Tải bản đầy đủ

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI QUA BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC - THỰC TẾ Ở LẠNG SƠN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

ĐÀO THỊ HỒNG DUYÊN

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI QUA BIÊN GIỚI
GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
- THỰC TẾ Ở LẠNG SƠN
Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số
: 60 31 07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.LÊ KIM SA

Hà Nội – Năm 2010


MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng có nét tương đồng về kinh tế văn hoá xã
hội. Từ khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ năm 1991 tới nay, quan hệ thương
mại qua biên giới giữa hai nước đã không ngừng phát triển góp phần quan trọng không chỉ đối với
sự phát triển kinh tế của các tỉnh vùng núi phía Bắc, trong đó có Lạng Sơn mà còn là đòi hỏi tất yếu
trong quá trình mở rộng và phát triển kinh tế hai nước trong bối cảnh Việt Nam hội nhập WTO và
Trung Quốc đang trên con đường trở thành một trong những quốc gia phát triển nhất thế giới.
Buôn bán qua biên giới có tác động tương hỗ, thúc đẩy các hoạt động kinh tế phát triển cụ
thể như là thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn, công nghiệp và xây dựng, thúc đẩy cơ sở hạ
tầng vùng biên giới, mở rộng các hoạt động du lịch…
Quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc tác động tới sự phát triển
kinh tế văn hóa và xã hội khu vực phía Bắc, nó làm tăng ngân sách nhà nước trên từng địa bàn, góp
phần thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế, giảm bớt những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, tạo
điều kiện cho các cặp địa phương cải thiện tình hình kinh tế xã hội cơ bản, thúc đẩy sự ra đời của
một số trung tâm kinh tế quan trọng, đời sống nhân dân các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc được
cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân.
Sự giao lưu về kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc đã góp phần thúc đẩy và tăng cường
tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, tạo điều kiện giữ gìn an ninh biên giới.
Buôn bán giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc thông qua các tỉnh biên giới trong
đó có Lạng Sơn có ý nghĩa hết sức quan trọng vì tính bổ sung của hai bên có thể phát huy được
những thế mạnh cũng như hạn chế được những điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam trong chiến
lược phát triển kinh tế tốt hơn.
Tuy nhiên quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc chưa tương
xứng với tiềm năng sẵn có của hai nước. Vấn đề đặt ra là tìm kiếm những giải pháp khả thi nhằm
thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc nói chung và tại
tỉnh Lạng Sơn nói riêng. Xuất phát từ lý do trên tôi đã chọn đề tài “Quan hệ thương mại qua biên
giới giữa Việt Nam và Trung Quốc – Thực tế ở Lạng Sơn” làm luận văn tốt nghiệp.
2.Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến quan hệ thương
mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc:
1) “Buôn bán qua biên giới Việt Trung Lịch sử - Hiện trạng - Triển vọng” của Nguyễn Minh
Hằng chủ biên – NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội năm 2001. Tác giả đã trình bày quá trình buôn bán qua

1


biên giới Việt Trung trong lịch sử, phân tích và đánh giá những mặt được và chưa được của buôn bán qua
biên giới Việt Trung từ khi hai nước bình thường hoá đến nay và triển vọng của nó.
2) “Các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt - Trung và tác động của nó tới sự phát triển
kinh tế hàng hoá ở Việt Nam” của Phạm Văn Linh – NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội năm 2001.

Tác giả đã phân tích vị trí, tầm quan trọng của khu kinh tế cửa khẩu trong quá trình phát triển kinh
tế hàng hoá, hội nhập và mở cửa kinh tế, thực trạng quá trình hình thành, phát triển và tác động của
bốn khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt Trung đã được phép thành lập (Lạng Sơn, Quảng Ninh,
Cao Bằng và Lào Cai), trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
tác dụng tích cực của mô hình kinh tế mới này.
3) “Khuyến khích đầu tư – thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam” của
Nguyễn Mạnh Hùng – NXB Thống kê, Hà Nội năm 2000. Tác giả phân tích một số vấn đề lý luận,
phương pháp luận, tình hình thực tế và chính sách đầu tư, thương mại các khu kinh tế cửa khẩu
Việt Nam và góp phần vào công tác quy hoạch, xây dựng các kế hoạch hanh động tích cực.
4) “Nghiên cứu về tình hình buôn bán biên giới ở vùng Tây Bắc Việt Nam” của PGS.TS
Đỗ Tiến Sâm và Th.s Hà Thị Hồng Vân, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội năm 2007. Các
tác giả nghiên cứu về thực trạng phát triển kinh tế xã hội nói chung và hoạt động thương mại qua
biên giới nói riêng, sau đó nêu lên một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội ở 4
tỉnh thuộc vùng Tây Bắc bao gồm Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Hoà Bình.
5) “Quan hệ kinh tế - Thương mại cửa khẩu biên giới Việt – Trung với việc phát triển kinh
tế hàng hóa ở các tỉnh vùng núi phía Bắc” do PTS. Phạm Văn Linh chủ biên – NXB Thống kê, Hà
Nội năm 1999. Tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò và tiềm năng kinh tế của các cửa khẩu biên giới Việt
Trung, phân tích sự tác động qua lại giữa các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ thương mại ở các cửa
khẩu đối với việc phát triển kinh tế hàng hoá, tìm ra giải pháp thích hợp nhằm mở rộng thị trường,
tăng cường trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu biên giới, tạo đà cho việc đẩy mạnh công cuộc
CNH – HĐH ở khu vực này.
6) “Thực trạng buôn bán hàng hoá và những giải pháp chống buôn lậu hàng hoá qua biên
giới phía Bắc từ thực tiễn Lạng Sơn” của NCS Lương Đăng Ninh, Ủy ban nhân dân Tỉnh Lạng
Sơn, Bộ Thương mại năm 2001. Tác giả đã nghiên cứu về hoạt động buôn bán hàng hoá nói chung
và hoạt động buôn lậu hàng hoá nói riêng giữa Việt Nam và Trung Quốc thông qua các cửa khẩu
của các tỉnh biên giới phía Bắc từ đó đưa ra các giải pháp để chống buôn lậu.
7) “Thương mại Việt Nam – Trung Quốc hiện trạng và triển vọng”, đề tài cấp viện Lê Tuấn
Thanh, Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc Gia, năm 2003. Tác giả đã nghiên cứu tình
hình phát triển kinh tế, thương mại trong nội bộ của hai nước sau đó tác giả đưa ra cái nhìn tổng
quan về triển vọng cho thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong tương lai.
8) “Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc từ khi bình thường hóa quan hệ
đến nay”, đề tài cấp Viện: của Lê Tuấn Thanh – Phòng Nghiên cứu Quan hệ Việt – Trung, Hà Nội

