Tải bản đầy đủ

Pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở việt nam hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam không những phải đối mặt
với những khó khăn chung của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với
nhiều bất ổn của kinh tế vĩ mô trong nước như tốc độ tăng trưởng kinh tế
chậm lại, thâm hụt ngân sách lớn và tỷ lệ lạm phát tăng cao. Điều đó đã làm
cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng gặp nhiều khó
khăn, thách thức. Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) tuy đã có
những chuyển biến mạnh mẽ, tăng trưởng nhanh về số lượng, nâng cao chất
lượng, mở rộng mạng lưới hoạt động, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của nền
kinh tế nhưng cũng đã bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như tính cạnh tranh
và tính thanh khoản thấp, nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn về
tài chính, tỷ lệ nợ xấu tăng, trình độ quản trị yếu, xuất hiện những nguy cơ
hiện hữu gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Để giải quyết những vấn đề bất ổn
này, mua lại và sáp nhập cùng với một số cơ chế khác là những giải pháp
cần thiết giúp hệ thống NHTM tránh khỏi tình trạng đổ vỡ, giữ an toàn hệ
thống, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranh,
đồng thời giúp các NHTM nhỏ gia tăng thị phần, qua đó hình thành các
ngân hàng lớn có sức cạnh tranh hơn trên thị trường trong nước và khu vực.
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và đối với
NHTM ở Việt Nam đã được hình thành trong thời gian gần đây, góp phần

hoàn thiện hệ thống pháp luật, giải quyết được một số mục tiêu, yêu cầu cụ
thể của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng nhưng còn có những hạn chế và
bất cập. Khung pháp lý về mua lại, sáp nhập còn sơ khai, chồng chéo và
mâu thuẫn, còn có những khoảng trống pháp lý để điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong thực tiễn khi thực hiện mua lại, sáp nhập và chưa tạo
được cơ sở pháp lý vững chắc để thúc đẩy hoạt động này. Trên thực tế đã có
nhiều bất cập khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM thời gian qua, trong
đó có nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết.
Nghiên cứu về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp
nhập NHTM trong thời gian gần đây đã trở thành chủ đề thu hút sự quan
tâm không chỉ đối với giới nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách mà còn
1


cả giới luật gia và doanh nghiệp. Tuy không phải là vấn đề nghiên cứu mới,
nhưng hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về
pháp luật mua lại và sáp nhập NHTM ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ
góp phần làm rõ và sâu sắc hơn cơ sở lý luận, giúp đánh giá đúng đắn thực
trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM,
từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật
về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, góp phần thực hiện quá
trình tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước.
Trước thực trạng trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài "Pháp
luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay"
để nghiên cứu và làm luận án tiến sĩ luật học, có ý nghĩa không chỉ về
khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong hoạt động mua lại,
sáp nhập NHTM hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích nghiên cứu của luận án: Xây dựng khung pháp lý điều
chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM và đưa ra phương hướng, giải
pháp hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: Với mục đích nghiên cứu như
trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
+ Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan
đến đề tài luận án, từ đó xác định những nội dung còn bỏ ngỏ, còn tranh
luận để đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án.
+ Nghiên cứu, phân tích, làm rõ và sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ
bản về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM; xây
dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM.

+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật về
mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực NHTM; thực
tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam góp phần
tạo luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
+ Đưa ra phương hướng và các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật
về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay.
2


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là pháp
luật về mua lại, sáp nhập NHTM và hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM
dưới góc độ pháp lý.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu pháp luật về mua lại, sáp
nhập NHTM ở Việt Nam trên các phương diện về tiêu chuẩn, điều kiện
mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi
mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Luận án
nghiên cứu một số văn bản pháp luật được ban hành từ năm 2004 đến năm
2015 và có hiệu lực thi hành trong khoảng thời gian từ khi được ban hành
đến hết năm 2015; nghiên cứu một số trường hợp mua lại, sáp nhập NHTM
đã thực hiện trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015. Luận án không
nghiên cứu tất cả các loại hình NHTM, chỉ tập trung nghiên cứu về ngân
hàng thương mại cổ phần.
4. Những điểm mới của luận án
* Về lý luận:
Thứ nhất, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt bởi chính
những đặc điểm của NHTM. Do đó việc nghiên cứu để phát hiện chính xác
và đầy đủ các đặc điểm của NHTM sẽ giúp xây dựng được một cơ chế pháp
lý hiệu quả nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh khi thực hiện mua lại,
sáp nhập NHTM. Hoạt động ngân hàng có những đặc thù mà các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh thông thường không có, đó là được nhận tiền gửi, cấp
tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản liên quan đến lĩnh
vực tiền tệ, ngân hàng cho khách hàng. Việc thành lập, hoạt động, tổ chức
lại NHTM được kiểm soát nghiêm ngặt trong một khung pháp lý rất chặt
chẽ. Các chủ thể hoạt động NHTM phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt
như vốn, an toàn vốn, cơ sở vật chất, hệ thống thông tin, bảo mật, chuyên
môn nghiệp vụ mới được cơ quan quản lý ngân hàng cho phép hoạt động...
Thứ hai, hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM có những đặc trưng cơ
bản, chi phối đến pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM. Những đặc trưng
cơ bản của hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM được xác định là: NHTM
thực hiện mua lại, sáp nhập với tư cách là bên mua lại hoặc nhận sáp nhập
với NHTM khác; các doanh nghiệp khác trừ ngân hàng không được mua
3


