Tải bản đầy đủ

Luận án tiến sĩ PHÂN TÍCH các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến QUYẾT ĐỊNH gửi TIỀN của NGƯỜI dân vào NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP

Jl

lị
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG

HUỲNH THỊ MINH TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN CỦA NGƯỜI DÂN VÀO
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỐ PHẦN ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ NGÀNH: 60 34 01 02
Jl

lị
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


Vĩnh Long, 2016
Ì1

rf


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG

HUỲNH THỊ MINH TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN CỦA NGƯỜI DÂN VÀO
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỐ PHẦN ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ NGÀNH: 60 34 01 02

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG ĐÔNG LỘC

Vĩnh Long, 2016
Ì1

rf


Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập được
và kết quả phân tích trong đề tài này là hoàn toàn trung thực, đề tài không trùng khớp với
bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào.
Vĩnh Long, ngày 30 tháng 12 năm 2015
Người thực hiện
Huỳnh Thị Minh Trường

LỜI CAM ĐOAN


Lời đầu tiên cho tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cà Quý thầy cô Khoa Quản trị kinh doanh, trường Đại học

Cửu Long đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong 2 năm học qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến thầy Trương Đông Lộc, người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã tận tình
giúp đỡ tôi trong việc tiếp cận thực tiễn nói chung và cho những ý kiến đóng góp nói riêng để tôi có thể hoàn
thành luận văn của mình.
Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Ngân hàng nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện để tôi
hoàn thành việc học tập và nghiên cứu của mình.
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè là những người luôn động viên,
quan tâm, chia sẽ và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình từ khi bắt đầu thực hiện đến khi hoàn thành đề tài
nghiên cứu này.


MỤC LỤC


5.2.1
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập và dấu kỳ vọng trong mô hình Probit và

DANH MỤC BẢNG


Bảng 4.14: Đánh giá kỹ năng nghiệp vụ và giao tiếp nhân viên ngân hàng của cá


Hình 2.1: Chức năng trung gian tín dụng của Ngân hàng thương mại trong nền


DANH MỤC TỪ VIÉT TẮT
Máy rút ATM:
tiền tự động
BIDV:
Ngân hàng
thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam Dư nợ trung dài hạn;
Định chếDNTDH
tài chính;
Tổng sản: phẩm trong nước Huy động vốn Khách hàng doanh nghiệp Khách hàng cá
nhân;

ĐCTC:

GDP:
Lợi nhuận
sau thuế;
Lợi nhuận
trước thuế Tổng dư nợ Ngân hàng thương mại Ngân hàng Tổ chức tín dụng
HĐV:
KHDN:
KHCN:
LNST:
LNTT:
TDN:
NHTM:
NH:


CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỐNG QUAN

1.1 Sự cần thiết của đề tài
Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng hội nhập kinh tế và toàn cầu. Một
trong những vấn đề có vị thế quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp mà chúng ta theo đuổi
dó là vấn đề nguồn lực, vấn đề vốn - vấn đề thuộc cơ sở “ hạ tầng mềm” cho đầu tư phát
triển. Đây là vấn đề mang tính cấp thiết, đầy biến động, đòi hỏi phải xây dựng, phát triển
và thường xuyên được xử lý, điều chỉnh nhằm đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế,
giải quyết được những thiếu hụt trong chi tiêu của Chính phủ. Vậy thì giải pháp nào cho
huy động vốn; chúng ta phải có những quyết sách cụ thể mang tính chiến lược trong dài
hạn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn cũng như khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Ngân
hàng thương mại với chức năng của mình cần phải có biện pháp thích hợp tập trung mọi
nguồn vốn còn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế nhất là các hình thức
huy động trung và dài hạn để đầu tư để cho vay và đầu tư vào các dự án, cơ sở hạ tầng,
mua sắm trang thiết bị, đổi mới công nghệ. Với vai trò là cầu nối giữa cung và cầu vốn
trong xã hội, thông qua các nghiệp vụ huy động vốn của mình, các Ngân hàng thương mại
đã góp phần quan trọng trong việc khơi thông nguồn vốn từ nền kinh tế đáp ứng cho nhu
cầu tín dụng, góp phần đảm bảo hiệu quả kinh doanh ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế xã hội.
Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, vai trò của các định chế tài chính trung gian,
trong đó có ngân hàng thương mại là hết sức quan trọng trong việc huy động và sử dụng
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Gần đây, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu có
nguyên nhân xuất phát từ sự sụp đổ hàng loạt các ngân hàng có tên tuổi trên thị trường tài
chính thế giới thì vấn đề quản trị rủi ro, huy động và sử dụng vốn của các ngân hàng rất
đáng được các nước được quan tâm.
Hệ thống ngân hàng của Việt Nam trong xu thế hội nhập đã từng bước khẳng định
được vai trò quan trọng của mình trong việc phát triển đất nước, góp phần tăng trưởng kinh
tế, ổn định giá trị đồng tiền. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ và điều hành hệ thống ngân hàng