2


năm 2006. Tác giả đã tìm hiểu đặc điểm các giao dịch của quan hệ kinh tế thương mại song
phương. Trong thời gian từ khi bình thường hóa đến năm 2005. Đồng thời, cũng phân tích những
nhân tố gây trở ngại tiến trình khai thác kinh tế, thương mại song phương và tìm hiểu mối quan hệ
song phương trong thời gian tới thông qua việc hai nước sẽ là thành viên của ACFTA.
9) “Đổi mới tổ chức quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu và mua bán, trao đổi hàng hóa ở
khu vực biên giới của các tỉnh biên giới phía Bắc từ thực tiễn Lạng Sơn”, đề tài cấp bộ của Nghiên
cứu sinh Lương Đăng Ninh, Lạng Sơn năm 2000. Tác giả đã đưa ra những cơ sở khoa học để đổi
mới tổ chức quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu và mua bán trao đổi hàng hóa ở khu vực biên
giới của các tỉnh phía Bắc. Đồng thời đề xuất, kiến nghị với một số phương hướng nhằm đổi mới
tính chất quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu và mua bán trao đổi hàng hóa.
Ngoài ra, cũng có một số bài viết nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ thương mại qua
biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành nhỏ:
“Quan hệ Thương mại Việt – Trung từ năm 1991 - nay” của Phạm Cao Phong (2000), Tạp
chí nghiên cứu Trung Quốc, (2), “Mấy suy nghĩ về vấn đề: Nâng cao quản lý nhà nước về quanh hệ
Mậu dịch qua biên giới Việt – Trung ở Lạng Sơn” của Nông Tiến Phong (1999), Tạp chí nghiên cứu
Trung Quốc, (4), “Hội chợ giao dịch hàng hoá biên giới Trung - Việt sẽ được tổ chức vào tháng 10”,
Đại Sứ Quán Trung Quốc (2003), Bản tin Trung Quốc, (9). “Cuộc hội thảo kinh tế thương mại Trung
- Việt khai mạc tại Bắc Kinh), Đại Sứ Quán Trung Quốc (2003), Bản tin Trung Quốc, (10,11), Hiệp
định hợp tác “ Hội nghị Uỷ ban hợp tác kinh tế - thương mại Chính phủ hai nước Trung - Việt lần thứ
năm tổ chức tại Hà Nội”, Đại Sứ Quán Trung Quốc (2005), Bản tin Trung Quốc…
Tuy vậy, đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ có
hệ thống cả về lý luận và thực tiễn quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung
Quốc – Thực tế ở Lạng Sơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ thực trạng quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung
Quốc, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để thúc đẩy quan hệ thương mại qua biên giới này giữa
Việt Nam và Trung Quốc tại tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Nhiệm vụ của nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở khoa học của quan hệ thương mại qua biên giới.
- Phân tích thực trạng quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam
và Trung Quốc nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng.

3


4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc thực tế tại tỉnh Lạng Sơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hoá qua biên giới giữa Việt Nam và Trung
Quốc từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ từ năm 1991 tới nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
phương pháp tổng hợp, diễn dịch.
- Phương pháp thống kê sử dụng để phân tích số liệu.
- Khảo sát thực tế.
6. Những đóng góp của Luận văn
- Hệ thống hoá một số lý luận về quan hệ thương mại qua biên giới, phân tích sự cần thiết
của quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Phân tích làm rõ thực trạng về quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung
Quốc – Thực tế ở Lạng Sơn.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển về quan hệ thương mại qua biên giới
giữa Việt Nam và Trung Quốc nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
7. Bố cục của Luận văn: Gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương mại qua biên giới
Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại qua biên giới Việt Nam và Trung Quốc - Thực
tế ở Lạng Sơn
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc nói
chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng.