lại, nhận sáp nhập với chủ thể bên kia là ngân hàng. Trong tất cả các giai
đoạn trước, trong và sau khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM đều phải
đáp ứng hoạt động ngân hàng liên tục, ổn định, không ảnh hưởng đến quyền
lợi người gửi tiền và quyền, nghĩa vụ của các bên có liên quan. So với các
loại hình doanh nghiệp khác, trình tự, thủ tục khi thực hiện mua lại, sáp
nhập NHTM phức tạp hơn. Khi thực hiện mua lại, sáp nhập MHTM trước
tiên phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, sau đó mới
tính đến quyền lợi của bên thứ ba và quyền lợi của nhà nước. Thời điểm
chuyển giao quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp giữa các bên khi thực hiện
mua lại, sáp nhập NHTM có ý nghĩa quan trọng.
Thứ ba, bản chất pháp lý của mua lại, sáp nhập NHTM là việc giành
quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua các hoạt động đầu tư, tổ chức lại
doanh nghiệp; việc chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
giữa các bên, đồng thời xác định tư cách pháp lý của các bên sau khi thực
hiện mua lại, sáp nhập.
Thứ tư, việc tìm ra những đặc điểm của pháp luật về mua lại, sáp
nhập ngân NHTM sẽ giúp xác định đúng những nội dung điều chỉnh chủ
yếu của pháp luật trong lĩnh vực này. Những đặc điểm chính của pháp luật
về mua lại, sáp nhập NHTM được xác định như: hoạt động mua lại, sáp
nhập NHTM được điều chỉnh bằng cả hệ thống luật chung và luật chuyên
ngành về ngân hàng; việc thành lập, hoạt động và tổ chức lại NHTM chịu
sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về ngân hàng; khi thực hiện mua lại,
sáp nhập NHTM, ngoài việc sử dụng khung pháp lý như các doanh nghiệp
thông thường nhưng cần có những điều chỉnh riêng đối với loại hình này;
pháp luật chỉ cho phép NHTM được tiến hành mua lại, sáp nhập đối với
TCTD mà không cho phép TCTD hay các doanh nghiệp mua lại, sáp nhập
với NHTM; để thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần phải tuân theo
những tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác;
trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt theo
quy định của pháp luật, có mức độ phức tạp cao hơn so với doanh nghiệp
khác; để đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, tài chính, tiền tệ quốc gia,
đối với các NHTM yếu kém, có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng
thanh toán, cơ quan quản lý ngân hàng có quyền yêu cầu NHTM đó phải
thực hiện tái cơ cấu, buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại.
4


Thứ năm, những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM được xác định là: tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp
nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp
nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Ngoài ra, còn có nhiều
quan hệ xã hội khác phát sinh khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần
phải có pháp luật điều chỉnh.
* Về đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về mua
lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay:
Thứ nhất, luận án khẳng định pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM ở Việt Nam liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau.
Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) là luật chuyên ngành điều chỉnh trực
tiếp đến việc thành lập, hoạt động và tổ chức lại NHTM, đồng thời được
đặt trong mối quan hệ với các luật khác khi giải quyết các vấn đề liên
quan đến việc mua lại, sáp nhập NHTM. Vì vậy để hoàn thiện pháp luật,
đồng thời nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với việc thành lập,
hoạt động và tổ chức lại NHTM nói chung và việc mua lại, sáp nhập
NHTM nói riêng cần phải hoàn thiện đồng bộ các đạo luật này chứ không
chỉ hoàn thiện riêng Luật các TCTD.
Thứ hai, luận án chỉ rõ pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt
Nam hiện nay còn có những tồn tại, hạn chế, nhiều vấn đề liên quan trực tiếp
đến mua lại, sáp nhập NHTM, nhất là trong trường hợp thực hiện bắt buộc
còn chưa có quy định cụ thể hoặc còn thiếu như tiêu chuẩn, điều kiện mua lại,
sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp
nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Ngoài ra còn thiếu hay
cần bổ sung, sửa đổi những quy định như về quyền, nghĩa vụ của các ngân
hàng bị mua lại, sáp nhập; quyền lợi của khách hàng (người gửi tiền); quyền
lợi của người lao động; thực hiện lãi suất tiền gửi, lãi suất, phí cấp tín dụng;
hợp đồng mua lại, sáp nhập; thực hiện tiếp tục hợp đồng cấp tín dụng hợp
vốn. Thực tế đã phát sinh những vấn đề pháp lý liên quan đến sự can thiệp
của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào ngân hàng yếu kém như việc chuyển
sở hữu tư nhân thành sở hữu nhà nước ở một số ngân hàng yếu kém; cổ đông
không đồng ý có sự can thiệp của NHNN vào cơ cấu sở hữu khi thực hiện
mua lại, sáp nhập NHTM cần phải được giải quyết.
Thứ ba, thông qua việc phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp
5


luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, luận án khẳng định
việc NHNN mua lại bắt buộc một số NHTM yếu kém trong thời gian qua
là để giải quyết tình thế nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tránh
nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính,
tiền tệ quốc gia, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ quyền lợi của
người gửi tiền, đồng thời có tác dụng hữu hiệu trong việc ngăn chặn tình
trạng bất tuân thủ các yêu cầu, điều kiện bảo đảm an toàn đối với hoạt
động ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, còn có nhiều vấn đề liên quan
đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết khi NHNN mua lại bắt buộc một số
NHTM yếu kém này. Xét trên góc độ pháp luật thì đã có căn cứ pháp lý
để NHNN mua lại bắt buộc đối với các ngân hàng này. Tuy nhiên việc
NHNN mua lại bắt buộc toàn bộ tài sản của NHTM với giá 0 đồng, không
phải mua lại toàn bộ số cổ phần thuộc quyền sở hữu của tất cả cổ đông,
nhưng tất cả cổ đông của NHTM bị chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích và tư
cách cổ đông là chưa có cơ sở pháp lý vững chắc.
* Về một số giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, luận án đã đề xuất
một số giải pháp mới như sau:
Thứ nhất, luận án kiến nghị thống nhất hình thức pháp lý về tổ
chức lại doanh nghiệp được quy định trong các văn bản pháp luật. Bổ
sung mua lại là một trong những hình thức pháp lý tổ chức lại doanh
nghiệp trong Luật doanh nghiệp để phù hợp với quy định của Luật cạnh
tranh. Luật các TCTD cần quy định cụ thể việc mua lại, sáp nhập đối với
NHTM, thay vì quy định chung là tổ chức lại TCTD dưới hình thức chia,
tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý. Luật các TCTD và
các văn bản pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cần bổ sung
các quy định khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM về: tiêu chuẩn, điều
kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý
khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập.
Thứ hai, luận án kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung
các quy định về mua lại, sáp nhập NHTM, cụ thể là: định giá ngân hàng;
hợp đồng mua lại, sáp nhập; thực hiện tiếp tục hợp đồng cấp tín dụng hợp
vốn; chuyển sở hữu tư nhân thành sở hữu nhà nước ở một số ngân hàng yếu
kém; quyền và nghĩa vụ của các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập; quyền lợi
6