hiện nay của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam như trần lãi suất; huy động vốn trên thị
trường hai không quá 20% nguồn vốn huy động được trên thị trường một...đã ảnh hưởng
rất lớn đến công tác huy động vốn của các ngân hàng.
Các ngân hàng Việt Nam trong thời gian gần đây rất chú trọng đến việc phát triển,
mở rộng mạng lưới theo mô hình là các ngân hàng bán lẻ, bán chéo nhiều sản phẩm cho
các khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ đồng thời cũng gia tăng nguồn vốn huy
động ổn định của các đối tượng này. Song không thể phủ nhận trong cơ cấu nguồn vốn huy
động hiện tại của các ngân hàng hiện nay, lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm tỷ
trọng khá lớn. Lượng tiền gửi này chủ yếu là của các tập đoàn Nhà nước. Vấn đề này cũng
xuất hiện nhiều bất cập nhất định trong việc sử dụng nguồn vốn đầu tư của các tập đoàn vì
trong khi các công ty thành viên thiếu vốn thì công ty mẹ lại thừa vốn. Rất có thể trong
thời gian tới, các quy định về việc sử dụng nguồn vốn của các tập đoàn trở nên chặt chẽ
hơn và như vậy, lượng tiền gửi của khách hàng tại các ngân hàng sẽ có nhiều biến động và
do vậy, việc huy động vốn đối với các khách hàng cá nhân; doanh nghiệp vừa và nhỏ trở
nên quan trọng và tiếp tục diễn ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt hơn bao giờ hết.
Đồng Tháp là vùng có nhu cầu cao về vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng yếu kém. Do vậy,
huy động vốn tại chỗ của các ngân hàng trong địa bàn cũng chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu
sử dụng vốn. Với hơn 10 tổ chức tín dụng đóng trên địa bàn, cạnh tranh về huy động vốn
trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày càng trở nên gay gắt, nhất là nguồn vốn huy động từ khu
vực dân cư. Điều này đặt ra một vấn đề là những người có nguồn vốn nhàn rỗi sẽ phản ứng
ra sao đối với chiến lược huy động vốn của các ngân hàng? Đề tài “Phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân vào Ngân hàng thương mại cổ
phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Tháp” sẽ nghiên cứu vấn đề
này.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1

Mục tiêu chung
Mục tiêu tổng quát của đề tài này là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

định gửi tiền của người dân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt


Nam - Chi nhánh Đồng Tháp (sau đây được gọi là BIDV Đồng Tháp), trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao lượng tiền gửi vào các ngân hàng thương mại này.

1.2.2

Mục tiêu cụ thể

-

Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng huy động vốn của BIDV Đồng Tháp;

-

Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gởi tiền và lượng tiền gửi của
khách hàng cá nhân tại BIDV Đồng Tháp.

-

Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng lượng tiền gửi của khách hàng cá nhân tại
BIDV Đồng Tháp.

1.3.
Phạm vi nghiên cứu
1.3.1
Phạm vi về không gian
Địa bàn nghiên cứu của đề tài này là: thành phố Cao Lãnh, thành phố Sa Đéc, thị xã
Hồng Ngự, huyện Cao Lãnh và huyện Tháp Mười.

1.3.2
-

Phạm vi về thời gian

Số liệu thứ cấp liên quan đến hành vi gửi tiền của khách hàng thu thập từ tháng 09/2015
đến tháng 12 năm 2015 qua phỏng vấn khách hàng.

-

Số liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của BIDV Đồng Tháp thu thập
từ năm 2012 đến năm 2014.

1.3.3

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quyết định gửi tiền của người dân vào BIDV

Đồng Tháp.