4


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI QUA BIÊN GIỚI
1.1. Khái niệm, đặc trưng và hình thức của quan hệ thương mại qua biên giới
1.1.1. Khái niệm thương mại qua biên giới
Quan hệ thương mại qua biên giới là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các nước liền nhau
có chung đường biên giới, nó là hình thức mở đầu của buôn bán trao đổi quốc tế và là bộ phận quan
trọng của hoạt động ngoại thương của mỗi nước.
1.1.2. Lý thuyết thương mại quốc tế
Hệ thống hóa các lý luận liên quan đến thương mại quốc tế bao gồm các lý thuyết cổ điển
như lý thuyết của chủ nghĩa Trọng thương, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lý thuyết về
lợi thế tương đối của David Ricardo, lý thuyết Heksher – Ohlin; các lý thuyết hiện đại như lý thuyết
về chu kỳ sống quốc tế của các sản phẩm, lý thuyết về đầu tư. Mặc dù các lý thuyết có sự lý giải về
thương mại quốc tế ở nhiều góc độ và thời điểm khác nhau nhưng tựu chung lại đều chỉ ra con đường
dẫn tới thương mại quốc tế và tầm quan trọng của nó đối với nền kinh tế của một quốc gia.
1.1.3. Đặc trưng của quan hệ thương mại qua biên giới
Khu vực biên giới của hai nước đều cách xa trung tâm kinh tế - chính trị của nước mình, có
nhiều khu hành chính phân cách, dân cư sống ở khu vực này có hoàn cảnh văn hóa, xã hội tương tự
nhau. Tính khác biệt về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới với các nước láng giềng
quyết định tính đa dạng, mô thức phát triển từng khu vực có tính đặc thù. Quan hệ thương mại qua
biên giới có tính chất bổ sung, là quá trình hợp tác và giao lưu kinh tế quốc gia có chủ quyền trên
nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, hai bên cùng có lợi, ngoài trao đổi hàng hóa ra còn tạo
điều kiện để trao đổi các yếu tố sản xuất.
1.1.4. Hình thức của quan hệ thương mại qua biên giới
Thứ nhất, thương mại tiểu ngạch biên giới
Thứ hai, địa phương khu vực biên giới hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hóa ở nơi nối liền
giữa hai nước đã được Chính phủ phê chuẩn.
1.2. Vai trò của quan hệ thương mại qua biên giới
Thương mại quốc tế là tất yếu khách quan tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất trong nền sản
xuất của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới.

5


1.2.1.Vai trò đối với Trung Quốc
Các tỉnh có đường biên giới giàu lên.
Việt Nam không những là thị trường có 86 triệu dân mà còn là cầu nối với cả thị trường
Đông Nam Á về đường bộ cũng như đường biển.
Làm cho nhiều lĩnh vực khác phát triển cụ thể như lĩnh vực du lịch, và các ngành bổ trợ
cho lĩnh vực này cũng phát triển từ đó đem lại lợi ích kinh tế cao.
Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động xã hội.
1.2.2. Vai trò đối với Việt Nam
a) Thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn
b) Thúc đẩy phát triển công nghiệp và xây dựng
c) Thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng vùng biên giới
d) Về thu ngân sách trên địa bàn
e) Đời sống vật chất và tinh thần nhân dân các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc được cải
thiện rõ rệt
1.3. Chính sách biên mậu của hai nước Việt Nam và Trung Quốc
1.3.1. Chính sách biên mậu của Trung Quốc
Chính sách biên mậu của Trung Quốc đã được quy định tại thông báo số 2 năm 1996 của
Quốc vụ viện Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến thương mại biên giới, nội dung chủ yếu là:
- Tăng cường tính tự chủ cho các doanh nghiệp
- Tăng cường tự chủ cho các tỉnh biên giới thông qua quyền tự trị dân tộc
- Mọi hoạt động thương mại biên giới được chỉ đạo tập trung, thống nhất vào một cơ quan
đầu mối là “Ban biên mậu” có đầy đủ quyền hạn để quản lý.
Ở Quảng Tây, nhà nước Trung Quốc đã phê chuẩn một loạt chương trình như sau:
+ Thành lập khu kinh tế mở Tả Giang.
+ Thành lập khu kinh tế mở vòng cung.
+ Phê chuẩn cho Quảng Tây mở 25 điểm biên mậu ven biên giới, có 9 điểm tiếp giáp với
Lạng Sơn (không tính hai cửa khẩu quốc tế) còn lại tiếp giáp với tỉnh Quảng Ninh và Cao Bằng…

6


+ Xây dựng các trung tâm thương mại ra sát mốc đường biên, gần như các điểm mậu dịch
biên giới, thị xã, thị trấn.
Đối với tỉnh Vân Nam: Thực hiện chính sách biên mậu diễn ra theo phương châm “lấy mậu
dịch làm điểm sáng vùng biên” thúc đẩy kinh tế vùng biên giới, tỉnh đề ra một số quy định như:
+ Hợp tác đầu tư tại Hà Khẩu.
+ Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài có số vốn: nước ngoài 3 triệu USD, trong nước 30
triệu NDT, Chính phủ phê chuẩn sau 5 ngày.
+ Các nhà đầu tư nước ngoài áp dụng phương thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
+ Các nhà đầu tư nước ngoài tại Hà Khẩu trong ba năm đầu được miễn các loại thuế, từ
năm thứ tư được hưởng giảm thuế các loại, trong thời gian 10 năm, các khoản thu hợp pháp nhà
đầu tư nước ngoài được mang tiền xuất cảnh.
+ Những đơn vị đầu tư nước ngoài đã được tham gia mậu dịch tiểu ngạch biên giới và được
hưởng chính sách ưu đãi.
Tuy nhiên cho đến nay, chính sách biên mậu của Trung Quốc có nhiều thay đổi, đặc biệt là
từ khi gia nhập WTO.
1.3.2. Chính sách của Việt Nam về quan hệ thương mại cửa khẩu biên giới
Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết hơn 30 Hiệp định và văn bản thỏa thuận,
trong đó có 13 Hiệp định về kinh tế thương mại hoặc có liên quan đến kinh tế thương mại.
Năm 1994, Bộ Thương mại Việt Nam đã ban hành quy chế 1064 TM/PC ngày 18/8/1994
về kinh doanh theo hình thức chuyển khẩu và quy chế tạm nhập để tái xuất, quyết định số
80/TM/XNK ngày 25/6/1994 về hàng hóa của cộng hòa nhân dân Trung Hoa quá cảnh lãnh thổ
Việt Nam.
Để tạo điều kiện cho quan hệ thương mại Việt – Trung phát triển thuận lợi, khuyến khích
xuất khẩu, quản lý tốt nhập khẩu, chống buôn lậu góp phần ổn định tiền tệ biên giới nói riêng và cả
nước nói chung, ngày 07/11/1991 Chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp định Thương mại với Chính phủ
Trung Quốc. Ngày 26/5/1993 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
đã ký hiệp định thanh toán và hợp tác để hướng dẫn thi hành Hiệp định thương mại.
Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành rất nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trực
tiếp như chủ động tham đàm phán các hiệp định và thỏa thuận kinh tế, thương mại đa phương và
song phương.