của khách hàng (người gửi tiền); quyền lợi của người lao động tại các ngân
hàng bị mua lại, sáp nhập; thủ tục xử lý các giao dịch với người gửi tiền và
người vay trước khi giao dịch mua lại, sáp nhập được xác lập; thực hiện lãi
suất tiền gửi, lãi suất, phí cấp tín dụng; lộ trình thực hiện quy định về tỷ lệ
an toàn, nợ xấu, sở hữu chéo khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM, trong
cả trường hợp thực hiện tự nguyện và bắt buộc.
Thứ ba, luận án kiến nghị việc cơ quan có thẩm quyền chấp thuận
mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam, đồng thời lại tổ chức thanh tra, giám
sát trong quá trình thực hiện là không khách quan, trong khi hoạt động của
NHTM có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, cần đảm bảo hoạt động
ngân hàng được diễn ra theo đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, khi
thực hiện mua lại, sáp nhập bắt buộc đối với NHTM yếu kém có thể phải sử
dụng đến nguồn ngân sách lớn của nhà nước. Vì vậy pháp luật cần bổ sung
quy định một cơ quan giám sát độc lập tiến trình này để đảm bảo sự chặt
chẽ và tính khách quan.
5. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các
phụ lục, luận án gồm 4 chương.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan
đến đề tài luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận của pháp luật về mua lại và sáp
nhập ngân hàng thương mại.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về
mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua
lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

7


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, ngân hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính và pháp lý. Các công trình
nghiên cứu này đã cung cấp những lý luận, kiến thức cơ bản về mua lại, sáp
nhập. Nhiều cuốn sách còn được coi là cẩm nang về mua lại, sáp nhập cho
các doanh nghiệp. Về cơ bản các công trình nghiên cứu này chủ yếu tiếp
cận dưới góc độ kinh tế, tài chính, không có nhiều công trình nghiên cứu về
mua lại, sáp nhập ngân hàng dưới góc độ pháp lý. Một số nội dung có liên
quan và đáng chú ý được một số nghiên cứu đề cập như hệ thống quy định
điều chỉnh chung hoạt động mua lại, sáp nhập ngân hàng, quá trình ra quyết
định của cơ quan quản lý ngân hàng, các vấn đề pháp lý cần lưu ý khi tham
gia giao dịch mua lại, sáp nhập. Những nghiên cứu này có giá trị tham khảo
quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý tưởng khi thực hiện nghiên
cứu đề tài luận án.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nhiều nghiên cứu trong nước được thực hiện trong thời gian qua đã
tập trung phân tích, phản ảnh về mua lại, sáp nhập; pháp luật về mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp, NHTM và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
luận án. Các công trình này đã phân tích và cung cấp thông tin về cơ sở lý
luận mua lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với doanh
nghiệp, công ty tài chính, ngân hàng; phân tích, phản ảnh tình hình hoạt
động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp và NHTM của một số quốc gia và
Việt Nam; phân tích và luận giải khung pháp lý, thực trạng pháp luật đối
với doanh nghiệp, ngân hàng nói chung và về mua lại, sáp nhập đối với
doanh nghiệp, NHTM nói riêng. Các nghiên cứu cũng phân tích và đề cập
đến hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế về kiểm
soát tập trung kinh tế, về thị trường chứng khoán; đưa ra quan điểm,
phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực
này. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã phân tích, đề cập, cung cấp thông tin
8


đa dạng về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam, đến tái cơ cấu kinh tế, tái
cấu trúc ngân hàng, cải cách thể chế, đưa ra mục tiêu, quan điểm, định
hướng chính sách, giải pháp cơ cấu lại các TCTD... Một số nghiên cứu đi
sâu phân tích về cơ sở lý luận, quy định pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM; kinh nghiệm quốc tế để xử lý ngân hàng yếu kém. Ngoài ra một số
nghiên cứu cũng đưa ra các đề xuất, khuyến nghị liên quan đến hoàn thiện
chính sách, pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân hàng.
1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết hoặc liên quan đến
nội dung nghiên cứu của đề tài luận án đã cung cấp cơ sở lý luận về mua
lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và
đối với NHTM nói riêng, làm cơ sở cho việc hệ thống hóa những vấn đề lý
luận liên quan đến đề tài luận án, giúp xây dựng khung pháp lý điều chỉnh
hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM. Những kinh nghiệm xử lý khủng
hoảng tài chính, tiền tệ của một số quốc gia, luật thực định đã được các tác
giả phân tích, viện dẫn, đưa ra những đánh giá, nhận xét, bình luận về vấn
đề nghiên cứu. Các đề xuất về quan điểm, phương hướng và các giải pháp
hoàn thiện pháp luật của các nghiên cứu có sự gắn kết với nội dung nghiên
cứu, có sự lý giải thấu đáo để hoàn thiện pháp luật.
Nhìn chung, nhiều công trình đã công bố ở trong và ngoài nước có
những đóng góp quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề lý luận,
thực tiễn, giúp hoàn thiện pháp luật mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam,
có thể tham khảo, kế thừa có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu của đề tài
luận án.
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1. Cơ sở lý thuyết: Một số lý thuyết được sử dụng trong luận
án như sau:
+ Lý thuyết về phát triển NHTM;
+ Lý thuyết về tổ chức và hoạt động của NHTM trên cơ sở lý thuyết
chung về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp;
+ Lý thuyết về hiệu quả trong hoạt động của tổ chức tín dụng;
+ Lý thuyết về M&A doanh nghiệp;

9


1.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp tiếp cận đa
ngành và liên ngành. Để giải quyết tốt các nội dung của nghiên cứu, luận án
sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp hệ thống hóa;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê;
- Phương pháp luật so sánh;
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp;
- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học;
- Phương pháp xử lý, phân tích thông tin, dữ liệu.
Ngoài ra, phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu của đề tài
luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và các
quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam, đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước theo yêu cầu xây
dựng nhà nước pháp quyền.

