Tải bản đầy đủ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố hà nội (TT)

m

-

^

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ TÂN LỘC

NGHIÊN CỨU TIÊU THỤ RAU
THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 62.31.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2016


Ì1

Công trình hoàn thành tại:




HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn: GS.TS. ĐỖ KIM CHUNG

Phản biện 1 : GS.TS. HOÀNG NGỌC VIỆT

Phản biện 2: PGS.TS. NGÔ THỊ THUẬN

Phản biện 3: PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG LONG

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:








o

o



Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
-

Thư viện Quốc gia Việt Nam


-

Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam






oo•1









« ỉ




PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ hay siêu thị luôn là câu hỏi mà những người sản
xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội cân nhắc. Khâu tiêu thụ sản phẩm luôn là vấn đề
khó khăn nhất đối với họ. Sự liên kết giữa các tác nhân thành chuỗi cung ứng rau còn lỏng
lẻo, chưa bền vững dẫn tới giá cả sản phẩm bán ra thị trường với mức giá không ổn định,
bấp bênh, sản xuất đối mặt với nhiều rủi ro, người sản xuất luôn là người chịu thiệt hại nhất.
Khó khăn này đã diễn ra nhiều năm và đặc biệt nay khó khăn hơn trong điều kiện thực hiện
tái cơ cấu ngành nông nghiệp nên nhiều địa phương chuyển đổi sang trồng rau. Việc hình
thành chuỗi liên kết là cần thiết và điều này cũng đã được nhấn mạnh trong thông điệp đầu
năm 2014 của thủ tướng Chính phủ. Mặt khác, có nhiều người tiêu dùng (NTD) muốn mua
sản phẩm rau an toàn (RAT) song RAT không dễ dàng phân biệt, nhiều nhà cung ứng còn
trà trộn, điểm bán còn để lẫn lộn....
Nhìn tổng thể thấy được tiêu thụ rau qua hệ thống chợ và siêu thị đều có những thuận
lợi nhất định, trở ngại và khó khăn riêng, và khó khăn lớn nhất là hiện thành phố không dễ
dàng dẹp bỏ được những người bán hàng không đúng vị trí quy định và quản lý người bán
rong thật khó. Rau được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị ổn định đã giúp hình thành nên kênh
tiêu thụ rau chất lượng. Sản xuất theo kế hoạch tiêu thụ mang lại thu nhập ổn định không
chỉ cho những người làm công tác thu gom mà cả cho những người sản xuất và NTD cũng
hoàn toàn yên tâm với nguồn sản phẩm.
Bên cạnh đó, người sản xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội chịu rất nhiều áp lực:
về tốc độ đô thị hóa, biến đổi khí hậu, nguồn nước, môi trường ô nhiễm.... cạnh tranh với
các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc.
Vậy trong bối cảnh đó, các đối tượng sản xuất rau trên địa bàn thành phố đã thực
hiện tiêu thụ sản phẩm của họ làm ra như thế nào? Kênh nào là kênh tiêu thụ phù hợp với
họ hiện tại và chiến lược trong tương lai?
Đã có một số nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu những vấn đề về kỹ thuật, thị
trường hoặc về tiêu dùng hoặc chỉ tập trung vào RAT song chưa có nghiên cứu nào đi sâu
nghiên cứu từ việc tiêu thụ rau của người sản xuất, để thấy được thuận lợi, khó khăn và giải
pháp giúp cho thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị, từng bước
khắc phục tình trạng bán sản phẩm tại các vị trí không chính thống mà Hà Nội lâu nay chưa
giải quyết được.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu chung
Phản ánh hiện trạng và đề xuất các giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau
thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, thông qua đó góp phần
thúc đẩy sản xuất rau phát triển, ổn định tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu về rau ngày càng
3


cao của NTD Hà Nội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ
thống chợ và siêu thị.
-

Phản ánh hiện trạng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến tiêu thụ rau thông
qua chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội.

-

Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ thống

chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu
1) Tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị bao gồm các nội dung nào?
2) Những bài học kinh nghiệm nào có thể áp dụng cho thành phố Hà Nội từ thực tiễn tiêu
thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới?
3) Người mua rau tươi tại hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội mong đợi chất lượng
rau như thế nào?
4) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị
trên địa bàn thành phố Hà Nội?
5) Để phát triển tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội, cần
áp dụng những giải pháp nào?
1.3.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung vào nghiên cứu tiêu thụ rau của các đối tượng sản xuất khác nhau trên địa
bàn thành phố Hà Nội thông qua hệ thống chợ và siêu thị.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung: Nội dung nghiên cứu tập trung vào tiêu thụ rau tươi được sản xuất tại
địa bàn Hà Nội thông qua hệ thống chợ và siêu thị.
Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Về thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 2002 đến 2014 để thấy rõ sự thay đổi
trong tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ
yếu trong năm 2014. Các giải pháp được đề xuất đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Về mặt lý luận và học thuật: Đã hệ thống hóa và làm rõ được những vấn lý luận và
thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Tác giả đưa ra khái niệm về tiêu
thụ rau thông qua hệ thống chợ và hệ thống siêu thị. Tất cả góp phần cung cấp cơ sở lý luận
cho các nghiên cứu có liên quan; Làm sáng tỏ nội dung về tiêu thụ rau thông qua hệ thống
chợ và siêu thị. Thấy được kinh nghiệm quản lý hai hệ thống này ở một số nước trên thế
giới, nhất là ở các nước phát triển. Nghiên cứu đã xây dựng phương pháp tiếp cận và khung
phân tích về thực trạng tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống kể trên. Xây dựng các chỉ tiêu
đánh giá hiện trạng tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống và xác định các nhân tố chủ yếu ảnh
4


hưởng đến quá trình tiêu thụ.
- Về thực tiễn: Đã phản ánh rõ hiện trạng tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và
siêu thị trên địa bàn Hà Nội. Phát hiện được đối tượng tiêu thụ rau qua siêu thị thành công
hơn cả là các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp nhờ vào công tác tổ chức từ sản
xuất đến tiêu thụ. Lượng rau tiêu thụ thông qua kênh siêu thị chỉ đáp ứng 3% nhu cầu rau
của toàn thành phố. Song lượng rau được sản xuất tại Hà Nội chỉ chiếm 70% lượng rau
được tiêu thụ tại các siêu thị hiện nay, tức tương đương với 66,5 tấn/ngày, ước đạt 4,04%
sản lượng rau của Hà Nội. Trong khi đó lượng rau tiêu thụ thông qua hệ thống chợ là
40,31% và cũng lượng như vậy được tiêu thụ thông qua bán rong và những vị trí không
chính thống. Nghiên cứu đã xác định được 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới việc tiêu thụ rau
thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Đồng thời đề xuất được 3 nhóm giải pháp nhằm phát
triển tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống. Các giải pháp phát triển tiêu thụ rau thông qua hai
hệ thống này không chỉ có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đối với ngành hàng rau của Hà Nội mà
còn là bài học kinh nghiệm cho các nông sản khác trong cùng địa bàn và các địa phương
khác góp phần cải thiện việc quản lý trong tiêu thụ rau và làm đẹp mỹ quan thành phố. Kết
quả luận án là cơ sở khoa học cho việc định hướng và đưa ra giải pháp phát triển tiêu thụ
rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Luận án là kênh cung cấp thông tin quan trọng cho
các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý của Bộ, Thành phố, các cơ quan tham mưu,
các tổ chức nghiên cứu, kinh tế - xã hội và các cá nhân tham khảo.
1.5. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Nội dung chính của luận án: Gồm 6 phần được trình bày trong 150 trang. Phần mở
đầu bao gồm 6 trang, phần 2 từ trang 7 đến trang 35, phần 3 từ trang 36 đến trang 54, phần
4 từ trang 55 đến trang 124, phần 5 từ trang 125 đến 146, phần 6 có 4 trang.
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. KHÁI NIỆM VỀ TIÊU THỤ VÀ CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
2.1.1. Khái niệm về tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm rau là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, kinh doanh rau.
Là quá trình dịch chuyển sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng và chuyển dần từ
trạng thái vật chất sang hình thái tiền tệ. Là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của
người sản xuất, kinh doanh rau.
Gần đây, hình thành phương thức marketing mới là dựa vào nhu cầu của thị trường để
có những quyết định sản xuất và kinh doanh nông nghiệp một cách đúng đắn nhất.
2.1.2. Khái niệm về ch ợ, siêu thị và hệ thống ch ợ và siêu thị
Có nhiều khái niệm khác nhau về chợ, song theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP thì
khái niệm về chợ "Là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang
tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua
bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư";
Thực tế phân chia ra các chợ theo các cách gọi khác nhau: chợ loại 1, chợ loại 2 và
chợ loại 3 (quy mô); Chợ quy hoạch và chợ tạm/chợ cóc (Tính chất); Chợ bán buôn và bán
5