1.4.

Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Gới thiệu tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý luận.
Chương 3: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển

Việt Nam - Chi nhánh Đồng Tháp.
Chương 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân vào BIDV Đồng


Tháp.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị


CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


2.1.
2.1.1

CƠ SỞ LÝ LUẬN
Phương pháp luận

2.1.1.1

Tổng quan về hoạt động của ngân hàng thương mại

2.1.1.1.1

Khái niệm về Ngân hàng thương mại

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển
của nền sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đỏi hỏi sự phát triển
của NH; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống NH trở thành động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường tài chính và các trung gian tài chính thực
hiện chức năng lưu thông vốn từ những nơi, những cá nhân có vốn nhàn rỗi đến những cá
nhân, tổ chức cần vốn cho các hoạt động của mình. Trong các kênh dẫn vốn đó thì hệ
thống NH đóng vai trò chủ đạo cả về quy mô lẫn nghiệp vụ.
NH là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. NH bao gồm
nhiều hình thức tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính
nói riêng, trong đó Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô và số
lượng các NH.
Khi nghiên cứu về Ngân hàng thương mại, các nhà kinh tế học, các tổ chức tài chính
đã đưa rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại. Theo Fredic Miskin thì “Ngân hàng
Thương mại là một trung gian tài chính, các trung gian tài chính này thu hút vốn bằng cách
phát hành: tiền gửi có thể phát séc (tiền gửi không kì hạn), các tiền gửi tiết kiệm (là các
món tiền gửi có kỳ hạn thanh toán định trước), sau đó họ dùng vốn vay này để thực hiện
cho vay: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và để mua các chứng
khoán của chính phủ, các chứng khoán của chính quyền địa phương.”
Theo luật Các Tổ chức Tín dụng của Việt Nam thì “ Ngân hàng là tổ chức kinh
doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của
khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu là làm phương tiện thanh toán.”


Như vậy trong quá trình hình thành và phát triển, các nhà kinh tế học cũng như các
tổ chức đã đưa ra rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại. Thật khó có thể để đưa ra
một khái niệm chính xác và đầy đủ về Ngân hàng thương mại trong mọi giai đoạn. Sở dĩ
có điều này là do hoạt động của Ngân hàng thương mại rất đa dạng, các thao tác trong từng
nghiệp vụ lại rất phức tạp và luôn luôn biến động theo sự biến đổi chung của nền kinh tế.
Mặt khác, do trình độ phát triển của nền kinh tế, phong tục tập quán, hệ thống pháp luật...
mỗi nước khác nhau đã dẫn đến quan niệm về Ngân hàng thương mại không đồng nhất.
Nhưng một điều không thể phủ nhận là sự ra đời của hệ thống Ngân hàng thương mại đã
đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội loài người.

2.1.1.1.2

Các chức năng của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính không thể thiếu được của một nền
kinh tế. Nó đóng vai trò cầu nối giữa cung và cầu tiền tệ thông qua hoạt động huy động
vốn của những cá nhân, tổ chức thặng dư trong chi tiêu tức là thu nhập hiện tại của họ lớn
hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá dịch vụ và do đó họ có tiền để tiết kiệm. Sau đó,
Ngân hàng thương mại chuyển các khoản tiết kiệm này thành đầu tư bằng cách cho các tổ
chức và cá nhân có nhu cầu về vốn vay lại. Đó là những tổ chức, cá nhân tạm thời thâm
hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập; do vậy, họ cần bổ
sung thêm vốn. Hoạt động này giúp đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh. Tình hình hoạt động của NH phản ánh rất chính xác mức độ phát
triển của nền kinh tế. Do vậy, NH có chúc năng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh
tế, cụ thể như sau:


Chức năng trung gian tín dụng được minh họa qua hình 2.1 sau đây:

a) Chức năng trung gian tín dụng
Hình 2.1: Chức năng trung gian tín dụng của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, gân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu
nối” giữa người thừa vốn và người cần vốn. Trong đó, ngân hàng thương mại đóng vai trò
là trung gian, đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong
nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh
và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội, chuyển vốn tiền
tệ từ nơi thừa sang nơi thiếu theo nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện.
Trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương
mại vì nó phản ánh bản chất của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, nó quyết
định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng
khác.