10


CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT
VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP VÀ
PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP
2.1.1. Mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
2.1.1.1. Quan niệm về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc
một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ
hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. Bên mua lại có quyền sở
hữu toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp và kiểm soát hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp được mua lại, đồng thời kế thừa các quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp tương ứng với việc mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của
doanh nghiệp bị mua lại.
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang
một doanh nghiệp khác và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp
nhập. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ kế thừa các quyền, lợi ích hợp pháp,
đồng thời chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ và cam kết của doanh nghiệp bị
sáp nhập.
2.1.1.2. Đặc điểm của mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Mua lại, sáp nhập doanh nghiệp có một số đặc điểm như sau:
(1) Đối tượng của hoạt động mua lại, sáp nhập là tài sản, quyền và
lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mục tiêu; (2) Thực hiện hoạt động mua
lại, sáp nhập theo nguyên tắc tự nguyện, đáp ứng quyền tự do kinh doanh
của các chủ thể; (3) Tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập được đặt ra
đối với một số loại hình doanh nghiệp; (4) Khi thực hiện mua lại, sáp
nhập phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định; (5) Phát sinh những
hệ quả pháp lý khi thực hiện mua lại, sáp nhập.
2.1.1.3. Các phương thức mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Tùy thuộc vào mục tiêu, cấu trúc sở hữu, đặc điểm quản trị, văn hóa
công ty sẽ có cách thức thực hiện mua lại, sáp nhập chủ yếu như: phương
thức thương lượng; phương thức thu gom cổ phiếu; phương thức chào mua
11


công khai cổ phiếu trên thị trường chứng khoán; phương thức lôi kéo cổ đông
bất mãn; phương thức mua lại tài sản.
2.1.2. Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
2.1.2.1. Khái niệm pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp được hiểu là tổng hợp
các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp.
2.1.2.2. Nội dung pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp cần đáp ứng vai trò là
điều kiện khung pháp lý để một giao dịch mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
được diễn ra trên thực tế và an toàn. Theo đó, pháp luật về mua lại, sáp
nhập doanh nghiệp bao gồm các nội dung chính: Thứ nhất, xác định nguyên
tắc pháp lý khi thực hiện mua lại, sáp nhập. Thứ hai, xác định điều kiện
mua lại, sáp nhập. Thứ ba, xác định trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập. Thứ
tư, xác định hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập. Thứ năm, xác định giải
quyết tranh chấp phát sinh khi mua lại, sáp nhập. Bên cạnh việc xác định
các nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với
doanh nghiệp, còn phải thực hiện nhiều quy định pháp luật khi thực hiện
mua lại, sáp nhập.
2.2. PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
2.2.1. Mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại được hiểu một cách khái quát như sau:
NHTM là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, được thực
hiện tất cả các hoạt động ngân hàng với nghiệp vụ thường xuyên là nhận
tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản cho
khách hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Những đặc điểm của NHTM được xác định là: Thứ nhất, hoạt động
ngân hàng có những đặc thù mà các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông
thường không có. Thứ hai, hoạt động của NHTM được kiểm soát nghiêm
ngặt và các quốc gia xây dựng cơ sở pháp lý chặt chẽ để các chủ thể ngân
hàng, các bên liên quan có cơ sở pháp lý thực hiện hoạt động ngân hàng và
buộc phải thực hiện trong khung pháp lý đó. Thứ ba, hoạt động ngân hàng
12


được yêu cầu phải liên tục, ổn định cao nhất so với các loại hình doanh
nghiệp khác. Thứ tư, hoạt động kinh doanh của NHTM tiềm ẩn nguy cơ rủi
ro cao hơn so với các loại hình kinh doanh khác. Thứ năm, các chủ thể hoạt
động ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt và chỉ khi nào
NHTM thỏa mãn đầy đủ những điều kiện nghiêm ngặt do pháp luật quy
định thì mới được cơ quan quản lý ngân hàng cho phép hoạt động trên thị
trường. Thứ sáu, sự tồn tại của NHTM phụ thuộc lớn vào sự tin tưởng của
khách hàng và khách hàng là điều kiện tiên quyết để ngân hàng tồn tại, phát
triển. Thứ bảy, các NHTM chịu sự ảnh hưởng dây chuyền với nhau. Thứ
tám, hoạt động ngân hàng có tính hợp tác và quốc tế sâu rộng.
2.2.1.2. Các đặc trưng cơ bản về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
Những đặc trưng cơ bản của hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM
được xác định như sau: Một là, NHTM thực hiện mua lại, sáp nhập với tư
cách là bên mua lại hoặc nhận sáp nhập với NHTM khác; các doanh nghiệp
khác trừ ngân hàng không được mua lại, nhận sáp nhập với chủ thể bên kia
là ngân hàng. Hai là, khi mua lại, sáp nhập NHTM trong tất cả các giai
đoạn trước, trong và sau khi thực hiện đều phải đáp ứng hoạt động ngân
hàng liên tục, ổn định, không ảnh hưởng đến quyền lợi người gửi tiền và
quyền, nghĩa vụ của các bên có liên quan. Ba là, trình tự, thủ tục khi thực
hiện mua lại, sáp nhập NHTM phức tạp hơn so với các loại hình doanh
nghiệp khác. Bốn là, khi thực hiện mua lại, sáp nhập MHTM trước tiên phải
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, sau đó mới tính đến
quyền lợi của bên thứ ba và quyền lợi của nhà nước. Năm là, thời điểm
chuyển giao quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp giữa các bên khi thực hiện
mua lại, sáp nhập NHTM có ý nghĩa quan trọng.
2.2.1.3. Bản chất pháp lý của mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
Bản chất pháp lý khi mua lại, sáp nhập NHTM chính là việc giành
quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua các hoạt động đầu tư, tổ chức lại
doanh nghiệp; việc chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
giữa các bên, đồng thời xác định tư cách pháp lý của các bên sau khi thực
hiện mua lại, sáp nhập.
2.2.1.4. Phương thức thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
13


