị các nước này áp đặt là bán phá giá. Các quốc gia này đã 'bảo
vệ sản xuất trong nước', bằng cách áp dụng chính sách bảo hộ thông qua đánh
thuế nhập khẩu rất cao, gây rất nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Khi
tham gia WTO, Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế rộng lớn với 155
thành viên, và vị thế thị trường ngang nhau với tất cả các quốc gia đó. Hàng hóa
có thể thâm nhập thị trường khổng lồ này mà không gặp bất cứ trở ngại nào, miễn
là không vi phạm những quy chế và cam kết đã ký, đủ sức cạnh tranh với hàng
hóa cùng loại và hàng hóa thay thế.
- Thứ hai, tham gia WTO sẽ nâng cao khả năng tiếp cận những công nghệ tiên
tiến, những thị trường tài chính hàng đầu, tiếp thụ và vận dụng cho chiến lược
phát triển. Thành viên WTO có những quốc gia là những nền kinh tế hàng đầu
với công nghệ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý kinh tế, hệ thống tài chính, tiền
tệ phát triển ở trình độ cao. Gia nhập WTO chúng ta sẽ có khả năng tiếp nhận
những công nghệ mới, tiếp thụ và ứng dụng vào sản xuất, điều hành, quản lý, rút
ngắn khoảng cách giữa các nước thành viên WTO; đồng thời tiếp nhận được
nguồn nhân lực và vật lực lớn từ những nước này. Bên cạnh đó, WTO còn có
những chính sách đặc biệt nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển: hỗ trợ về kỹ
Sư phạm địa lí k33

Page 8


Nhóm 3

thuật và đào tạo; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết những vướng mắc
trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế; tạo cơ hội cho những nước đang
phát triển mở rộng thị trường thương mại quốc tế thông qua việc thâm nhập
những thị trường lớn như dệt may, dịch vụ; yêu cầu các nước thành viên WTO
phải bảo vệ lợi ích của những nước đang phát triển nếu các nước này áp dụng
chính sách bảo hộ sản xuất trong nước hoặc những chính sách đối ngoại như
chống bán phá giá.
- Thứ ba, tham gia WTO, vị thế của Việt Nam sẽ được nâng cao trong các mối
quan hệ quốc tế; tạo nên thế và lực mới, sánh ngang hàng với các quốc gia thành
viên của WTO trong việc biểu quyết những vấn đề liên quan đến WTO, đặc biệt
trong quá trình giải quyết những vấn đề tranh chấp trong kinh doanh thương mại
quốc tế.
- Thứ tư, tham gia WTO góp phần cải thiện mức sống người dân. Cùng với việc
mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ là một bộ
phận của thị trường toàn cầu. Luồng hàng hóa sẽ được chu chuyển qua thị trường
Việt Nam cũng như tất cả các thị trường khác. Hàng hóa các nước khác sẽ thâm
nhập thị trường Việt Nam. Ðể đủ sức cạnh tranh nhằm tồn tại và phát triển, các
doanh nghiệp trong nước phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm
giá thành, áp dụng công nghệ mới... Ðiều này sẽ khiến người tiêu dùng trong
nước được hưởng lợi, vì cùng một mức thu nhập, họ có nhiều sự lựa chọn hơn
với những hàng hóa được sử dụng, và đương nhiên là mức sống được nâng cao.
Thị trường ô-tô là một thí dụ dễ thấy. Khi bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng
rào thuế quan và giải pháp cấm nhập khẩu, giá ô-tô trong nước rất cao, gấp hai
đến ba lần các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Thứ năm, gia nhập WTO là cơ hội để Chính phủ có thể xem xét những chính
sách kinh tế, các cơ quan quản lý Nhà nước hoàn thiện hoạt động, dưới sự lãnh
đạo của Ðảng, xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh. Ðây là cơ hội để Chính
phủ hoàn thiện các chính sách kinh tế, tham khảo và vận dụng sáng tạo vào điều
kiện thực tiễn Việt Nam, đồng thời tuân thủ quy chế WTO sẽ giảm bớt hiện tượng
tham nhũng, hối lộ trong hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước. Với tiêu chí tự
do hóa thương mại, WTO kiên quyết xóa bỏ những rào cản bất hợp lý trong
thương mại quốc tế, trong đó, các nước thành viên đều phải tuân theo. Những rào
cản này có thể là chế độ hạn ngạch, chính sách cấm xuất, nhập khẩu, bảo hộ thuế
quan. Ðây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng như mua bán hạn
ngạch, gian lận thuế, gian lận thương mại, làm giảm hiệu quả của hoạt động kinh
doanh thương mại quốc tế. Xóa bỏ rào cản chính là xóa bỏ những tiền đề nảy sinh
tham nhũng, hối lộ, làm trong sạch bộ máy Nhà nước, nâng cao hiệu quả thực
hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ.
Sư phạm địa lí k33