lẻ (Loại hình); Chợ kiên cố, bán kiên cố (Hình thức xây dựng). Ngày nay, chợ còn được
hiểu rộng hơn đó là thị trường.
Tác giả đưa ra khái niệm về Hệ thống chợ là tập hợp các loại chợ có liên quan với
nhau và có sự phân công, phân cấp trên phương diện: dồng lưu chuyển hàng hóa và phân
loại người tiêu dùng cuối cùng.
Siêu thị: Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm Thương mại của Bộ Thương mại Việt
Nam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004: “Siêu thị là
loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; Có cơ cấu chủng
loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; Đáp ứng các tiêu chuẩn về diện
tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; Có các phương
thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách
hàng”;
Theo Kotier and Armstrong (2011), "Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn
có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm
bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa
và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa".
Như vậy, dù nhìn nhận siêu thị theo khái niệm nào đi chăng nữa thì đó là mô hình
kinh doanh hiện đại, một loại hình mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1993. Có siêu thị loại
1, loại 2 và loại 3; Siêu thị bán buôn và bán lẻ. Về bản chất có siêu thị của Việt Nam và liên
doanh.
Từ các khái niệm về siêu thị kể trên, tác giả đưa ra khái niệm về hệ thống siêu thị: Hệ
thống siêu thị là tập hợp các loại siêu thị với quy mô, mức độ khác nhau có sự phân công,
phân cấp về địa điểm, quy mô, doanh số, người bán và người mua.
2.2. ĐẶC ĐIỂM TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ
Đặc điểm chung: Các sản phẩm rau tươi được đưa vào tiêu thụ ngay sau khi thu
hoạch, có tỷ lệ nước cao, có khối lượng lớn, cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích, dễ dập nát
trong quá trình vận chuyển, chi phí bảo quản lớn.
Đặc điểm riêng: Đó là 1 kênh truyền thống và 1 kênh hiện đại. Chúng có điều kiện
cơ sở hạ tầng và hình thức quản lý khác nhau. Đặc biệt là công tác quản lý chất lượng rau
của đơn vị bán hàng và cơ quan nhà nước. Như vậy, chúng ta thấy bức tranh nghịch cảnh
giữa hai hệ thống chợ và siêu thị: tự do và yêu cầu chặt chẽ và qua đây khiến chúng ta suy
nghĩ: ai là người sản xuất có thể tiếp cận để bán được hàng vào siêu thị? Tỷ trọng rau Hà
Nội bán theo từng hệ thống?
2.3. THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ TIÊU THỤ RAU THÔNG
QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM
2.3.1.
Tại một số nước trên thế giới
Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới đã có
được bài học về sự cần thiết của hệ thống chợ bên cạnh vai trò quan trọng của hệ thống siêu
thị. Tại các nước phát triển, tiêu thụ rau chủ yếu thông qua kênh siêu thị song hiện nay họ
thấy được sự cần thiết của hệ thống chợ nên việc duy trì hệ thống chợ nông sản trong lòng
địa bàn thành phố đã bổ sung và cùng nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng của NTD. Đồng thời
6


chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện cho các loại chợ không chính thức hoạt động.
Thấy được một trong những yếu tố quan trọng là tổ chức ngành hàng chặt chẽ của siêu thị
với các nhà cung ứng và hạn chế tối đa các khâu trung gian. Khuyến khích người sản xuất
bán hàng trực tiếp cho NTD tại các chợ nông sản. Tất cả các nguồn rau tại chợ và siêu thị
cùng được kiểm soát.
2.3.2.
Tại một số địa phương ở Việt Nam
Tiêu thụ rau qua chợ là kênh tiêu thụ truyền thống, đã diễn ra từ bao đời nay đáp ứng
nhu cầu của người sản xuất và NTD. Hệ thống chợ nằm rải rác ở khắp các địa phương, tùy
theo từng địa bàn mà quy mô chợ khác nhau song đến nay việc tiêu thụ rau tại chợ vẫn là
kênh chủ lực. Tiêu thụ rau thông qua siêu thị mới xuất hiện tại các thành phố lớn như Hà
Nội, TP HCM kể từ khi có chương trình sản xuất RAT có sản phẩm (1997) và sau đó bắt
đầu lan ra các thành phố khác như Đà Nẵng, Vinh, Hải Dương.... Lượng rau tiêu thụ được
thông qua hệ thống siêu thị còn rất nhỏ. Ví dụ tại Hà Nội luôn chỉ đáp ứng dưới 5% so với
tổng nhu cầu rau của toàn thành phố trong suốt những năm qua. Mặc dù vậy, việc hình
thành tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị rất có ý nghĩa trong việc hình thành kênh tiêu
thụ chất lượng. Do đó, để từng bước phát triển, các địa phương vẫn cần duy trì song song cả
hai hệ thống chợ và siêu thị nhằm cùng nhau đáp ứng nhu cầu rau đa dạng của NTD.
2.3.3.
Bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và
siêu thị cho Hà Nội, Việt Nam
Qua nghiên cứu thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị của một
số nước trên thế giới và ở Việt Nam, thấy rằng để đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp nhân
dân và nhu cầu đa dạng của NTD, Hà Nội cần: Duy trì cả hai hệ thống chợ và siêu thị; Quản
lý chất lượng rau trên địa bàn thành phố, đặc biệt tại hệ thống chợ; Luôn tính đến khả năng
tham gia của người nghèo vào chuỗi giá trị rau; Quản lý người bán hàng trên địa bàn thành
phố, tại các chợ cũng như việc xây dựng, cải tạo và nâng cấp chợ cần được thực hiện theo
nhiều phương thức khác nhau giúp nâng cao hiệu quả của việc khai thác chợ và thu hút họ
hoạt động trong chợ; Đặc biệt thúc đẩy liên kết giữa các tác nhân trong ngành hàng rau
nhằm duy trì quan hệ giữa người sản xuất và người kinh doanh bền vững ở cả hai hệ thống.
PHẦN 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Hà Nội là một địa bàn có vùng sản xuất rau lớn tại các huyện ngoại thành và có thị
trường tiêu thụ khối lượng rau rất lớn. Diện tích gieo trồng rau của Hà Nội có xu hướng
tăng dần, đạt kỷ lục 30.040 ha (2013), nhưng sản lượng rau đạt kỷ lục vào năm 2015 là 655
nghìn tấn. Các chủng loại rau được sản xuất tại Hà Nội đa dạng, khoảng 40 loại, tuy nhiên,
chủ yếu sản xuất rau theo mùa, phần sản xuất rau trái vụ chưa được nhiều do chịu ảnh
hưởng của điều kiện thời tiết. Địa bàn Hà Nội có 3 đối tượng tham gia sản xuất rau chủ yếu:
hộ nông dân thuộc các HTX NN hoặc HTX DV NN quản lý (gọi chung là HTX NN); Hộ
nông dân thuộc các HTX kiểu mới hoặc nhóm sản xuất rau hữu cơ (RHC) và từ 2008 có
xuất hiện các doanh nghiệp.
Hà Nội với đa dạng kênh phân phối rau như chợ truyền thống, người bán rong và từ
7


sau 1993 xuất hiện các cửa hàng tự chọn và siêu thị nên từ 1997 đã có RAT được bán tại
các hệ thống kênh phân phối hiện đại. Hai hệ thống chợ và siêu thị được thành phố xác định
là hai kênh tiêu thụ chính thống. Tuy nhiên, tiêu thụ rau đang chịu tác động từ nhiều khía
cạnh (thói quen mua, suy giảm kinh tế, chuyển đổi mạng lưới chợ...) nên những người kinh
doanh rau chuyên nghiệp cũng như người sản xuất phải đối mặt với nhiều khó khăn. Trong
bối cảnh đó, kênh siêu thị đang được ủng hộ để phát triển nên có sự cạnh tranh ngày càng rõ
khi số lượng điểm bán RAT tại các cửa hàng và siêu thị ngày càng gia tăng.
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1. Phương pháp tiếp cận
Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tiếp cận như theo chuỗi cung ứng; theo các
hình thức tổ chức sản xuất và tiêu thụ; Theo vùng địa lý; Tiếp cận theo khu vực công và tư
nhân và tiếp cận hệ thống.
3.2.2. Khung phân tích
Trên cơ sở các nội dung được xác định, các yếu tố ảnh hưởng và hướng đề xuất các nhóm
giải pháp, khung phân tích được thể hiện tại hình 3.1.

Nhóm giải pháp thúc đẩy tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch ợ và siêu thị
trên địa bàn TP Hà Nội
1. Giải pháp tạo nguồn cung
đảm bảo
- Đổi mới quy hoạch vùng
sản xuất rau và RAT,
- Cải thiện hiện trạng của
các đối tượng tham gia
sản xuất.
- Xây dựng và phát triển
liên kết trong sản xuất
và tiêu thụ rau.

2. Giải pháp tiếp tục hỗ trợ
đầu tư công cho sản xuất và
tiêu thụ rau và RAT.
- Đầu tư cho sản xuất rau
và RAT.
- Đầu tư cho tiêu thụ rau
và RAT.
- Khuyến khích thực hiện
các chính sách quản lý
chất lượng
8 và tiêu thụ rau
qua hợp đồng.

3. Giải pháp thúc đẩy tiêu
dùng rau.
- Cung cấp đầy đủ
thông tin cho NTD
qua các kênh khác
nhau.
- Quảng bá giúp NTD
nhận diện sản phẩm.