Các phương thức thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cũng như đối
với các doanh nghiệp thông thường, đó là: thương lượng; chào mua, chào
bán cổ phiếu; thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán; lôi kéo cổ
đông bất mãn; mua lại tài sản doanh nghiệp.
2.2.2. Khái niệm pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
Pháp luật về mua lại và sáp nhập NHTM được hiểu là tổng hợp các
quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện mua lại, sáp
nhập NHTM.
2.2.3. Đặc điểm pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
Pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM có những đặc điểm: Một là,
ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy hoạt động mua lại, sáp
nhập NHTM được điều chỉnh bằng cả hệ thống luật chung và luật chuyên
ngành về ngân hàng. Khi xem xét hành vi mua lại, sáp nhập dưới mỗi góc
độ khác nhau thì hoạt động này chịu sự điều chỉnh của pháp luật phù hợp
với quan hệ xã hội cần điều chỉnh. Hai là, việc thành lập, hoạt động và tổ
chức lại ngân hàng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về ngân hàng.
Ba là, pháp luật chỉ cho phép NHTM được tiến hành mua lại, sáp nhập đối
với TCTD mà không cho phép TCTD mua lại, sáp nhập với NHTM. Bốn là,
để thực hiện hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM cần phải tuân theo những
tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác. Năm là,
trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt theo
các bước quy định của pháp luật, nhất là các yêu cầu về hồ sơ mua lại, sáp
nhập. Sáu là, quy định về thời điểm chuyển giao tài sản và thực hiện quyền,
nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên khi
thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Bảy là, quyền lợi và nghĩa vụ của các
tổ chức và cá nhân có liên quan khi mua lại, sáp nhập được pháp luật quy
định phải bảo đảm giải quyết triệt để. Tám là, để đảm bảo an toàn hệ thống,
đối với các NHTM yếu kém, có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng
thanh toán, pháp luật quy định cơ quan quản lý ngân hàng có quyền yêu cầu
NHTM đó phải thực hiện tái cơ cấu, buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại. Chín
là, ngân hàng sau mua lại, sáp nhập phải tuân thủ những chuẩn mực quốc
gia và tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn.
14


2.2.4. Những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua
lại, sáp nhập ngân hàng thương mại
Trên cơ sở lý thuyết chung về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp cùng
với những đặc thù của NHTM, mua lại, sáp nhập NHTM, pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM được xác định bao gồm các nội dung điều chỉnh chủ
yếu như sau:
2.2.4.1. Xác định tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập
Xác định tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập bao gồm các nội
dung: Thứ nhất, tiêu chuẩn, điều kiện về tập trung kinh tế khi thực hiện
mua lại, sáp nhập NHTM. Thứ hai, tiêu chuẩn, điều kiện về vốn, an toàn
vốn khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Thứ ba, tiêu chuẩn, điều kiện
về tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Thứ
tư, tiêu chuẩn, điều kiện về giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp của
người gửi tiền, người lao động khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM.
Thứ năm, tiêu chuẩn, điều kiện về phương án mua lại, sáp nhập và sự chấp
thuận phương án mua lại, sáp nhập của cơ quan quản lý có thẩm quyền
khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Căn cứ vào các tiêu chuẩn, điều
kiện thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM nêu trên, tiêu chuẩn, điều kiện
thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM được xác định trong trường hợp thực
hiện tự nguyện và bắt buộc.
2.2.4.2. Xác định trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập
Căn cứ vào việc mua lại, sáp nhập được thực hiện theo hình thức tự
nguyện hay bắt buộc để xác định trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập NHTM.
Ngoài ra, trong quá trình mua lại, sáp nhập, còn có nhiều trình tự, thủ tục
khác cần phải thực hiện liên quan đến mua lại, sáp nhập ngân hàng...
2.2.4.3. Xác định hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập
Khi thực hiện mua lại toàn bộ cổ phần hay tài sản và quyền, nghĩa vụ,
lợi ích hợp pháp của NHTM, hệ quả pháp lý của hoạt động mua lại NHTM
là NHTM bị mua lại trở thành chi nhánh trực thuộc của NHTM mua lại
hoặc sau khi mua lại có thể bị sáp nhập vào NHTM mua lại, hoặc NHTM bị
mua lại có thể được chuyển đổi hình thức pháp lý để trở thành công ty trực
thuộc bên mua lại. Kể từ thời điểm chuyển quyền sở hữu là ngày mua lại có
hiệu lực, được xác định trong văn bản chấp thuận mua lại do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định, trách nhiệm pháp lý về tài sản, quyền, nghĩa
15


vụ và lợi ích hợp pháp của bên bị mua lại sẽ do bên mua lại thực hiện. Đối
với giao dịch sáp nhập thì kể từ thời điểm chuyển quyền sở hữu là ngày sáp
nhập có hiệu lực, được xác định trong văn bản chấp thuận sáp nhập đối với
giao dịch sáp nhập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, trách
nhiệm pháp lý về tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của bên bị
sáp nhập sẽ do bên nhận sáp nhập thực hiện. Bên bị sáp nhập chấm dứt
pháp nhân. Về mặt pháp lý, pháp luật quy định NHTM mua lại, nhận sáp
nhập sẽ tiếp nhận, kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ pháp lý của NHTM bị
mua lại, bị sáp nhập.
2.2.4.4. Xác định giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập
Pháp luật xác định quy định giải quyết tranh chấp khi thực hiện mua
lại, sáp nhập bao gồm các nội dung:
- Xác định nội dung tranh chấp;
- Quy định về thời hiệu, thời hạn giải quyết tranh chấp;
- Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp;
- Quy định về phương thức giải quyết tranh chấp.