Page 9


Nhóm 3

b. Thách thức.
- Một là, thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam là khả năng
cạnh tranh chưa cao. Mở cửa thị trường, cùng với cơ hội mở rộng thị trường tiêu
thụ, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với thách thức rất lớn là cạnh tranh
với các doanh nghiệp nước ngoài Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn
trong thời gian qua, nhưng nhìn chung, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn những hạn
chế cần khắc phục. Ở nhiều doanh nghiệp, tính tự chủ không cao, khả năng vận
hành và tính thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh còn hạn chế.
Khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải đối mặt
với sự cạnh tranh quyết liệt với các doanh nghiệp nước ngoài về thị trường hàng
hóa và dịch vụ. Các doanh nghiệp nước ngoài với ưu thế là nguồn vốn lớn, sản
phẩm sản xuất trên nền tảng CNH, HÐH, nên chất lượng và giá cả phù hợp, thêm
vào đó là kinh nghiệm chiếm lĩnh thị trường của những tập đoàn hàng đầu trong
lĩnh vực thương mại quốc tế. Sự cạnh tranh này khiến các doanh nghiệp Việt
Nam phải đứng trước hai sự lựa chọn :
+ Chấp nhận sự cạnh tranh, liên tục đổi mới công nghệ, áp dụng khoa học - kỹ
thuật, vận hành hệ thống quản lý mới, cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm,
hạ giá thành, tăng cường dịch vụ nhằm để sản phẩm sản xuất ra có thể cạnh tranh
với sản phẩm cùng loại, chiếm lĩnh được thị trường, hướng tới xuất khẩu và dần
tạo uy thế trên thị trường.
+ Doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh, bị đào thải khỏi thị trường. Ðiều
này có thể xảy ra với những doanh nghiệp quá yếu về tiềm lực kinh tế cũng như
thương hiệu, kinh nghiệm trên thương trường quốc tế. Sự đào thải của hàng loạt
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả sẽ khiến số lao động thất nghiệp tăng cao.
Ðây là một trong những vấn đề cần giải quyết nhằm bảo đảm sự phát triển ổn
định và bền vững.
- Hai là, thách thức đối với nước ta là phải thực hiện hàng loạt những cam kết,
những thỏa thuận đã ký từ những hiệp định thương mại song phương, đa phương,
đồng thời tuân thủ triệt để quy chế WTO.
Những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội qua 20 năm
đổi mới, cùng quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã khẳng định sự đúng
đắn của con đường phát triển đất nước ta. Khai thác triệt để những lợi thế và chủ
động vượt qua những thách thức khi gia nhập WTO là tiền đề quan trọng trong
việc hội nhập thị trường toàn cầu, dần thích nghi và bắt kịp tốc độ phát triển của
các nước tiên tiến trên thế giới. Trước mắt, Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế,
chính sách, các văn bản luật và hướng dẫn thi hành, đặc biệt là những lĩnh vực có
liên quan đến những cam kết và thỏa thuận theo hiệp định thương mại song
Sư phạm địa lí k33