Hình 3.1. Khung phân tích tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch ợ và siêu thị
3.2.3. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Đối với người sản xuất: 5 huyện được chọn đại diện theo phương pháp chọn có chủ
đích là Gia Lâm, Hoài Đức, Thanh Trì, Đông Anh và Sóc Sơn. Từ các địa bàn này chọn các
đối tượng là các hộ gia đình sản xuất rau tại các HTX NN và HTX mới hay nhóm sản xuất
RHC. Chọn các doanh nghiệp có sự linh hoạt hơn do các doanh nghiệp nằm rải rác tại các
địa bàn khác nhau.
Đối với người kinh doanh: Chọn đại diện 04 chợ bán buôn (chợ nội thành: Long
Biên, Đền Lừ, Minh Khai); chợ ngoại thành: Vân Nội); 05 chợ bán lẻ tại khu vực nội thành
(Chợ Hôm (chợ cũ), Nghĩa Tân (chợ mới), chợ 19/12 (mới chuyển đổi), chợ Gia Lâm (quận
mới), chợ tạm tại phường Kim Liên và 02 chợ khu vực ngoại thành như chợ Vàng và chợ
tạm tại khu đô thị Đặng Xá. Các chợ trên là đại diện cho chợ quy hoạch, chợ tạm. Chọn 06
siêu thị đại diện cho các siêu thị bán buôn, bán lẻ với các quy mô khác nhau và bản chất của
chúng là các siêu thị liên doanh hoặc của Việt Nam.
Người mua rau tại các chợ và siêu thị: Được chọn tại 11 chợ và 06 siêu thị kể trên.
3.2.4. Phương pháp thu thập thông tin và dữ liệu
Thông tin thứ cấp: Là các thông tin đã công bố qua các nguồn khác nhau như báo
cáo, số liệu thống kê, báo, internet... có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Thông tin sơ cấp: Được thu thập bằng 4 phương pháp: Điều tra chọn mẫu, phỏng vấn
sâu, lấy ý kiến chuyên gia và quan sát ngoài thực tế. Các cuộc khảo sát và phỏng vấn trực
tiếp các đối tượng được thông qua các bản câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn.
Số lượng mẫu được khảo sát cụ thể như sau: 138 hộ sản xuất rau, trong đó: (i) 120 hộ
thuộc 4 HTX DV NN và HTX NN; (ii) 13 hộ thuộc 3 HTX kiểu mới; (iii) 05 hộ thuộc nhóm
sản xuất RHC. 04 doanh nghiệp (ở các hình thức khác nhau). 158 người bán rau thuộc 11
chợ và 06 siêu thị đã được lựa chọn. 170 người mua rau tại các chợ và siêu thị kể trên. Đồng
thời trao đổi trực tiếp với 09 Ban quản lý (BQL) chợ, 07 Ban giám đốc (BGĐ) HTX, 01 liên
trưởng nhóm sản xuất RHC và 01 nhóm trưởng nhóm RHC. Có tham quan tại nhiều điểm
sản xuất và kinh doanh khác trong toàn thành phố.
Nội dung phiếu điều tra các đối tượng đề cặp đến các khía cạnh khác nhau tùy từng
đối tượng là người sản xuất, thu gom, bán buôn, bán lẻ, NTD; BGĐ các HTX, các trưởng
nhóm và liên trưởng nhóm sản xuất RHC, doanh nghiệp, các siêu thị.
3.2.5. Phương pháp tổng h ọp thông tin và xử lý dữ liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel.
Các phương pháp phân tích được áp dụng như thống kê mô tả; Phương pháp phân tổ
thống kê; Phương pháp so sánh và phương pháp SWOT để thấy được sự khác nhau của các
các đối tượng sản xuất, kênh tiêu thụ và hệ thống chung cho quy mô toàn thành phố.
3.2.6. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng các nhóm chỉ tiêu như thể hiện nguồn cung cấp rau (Số
chủng loại rau được sản xuất, diện tích gieo trồng rau, Tỷ lệ rau được tiêu thụ qua các kênh
khác nhau, giá bán và số lượng các đơn vị cung cấp rau ); Thể hiện tiêu thụ rau tại chợ và
siêu thị (Diện tích giành cho việc bày bán rau/điểm; Số lượng chủng loại rau được bán;
9


Khối lượng rau được tiêu thụ/ngày; Giá bán; Số lượng phương tiện vận chuyển sản phẩm
được sử dụng; Số lần kiểm tra, kiểm soát nguồn rau tại các hệ thống bán); và các nhân tố
ảnh hưởng đến việc tiêu thụ (Diện tích vùng sản xuất rau và RAT được quy hoạch; Số
lượng GCN RAT hoặc VietGAP được cấp; Chính sách quản lý sản xuất, tiêu thụ và chất
lượng rau ra đời; Số điểm bán RAT của thành phố; Tỷ lệ rau bán được thông qua hợp đồng;
Tỷ lệ sản phẩm được cung ứng thông qua liên kết sản xuất và tiêu thụ thông qua liên kết; Số
lượng chợ được cải tạo, xây mới; Số lượng siêu thị tại từng giai đoạn và Số lần mua
rau/tuần).
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. THỰC TRẠNG TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
4.1.1. Hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố
Hiện nay, trên toàn địa bàn thành phố có 411 chợ, trong đó đã có 380 chợ được phân
hạng: 12 chợ loại I, 69 chợ loại II và 299 chợ loại III. Các chợ này được phân bố rải rác
khắp các quận, huyện trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, chợ loại I chỉ có ở một số huyện
và quận trung tâm. Trong số 12 chợ loại I, có 8 chợ hiện đang hoạt động với hình thức chợ
đầu mối có bán các sản phẩm rau. Với sự phân bố như hiện nay, mạng lưới chợ đã rất thuận
lợi cho cả người bán và người mua hoạt động.
Số lượng siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng luôn ở trạng thái gia tăng song
RAT chỉ được bán tại các siêu thị tổng hợp. Tính đến tháng 6/2014 có 156 siêu thị, trong đó
có 87 điểm bán rau trên toàn thành phố. Một số kênh siêu thị chính đó là Metro Casch &
Carry, Big C, Intimex, Fivimart...thuộc các siêu thị liên doanh và của Việt Nam. Chúng bao
gồm cả siêu thị bán buôn và bán lẻ. Trong 5 năm gần đây, các siêu thị đã nỗ lực trong việc
cung ứng rau nên chủng loại rau khá phong phú, khối lượng bán gia tăng và ngày càng thu
hút nhiều NTD mua rau tại siêu thị.
4.1.2. Nguồn và đối tượng cung rau
Về nguồn rau tại thị trường Hà Nội. Nguồn rau được sản xuất tại Hà Nội mới đáp
ứng được 52% nhu cầu rau của toàn thành phố, nên thành phố Hà Nội vẫn thiếu rau, nhất là
các tháng mùa mưa. Lượng rau bổ sung vào Hà Nội từ các tỉnh lân cận, các vùng chuyên
canh và nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc. Các chủng loại rau nhập khẩu chủ yếu là cà
chua, cải bắp, cải thảo, khoai tây. (Trung Quốc) và khoai tây (Mỹ - vào các siêu thị). Mặc
dù thiếu, rau được sản xuất tại Hà Nội vẫn được đưa đến một số địa bàn khác trong nước ở
vụ đông và xuất khẩu (chủ yếu rau gia vị). Cụ thể thông tin được mô phỏng qua sơ đồ 4.1.

1
0


Nguồn bổ sung rau vào Hà Nội

Chuyển rau ra khỏi Hà Nội

(48-50% nhu cầu rau của Hà Nội)

(4,5-7,0% sản lượng rau của Hà Nội)

Ước từ 553.846 đến 600.000 tấn/năm) (Ước từ 27.000 đến 42.000 tấn/năm)

Sơ đồ 4.1. Tóm tắt nguồn cung rau tai thi trường Hà Nôi và rau Hà Nôi
cung ứng cho địa bàn khác (ngoài Hà Nôi)
Đối tượng tham gia cung ứng rau: Trên địa bàn Hà Nội có ba đối tượng tham gia sản
xuất cung ứng rau ra thị trường đó các hộ thuộc các HTX NN, HTX kiểu mới và nhóm sản
xuất RHC và doanh nghiệp. Bằng cách xác định các thành phần tham gia sản xuất trên từng
địa bàn và tham khảo thống kê số lượng hộ tham gia sản xuất rau của Sở NN và PTNT Hà
Nội, tính toán được các số liệu phản ánh tại bảng 4.1.
Bảng 4.1. Tỷ lệ diện tích và sản lượng rau của các đối tượng tham gia sản xuất rau trên địa
bàn Hà Nôi
ĐVT: %
Hộ tại HTX NN

Diễn giải
1. Tỷ lệ diện tích rau sản xuất
trên toàn thành phố.
2. Tỷ lệ sản lượng rau.

và HTX DV NN
96,50
95,18

Hộ tại HTX kiếu

Doanh

mới và nhóm
3,00

nghiệp
0,50

4,32

0,50

đó là các nhà cung ứng vào siêu thị phải do siêu thị đã lựa chọn, còn tại chợ, ai có sản phẩm
nào hoặc có khả năng kinh doanh đều có thể tham gia. Tại chợ bán buôn và bán lẻ, tiêu chí
chính lựa chọn nhà cung ứng là giá bán và bề ngoài sản phẩm, còn các tiêu chí khác như độ
an toàn của rau (GCN) thì không ai yêu cầu. Tại các siêu thị, có 6 tiêu chí lựa chọn nhà cung
ứng được đặt ra là: giá, độ an toàn (GCN), mức độ đa dạng của chủng loại rau, Tình trạng
pháp lý của nhà cung ứng, lượng hàng/lần giao, bề ngoài của rau và ngoài ra còn có siêu thị
quan tâm đến mức độ chuyên nghiệp của nhà cung ứng (đóng gói, giao hàng đúng giờ...).
Từ 2012 trở lại đây, các siêu thị quan tâm nhiều đến

1
1


tiêu chí an toàn thay bằng tiêu chí về giá được ưu tiên so với trước đây.
Nguồn hàng rau tới hệ thống chợ và siêu thị: Tóm tắt sơ đồ tiêu thụ rau thông qua các
kênh tại hệ thống chợ như sơ đồ 4.2.