16


CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
3.1.1. Một số quy định chung điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập
Khung pháp lý liên quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập ở Việt
Nam được quy định tại nhiều văn bản luật khác nhau như: Bộ luật dân sự,
Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật cạnh tranh, Luật chứng khoán, Luật
sở hữu trí tuệ, Luật thuế, Luật kế toán, Bộ Luật lao động, Luật đất đai, Luật
NHNN, Luật các TCTD... Bên cạnh hệ thống các quy định pháp luật của
Việt Nam, hoạt động mua lại, sáp nhập phải tuân theo các thoả thuận, hiệp
ước song phương và đa phương như các cam kết của Việt Nam gia nhập
WTO, các quy định trong Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, các
Hiệp định ASEAN... Mỗi văn bản luật trên chi phối hay điều chỉnh các vấn
đề khác nhau liên quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập.
3.1.2. Quy định pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại
3.1.2.1. Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập
Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập bao gồm: Quy
định tiêu chuẩn, điều kiện về tập trung kinh tế khi thực hiện mua lại, sáp
nhập NHTM. Quy định tiêu chuẩn, điều kiện về vốn, an toàn vốn khi thực
hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Quy định tiêu chuẩn, điều kiện về tỷ lệ sở
hữu vốn cổ phần khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Quy định tiêu
chuẩn, điều kiện về giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền,
người lao động khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Quy định tiêu
chuẩn, điều kiện về phương án mua lại, sáp nhập và sự chấp thuận phương
án mua lại, sáp nhập của cơ quan quản lý có thẩm quyền khi thực hiện mua
lại, sáp nhập NHTM. Quy định tiêu chuẩn, điều kiện thực hiện mua lại, sáp
nhập NHTM trong trường hợp thực hiện tự nguyện và bắt buộc.
3.1.2.2. Quy định về trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập
Quy định về trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập gồm các nội dung
chính như sau: Thủ tục xây dựng đề án mua lại, sáp nhập, hợp đồng mua
lại, sáp nhập, điều lệ TCTD nhận sáp nhập. Thủ tục thực hiện quy định về
tập trung kinh tế. Thủ tục để chấp thuận nguyên tắc việc mua lại, sáp nhập
17


TCTD. Thủ tục chấp thuận mua lại, sáp nhập. Thủ tục về đăng ký kinh
doanh; đăng bố cáo.
3.1.2.3. Quy định về hệ quả pháp lý khi mua lại và sáp nhập
Quy định về hệ quả pháp lý khi mua lại và sáp nhập bao gồm: Quy
định về tổ chức hoạt động của NHTM sau mua lại, sáp nhập. Quy định về
quyền chủ nợ của NHTM bị mua lại, bị sáp nhập đối với các khoản cấp tín
dụng, khoản đầu tư vào trái phiếu, tín phiếu, chứng khoán nợ khác. Quy định
về quyền cổ đông, chủ sở hữu của NHTM bị mua lại, bị sáp nhập đối với các
khoản góp vốn, mua cổ phần. Quy định về quyền sở hữu đối với các tài sản
của NHTM bị mua lại, bị sáp nhập. Quy định về các nghĩa vụ nợ đối với
khoản vay, tiền gửi dưới mọi hình thức của NHTM bị mua lại, bị sáp nhập.
3.1.2.4. Quy định về giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập
Quy định về giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập bao gồm: Xác
định nội dung tranh chấp. Quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Quy
định thời hiệu, thời hạn giải quyết tranh chấp. Quy định phương thức giải
quyết tranh chấp. Bên cạnh các quy định của pháp luật điều chỉnh chủ yếu
về mua lại, sáp nhập NHTM nêu trên, pháp luật còn có những quy định
khác để điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM.
3.1.3. Đánh giá pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại
Pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM tuy mới hình thành trong thời
gian gần đây nhưng đã đặt nền móng để điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp
nhập NHTM ở Việt Nam. Những văn bản pháp luật được ban hành có vai
trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến mua
lại, sáp nhập NHTM. Pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam đã
được từng bước hoàn thiện, phục vụ cho mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, tái
cấu trúc hệ thống ngân hàng. Các quy định của pháp luật hiện hành đã giúp
các NHTM chủ động thực hiện mua lại, sáp nhập phù hợp với định hướng,
chiến lược phát triển của ngân hàng, đồng thời có cơ sở pháp lý để tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng, can thiệp, xử lý các NHTM yếu kém thông qua
buộc mua lại, sáp nhập nhằm tránh đổ vỡ hệ thống ngân hàng, tài chính,
tiền tệ quốc gia.
Bên cạnh những thành công mang lại, pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM ở Việt Nam còn có một số tồn tại, hạn chế như khung pháp lý điều
chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập nói chung còn thiếu và chưa cụ thể; khung
pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM còn nhiều bất cập. Văn
bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động mua lại, sáp nhập
18