b) Chức năng trung gian thanh toán
Khi Ngân hàng thương mại ra đời và hoạt động trong nền kinh tế, các khoản giao
dịch thanh toán giữa các đơn vị và cá nhân được thực hiện qua hệ thống ngân hàng. Ngân
hàng thương mại đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa
các khách hàng, giữa người mua, người bán...để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại
giữa họ với nhau.


a) Chức năng trung gian tín dụng
Hình 2.2: Chức năng trung gian thanh toán của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Nhờ thực hiện chức năng này, nền kinh tế sẽ giảm bớt khối lượng tiền mặt lưu hành,
tăng khối lượng thanh toán bằng chuyển khoản. Từ đó, giảm bớt nhiều chi phí cho xã hội
về in tiền, vận chuyển, bảo quản tiền tệ, tiết kiệm nhiều chi phí về giao dịch thanh toán.
Cũng chính nhờ chức năng này mà hệ thống Ngân hàng thương mại góp phần đẩy nhanh
tốc độ luân chuyển tiền - hàng.

c) Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng
Chức năng này được thực hiện thông qua các hình thức thanh toán (séc, ủy nhiệm
chi, nhờ thu, các loại thẻ tín dụng,...) hoạt động thanh toán bù trừ - liên ngân hàng, ngân
hàng thực hiện thanh toán cho khách hàng giá trị hàng hóa và dịch vụ.
Với ưu thế về mạng lưới rộng khắp, nắm được tình hình sản xuất kinh doanh, tình
hình tài chính, điểm mạnh, điểm yếu của các tổ chức, cá nhân, các Ngân hàng thương mại
giữ vị trí độc quyền trong cung ứng một số sản phẩm dịch vụ mà không có tổ chức nào đủ
khả năng thay thế. Các dịch vụ gắn liền với ngân hàng không chỉ cho phép Ngân hàng
thương mại thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng mà còn hỗ trợ tích cực để Ngân hàng
thương mại thực hiện tốt chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh
toán.
2.1.1.2

Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại

a) Huy động vốn
-

Nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác.
Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các chứng từ có giá khác.


-

Vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.

-

Vay vốn, nhận vốn của ngân hàng nhà nước thông qua thị trường mở, thị trường tái cấp
vốn.

-

Các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

b) Tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng thương
mại cấp tín dụng thông qua các hình thức như: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài
chính, bao thanh toán,...

c) Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
-

Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của Ngân hàng thương mại gồm:

-

Cung cấp các phương tiện thanh toán.

-

Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.

-

Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ.

-

Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN.

-

Tham gia, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.

-

Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.

-

Thực hiện dịch vụ giữ hộ tài sản cho khách hàng.

d) Một số hoạt động khác
-

Kinh doanh ngoại hối.

-

Kinh doanh bất động sản.

-

Góp vốn và mua cổ phần.

-

Tham gia thị trường tiền tệ.

-

Đầu tư và kinh doanh chứng khoán.

-

Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
Ủy thác và nhận ủy thác

-

Tư vấn tài chính


2.1.2
2.1.2.1

Tầm quan trọng của hoạt động huy động tiền gửi
Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Cũng như bất kỳ loại hình doanh nghiệp khác, nguồn vốn có vai trò rất quan trọng

trong việc sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, khác với những doanh nghiệp bình thường,
Ngân hàng thương mại được xem như là doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt.
Trong đó, vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, chủ
yếu là nguồn vốn huy động. Phần lớn vốn huy động của Ngân hàng thương mại xuất phát
từ việc huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, cá nhân cũng như từ
việc vay mượn các nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Đặc trưng của hoạt
động ngân hàng là "nhận tiền gửi và kinh doanh tiền gửi ", do đó nguồn vốn huy động của
Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng quy mô tài sản có,
đa dạng hoá các sản phẩm-dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo thương hiệu, uy tín
đối với khách hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản, ...
2.1.2.2

Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, hệ thống ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng, là một

trong những kênh huy động và điều hòa nguồn vốn chính của nền kinh tế. Các hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng thương mại đều liên quan trực tiếp đến mọi mặt đời sống xã
hội. Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng là ngành chủ yếu làm cho cung cầu tiền
tệ gặp nhau, đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục
và để mở rộng quy mô sản xuất. Sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống ngân hàng tác
động trực tiếp và mạnh mẽ đến sự tăng trưởng của toàn nền kinh tế, giúp ổn định thị
trường tiền tệ và kiểm soát lạm phát.
2.1.2.3
Đối với khách hàng gửi tiền
Hoạt động huy động tiền gửi của Ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng
gửi tiền một kênh tiết kiệm và đầu tư giúp cho họ thu ược lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn
rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ, tạo cơ hội cho họ có thể
gia tăng tiêu dùng trong tuơng lai. Mặt khác, nghiệp vụ huy động tiền gửi của Ngân hàng
thương mại giúp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn
rỗi, đồng thời hoạt động này cũng còn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch
vụ khác của Ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng và dịch vụ tín dụng


khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng.