Sơ đồ 4.2. Tóm tắt các kênh tiêu thu rau thông qua hệ thống ch ơ tại Hà Nội
Nguồn rau được sản xuất ra trên địa bàn Hà Nội được đưa đến các chợ chủ yếu bởi các hộ
thuộc các HTX NN, phần do các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp không đán kể, chỉ là
phần dôi dư so với kế hoạch hoặc rau không đủ tiêu chuẩn bán vào siêu thị hoặc bếp ăn.
Tóm tắt nguồn hàng cung ứng đến kênh siêu thị trên địa bàn thành phố (sơ đồ 4.3).
Sơ đồ 4.3. Tóm tắt nguồn rau tới hệ thống siêu thị tại Hà Nội

Nguồn rau tươi tới các siêu thị hiện tại bao gồm chủ yếu nguồn rau được sản xuất tại Hà Nội.
Ước nguồn từ Hà Nội được bán tại các siêu thị chiếm 70% tổng lượng rau do các siêu thị bán được.
Chủ yếu là các loại rau ăn lá theo mùa.
Quan hệ giữa nhà cung ứng và người kinh doanh: Tại các chợ bán buôn có 62,5% những
người thu gom, bán buôn thường duy trì quan hệ thường xuyên. Tỷ lệ này là 68% tại các chợ bán lẻ.
Có 25% người được hỏi lại không muốn duy trì việc trao đổi thường xuyên vì lo rằng khi người bán
có rau xấu vẫn nài ép mua, tỷ lệ này ở chợ bán lẻ là 29%. Số còn lại cho rằng thuận mua, vừa bán.
Giữa họ thường không có những bản hợp đồng, nếu họ đã quen biết chỉ cần thoả thuận miệng. Đối
với các siêu thị, 100% mong muốn duy trì quan hệ thường xuyên và việc mua bán thông qua hợp
đồng, thời hạn ký kết thường là 1 năm. Các chỉ tiêu về tiêu chuẩn sản phẩm cũng được đề cặp tại các
phụ lục hợp đồng.

1
2


qua hệ thống chợ
Diễn giải
Chủng loại rau bày bán
Số chủng loại rau bán tại chợ
Bình quân lượng rau tiêu thụ
(tấn/ngày/chợ)
Dạng sản phẩm
Hình thức sản phẩm

Hệ thống chợ bán buôn
Hệ thống chợ bán lẻ
Chính vụ, trái vụ
Chính vụ, trái vụ
29-45
28 - 62
Max: 400 Min:
Max: 10
200
Min: 1,0 (chợ tạm)
Chưa sơ chế. Đã sơ chế
Bó và để tự do. Đóng gói (nấm)

Khối lượng và số lượng chủng loại rau được bán bởi những người tham gia họp chợ rất
khác nhau do ở chợ có đủ các thành phần là người sản xuất, thu gom, bán buôn....

Các phương tiện xử dụng trong cung ứng rau: Xe máy, ô tô là hai phương tiện chủ yếu
được sử dụng trong vận chuyển cung ứng rau tới hai hệ thống. Xe lạnh chỉ sử dụng trong vận
chuyển nội bộ giữa các địa điểm của các siêu thị lớn. Tại các chợ có cả quang gánh, xe thồ, xe đạp,
xe bò cải tiến. Trước đây 5 năm, xe máy là phổ biến thì ny họ tính toán ở nhiều góc độ và đã đầu tư
mua xe tải (trên 40% số người bán hàng tại chợ bán buôn) và đã có một số người tại chợ bán lẻ, họ
là những người có mối giao cho các hàng cơm, nhà hàng.
4.1.3.
Chủng loại và lượng rau được tiêu thụ thông qua hệ thống chợ và siêu thị
Tại các chợ, chủng loại rau thường phong phú. Giữa các chợ có sự khác nhau về số lượng
chủng loại, tùy thuộc vào chợ đó nằm trong khu vực dân cư giầu, hay trung bình.
Bảng 4.2. Thông tin về chủng loại, khối lượng rau được tiêu thụ thông
Giống như các chợ, các siêu thị, có sự khác nhau về khối lượng và chủng loại rau được bán
bởi từng kênh, và có sự khác nhau giữa các điểm bán trong cùng một kênh. Bảng 4.3. Một số đặc
điểm của tiêu thụ rau tại các siêu thị
Đại siêu thị
Siêu thị trung bình
Siêu thị mini
Big C Metro
Intimex Fivimart
Unimart Rosa
Loại rau theo
mùa
Số chủng loại
Số nhà cung cấp
TB lượng
bán/ngày (tấn)
Dạng sản phẩm
Hình thức sản
phẩm

Chính vụ Chính vụ
Trái vụ Trái vụ
50-59
5-6 5-6

Chính vụ
Trái vụ
14 - 26
2-3

Chính vụ
Trái vụ
45-50
5-6

Chính vụ
Trái vụ
39 - 43
5-6

Chín
h
vụ
5 -7

1
2,0-3,0 2,5-3,5
0,4-0,5
8,0-10,0
0,5-0,7
0,030,05
Chưa sơ chế và đã sơ chế.
Chưa sơ chế, đã sơ chế
Chưa
và chế biến.

chế.
Bó, đóng gói và để tự do.
Bó, đóng gói.

Qua tính toán lượng rau tiêu thụ tại từng kênh trên địa bàn Hà Nội có được kết quả như bảng
4.4.

1
3


Bảng 4.4. Đánh giá lượng rau được tiêu thụ qua các kênh khác nhau
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Mức tiêu thụ qua các kênh, tính theo
Bán qua các kênh
Khối lượng (Tấn/ngày) Cơ cấu (%)
Chợ bán buôn
475
15,00
Chợ bán lẻ
981
31,00
Người bán rong và các vị trí không chính
1.330
42,00
thống
Cửa hàng
95
3,00
Siêu thị
95
3,00
Trực tiêp tới người tiêu dùng
31,66
1,00
Trực tiêp tới các bêp ăn
158
5,00
Tổng lượng rau cần tiêu thụ
3.166
100,00
Như vậy, lượng rau được tiêu thụ thông qua hệ thống chợ là chủ yêu, chiêm 46% và bán
rong là 42% và qua siêu thị chỉ là 3%.

Bảng 4.5. Tình hình tiêu thụ rau được sản xuất tại Hà Nội qua các kênh khác nhau
Tính theo
Tiêu thụ qua các kênh
Khối lượng
Cơ cấu
(Tấn/ngày)
(%)
1.371,94
Hệ thống chợ (Chợ bán buôn, bán lẻ, bán rong)
82,31
Cửa hàng, quầy hàng RAT
4,04
66,5
4,04
Siêu thị
66,5
9,61
Khác (Các bêp ăn, trực tiêp tới NTD,.)
158,06
Tổng lượng rau cần tiêu thụ/ngày
1.644
100,00

Đi sâu nghiên cứu về việc tiêu thụ rau được sản xuất tại địa bàn Hà Nội cho thấy chúng được
tiêu thụ thông qua các kênh khác nhau với các tỷ lệ như bảng 4.4. Tóm lại, lượng rau được tiêu thụ
qua hệ thống chợ và bán rong chiêm tỷ lệ rất lớn: 82,31%, trong đó bán bởi người bán rong và không
chính thống đạt 42%. Tình trạng của Hà Nội hiện nay là các khu đông dân cư, gần các trường học,
công ty... việc bày bán thực phẩm nói chung và rau nói riêng khắp nơi, mặc dù các cơ quan chức
năng ra sức dẹp bỏ, song hiện tượng này như “bắt cóc bỏ đĩa”. Lượng rau tiêu thụ qua hệ thống siêu
thị chỉ đạt 4,04% tổng lượng rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội, tức tương đương với 66,5
tấn/ngày, chiêm 70% lượng rau bán được bởi các siêu thị. Các siêu thị chia sẻ, nhiều NTD Hà Nội
thích một số sản phẩm rau từ Tây Bắc và Lâm Đồng. Tại sao rau của Hà Nội sản xuất ra tiêu thụ qua
hệ thống siêu thị chiêm tỷ lệ trên trong khi hiện đã có một số giống rau ôn đới có khả năng chịu
nhiệt? Ở đây cần có nghiên cứu tiêp theo để giúp người sản xuất rau tại Hà Nội có điều chỉnh phù
hợp nhằm gia tăng lượng rau tiêu thụ qua hệ thống siêu thị.