7


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI QUA BIÊN GIỚI VIỆT NAM
VÀ TRUNG QUỐC – THỰC TẾ Ở LẠNG SƠN
2.1. Tổng quan về quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc
Giai đoạn trước khi bình thường hóa
Ở giai đoạn đầu tiên khi hai nước mới thiết lập quan hệ ngoại giao vào những năm 1950,
đã có mối quan hệ thương mại song phương dựa trên cơ sở những hiệp định thương mại song
phương được ký kết bởi Chính phủ hai nước.
Cuối những năm 1980 tình hình quốc tế và khu vực có sự thay đổi, Chính phủ hai nước đã
có một số thay đổi khiến cho quan hệ thương mại giữa hai nước đạt tới hai bên cùng có lợi. Vì vậy
buôn bán qua biên giới giữa hai nước đã có cơ hội phát triển, kim ngạch buôn bán qua biên giới
không ngừng được tăng lên.
Giai đoạn từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991 đến nay
Từ năm 1991 đến năm 1995 nhìn chung trao đổi thương mại song phương, Việt Nam thường
xuất siêu ở phần chính ngạch, ngược lại luôn nhập siêu ở phần tiểu ngạch.
Tuy nhiên đến năm 1998 thì quan hệ thương mại giữa hai nước bị ảnh hưởng bởi cuộc
khủng hoảng tài chính Châu Á, do vậy thương mại giữa hai nước giảm mạnh. Tuy vậy bước sang
năm 1999 thì thương mại song phương đã có sự hồi phục dần và ngày càng tăng mạnh.
Năm 2001, Trung Quốc đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Với những nguyên
tắc gia nhập WTO, Trung Quốc bắt buộc phải tiến tới xóa bỏ bớt một số ưu đãi về thương mại cho
những tỉnh vùng biên. Tuy nhiên quan hệ thương mại giữa hai nước không vì vậy mà giảm đi, trái
lại càng ngày càng phát triển hơn.
Từ năm 2007 đến nay, mặc dầu nền kinh tế thế giới bị suy thoái và khủng hoảng nhưng
quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn tăng thể hiện qua việc kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam trong các năm gần đây năm sau luôn tăng cao hơn năm trước.
2.1.1. Quy mô, tốc độ, kim ngạch
Kim ngạch xuất nhập khẩu, năm 1991 kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc
chỉ đạt 37,7 triệu USD, chiếm 0,8% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, con số này
đạt 691,6 triệu USD vào năm 1995, tăng 18,34 lần so với năm 1991 và chiếm 5% trong tổng kim

8


ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 1991 – 1995, cho thấy tiềm năng trao đổi hàng hóa giữa hai nước
là rất lớn.
Năm 1996, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa hai nước giảm nhẹ, từ mức 691,6
triệu năm 1995 xuống còn 669,2 triệu USD, giảm 3,3% do giá một số mặt hàng nông sản trên thế
giới giảm. Những năm tiếp theo kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa hai nước tiếp tục tăng, từ
878,5 triệu USD năm 1997 lên 989,4 triệu USD năm 1998 và năm 1999 đạt 1.542,3 triệu USD,
năm 2000 đạt 2.957,1 triệu USD. Năm 1997 - 1998 ở Châu Á xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ nhưng quan hệ thương mại hàng hóa giữa hai nước vẫn phát triển, tốc độ tăng bình quân giai
đoạn 1996 – 2000 đạt 37,60%/năm. Điều này cho thấy việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa hai
nước còn tăng mạnh trong những năm tới.
Từ năm 2001 đến nay, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa hai nước tăng mạnh, vượt
quá mục tiêu mà Chính phủ hai nước đã đặt ra (năm 2005: 5 tỷ USD; năm 2015: 15 tỷ USD). Năm
2004 kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa hai nước đạt 7.192 triệu USD, năm 2005 đạt 8.730
triệu USD, năm 2006 đạt 10.420 triệu USD. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2006
là 24%/năm (cả nước đạt 18,8%), chiếm 12% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước
năm 2006. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì quan hệ hàng hóa giữa hai nước đã tăng
mạnh. Năm 2007 kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt 15.559 triệu USD, tăng 49,3% so
với năm 2006, vượt mục tiêu mà Chính phủ hai nước đặt ra cho năm 2010 là 3,7%. Năm 2008 tổng
giá trị kim ngạch đạt 20.824 triệu USD tăng 33,8% so với năm 2007. Năm 2009 đạt 21.350 triệu
USD và 6 tháng đầu năm 2010 con số này đạt 11.900 triệu USD.
Giai đoạn 1991 – 2000 kim ngạch xuất nhập khẩu tăng liên tục và tương đối cân bằng. Giai
đoạn này, Việt Nam luôn xuất siêu sang Trung Quốc, thâm hụt thương mại không đáng kể. Song từ
năm 2001 đến nay, xuất khẩu của Trung Quốc tăng vọt và thâm hụt thương mại của Việt Nam và
Trung Quốc đã gia tăng mạnh.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Trung Quốc có sự góp phần không nhỏ của
kim ngạch xuất nhập khẩu ở các tỉnh biên giới giáp với Trung Quốc.
2.1.2. Cơ cấu trao đổi thương mại
2.1.2.1. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc
Thứ nhất cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc.
Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1995, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là
các mặt hàng nguyên, nhiên liệu và nông sản dưới dạng thô. Trong các mặt hàng xuất khẩu, nhóm
hàng nguyên, nhiên liệu chiếm 38,30%; nhóm hàng nông sản, thủy sản chiếm 16,98%; còn lại hàng
hóa khác. Cao su, hạt điều, dầu thô… là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn và chiếm tỷ trọng