2.1.3

Tiền gửi của Ngân hàng thương mại

2.1.3.1

Tiền gửi không kỳ hạn
- Đây là loại tiền gửi mà người sở hữu nó có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào mà

không cần phải báo trước về thời hạn và khối lượng tiền cần rút. Loại này bao gồm các
khoản tiền gửi tạm thời của các doanh nghiệp và công ty, các tổ chức kinh tế.... thuế, lợi
nhuận, vốn khấu hao của các doanh nghiệp, công ty, tiền gửi của các nhà đầu cơ. Khách
hàng gửi tiền loại này không vì mục tiêu lợi nhuận, chủ yếu là thực hiện các khoản chi mua
hàng hóa, dịch vụ; thực hiện các giao dịch về thanh toán, chi trả và thực hiện các khoản chi
trả khác và để ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi trong thanh toán. Xét về tính chất thì tiền
gửi không kỳ hạn không ổn định như tiền gửi có kỳ hạn, mà biến động thường xuyên,
nhưng trong thực tế ngân hàng vẫn sử dụng vào hoạt động cho vay và hoạt động trên cơ sở
số dư ổn định, do kết quả bù trừ của số tiền gửi vào và rút ra trong thời kỳ nhất định, với
điều kiện ngân hàng thương mại phải tính toán đầy đủ khả năng chi trả của mình, điều này
đặc biệt cần được chú ý đến trong thời kỳ có nhiều biến động của nền kinh tế.
2.1.3.2

Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà chủ sở hữu lợi tức theo thời hạn đã quy định

trước. Nhưng trong thực tế do quy luật cạnh tranh chi phối, để thu hút được nhiều tiền gửi
của khách hàng, nhiều Ngân hàng thương mại vẫn cho phép khách hàng rút tiền ra trước
thời hạn nhưng được hưởng lãi suất thấp ( hưởng lãi suất không kỳ hạn). Tiền gửi có kỳ
hạn bao gồm các khoản tiền gửi của các nhà kinh doanh tiền tệ, của các công ty, doanh
nghiệp....
Mục đích gửi tiền có kỳ hạn khác hẳn với gửi tiền không kỳ hạn ở chỗ là người gửi
tiền nhắm đến khả năng sinh lợi của tiền tệ, vì vậy đối với loại tiền gửi này Ngân hàng
thương mại phải rả lãi suất thỏa đángcho khách hàng. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín
dụng có tính chất ổn định, ngân hàng thương mại có thể sử dụng một cách chủ động để cho
vay. Vì vậy ngân hàng thương mại rất quan tâm và sử dụng nhiền biện pháp nghiệp vụ tích
cực để huy động loại tiền gửi này. Tiền gửi có kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn ở
chỗ: Tiền gửi không kỳ hạn không phải tiền để dành, mà là bộ phận tiền tệ đang chờ thanh


toán. Khách hàng có thể rút hoặc sử dụng thanh toán bất kỳ lúc nào. Khách hàng được sử
dụng: séc, giấy chuyển tiền .... để thanh toán và loại tiền gửi này không ổn định như tiền
gửi có kỳ hạn.
2.1.3.3

Tiền gửi tiết kiệm
Là loại tiền gửi để dành của các cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích

hưởng lãi. Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn gửi được ngân hàng công bố sẵn.
Hình thức phổ biến của tiền gửi này là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Khi gửi tiền, ngân hàng
cấp cho người gửi một cuốn sổ dùng để ghi nhận các khoản tiền gửi vào và tiền rút tiền ra.
Ở Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm bao gồm ba loại sau:

-

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể
gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngân hàng. Loại tiền
gửi này gần giống với tiền gửi không kỳ hạn, chỉ khác là nó luôn được ngân hàng trả lãi
nhưng không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.