1
4


4.1.4.
Các đối tượng bán và khách hàng tại hệ thống ch ợ và siêu thị
Qua khảo sát thống kê được các đối tượng tham gia bán rau được sản xuất tại Hà Nội và
khách hàng của họ tại hai hệ thống chợ và siêu thị như bảng dưới đây. Bảng 4.6. Các đối tượng tham
gia bán hàng và khách hàng mua rau
r

•7
____A Ẳ_ A___•
TT A___IV. T ĨS •

r

-W"W- >_____- m T / v • Ả______•

T
T
I

Tại hệ thống chợ

A

Tại các chợ bán buôn

1 A i 1 A __ _ ■_____

Đối tượng tham gia bán rau

Người sản xuất

>

_• A

J-W • J

y*v _

-§-•

Khách hàng

2
3

Người thu gom

Người thu gom, bán buôn, bán lẻ, bán rong, hàng
cơm, hộ gia đình.
Người bán buôn (nhỏ), bán lẻ, bán rong, hàng

Người bán buôn

cơm, hộ gia đình.

B

Tại các chợ bán lẻ

1

Người sản xuất

- Hộ gia đình (chủ yếu).

2

Người bán lẻ

- Nhà hàng hoặc hàng cơm (Khi họ bị nhỡ
hoặc mua số lượng ít).

II

Tại hệ thống siêu thị

A

Tại các siêu thị bán buôn

B

Tại các siêu thị bán lẻ

1

1_ A _

Nhà hàng, Bếp ăn tập thể, Siêu thị bán lẻ và hộ gia
đình.
Hộ gia đình.

mua nhiều, ít tùy thuộc vào khả năng đều có thể lựa chọn được sản phẩm phù hợp với khả năng chi
trả và họ cùng cảm nhận thấy sự thuận tiện của chợ. Hiện nay, tạ i các chợ cũng có thay đổi so với
trước đây. Có sự hình thành tập trung vào chuyên sản xuất và chuyên kinh doanh nên tỷ lệ người sản
xuất đến chợ thấp và gia tăng số người đến mua trực tiếp tại các chợ bán buôn do giá tại các chợ bán
buôn chỉ bằng 50-60% so với giá bán tại các chợ bán lẻ. Khách hàng tại các siêu thị bán buôn ngày
nay ngoài các siêu thị bán lẻ, nhà hàng và bếp ăn tập thể còn có cả các hộ gia đình. Các siêu thị bán
lẻ bán 100% sản phẩm cho những NTD cuối cùng.
4.1.5.

Giá bán và hình thức thanh toán

Giá bán tại các chợ được hình theo giá thị trường. Song việc quyết định bán giá nào rất linh
hoạt giữa các chợ và giữa những khách hàng khác nhau trong cùng một chợ. Thực tế, giá rau muôn
hình muôn vẻ. Thanh toán tại chợ chủ yếu bằng tiền mặt, trả ngay: tại các chợ bán buôn là 92,33%,
tại các chợ bán lẻ là 98,67%. Phần trả sau cũng bằng tiền mặt: tại chợ bán buôn là 1% và chợ bán lẻ
là 1,33%. Riêng tại chợ bán buôn có 6,67% được trả bằng cách chuyển khoản. Giá mua của siêu thị
cũng dựa vào biến động giá trên thị trường. Cơ sở xác định giá bán tại các siêu thị là căn cứ vào giá
mua vào và giá bán của các siêu thị xung quanh và mức lãi nhất định. Tại các siêu thị, khách hàng
của siêu thị bán buôn cũng chỉ có 13% trả chậm sau khi mua hàng. Riêng đối với siêu thị bán lẻ,
100% khách hàng phải trả tiền trước khi họ ra khỏi siêu thị.

1
5


4.1.6.

Rủi ro của người bán và người mua

Tại hệ thống chợ: Có phần rủi ro đối với những người thu gom, bán buôn do những người
mua lớn chịu và không trả. Có những người mất từ 15-30 triệu đồng/năm. Người sản xuất chịu rủi ro
như mất cắp, bị ép giá, người mua buôn khi trả tiền thường bớt khi thanh toán. Người mua hàng để
bán lại bị rủi ro khi thời tiết mưa bất chợt, song chỉ từ 3-5 lần/năm. Người mua về dùng lo rủi ro về
độ an toàn. Có 8/170 người đã phải bỏ rau đi không ăn (1 lần/trong năm).
Tại hệ thống siêu thị: Siêu thị cũng bị rủi ro khi rau thu hoạch bị trời mưa nên dễ thối, hỏng,
song tỷ lệ bị không nhiều. Rủi ro lớn nhất đó là việc ước lượng hàng để đặt và mức bán. Trong số
những người được hỏi chưa có ai bị rủi ro về độ an toàn, song họ vẫn lo lắng và áp dụng biện pháp
ngâm nước muối hoặc sục ozôn.
4.1.7.

Kết quả và hiệu quả của hoạt động bán rau tại chợ và siêu thị

4.1.7.1.

Đối với những người bán rau tại hệ thống chợ

Tiêu thụ các loại rau được sản xuất tại Hà Nội trước hết kể đến ba đối tượng làm ra sản phẩm,
cụ thể kết quả và hiệu quả sản xuất của họ như tại bảng 4.5.
Bảng 4.7. Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các đối tượng tham gia sản xuất
ĐVT: Triệu đ/ha/năm
T
T
A

Hộ thuộc HTX NN & HTX DV NN

1
2

Trung Na
Tiền Lệ

388,78
442,93

272,15
310,05

3

Yên Mỹ

777,56

544,29

4

Văn Đức

805,33

563,73

604,00

453,00

B

Tên các đơn vị

Doanh thu

Thu nhập

Hộ tại HTX kiểu mới và nhóm sản xuất RHC

1

Vân Nội

2

Minh Hiệp

1.166,34

839,76

3

Đạo Đức

1.208,00

869,76

4
C

Tự Nguyện
Doanh nghiệp

583,17

437,37

1

Cty XNK ĐNA
Cty TNHH Thế Công

400,00
1.105,14

220,00
718,34

Cty SX, CB & TT RAT Ba Chữ
Cty CP TP AT Hà An

1.115,74
466,00

725,23
256,59

2
3
4

Như vậy, các hộ thuộc các HTX sản xuất kiểu mới có hiệu quả sản xuất cao hơn so với các
đối tượng khác. Riêng các hộ thuộc các HTX nếu BGĐ có can thiệp vào việc tiêu thụ rau thì họ có
nhiều kênh tiêu thụ khác nhau nên sản xuất của họ đa dạng, hạn chế rủi ro. Các công ty sản xuất và
bán sản phấm tới các siêu thị, bếp ăn cũng có hiệu quả cao hơn trường hợp công ty Hà An tự sản xuất
và tự bán sản phẩm tại cửa hàng RAT. Trường hợp công ty này để duy trì được họ đã phải kinh
doanh một số mặt hàng thực phẩm khác như thịt, cá, trứng, sữa...
Kế tiếp, có 4 đối tượng chủ yếu tham gia bán sản phẩm tại các chợ: Người sản xuất; Người
1
6


thu gom/bán buôn/bán lẻ; Người bán buôn/bán lẻ và Người chuyên bán buôn. Tính toán mức thu
nhập của họ sau khi trừ đi các khoản chi phí tham gia kinh doanh rau mỗi ngày có kết quả tại bảng
4.8.
Bảng 4.8. Kết quả kinh doanh rau của các đối tượng khác nhau tại ch ợ
T
Đối tượng
Mức thu nhập (1.000 đ/ngày)
T
Người sản xuất
150-350
1
Người thu gom/bán buôn/bán lẻ
500-2.000
2
3
Người bán buôn/bán lẻ
1.140-1.770
4
Người chuyên bán buôn
1.175-6.000
___ r

r

4.I.7.2. Đối với kết quả kinh doanh rau của các siêu thị
Các siêu thị kinh doanh rau đều có lãi và không chỉ là nhiệm vụ chính trị như trước đây. Hơn

nữa, rau là 1 mặt hàng được lựa chọn trong nhóm 9 sản phẩm được bình ổn giá được vay vốn đầu tư
cho nhà sản xuất Tùy theo chiến lược của từng siêu thị mà mức lãi từ kinh doanh rau có tỷ lệ khác
nhau dao động trung bình từ 10 -20% so với mức giá mua vào tùy thuộc từng loại rau.
Như vậy, mức lãi từ kinh doanh rau so với mức thu được của người sản xuất luôn là con số
gợi ra câu hỏi làm thế nào để lợi ích của các tác nhân trong chuỗi được hài hoà?
4.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ
SIÊU THỊ
4.2.1.