9


48,65% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 1991 – 1995.
Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong giai đoạn này không ổn định.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 1996 -2000 đạt 3.686
triệu USD, tăng 4,08 lần so với thời kỳ 1991 – 1995, với nhịp độ tăng bình quân 37,60%/năm. Hơn
100 mặt hàng khác nhau của Việt Nam đã được xuất khẩu sang Trung Quốc, trong đó nhóm hàng
nguyên, nhiên liệu (như dầu thô, than đá, cao su…) chiếm 45,35% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 1996 – 2000; nhóm hàng nông, thủy sản chiếm 24,33%,
nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 0,37%, còn lại là hàng hóa khác. Trong đó, dầu thô, rau quả,
hải sản có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh vào năm 2000, dầu thô đạt 749,02 triệu USD, chiếm
48,83% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn này, hải sản là 222,97 triệu USD chiếm 15,54%,
rau quả đạt 120,35 triệu USD chiếm 7,85%, các mặt hàng còn lại tăng tương đối ổn định. Rõ ràng cơ
cấu hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đã tăng nhanh cả về số lượng và giá trị. Đặc
biệt, trong cơ cấu hàng xuất khẩu đã xuất hiện nhóm hàng công nghiệp, nhưng tỷ trọng của nhóm mặt
hàng này trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc còn rất nhỏ.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc từ năm 2001 đến năm 2009 tăng khá
nhanh, năm 2001 giá trị kim ngạch xuất khẩu là 1.418 triệu USD, năm 2009 là 4.925 triệu USD gấp
3,47 lần so với năm 2001. Trong giai đoạn này, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung
Quốc đã có thay đổi. Trong đó nhóm mặt hàng nguyên, nhiên liệu vẫn có xu hướng tăng mạnh, từ
662 triệu USD năm 2001 lên 2.049 triệu USD năm 2005; chiếm tỷ trọng 60% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu sang Trung Quốc (2001 – 2005), nhóm hàng này đã giảm nhẹ trong những năm sau.
Nhóm hàng nông, thủy sản đã giảm mạnh, chỉ chiếm 10,84% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam thời kỳ này; mặt hàng rau quả giảm từ 143 triệu USD năm 2001 xuống còn 25 triệu USD
năm 2004, nhưng nhóm mặt hàng này đang có xu hướng tăng nhẹ vào năm 2005 và năm 2006. Tuy
vậy trong giai đoạn này nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ có tốc độ tăng trưởng tương
đối ổn định, năm sau cao hơn năm trước.
2.1.2.2. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc
Các mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm
1995 đó là: thuốc bắc, bông, vải sợi, hàng dệt kim và quần áo may sẵn, pin các loại, thuốc lá, xà
phòng giặt, nước giải khát, dầu thực vật, đường sữa, đồ dùng gia đình, xe đạp, giấy…Các mặt hàng
này được nhập với số lượng lớn, chủng loại đa dạng, chất lượng thấp nhưng giá rẻ, phù hợp với mức
thu nhập thấp nên chỉ sau một thời gian ngắn nó đã tràn ngập thị trường Việt Nam. Đặc biệt, giai
đoạn này, hàng hóa nhập lậu qua biên giới với khối lượng lớn đã gây ảnh hưởng nghiêm trong đến
một số ngành sản xuất của Việt Nam như: dệt kim, may mặc, sành sứ, thủy tinh, sản xuất xe đạp…
Hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam giai đoạn 1996 đến năm 2000 tăng
tương đối ổn định, phong phú và đa dạng về chủng loại cũng như số lượng. Hàng năm Việt Nam