Page 10


Nhóm 3

phương, đa phương và quy chế WTO đề ra. Bên cạnh đó, cũng cần đẩy nhanh quá
trình tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa
DNNN, chuẩn bị đầy đủ tiềm lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang
những ngành mũi nhọn, có khả năng cạnh tranh cao. Những doanh nghiệp thuộc
những ngành kinh tế mũi nhọn cần được tập trung mọi nguồn lực để nâng cao
năng lực cạnh tranh, thích ứng với môi trường kinh doanh toàn cầu, trở thành 'đầu
tầu' của nền kinh tế. Những doanh nghiệp năng lực cạnh tranh thấp, hoặc làm ăn
không hiệu quả cần được chuyển đổi hoặc bán, bảo đảm cho mọi nguồn lực kinh
tế được đầu tư vào những lĩnh vực có hiệu quả nhất. Những thị trường hỗ trợ cho
thị trường hàng hóa như thị trường tài chính, thị trường tiền tệ cần được quan tâm
phát triển một cách đồng bộ. Ðồng thời, Nhà nước cần tập trung đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực, chuẩn bị cho quá trình tiếp thụ những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quản lý để đáp ứng yêu
cầu của bộ máy quản lý đa năng và chuyên nghiệp hóa sau này.
Về phía các doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng tiếp cận thị trường toàn cầu,
trong đó, hiểu sâu sắc và nghiêm túc thực hiện những quy chế trong kinh doanh
thương mại quốc tế, như vấn đề bản quyền, tiêu chuẩn, chất lượng, vệ sinh an
toàn, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng... Cũng cần chuẩn bị thật tốt nguồn nhân
lực với trình độ cao, nhằm tiếp thụ những công nghệ mới, nâng cao chất lượng
sản phẩm, giảm giá thành, tăng dịch vụ sau bán hàng, để hàng hóa Việt Nam có
đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của các nước khác.
1.Thành tựu đặt được khi gia nhập WTO.
 Đã có rất nhiều đánh giá tích cực từ các chuyên gia trong và ngoài nước về
kết quả bước đầu của Việt Nam sau 3 năm gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO), trong đó, phải kể đến 3 thành tựu nổi bật, đó là: Tăng
trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô; Nâng cao vị thế của Việt Nam thông qua
thu hút đầu tư nước ngoài và những tác động tích cực đối với thể chế kinh tế.
 Giai đoạn 2007-2009 chứng kiến sự tham gia của Việt Nam vào WTO. Nhìn
vào con số tăng trưởng kinh tế 3 năm qua cho thấy sự bứt phá ngoạn mục:
Năm 2007 tăng trưởng kinh tế đạt 8,5%; Năm 2008 đạt 6,2%; Năm 2009,
mặc dù ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhiều nền kinh tế tăng
trưởng âm - thì Việt Nam vẫn tăng trưởng dương, ở mức 5,3%.
 Việt Nam gia nhập WTO 2007-2012 đã đạt được những thành tựu sau:
Tăng trưởng kinh tế : 2007 đạt 8.5%, 2008 đạt 6,2%, 2009 là 5,3% trong khi
nền kinh tế thế giới đặt giá trị âm do cuộc khủng hoảng kinh tế trong khi
Việt Nam vẫn đạt 5.3%.
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến tích cực, giảm tỉ trọng khu vực I, tăng khu
Sư phạm địa lí k33

Page 11


Nhóm 3

vực II, III.
-

Tốc đô tăng trưởng kinh tế:
Theo quý: năm 2010 (%) Theo năm: 2006-2009(%)
Qúy 1
Qúy 2
Qúy 3
Qúy 4

-

3,10
4,60
5,80
6,80

2006
2007
2008
2009

8,23
8,48
6,23
5,20

Sản xuất công nông nghiệp.
+ Sản xuất nông nghiệp: phát triển rất toàn diện, tăng trưởng khá cao và có
sự dịch chuyển theo hướng hàng hóa, về số lượng, chất lượng cao, đa dạng.
Cơ cấu sản phảm có nhiều thay đổi, điều kiện và yếu tố sản xuất cũng đổi
mới.
• Biểu hiện:
 Tốc độ phát triển GDP: 2007 tăng 3,67%, 2008 tăng 4,07%.
 Nông sản đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến: chè, đường, rau quả,...
 Xuất khẩu gạo 2008 đạt 4,7 triệu tấn.
 Năm 2009 tổng giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản đạt
219.887,18 tỷ đồng tăng 2,98% so với năm 2008.