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tạo nguồn rau cung cấp tới hệ thống ch ợ và siêu thi

4.2.1.1.

Quy hoạch vùng sản xuất rau và sản xuất RAT

Từ các vùng được quy hoạch sản xuất RAT đã giúp hình thành số lượng đơn vị nhóm, HTX
sản xuất rau kiểu mới được hình thành; Đã có 184 đơn vị được cấp GCN đủ điều kiện sản xuất RAT
(4.931 ha), 21 GCN VietGAP (171 ha), chứng nhận PGS cho RHC (24 ha) và 54 cơ sở đạt chứng
nhận sơ chế RAT. Nhờ có các GCN mà các đơn vị sản xuất ký kết được hợp đồng tiêu thụ tới các
siêu thị và các bếp ăn tập thể hoặc xuất khẩu.
4.2.1.2.

Đặc điểm của các đối tượng tham gia sản xuất rau trên địa bàn Hà Nội

Quy mô sản xuất: Diện tích sản xuất rau của hộ nhỏ, trung bình là dưới 2.000 m 2 phân bố trên
4-6 mảnh ruộng nên khó bố trí sản xuất. Năng lực tổ chức sản xuất và tiêu thụ: Các hộ thuộc các
HTX NN là yếu nhất, các hộ thuộc các HTX kiểu mới đã được trải nghiệm và các hộ thuộc các nhóm
sản xuất RHC đã được tập huấn. Công nghệ phục vụ sản xuất rau: Còn sử dụng các công cụ, dụng cụ
thô sơ, thiết bị hiện đại mới có ở một số doanh nghiệp và HTX kiểu mới, song số lượng chưa nhiều.
4.2.1.3.

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ

Giữa các hộ thuộc các HTX NN chưa có sự liên kết chặt chẽ nhằm gia tăng khả năng cung
ứng cũng như chưa có sự liên kết chặt chẽ với các tác nhân khác trong ngành hàng nên khâu tiêu thụ
sản phẩm luôn là vấn đề khó khăn nhất của các hộ. Các hộ thuộc các HTX kiểu mới và trong các
nhóm sản xuất RHC đã thực hiện tốt liên kết ngang và liên kết dọc.
1
7


4.2.2.

Nhân tố đầu tư công cho chương trình sản xuất và tiêu thụ rau và RAT

4.2.2.1.

Cho chương trình sản xuất rau và RAT

Hàng loạt các hỗ trợ của Thành phố cho chương trình sản xuất RAT như công tác quy hoạch,
xây dựng cơ sở hạ tầng, tập huấn áp dụng quy trình sản xuất RAT (24.000 nông dân học IPM, 66.000
người học về ATTP...); Công tác cấp GCN (đạt 4.931 ha và đến 2015 đã đạt 5.100 ha; 171 ha rau
VietGAP và 30 ha RHC). Đặc biệt, Hà Nội có Trạm phân tích và chứng nhận chất lượng sản phẩm
cây trồng để phục vụ công tác quản lý chất lượng RAT.
4.2.2.2.

Cho chương trình tiêu thụ rau và RAT

Thành phố đã xây dựng mạng lưới chợ quy hoạch, một số chợ đã được xây dựng, cải tạo,
nâng cấp giúp hệ thống chợ được cải thiện. Tuy nhiên, một số chợ mới song hoạt động chưa hiệu
quả. Có sự ưu tiên cho phát triển các kênh siêu thị tại Hà Nội, đặc biệt kênh siêu thị 100% vốn Việt
Nam đầu tư trước 31/12/2009 do đó số lượng các siêu thị có mặt tại Hà Nội đạt 165 siêu thị (tháng
6/2015), trong đó có 87 điểm bán rau tại các siêu thị. Thành phố hỗ trợ thúc đẩy tiêu thụ như dán
nhãn nhận diện sản phẩm, cho phép sàn giao dịch rau, quả hoạt động, bán RAT lưu động... và các
chính sách nên thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia tiêu thụ rau.
4.2.2.3.

Chính sách có liên quan

a) Chính sách quản lý chất lượng rau: Nhờ có các chính sách này mà đã hình thành được nhiều
điểm bán RAT. Biểu hiện qua số lượng điểm tại các thời điểm như 2002 (32), 2007 (80), 2012
(122) và 2014 riêng siêu thị đã đạt 87 điểm.
b) Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng: Tiếp theo sau quyết định
80/2002/QĐ-TTg ban hành ngày 24/06/2002 kém hiệu lực đã có Quyết định 62/2013/QĐ-TTg
được ban hành ngày 25/10/2013 về chính sách khuyến khích phát triển liên kết sản xuất gắn
với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng mẫu lớn. Đây là một trong những thuận lợi hy
vọng sẽ giúp cho sản xuất rau có những chuyển biến mới.
4.2.3.Nhóm nhân tố về tiêu dùng
4.2.3.1.

Về độ tuổi và thu nhập: Những người mua rau tại siêu thị tập trung ở lửa tuổi từ 30-50

và có mức thu nhập từ 10 triệu đồng/tháng/hộ trở lên. Thu nhập là 1 yếu tố có ảnh hưởng
nhiều đến việc quyết định mua rau ở đâu.
4.2.3.2.

Mục đích mua rau: Ngoài các hộ gia đình đến chợ mua rau về dung tại gia đình,

những khách hàng khác mua về bán lại tại các chợ, siêu thị, phục vụ tại các nhà hàng, bếp ăn
và hàng cơm. Mục đích mua là một nhân tố có ảnh hưởng đến việc quyết định mua rau ở chợ
hay siêu thị.
4.2.3.3.

Tiêu chí lựa chọn địa điểm mua rau và lựa chọn rau khi mua

Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm cơ bản của người mua rau tại chợ và siêu thị là thích sự
thuận tiện, đa dạng chủng loại rau và rau tươi. Người mua ở chợ quan tâm nhiều đến tiêu chí giá, sự
thuận tiện và những người mua rau tại siêu thị quan tâm nhiều đến độ an toàn và nguồn gốc rau.
1
8


Song với NTD Hà Nội, vừa quan tâm đến độ an toàn của rau, vừa quan tâm đến hình thức bên ngoài
và cả yếu tố giá. Chính từ điều này đã tạo ra bài toán cho người sản xuất và nhà phân phối: làm thế
nào để có sản phẩm rau đảm bảo an toàn, bề ngoài hấp dẫn và giá cả phù hợp? Thực tế ba tiêu chí
này đồng hành là thực sự khó.
4.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG
Bằng phương pháp phân tích SWOT, đưa ra bức tranh tổng thể về tiêu thụ qua mỗi kênh, qua
đó có những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức khác nhau. Cần phát huy những điểm mạnh và
hạn chế những điểm yếu từ mỗi kênh để phát triển tiêu thụ rau trên toàn địa bàn thành phố được cải
thiện theo hướng thuận tiện cho người bán, người mua và quản lý được chất lượng của rau và duy trì
trật tự xã hội.
PHẦN 5. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ
THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
5.1.

QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

5.1.1.

Quan điểm

Với quan điểm Nhà nước hỗ trợ về chính sách và thúc đẩy liên kết cũng như phát huy vai trò
của từng hệ thống tiêu thụ nhằm phát triển tiêu thụ rau tốt nhất.
5.1.2.

Định hướng

Tiếp tục can thiệp vào những hoạt động mà mà tư nhân không làm được như
(i) Công tác tập huấn nâng cao năng lực cho người sản xuất; Công tác khuyến nông; Công tác kiểm
tra, thanh tra chất lượng rau; Chỉ đạo chung các chương trình sản xuất RAT; (ii) Xây dựng hệ thống
cơ sở hạ tầng như hệ thống thủy lợi, đường giao thông nội đồng... ; (iii) Hình thành các mô hình tổ
chức sản và tiêu thụ RAT.
Phát huy sức mạnh của khối tư nhân như huy động các doanh nghiệp tham gia phát triển
tiêu thụ thực phẩm nói chung và sản phẩm rau nói riêng được đặt trong hệ thống kênh phân phối
chung của Hà Nội, trong đó hệ thống chợ và siêu thị là hai kênh chính.
5.1.3.

Căn cứ đề xuất các giải pháp

Các căn cứ đề xuất như sau: (i) Kết quả nghiên cứu; (ii) Kinh nghiệm và bài học từ những
việc làm trước của Hà Nội và các địa phương khác có liên quan; (iii) Kinh nghiệm và bài học từ một
số mô hình phát triển chuỗi giá trị rau của Hà Nội và (iv) Kết quả thử nghiệm sự hỗ trợ của tác giả tại
một số địa bàn tại các HTX NN và HTX kiểu mới, một số siêu thị và tiêu dùng tại hộ gia đình. Bám
sát chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước.
5.2.

CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ

VÀ SIÊU THỊ
5.2.1.

Tạo nguồn cung đảm bảo tới hệ thống ch ợ và siêu thị

5.2.1.1.