10


nhập khẩu gần 200 mặt hàng từ Trung Quốc (gấp đôi số mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang thị
trường này).
Trong giai đoạn từ 2001 đến nay các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc
tăng mạnh, tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu cao hơn nhiều so với kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam sang Trung Quốc trong cùng giai đoạn từ 2001 đến năm 2009, cụ thể kim ngạch nhập
khẩu năm 2001 là 1.629,9 triệu USD, năm 2009 là 16.425 triệu USD gấp hơn 10 lần so với năm
2001, trong khi đó kim ngạch xuất khẩu năm 2009 chỉ gấp năm 2001 khoảng 3,47 lần, tuy nhiên cơ
cấu hàng nhập khẩu từ Trung Quốc ít có sự thay đổi trong những năm qua. Hầu hết các mặt hàng
nhập khẩu đều tăng qua các năm, riêng mặt hàng xăng dầu giảm trong năm 2006, 2007.
2.1.2.3. Thực trạng buôn lậu và đấu tranh chống buôn lậu hàng hóa qua biên giới Việt
Trung
Cùng với sự mở rộng buôn bán trao đổi hàng hóa qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc thì
tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại cũng diễn biến phức tạp. Đây là nơi bọn buôn lậu đưa
hàng vào Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn về số vụ và hàng hóa được phát hiện. Theo thống kê về tình
hình buôn lậu trên tuyến biên giới đất liền từ năm 1993 – 1999 cho thấy tuyến biên giới Việt Trung
có 1.863/4.865 tổng số vụ phát hiện, chiếm 38,36% so với toàn quốc; 2.413/7.589 tổng số đối
tượng phát hiện chiếm 31,81%; hàng hóa thu giữ là 46,2/139,4 tỷ đồng. Trên biên giới đường bộ,
hàng hóa nhập lậu và vận chuyển trái phép vào Việt Nam đủ chủng loại, trong đó có cả những chất
gây nghiện, chất nổ, tài liệu sách báo vào nội dung xấu. Hàng hóa thường được cửu vạn vận
chuyển vượt qua biên giới theo đường mòn hai bên cánh gà cửa khẩu sau đó dùng hóa đơn buôn
chuyến, hóa đơn mua hàng để lưu thông hàng hóa nhằm trốn thuế nhập khẩu. Tình trạng buôn lậu
ngày càng gia tăng và càng tinh vi, phức tạp hơn nhiều khiến cho việc kiểm soát và xử lý chúng
gặp rất nhiều khó khăn.
2.1.2.4. Chủ thể tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa
2.2. Đánh giá chung về quan hệ hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc
2.2.1. Thành tựu
Kim ngạch xuất khẩu hai nước tăng trưởng mạnh mẽ; tăng thu ngân sách các tỉnh biên giới;
chuyển dịch cơ cấu ngành ở một số vùng, miền; thúc đẩy một số ngành phát triển (tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ, ngân hàng…); đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng ở mỗi nước; tạo ra nhiều
công ăn việc làm, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân hai nước.

11


2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.2.2.1. Hạn chế
Các mặt hạn chế: tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa còn nhỏ so với tiềm lực của
hai nước; cán cân thương mại hàng hóa nghiêng nhiều về phía Trung Quốc; năng lực canh tranh
hàng hóa chưa đồng đều; độ tin cậy lẫn nhau giữa doanh nghiệp hai nước còn thấp; sự liên doanh,
liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước diễn ra còn chậm; trao đổi hàng hóa giữa hai nước
nhiều khi còn mang tính chất manh mún, nhỏ lẻ dẫn đến kết quả kinh doanh chưa đạt đến hiệu quả
tối đa; dịch vụ hỗ trợ kinh doanh giữa hai nước (Hệ thống kho tàng, bến bãi, giao nhận vận tải, giao
thông, kho ngoại quan...) phát triển chưa đồng đều, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại gia
tăng (hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng…) tình trạng ô nhiểm môi trường tại các khu vực
cửa khẩu biên giới.
2.2.2.2. Nguyên nhân
Nguyên nhân của những hạn chế này được giải thích chủ yếu do chính sách, quy định,
công tác quản lý của từng nước nói riêng và cả hai nước nói chung
2.3. Thực trạng quan hệ thương mại qua biên giới Việt Nam và Trung Quốc tại tỉnh
Lạng Sơn
2.3.1. Khái quát
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc của Tổ quốc, có đường biên giới với tỉnh
Quảng Tây – Trung Quốc, có diện tích 8.331,2 km2, có hệ thống giao thông khá thuận lợi, có tuyến
đường sắt và đường bộ xuyên Việt đi qua và sang Trung Quốc. Lạng Sơn cách Hà Nội chưa đầy
200 km, nằm trên các trục đường quốc lộ lớn đi tới các tỉnh biên giới khác như Cao Bằng, Quảng
Ninh. Đặc biệt, Lạng Sơn có các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia thông thương với Trung
Quốc bằng hệ thống đường bộ và đường sắt nối liền.
Nền kinh tế của tỉnh Lạng Sơn cho đến trước đổi mới, mở cửa biên giới, chủ yếu vẫn là thuần
nông, mang nặng tính tự cung, tự cấp. Từ cuối năm 1984 đến năm 1985 tình hình biên giới dịu dần,
một số người ở các bản làng giáp biên giới đã vượt biên sang Trung Quốc trao đổi một số mặt hàng
tiêu dùng thiết yếu. Tuy nhiên do thời gian này việc buôn bán trao đổi hàng hóa với Trung Quốc của
nước ta chưa được phép và không được công khai nên dẫn đến hiện tượng nhiều người dân vượt biên
để buôn lậu. Ở các xã giáp biên giới bắt đầu nảy sinh những mâu thuẫn giữa một bộ phận nhân dân
các dân tộc với các cán bộ quản lý của chính quyền và lực lượng vũ trang, có nơi diễn ra gay gắt.
Trước tình hình này, Chính phủ Việt Nam đã ra thông báo số 118 vào năm 1988, cho phép nhân dân
các xã biên giới qua lại thăm nhau và trao đổi các mặt hàng cần thiết, phục vụ sản xuất vì vậy không
khí căng thẳng giờ đây đã chuyển sang hòa dịu. Những năm tiếp theo lượng hàng hóa trao đổi qua