NHTM có nhiều hạn chế. Trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập NHTM còn phức
tạp, rườm rà. Chưa có văn bản pháp luật quy định về quy trình tiếp nhận, xử lý
các TCTD yếu kém...
3.2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI,
SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
3.2.1. Một số trường hợp thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
Đề tài luận án nghiên cứu hai trường hợp mua lại, sáp nhập NHTM đã
thực hiện từ năm 2010 trở lại đây, đó là: Trường hợp NHTM cổ phần Nhà Hà
Nội sáp nhập vào NHTM cổ phần Sài Gòn-Hà Nội; Trường hợp NHNN mua
lại bắt buộc NHTM cổ phần Xây dựng Việt Nam. Để đưa ra được nhận xét,
đánh giá, luận án phân tích, luận giải thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại,
sáp nhập NHTM trên các khía cạnh về: tiêu chuẩn, điều kiện thực hiện mua
lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại,
sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập.
3.2.2. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại
Các trường hợp mua lại, sáp nhập NHTM thực hiện tự nguyện đều
theo lộ trình tái cơ cấu ngân hàng của NHNN và định hướng phát triển của
các NHTM. Các trường hợp này cơ bản đều tuân thủ quy định về nguyên
tắc mua lại, sáp nhập; các hình thức mua lại, sáp nhập; bố cáo mua lại, sáp
nhập; điều kiện để được mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp
nhập; hồ sơ đề nghị mua lại, sáp nhập; đề án mua lại, sáp nhập theo quy
định hiện hành về việc mua lại, sáp nhập TCTD. Hợp đồng mua lại, sáp
nhập đã được soạn thảo chặt chẽ. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
liên quan đến mua lại, sáp nhập đã hỗ trợ tích cực cho các NHTM trong
quá trình mua lại, sáp nhập. Bên cạnh những mặt được, còn có một số
hạn chế, tồn tại như việc công bố thông tin khi NHNN buộc mua lại, sáp
nhập NHTM yếu kém còn chưa kịp thời, không đầy đủ và liên tục đã gây ra
những tranh luận không cần thiết đối với xã hội. Một số nội dung pháp lý
sau khi mua lại, sáp nhập NHTM chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Xét
trên góc độ pháp luật thì đã có căn cứ pháp lý để NHNN mua lại bắt buộc
đối với các ngân hàng yếu kém. Tuy nhiên cách thức mua lại còn chưa có
cơ sở pháp lý vững chắc, có những cách hiểu khác nhau còn gây nhiều tranh
cãi, tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro về mặt pháp lý và có thể dẫn đến tranh
chấp, khiếu kiện.
19


CHƯƠNG 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA
LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Phương hướng hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt
Nam được xác định dựa trên một số yêu cầu chính sau đây:
4.1.1. Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu về mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu tạo hành lang pháp lý khi thực
hiện mua lại, sáp nhập doanh nghiệp bao gồm các nội dung: Thứ nhất, pháp
luật về mua lại, sáp nhập phải đáp ứng yêu cầu về tính thống nhất, đồng bộ,
minh bạch và hiệu quả trong hệ thống pháp luật, phù hợp với những cam
kết quốc tế của các quốc gia thành viên. Thứ hai, pháp luật về mua lại, sáp
nhập phải rõ ràng, thông suốt, đúng đắn. Các quy phạm pháp luật phải mang
tính hệ thống, nhất quán, chặt chẽ, tránh trùng lắp và mâu thuẫn. Pháp luật về
mua lại, sáp nhập phải tạo ra hành lang pháp lý bình đẳng cho các chủ thể để
có thể tham gia vào các quan hệ pháp lý khi thực hiện mua lại, sáp nhập...
Thứ ba, văn bản pháp luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp
nhập đối với một số loại hình doanh nghiệp cần được bổ sung những quy
định về nội dung bên cạnh quy định về mặt thủ tục. Thứ tư, các văn bản
pháp luật điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập cần được xây dựng sao
cho vừa mang tính phù hợp thực tiễn, vừa phải có tính dự liệu để đảm bảo
điều chỉnh linh hoạt các hoạt động này.
4.1.2. Hoàn thiện pháp luật đáp ứng các yêu cầu về mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng các yêu cầu về mua lại, sáp nhập
NHTM bao gồm các nội dung: Thứ nhất, pháp luật mua lại, sáp nhập
NHTM cần được hoàn thiện theo hướng đảm bảo nguyên tắc không để xảy
ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của nhà
nước. Thứ hai, pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM phải tạo môi trường
thuận lợi, ổn định cho hoạt động mua bán, sáp nhập và tổ chức lại doanh
nghiệp. Thứ ba, xây dựng khung pháp lý về mua lại, sáp nhập NHTM cần
20


chuyên biệt, rõ ràng và đầy đủ. Thứ tư, xây dựng khung pháp lý để nhà
nước, các chủ thể ngân hàng và các bên liên quan có căn cứ thực hiện, đồng
thời buộc phải thực hiện trong khung pháp lý đó; tạo cơ sở pháp lý giúp các
ngân hàng hoạt động có hiệu quả, không bị thâu tóm trong quá trình kinh
doanh, đáp ứng quyền tự do kinh doanh của các chủ thể ngân hàng.
4.1.3. Hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập đáp ứng các yêu
cầu của nền kinh tế trị trường
Để khắc phục những hạn chế và thích ứng với nền kinh tế thị trường,
những giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
cần được xây dựng trên một số cơ sở: Thứ nhất, pháp luật về mua lại, sáp
nhập doanh nghiệp phải bảo đảm để thị trường hoạt động theo các quy luật
của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu. Thứ hai,
trong nền kinh tế thị trường, nhà nước chỉ kiểm soát hoạt động mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp khi hoạt động đó có khả năng gây hạn chế cạnh
tranh trên thị trường thông qua việc ban hành và thực thi pháp luật cạnh
tranh. Thứ ba, khắc phục những mặt trái và giảm thiểu những tác động của
kinh tế thị trường khi hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập.
4.1.4. Hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại đáp ứng các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Việc hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập phải đảm bảo được
các mục tiêu sau đây: Tạo môi trường thuận lợi, ổn định cho hoạt động
mua bán, sáp nhập và tổ chức lại doanh nghiệp; nâng cao hiệu quả khai
thác, sử dụng vốn và các nguồn lực khác của đất nước nhằm thực hiện chủ
trương tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; tạo hành lang
pháp lý để thu hút vốn từ nước ngoài thông qua hoạt động mua lại, sáp nhập
và tổ chức lại doanh nghiệp; bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, bảo đảm
ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát hiệu quả của nhà nước đối với nền kinh
tế và hệ thống ngân hàng; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, phát huy
tính cạnh tranh của các thành phần kinh tế.
4.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA
LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
4.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định về mua lại, sáp
nhập
Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về mua lại, sáp
nhập bao gồm các nội dung sau: Một là, sửa đổi, bổ sung hình thức pháp lý
21