-

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi cố định trước. Loại
tiền gửi này cũng giống như tiền gửi có kỳ hạn là không được phép rút trước hạn. Tuy
nhiên, nếu khách hàng có nhu cầu rút trước hạn và để nâng cao khả năng cạnh tranh, ngân
hàng cũng có thể được đáp ứng nhưng người gửi tiền phải chịu lãi suất không kỳ hạn, hoặc
lãi suất kỳ hạn theo thời hạn gửi thực tế. Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
cao hơn lãi suất trả cho loại tiền gửi không kỳ hạn. Giữa các loại tiền gửi có kỳ hạn khác
nhau thì lãi suất được trả sẽ khác nhau. Tiền gửi có kỳ hạn với thời gian càng lâu, lãi suất
sẽ càng cao.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm một
mục đích nào đó (tiêu dùng, đầu tư trong tương lai,...). Ngoài hưởng lãi, người gửi tiền còn
được ngân hàng cho vay nhằm mục đích bổ sung thêm vốn cho nhu cầu phục vụ nhu cầu
tiêu dùng, đầu tư.
Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn
của ngân hàng. Nó phản ảnh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay. Trong cơ cấu
nguồn vốn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là nguồn vốn quan trọng
nhất của Ngân hàng thương mại vì đây là nguồn vốn tương đối ổn định để ngân hàng chủ


động hoạch định chiến lược kinh doanh riêng cho mình.
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi của Ngân hàng thương
mại
2.1.4.1

Các yếu tố khách quan

a) Yếu tố môi trường kinh tế
Yếu tố môi trường kinh tế như lạm phát, thất nghiệp, tốc độ phát triển GDP, các giai
đoạn chu kỳ kinh tế, cơ cấu ngành nghề,...có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động
tiền gửi ngân hàng. Chẳng hạn như, nền kinh tế lạm phát dẫn đến đồng tiền bị mất giá, các
tổ chức cá nhân sẽ cân nhắc lựa chọn kênh đầu tư khác như nắm giữ vàng hoặc USD hơn
là quyết định gửi tiền vào ngân hàng. Tương tự, nếu nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng ổn
định sẽ tạo tâm lý và niềm tin tốt đối với nhà đầu tư, người gửi tiền, người tiêu dùng.

b) Yếu tố chính trị, pháp luật và chính sách của Nhà Nước
Yếu tố chính trị, pháp luật và chính sách của Nhà Nước có ảnh hưởng chung đến tất
cả các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ của một quốc gia không riêng gì ngành ngân hàng.
Tuy nhiên, với lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, ngân hàng được xem là một ngành kinh doanh
đặc biệt và nhạy cảm đối với nền kinh tế. Do đó, mọi sự biến động về thể chế chính trị;
đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà Nước đều có ảnh hưởng
lớn đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Một thể chế
chính trị ổn định, chính sách pháp luật chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, thông
thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển một cách có hiệu
quả, tạo giá trị gia tăng nhiều hơn cho xã hội...từ đó giúp ngân hàng huy động nguồn vốn
được thuận lợi và ổn định hơn.

c) Yếu tố môi trường văn hoá
Trong sự phát triển năng động và phong phú của đời sống con người, môi trường văn
hoá có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi, thái độ, ý thức của mỗi người và cộng đồng xã hội.
Môi trường văn hoá là yếu tố ảnh hưởng đến phong tục, tập quán, lối sống, đạo đức, pháp
quyền, dân trí,... của người dân. Mức độ ảnh hưởng của môi trường văn hoá đến cá nhân
và cộng đồng tuỳ thuộc vào từng quốc gia. Ở Việt Nam, thói quen sử dụng tiền mặt; cất trữ
và thanh toán bằng vàng; sản xuất-kinh doanh-


dịch vụ nhỏ lẻ.........gây rất nhiều khó khăn trong công tác huy động nguồn vốn nhàn
rỗi trong xã hội của người dân.