12


biên giới ngày càng tăng. Có thể nói từ năm 1991 với chính sách mở cửa Lạng Sơn đã phát huy được
thế mạnh của mình, và trở thành trung tâm thương mại lớn của cả nước.
2.3.2. Hoạt động thương mại đường biên tại Lạng Sơn – Trung Quốc
2.3.2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân hàng năm khoảng 20%, năm 1991 kim ngạch
xuất nhập khẩu của Lạng Sơn là 13,44 triệu USD chiếm 25,15% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
của 6 tỉnh biên giới phía Bắc với Trung Quốc. Năm 1992 kim ngạch xuất nhập khẩu của Lạng Sơn
giảm xuống chỉ còn 10,42 triệu USD, năm 1993 – 1994 thì kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên khoảng
18 triệu USD. Năm 1995 có sự tăng đột biến trong kim ngạch xuất nhập khẩu với tổng giá trị là 66,49
triệu USD tăng 269,39% so với năm 1994, năm 1996 mức tăng còn lớn hơn năm 1995 với mức 318
triệu USD, so với năm 1995 thì nó đã tăng với tốc độ là 378,26%. Năm 1997 kim ngạch xuất nhập khẩu
của Lạng Sơn với Trung Quốc 333 triệu USD, tăng so với năm 1996 là 4,72% đến năm 1998 - 1999
kim ngạch của Lạng Sơn đối với Trung Quốc có phần giảm xuống, cụ thể là năm 1998 kim ngạch xuất
nhập khẩu là 319 triệu USD và năm 1999 là 289 triệu USD. Mặc dầu kim ngạch xuất nhập khẩu có
giảm nhưng Lạng Sơn vẫn có giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu với Trung Quốc cao nhất so với 6 tỉnh
biên giới phía Bắc giáp với Trung Quốc. Và đến năm 2000, lại một lần nữa kim ngạch xuất nhập khẩu
lại tạo ra sự thay đổi mạnh, nó tăng lên với giá trị là 700 triệu USD, tăng 142,21% so với năm 1999.
Một đặc điểm chung của kim ngạch xuất nhập khẩu của Lạng Sơn với Trung Quốc là nhập
siêu, mức thâm hụt năm sau cao hơn năm trước, năm 2008 gần gấp đôi so với năm 2007, năm 2007
mức thâm hụt gần gấp đôi năm 2006. Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng từ năm 2005
tới nay, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều tăng, tuy nhiên quy mô và tốc độ tăng
của kim ngạch xuất khẩu chậm hơn so với kim ngạch nhập khẩu
2.3.2.2. Cơ cấu mặt hàng XNK của tỉnh Lạng Sơn với Trung Quốc
Các mặt hàng xuất khẩu của Lạng Sơn sang Trung Quốc chủ yếu và chiếm tỷ trọng cao là
các nhóm mặt hàng nông thủy sản: hải sản, lạc nhân, rau quả; nhóm hàng nguyên liệu và khoáng
sản: than đá, gỗ và các sản phẩm gỗ và mặt hàng đồ chơi trẻ em.
Các mặt hàng nhập khẩu đa dạng và phong phú hơn so với các mặt hàng Lạng Sơn xuất
khẩu sang Trung Quốc. Các mặt hàng nhập khẩu chính đó là máy móc, các linh kiện máy móc,
phân bón, thuốc trừ sâu…nhìn chung đều là các mặt hàng đã qua tinh chế.
2.3.3. Tình hình buôn lậu ở tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn được coi là địa bàn trọng điểm buôn lậu diễn biến phức tạp. Tình hình buôn lậu,
gian lận thương mại, dây dưa trốn thuế… có chiều hướng gia tăng cả về số lượng mặt hàng và giá
trị các mặt hàng, hàng buôn lậu chủ yếu là các mặt hàng Nhà nước cấm nhập, xuất và các mặt hàng

13


có thuế suất cao như nhập lậu hàng điện tử, đồ điện gia dụng, vải, xe đạp…., kim loại mầu, động
vật hoang dã.…gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và sản xuất. Ngoài ra bọn
tội phạm hai bên biên giới còn cấu kết hoạt động buôn bán ma túy, vật liệu nổ, vũ khí, tiền giả…
gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Thủ đoạn chính là các chủ hàng sang
Trung Quốc mua hàng tập kết sát biên giới, sau đó xé lẻ, thuê đội ngũ “cửu vạn” mang qua biên
giới. Trước tình hình này tỉnh Lạng Sơn đã đề ra các giải pháp để tích cực chống và xử lý hoạt
động buôn lậu và đã đạt được thành quả nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế.
2.4. Nhận xét về thương mại qua biên giới giữa Lạng Sơn và Trung Quốc
2.4.1. Điểm mạnh
Về vị trí địa lý, có đường biên giới trên bộ dài, có cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia và
các cặp chợ biên giới, có hệ thống giao thông khá thuận lợi.
Về địa chính trị, Lạng Sơn là cầu nối giữa Việt Nam và Trung Quốc, là cầu nối giữa Việt
Nam với các nước khác, là cầu nối giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.
Về cơ sở hạ tầng, là một trong những tỉnh có cơ sở hạ tầng, trung tâm thương mại tương
đối thuận tiện để trao đổi, buôn bán hàng hóa giữa hai nước với nhau.
Về quan hệ đối ngoại, nhân dân ở hai tỉnh giáp biên giới có quan hệ thân tình từ lâu đời.
Về thể chế, Lạng Sơn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.
2.4.2. Điểm yếu
Thứ nhất, nhận thức, quan điểm chưa thống nhất giữa Trung ương và địa phương, giữa các
địa phương với nhau trong định hướng, chính sách và đường lối xây dựng và phát triển.
Thứ hai, nguồn tài chính còn hạn hẹp: Mức thu ngân sách hàng năm còn quá khiêm tốn so
với mức cần chi ra.
Thứ ba, cơ sở hạ tầng chưa tương xứng với nhu cầu hiện tại.
Thứ tư, Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, có địa hình phức tạp, dân cư thưa thớt, có nhiều
đồng bào dân tộc, trình độ dân trí thấp, đời sống khó khăn.
2.4.3. Cơ hội
- Hưởng những ưu đãi về thuế quan và một số chính sách khác theo nguyên tắc của WTO.
- Xu hướng tăng cường hợp tác của các nhà lãnh đạo cấp cao hai nước