về mua lại, sáp nhập để thống nhất giữa các luật điều chỉnh; sửa đổi, bổ
sung các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục, hệ quả pháp lý
và giải quyết tranh chấp khi thực hiện mua lại, sáp nhập; sửa đổi, bổ sung
các quy định về về cơ sở pháp lý cho việc Nhà nước được quyền mua lại
bắt buộc NHTM yếu kém. Hai là, hoàn thiện các quy định giới hạn về mức
độ tập trung kinh tế của pháp luật cạnh tranh. Ba là, xây dựng Nghị định
quy định chi tiết Luật doanh nghiệp có nội dung tổ chức lại doanh nghiệp.
Bốn là, hoàn thiện Thông tư điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập tổ chức
tín dụng. Năm là, bổ sung một số quy định cụ thể khi giao dịch mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại được xác lập. Sáu là, quy định về lộ trình thực
hiện quy định về tỷ lệ an toàn, nợ xấu, sở hữu chéo khi thực hiện mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại. Bảy là, bổ sung quy định về cơ quan giám
sát khi mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại. Tám là, quy định chặt chẽ
về công bố thông tin khi mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại. Chín là,
quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân
hàng thương mại trong nước, đặc biệt khi xử lý ngân hàng thương mại yếu
kém phục vụ mục tiêu tái cơ cấu ngân hàng. Mười là, hoàn thiện các quy
định của pháp luật để bảo vệ người gửi tiền khi ngân hàng thương mại bị
mua lại, sáp nhập.
4.2.2. Nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về mua lại,
sáp nhập
Để thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM một cách hiệu
quả, một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật được kiến nghị: Một là,
đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát của NHNN. Hai là, nâng cao hiệu
quả hoạt động của cơ quan, tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực ngân
hàng và mua lại, sáp nhập NHTM. Ba là, tăng cường và đổi mới nội dung
công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, cung cấp kiến thức về mua lại,
sáp nhập NHTM. Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi
hành pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM.

22


KẾT LUẬN
Thứ nhất, ngân hàng thương mại có những đặc điểm riêng biệt so với
các doanh nghiệp thông thường. Ngân hàng thương mại mặc dù có bản chất
là doanh nghiệp nhưng việc thành lập, hoạt động và tổ chức lại ngân hàng
chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về ngân hàng. Việc nghiên cứu để
phát hiện chính xác và đầy đủ các đặc thù của ngân hàng thương mại sẽ giúp
xây dựng được một cơ chế pháp lý hiệu quả để giải quyết những vấn đề phát
sinh khi thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại.
Thứ hai, việc mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại chịu sự điều
chỉnh của nhiều quy định pháp luật khác nhau, thể hiện sự đa dạng của pháp
luật điều chỉnh dưới từng khía cạnh, góc độ, phù hợp với bản chất quan hệ
của pháp luật cần điều chỉnh. Với những đặc thù của ngân hàng thương mại,
của hoạt động mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại, nên ngoài việc sử
dụng khung pháp lý như đối với các doanh nghiệp thông thường khi thực
hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại, pháp luật về mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại có những điều chỉnh riêng so với các loại hình
doanh nghiệp khác.
Thứ ba, những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại được xác định bao gồm: tiêu chuẩn, điều
kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý
khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Ngoài
ra, còn có nhiều quan hệ xã hội khác phát sinh khi thực hiện mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại cần phải có pháp luật điều chỉnh.
Thứ tư, pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt
Nam liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Luật các tổ chức tín
dụng là luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đến việc thành lập, hoạt
động và tổ chức lại ngân hàng thương mại, đồng thời được đặt trong mối
quan hệ với các luật khác khi các giải quyết các vấn đề liên quan đến việc
mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại.
Thứ năm, bên cạnh những thành công mang lại, pháp luật về mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn có một số tồn tại, hạn chế
như khung pháp lý còn thiếu, chưa cụ thể và chặt chẽ, còn có những khoảng
trống pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi thực hiện mua
lại, sáp nhập; chưa tạo được cơ sở pháp lý vững chắc để thúc đẩy hoạt động
này. Trong quá trình thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại thời
23


gian qua, đã có nhiều bất cập nảy sinh, trong đó có những vấn đề liên quan
đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết.
Thứ sáu, điều chỉnh pháp lý về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương
mại bao gồm nhiều nội dung. Trên cơ sở một số vấn đề cốt lõi về phương
diện pháp lý đã được nghiên cứu theo hướng tiếp cận của đề tài luận án, còn
có nhiều vấn đề pháp lý khác cần được tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu trong
lĩnh vực này như: định giá ngân hàng; thực hiện lãi suất tiền gửi, lãi suất, phí
cấp tín dụng; hợp đồng mua lại, sáp nhập; hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn;
mức độ tương thích của các chính sách, pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân
hàng thương mại ở Việt Nam so với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế, trong
các Hiệp định thương mại tự do và các điều ước quốc tế liên quan; những
nguy cơ, rủi ro về mặt pháp lý khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM.
Thứ bảy, khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập
ngân hàng thương mại phải chú ý đến những đặc thù của ngân hàng thương
mại, của hoạt động mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại. Để nâng cao
hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với việc thành lập, hoạt động và tổ chức
lại ngân hàng thương mại nói chung và việc mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại nói riêng cần phải hoàn thiện đồng bộ các đạo luật có liên quan.
Các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật cần đảm bảo nguyên tắc không để
xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hệ thống ngân hàng, tài chính, tiền tệ quốc gia,
đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Pháp luật cần bổ sung việc quy định một cơ
quan giám sát độc lập quá trình mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại để
đảm bảo sự chặt chẽ và tính khách quan khi thực hiện.

24



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×