+ Sản xuất công nghiệp: có tốc độ tăng trưởng khá cao năm 2007 giá trị
tăng 11,7%, trong đó thành phần: ngoài nhà nước tăng 26%, đầu tư nước ngoài
19,2% năm 2008 tăng 13,9% tương ứng 18% so với 2 thành phần trên.
+ Cơ cấu sản xuất công nghiệp: có tốc độ tăng trưởng khá cao; đối với
công nghiệp chế biến năm 2007 đạt 19,1đến 2008 là 15,3% chiếm tỷ trọng lớn.
+ Gía trị sản xuất công nghiệp đạt 696.577 tỷ đồng, năm 2010 – 2011 đạt
717,19 nghìn tỷ đồng tăng 13,8%. Bao gỗm kinh tế thành phần ngoài nhà nước
chiếm 14,5%,vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,9%. Xu hướng giảm tỷ trọng khai
thác khoáng sản,tài nguyên thiên nhiên,tăng công nghiệp chế biến.
-

Kinh tế đối ngoại:
+ Phát triển toàn diện thu hút vốn đầu tư, mở rộng thị trường hàng hóa, dịch
vụ.
• Biểu hiện:
 Nguồn vốn FDI năm 2006 đạt 12 tỷ ( USD ), năm 2007 là 21

Sư phạm địa lí k33

Page 12


Nhóm 3

-

-

tỷ ( USD ), 2008 đạt 64 tỷ ( USD ), 2009 đạt 21,3 tỷ ( USD ),
trong 3 năm đã tăng vượt bậc 1,3 lần tổng FDI của các năm
khác cộng lại.
 Nguồn vốn ODA: bình quân là 5,6 tỷ ( USD ) năm 2009 là 8 tỷ
(USD ).
 Thị trường chứng khoáng: năm 2006 đạt 2,1 tỷ USD,năm 2008
đạt 8,9 tỷ (USD)
 Nguồn kiều hối: bình quân là 6,7 tỷ USD/năm.
Xuất nhập khẩu:
+ Việt Nam quan hệ với 150 nước thành viên xuất khẩu với hàng hóa dể
dàng nhờ bãi bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan năm 2008 – 2009 xuất
nhập khẩu đạt trung bình 25%/năm, năm 2009 do ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế có xu hướng tụt, kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2010 đạt 6,5
tỷ USD. Những mặt hàng xuất khẩu đạt hơn 1 tỷ USD: cafe, gạo, sản phẩm
gỗ, sắn, da dày,... Xu hướng giảm mặt hàng xuất khẩu thô, tăng mặt hàng
chế biến và công nghệ cao. Hiện nay xuất khẩu đạt 170% tổng GDP.
 Khẳng định nền kinh tế Việt Nam có sự gắn kết và phụ thuộc vào nền
kinh tế thế giới đây được coi là động lực – then chốt cho sự phát triển kinh
tế Việt Nam.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
+Thúc đẩy tái cơ cấu: chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại
hóa tăng tỷ trọng khu vực II,III giảm khu vực I.
Biểu hiện: năm 2000 đạt 38% ( II ), 39,9% ( III ), 23% (I ), năm 2008-2009
tăng tương ứng là 40%, 39,5%, 20,5%.
 Đây là hệ quả tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Danh sách nhóm 3
1.
2.
3.
4.
5.
Sư phạm địa lí k33

Ngô Nguyễn Hữu Kế.
Lâm Thị Lan.
Phan Thị Lài.
Đinh Văn Lem.
Nguyễn Thị Liệu.
Page 13


Nhóm 3
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.

Sư phạm địa lí k33

Cù Thị Linh.
Bùi Thị Loan.
Phạm Thị Kiều Loan.
Ka Lọi.
Lương Thị Lưu.
Lê Nguyễn Hồng Lựu.
Lê Thị Yến Ly.
Nguyễn Viết Tình.
Nông Thị Tơi.
Nguyễn Đình Triệu.
Nguyễn Thị Thanh Tuyền.
Phan Thị Kim Uyên.
Ngô Thị Vân.
Huỳnh Thị Tường Vi.

Page 14



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×