d) Yếu tố về công nghệ
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng là một trong những ngành hội
nhập quốc tế mạnh mẽ nhất. Trong tương lai, xuất phát từ nhu cầu ngày càng đa dạng của
khách hàng trong việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hệ thống thông tin ngân hàng đòi hỏi
khả năng xử lý số lượng thông tin rất lớn, thời gian xử lý nhanh, tính đồng bộ trong các
hoạt động giao dịch liên ngân hàng trong nước và quốc tế ở mức chuẩn và độ ổn định, tính
bảo mật hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phải ở mức độ cao. Do đó, việc tối ưu hóa hạ
tầng công nghệ, công nghệ hỗ trợ quản trị ngân hàng, đa dạng hóa dịch vụ, thúc đẩy thanh
toán không dùng tiền mặt dựa trên Internet, di động, thẻ thanh toán...theo hướng tự động
hóa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng và nâng cao
khả năng phục vụ khách hàng.
Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của
ngân hàng gần đây đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân, các nhà đầu tư tiếp cận sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng tiên tiến như: thanh toán qua thiết bị chấp nhận thẻ, Mobile
Banking, Internet Banking và Kiosk Banking... Hệ thống ATM cũng như số lượng tài
khoản của người dân tăng mạnh.
Với xu thế trong vài năm tới nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng thẻ
ATM để chuyển khoản sẽ tăng cao. Vì vậy, ngân hàng thương mại phải có kế hoạch đầu tư,
nâng cấp và phát triển các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Công nghệ chính là hạ
tầng để các ngân hàng đổi mới dịch vụ, gia tăng tiện ích, mở rộng phạm vi hoạt động, đáp
ứng tối ưu cho nhu cầu của khách hàng.

e) Yếu tố môi trường quốc tế
Trong xu hướng toàn cầu hoá, nền kinh tế của các quốc gia có sự hội nhập quốc tế
sâu rộng và ít nhiều có mối quan hệ đan xen lẫn nhau tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của
từng nước. Thực tế cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu thời
gian qua không những tác động mạnh mẽ đối với nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật và EU mà
còn ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển, trong đó có


Việt Nam. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam đang phải đối mặt với lạm phát gia tăng ở mức
cao, kinh tế suy giảm, rủi ro kinh tế vĩ mô và rủi ro chính sách trong và ngoài nước, việc
phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường quốc tế gặp khó khăn,...đã tạo sức ép tăng
lãi suất huy động trong và ngoài nước, làm cho thị trường huy động vốn của các ngân hàng
thương mại gặp rất nhiều khó khăn.

f) Yếu tố thị trường thay thế
Ngoài việc gửi tiền ngân hàng theo các mục đích khác nhau, các tổ chức và cá nhân
thường lựa chọn nhiều kênh đầu tư khác thay vì sử dụng các dịch vụ ngân hàng truyền
thống như đầu tư vào thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường vàng, thị
trường ngoại hốL.Việc các cá nhân và tổ chức lựa chọn các thị trường khác nhau để đầu tư
là những quyết định phổ biến diễn ra tự nhiên trong xã hội và nó phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác nhau.

g) Người tiêu dùng
Người tiêu dùng là cá nhân hoặc nhóm người có mong muốn, nhu cầu hoặc đang tìm
kiếm, mua sắm, sử dụng sản phẩm, dịch vụ nhằm mục đích nào đó.

-

Hành vi người tiêu dùng
Hành vi người tiêu dùng là những dấu hiệu bộc lộ trong quá trình tìm kiếm, mua
sắm, sử dụng, đánh giá và chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của
mình. Ví dụ: Một người khi vào ngân hàng sẽ xác định mình vào ngân hàng để làm gì?
Mang theo bao nhiêu tiền là đủ? Sẽ vào ngân hàng nào, khi vào
Ngân hàng thì chọn loại tiền gửi nào?...........tập hợp tất cả những biểu hiện đó tạo nên
hành vi của khách hàng đi Ngân hàng.
Nghiên cứu, tìm hiểu người tiêu dùng là một công việc không dễ dàng vì đối tượng
nghiên cứu là con người với những đặc điểm tâm lý khác nhau và không ngừng biến động.

-

Tâm lý người tiêu dùng
Tâm lý người tiêu dùng là toàn bộ các đặc điểm, quy luật, cơ chế tâm lý của cá nhân
hoặc nhóm người thể hiện trong quá trình mua sắm, sử dụng, đánh giá một sản phẩm, dịch
vụ nào đó. Trong quá trình này, người tiêu dùng nhận biết nhu cầu của bản thân và tìm
kiếm những thông tin liên quan để thoả mãn nhu cầu cũng như có được những chọn lựa


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×