Đổi mới quy hoạch vùng sản xuất rau tập trung

Thành phố làm công tác quy hoạch tổng thể vùng trồng rau và RAT của Hà Nội dài hạn, tránh
chồng chéo. Đồng thời công tác quy hoạch này cần phối hợp với quy hoạch chung của Bộ NN và
1
9


PTNT để định hướng cho người sản xuất lựa chọn những chủng loại rau có ưu thế đối với thị trường
Hà Nội mà ít bị cạnh tranh với những địa phương khác.
5.2.1.2.

Cải thiện hiện trạng của các HTX NN

a) Khắc phục tình trạng quy mô sản xuất nhỏ và khó khăn về lao động Thực hiện dồn
điền, đổi thửa theo tinh thần chung của thành phố.
Thành lập các HTX theo mô hình HTX kiểu mới, hoặc có thể thành lập các nhóm, tổ triển
khai sản xuất hoặc chuyển đổi để HTX NN thay đổi hướng đi. Cụ thể, có thể triển khai theo hai
hướng: Hướng thứ nhất: Ủng hộ các thành viên trong các HTX NN có nhu cầu hình thành các HTX
kiểu mới; Hướng thứ hai: Giữ nguyên quy mô của HTX NN nhưng hỗ trợ cho BGĐ của HTX dần
chuyển đổi theo chức năng và nhiệm vụ của mô hình HTX kiểu mới. Đồng thời tuyên truyền cho các
thành viên trong HTX (hộ) hiểu để họ chủ động tham gia các hoạt động và cùng BGĐ xây dựng các
kế hoạch sản xuất và tiêu thụ.
b) Cơ khí hóa một số khâu trong quá trình sản xuất và thu hoạch: (i) Cơ khí hóa trong khâu làm
đất và (ii) Dịch vụ trong khâu phun thuốc BVTV.
c) Hỗ trợ năng cao năng lực quản trị sản xuất và tiêu thụ và hình thành cơ chế hoạt động: Trong
phần này tập trung nâng cao năng lực cho các cán bộ trong BGĐ của các HTX và hình thành
cơ chế giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi. Để làm được việc này cần có sự hỗ trợ
của các viện nghiên cứu, sự trợ giúp của các cấp chính quyền và các thành viên trong các
BGĐ.
d) Cải tiến công nghệ và sử dụng phương tiện trong sản xuất và sau thu hoạch
Các công nghệ hiện đã được áp dụng mang lại hiệu quả cần được phổ biến, nhân rộng. Cải
tiến những công nghệ hiện có và đầu tư trang bị để có được các dụng cụ, công cụ và thiết bị phục vụ
sản xuất tốt như nhà lạnh, xe lạnh... phục vụ tốt hơn quá trình sản xuất và sau thu hoạch.
5.2.1.3.

Xây dựng và phát triển liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau

Liên kết cần được xây dựng theo hướng cả liên kết dọc và liên kết ngang: hình thành liên kết
giữa những người cùng sản xuất rau và giữa các tác nhân trong ngành hàng rau trên địa bàn thành
phố Hà Nội và thậm chí cả các tỉnh khác. Phát triển sự liên kết giữa những người sản xuất để gia tăng
khả năng cung ứng về số lượng, chủng loại và khả năng giao hàng đều đặn và cả sự liên kết giữa các
tác nhân trong ngành hàng rau để việc sản xuất được tổ chức dựa theo kế hoạch tiêu thụ giúp giảm
thiểu rủi ro cho người sản xuất, hình thành sản xuất theo chuỗi cung ứng bền vững.
5.2.2.

Tiếp tục hỗ trợ đầu tư công cho sản xuất và tiêu thụ rau và RAT

5.2.2.I.

Tiếp tục đầu tư cho sản xuất rau và RAT

Nâng cao năng lực thực hành nông nghiệp tốt (Good Agricultural Practices - GAP) và thực
hành thị trường tốt (Good Trading Practices - GTP). Nếu làm tốt được việc nâng cao năng lực GAP
và GTP cho người sản xuất rau thì họ sẽ có khả năng áp dụng sang cho các sản phẩm nông nghiệp
khác. Do vậy cần làm thật tốt cho đối tượng các hộ sản xuất rau để họ có điều kiện áp dụng cho các
cây khác.
5.2.2.2.

Tiếp tục đầu tư cho tiêu thụ rau và RAT
2
0


a) Hỗ trợ xúc tiến thương mại: Ngoài các hoạt động hàng năm hỗ trợ tiêu thụ rau, nay Thành phố
cần chú trọng vào việc xúc tiến thương mại nhằm thúc đẩy tiêu thụ rau tốt hơn.
b) Tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống chợ: Về phía thành phố: Cần làm công tác rà soát và
lập kế hoạch xây mới, sửa chữa, nâng cấp các chợ đảm bảo đủ diện tích họp và vệ sinh cũng
như sự an toàn của người tham gia họp chợ; Ban quản lý các chợ cũng cần có chế độ thu, chi
đảm bảo cho người tham gia có thể chấp nhận được và sắp xếp để thu hút người đến bán cũng
như người đến mua trong bối cảnh hiện nay; Đối với người bán rau tại các chợ cần chấp hành
đầy đủ các quy định của Ban quản lý chợ đề ra và đảm bảo văn hóa trong khi bán hàng.
c) Tăng cường thu hút người tham gia tại hệ thống chợ: BQL chợ, người bán rau cùng thực hiện
để có được quan hệ, sự liên kết chặt chẽ với người sản xuất, kinh doanh và NTD.
d) Tăng cường tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị: Cả ba tác nhân là siêu thị, nhà cung ứng
và người sản xuất cùng nhau phối hợp để có chiến lược gia tăng lượng rau phân phối theo
kênh này.
5.2.2.3.

Khuyến khích thực hiện các chính sách có liên quan đã ban hành

a) Thực hiện công tác thanh tra, kiểm soát chất lượng rau trên địa bàn thành phố
-

Về phía Nhà nước: Cần duy trì và bổ sung các chính sách về quản lý chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm và ban hành các văn bản hướng dân để việc triển khai tại các địa phương
được thuận lợi.

-

Về phía Thành phố Hà Nội cần kiểm tra tốt chất lượng nguồn rau do chính Hà Nội sản xuất
ra trước. Cần xem xét đến căn nguyên dẫn đến độ an toàn của rau không được đảm bảo đó là
việc sử dụng các vật tư đầu vào phục vụ sản xuất. Cần tổ chức thanh tra, kiểm tra thường
xuyên và đột xuất các cơ sở kinh doanh vật tư đầu vào của sản xuất rau trên địa bàn các vùng
trồng rau đã được quy hoạch và xử phạt nghiêm minh các cơ sở vi phạm. Việc giám sát nội bộ
của các đơn vị sản cuất được đánh giá cao và lựa chọn hình thức, cách làm giống như các
nhóm sản xuấ RHC đang làm.
Cách thức thực hiện giải giải pháp: (i) Tài liệu hóa quá trình kiểm tra nội bộ; (ii) Tổ chức

tập huấn cho những người làm công tác kiểm tra, thanh tra (lý thuyết); (iii) Tổ chức giao lưu chia sẻ
kinh nghiệm giữa những người đã làm với những người mới làm để khắc phục những điểm chưa rõ
và áp dụng được đúng, mang lại hiệu quả.
-

Thành phố cũng cần tổ chức tốt việc kiểm tra chất lượng sản phẩm rau đưa từ ngoài tỉnh vào
thị trường Hà Nội. Do đặc thù của Hà Nội có đến 48-50% rau đưa từ ngoài vào nên cần thiết
duy trì kiểm tra nguồn rau chặt chẽ theo hình thức định kỳ và bất thường lấy mẫu kiểm tra,
phân tích nhằm giảm thiểu rủi ro về độ an toàn của rau.

b) Khuyến khích tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng
Hiện đã áp dụng quyết định 62/2013/QĐ-TTg được ban hành ngày 25/10/2013 do đó rất cần
phổ biến chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản theo hợp đồng và hình thức áp dụng để từ đó các
hộ nhận rõ được tác dụng và chủ động thực hiện.

2
1


5.2.3.

Thúc đẩy tiêu dùng rau

5.2.3.1.

Cung cấp thông tin cho người tiêu dùng:

Về phía thành phố Hà Nội: Cần hỗ trợ cung cấp các thông tin về các cơ sở sản xuất và phân
phối rau đảm bảo, các cơ sở không đảm bảo qua các phương tiện thông tin đại chúng khác nhau;
Đối với các cơ sở sản xuất: Cung cấp thông tin về các chủng loại rau và thời gian có thể cung
ứng, địa chỉ liên hệ để các nhà phân phối dễ dàng tiếp cận hoặc NTD nắm được đầy đủ.
5.2.3.2.

Quảng bá giúp người tiêu dùng nhận diện về sản phẩm rau có nguồn gốc rõ ràng và

lợi ích của việc tiêu dùng rau và rau an toàn:
Về phía Thành phố: Công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về mã nhận
diện của các đơn vị sản xuất RAT để NTD nắm rõ; Các cơ quan nghiên cứu và cơ quan chức năng
giúp NTD nhận biết rõ tác dụng của việc tiêu dùng rau, nhất là RAT và tác hại của tiêu dùng rau
không an toàn;
Về phía người tiêu dùng: Thực hiện khuyến cáo nên tiêu dùng rau ở mức tối thiểu là 0,3
kg/ngày/người và cần tìm đúng nguồn RAT.
PHẦN 6. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

6.1. KẾT LUẬN
1) Tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị là quá trình dịch chuyển sản phẩm từ người
sản xuất đến người tiêu dùng và chuyển dần từ trạng thái vật chất sang trạng thái tiền tệ, địa
điểm chuyển này diễn ra tại hệ thống chợ và siêu thị.
Hiện tại, các địa phương trên cả nước cũng như tại Hà Nội, lượng rau tiêu thụ thông qua hệ
thống chợ là chủ yếu nên cần thiết tồn tại cả hệ thống chợ và siêu thị giúp đáp ứng nhu cầu đa dạng
của NTD tại thành phố lớn. Đồng thời cần thiết kiểm tra chặt chẽ nguồn rau ở cả hai hệ thống nhằm
giúp NTD yên tâm sử dụng.
2) Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị cho thấy Hà Nội có nhu cầu rau rất
lớn, và tỷ lệ rau của các đối tượng tham gia tiêu thụ, ý nghĩa của việc thúc đẩy tiêu thụ rau qua
hai hệ thống tiêu thụ chính thức:
Nhu cầu rau Hà Nội ước đến 3.166 tấn/ngày, song hiện Hà Nội chỉ có khả năng sản xuất được
52% nhu cầu và cần 48% lượng rau được bổ sung từ các tỉnh ngoài và nguồn rau nhập khẩu, chủ yếu
từ Trung Quốc.
Lượng rau tiêu thụ qua hệ thống chợ chiếm 46% nhu cầu rau của toàn thành phố, và 42%
được tiêu thụ bởi những người bán rong và những người ngồi ở các vị trí không đúng quy định.
Lượng rau được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị chỉ đáp ứng 3,0% nhu cầu rau của thành phố. Việc
phân phối rau thông qua các siêu thị đã được cải thiện nhiều song do sự gia tăng nhu cầu rau của
thành phố lớn hơn nên khả năng đáp ứng được vẫn còn ở một con số khiêm tốn. Hiện Hà Nội rất vất
vả trong việc quản lý những người bán hàng không chính thống và cả nguồn rau của họ bán ra mặc
dù đánh giá cao ở góc độ về lượng hàng bán được (42%) là lớn hơn lượng rau bán tới tay NTD cuối
cùng thông qua chợ.
3) Thực trạng tham gia sản xuất và khả năng cung ứng rau của các đối tượng tham gia sản xuất
2
2


rau tại Hà Nội: Nguồn cung ứng rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội do 3 đối tượng chính
đó là: (i) Các hộ thuộc các HTX NN, đối tượng chính, sản xuất ra > 90% sản lượng rau của
toàn thành phố, song tỷ lệ bán hàng cho các đối tượng như thu gom- mang đến chợ bán buôn
25% - mang đến chợ bán lẻ: 53%- 25_ và gần 15%. Phần tại chợ bán lẻ bán cho người bán lẻ
và NTD; (ii) Các hộ thuộc HTX kiểu mới, sản xuất rau trên diện tích 3% diện tích đất song có
khả năng tạo ra >4% sản lượng rau của toàn thành phố. 90% sản phẩm của họ chủ yếu được
cung ứng tới các bếp ăn tập thể, siêu thị, cửa hàng và quầy hàng RAT. 10% sản phẩm còn lại
có thể bán cho các HTX khác để cân đối lượng hàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc
bán ra chợ khi thời tiết không ủng hộ. (iii) Các doanh nghiệp, tham gia sản xuất lượng rau nhỏ
(0,5%) so với sản lượng rau của thành phố song thực hiện cung cấp được cho các đối tác có
nhu cầu rau lớn hàng ngày như các siêu thị và các bếp ăn tập thể. Thành công các hộ thuộc các
HTX kiểu mới và doanh nghiệp tiêu thụ thông qua siêu thị là nhờ công tác tổ chức sản xuất và
tiêu thụ.
Tiêu thụ rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội thông qua nhiều kênh khác nhau song lượng
rau được tiêu thụ qua hệ thống chợ là chủ yếu (40,31%), kênh siêu thị chỉ đạt 4,04% và phần còn lại
do người bán rong (di chuyển và các vị trí không đúng quy định), các cửa hàng và quầy hàng cũng
phân phối được 4,04%. Trên 9% được đưa thẳng đến các bếp ăn tập thể và nhóm NTD.
4) Quan hệ mật thiết giữa các yếu tố và xác định yếu tố chính góp phần hình thành chuỗi giá trị.
Dù tiêu thụ rau ở hệ thống nào đi chăng nữa thì thông tin về nguồn gốc rau, việc quản lý chất
lượng rau (giám sát nội bộ và giám sát bên ngoài) và sự liên kết giữa các tác nhân đều được đặt ra
nhằm giúp người sản xuất hạn chế được những rủi ro. Đặc biệt thấy được vai trò của việc tổ chức sản
xuất và tiêu thụ là vô cùng quan trọng, đóng vai trò chính trong việc tiêu thụ thành công những sản
phẩm làm ra và hình thành chuỗi giá trị.
Bên cạnh các chính sách của Nhà nước về quản lý chất lượng rau, Thành phố cần hỗ trợ để
thực hiện tốt các giải pháp đề ra để có nguồn cung rau được đảm bảo ở cả khía cạnh nguồn rau được
sản xuất tại Hà Nội và nguồn được đưa từ nơi khác về. Đồng thời Thành phố cũng hài hòa trong khâu
tổ chức tiêu thụ rau qua các kênh khác nhau với hướng thúc đẩy gia tăng lượng rau tiêu thụ qua kênh
siêu thị, kênh chợ và hạn chế bán hàng tại những vị trí không đúng nơi quy định và quản lý bán rong
chặt chẽ và đạt được mục tiêu đặt ra là xây dựng được các liên kết giữa các tác nhân và hình thành
được các chuỗi giá trị bền vững.
5) Luận án đã phân tích rõ 03 nhóm nhân tố chủ yếu có ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ rau
thông qua hệ thống chợ và siêu thị đó là: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tạo nguồn cung
trong đó, yếu tố tổ chức sản xuất và tiêu thụ rau là yếu tố chính tạo nên sự thành công trong
tiêu thụ cũng như đề xuất được tương ứng 03 giải pháp thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông
qua hai hệ thống này.
Đồng thời cũng qua nghiên cứu này thấy được quan hệ mật thiết giữa tiến bộ kỹ thuật, kiến
thức phát triển thị trường và cơ chế chính sách để thực hiện liên kết trong sản xuất và tiêu thụ. Thấy
được quan hệ giữa năng suất, chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng của sản phẩm và từ đây cho
thấy cần thiết có mô hình HTX hoặc doanh nghiệp mới tạo ra một sức mạnh liên kết trong tiêu thụ,
2
3


đặc biệt tiêu thụ qua hệ thống chợ và siêu thị thành công.
6.2.
KIẾN NGHỊ
Đối với Nhà nước và Thành phố Hà Nội: Tiếp tục hỗ trợ phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất và tiêu thụ rau.
Đối với các cơ quan nghiên cứu: Nghiên cứu việc tiêu thụ rau qua hình thức bán hàng không
chính thống để có thêm cơ sở tư vấn cho UBND Thành phố, Sở Công Thương trong việc quản lý các
hình thức tiêu thụ. Có các nghiên cứu về tiêu dùng và NTD để thông qua đó hỗ trợ người sản xuất,
sản xuất tốt hơn đáp ứng nhu cầu của NTD.
Đối với các cơ quan chức năng của Hà Nội: Sở NN & PTNT, Sở Công Thương, Trung tâm
Khuyến nông và Trung tâm xúc tiến thương mại Hà Nội cần hỗ trợ người sản xuất nâng
cao kỹ năng GAP và GTP cũng như thực hiện phổ biến các khuyến cáo cho các tác nhân
như người sản xuất, người kinh doanh rau trong nước biết được những thay đổi trong
tiêu dùng rau ngày nay, nhu cầu và phản ứng của NTD để họ có những điều chỉnh trong
sản xuất và kinh doanh sẽ giúp phát triển tiêu thụ rau được sản xuất tại Hà Nội tốt hơn.
Đây là một trong những hoạt động nhằm góp phần gia tăng khả năng cạnh tranh của
rau trong nước, đẩy lùi nguồn rau nhập khẩu.

2
4


DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Nguyễn Thị Tân Lộc và Đỗ Kim Chung (2013). Một số vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm
về giải pháp tiêu thụ rau quả thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Tạp chí Kinh tế & Phát triển,
số 195 (II), tháng 9, trang 88-96.
2. Nguyễn Thị Tân Lộc, Đỗ Kim Chung và Trần Khắc Thi (2013). Liên kết trong sản xuất và
tiêu thụ rau, quả. Kết quả nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông
thôn những năm đầu thế kỷ 21. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trang 140-155.
3. Nguyễn Thị Tân Lộc và Đỗ Kim Chung (2015). Giải pháp phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ
thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tạp chí Khoa học và Phát triển. Số 5
(tháng 8), trang 850-858.


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×