14


- Các doanh nghiệp được tự do buôn bán trong khuôn khổ pháp luật của hai nước.
- Cơ hội học hỏi về công nghệ, trình độ quản lý rất nhiều, đặc biệt là cơ hội xuất khẩu hàng
hóa sang Trung Quốc.
- Lạng Sơn có quan hệ làm ăn buôn bán với Trung Quốc từ rất lâu, chính vì vậy kinh
nghiệm của các nhà quản lý, các nhà kinh tế sẽ giúp cho hoạt động buôn bán và trao đổi hàng hóa
giảm bớt rủi ro.
- Việt Nam là nước đang phát triển nên việc mở rộng thị trường của mình sang các nước khác
là việc cần thiết, tạo cơ hội hơn nữa cho Lạng Sơn trao đổi buôn bán hàng hóa với Trung Quốc
2.4.4.Thách thức
- Tình trạng buôn lậu ở Lạng Sơn luôn luôn diễn ra hết sức tinh vi và phức tạp.
- Tài chính của Lạng Sơn còn quá ít khiến cho cơ sở hạ tầng chưa thể phát triển nhanh, đạt
tiêu chuẩn chất lượng cao để thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài tại tỉnh Lạng Sơn.
- Trình độ chênh lệch về công nghệ và khoa học kỹ thuật giữa nước ta và Trung Quốc quá lớn.
- Trung Quốc là một nước lớn khi làm ăn buôn bán với họ chúng ta hay bị thiệt thòi.

15


CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUA BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT
NAM VÀ TRUNG QUỐC NÓI CHUNG VÀ TỈNH LẠNG SƠN NÓI RIÊNG
3.1. Quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh
quốc tế mới
3.1.1. Những nhân tố thúc đẩy quan hệ thương mại qua biên giới
- Xu thế liên kết kinh tế khu vực phát triển sâu rộng hơn bao giờ hết
- Sự chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam và Trung Quốc.
- Đạt tới nhận thức chung về sự phát triển kinh tế thương mại giữa Việt Nam - Trung Quốc.
- Tiềm năng kinh tế lớn của Việt Nam và vùng Tây Nam Trung Quốc khi được khơi dậy
3.1.2. Những vấn đề tồn tại
- Sự xuất hiện cục diện “dậm chân tại chỗ” về mậu dịch của hai nước.
- Tình trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam bị giảm sút do hàng hóa của Thái Lan
vào Trung Quốc.
- Một số nhà xuất khẩu hàng của Việt Nam rơi vào thế bị động
- Trung Quốc quản lý chặt hơn đối với hoạt động nhập khẩu biên mậu, dẫn đến tình trạng
hàng hóa của Việt Nam giá thành xuất khẩu tăng, khối lượng xuất khẩu giảm.
- Hiện tượng buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại trong quan hệ biên mậu Việt Trung
diễn ra rất phức tạp và nghiêm trọng.
3.2. Định hướng và triển vọng thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung
Quốc – Thực tế ở Lạng Sơn
3.2.1. Định hướng về thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc
Mở rộng phát triển buôn bán qua biên giới Việt – Trung một cách toàn diện.
Việc buôn bán qua biên giới phải tuân theo các thông lệ, tập quán quốc tế. Hai bên phải
cùng tôn trọng, thực hiện tốt các Hiệp định đã ký.
Tăng cường xuất, nhập khẩu theo phương thức buôn bán chính ngạch là chủ yếu.

16


Ngân hàng hóa các giao dịch, giảm đến mức cao nhất.
Phải tạo nguồn hàng xuất khẩu ổn định, lâu dài và nguồn hàng phải đáp ứng nhu cầu thị
trường của phía Trung Quốc.
Thay đổi cơ cấu hàng hóa xuất, nhập khẩu theo hướng bảo đảm lợi thế so sánh và đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của mỗi bên.
Kiểm soát chặt chẽ các nguồn hàng xuất, nhập khẩu.
3.2.2. Triển vọng về thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Theo dự báo của các chuyên gia, đến năm 2010, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam Trung Quốc đạt 20 tỷ USD (trên thực tế năm 2009 đã đạt đến con số là 21.350 tỉ USD và 6 tháng
đầu năm 2010 đã đạt 11,9 tỉ USD); đến năm 2015 kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung
Quốc đạt 35 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 14 tỷ USD, nhập khẩu đạt 21 tỷ USD. Tốc độ tăng
trưởng xuất nhập khẩu bình quân giai đoạn 2007 đến 2015 là 14,45%/ năm; xuất khẩu đạt 18,65%;
nhập khẩu đạt 12,25%/năm.
3.2.2.1. Triển vọng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đến năm 2015.
Dự báo nhóm mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đến năm 2015 như sau:
Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản: Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu của dầu thô và than đá sẽ giảm.
Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản: Tỷ trọng của nhóm hàng này trong tổng kim ngạch xuất
khẩu dự kiến sẽ tăng từ 9% năm 2006 lên đến 18,5% năm 2010 và 23,5% năm 2015.
Nhóm những mặt hàng mới: đó là các loại sản phẩm cao su, sản phẩm nhựa… Dự kiến,
kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này đạt khoảng 420 – 450 triệu USD năm 2010 và 800 - 900
triệu USD năm 2015.
3.2.2.2. Triển vọng mặt hàng XNK giữa hai nước trong những năm tới
Dự báo nhóm mặt hàng nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc đến năm 2015 như sau:
Nhóm hàng nguyên nhiên liệu: giai đoạn 2007 - 2015, nhóm hàng này tiếp tục tăng nhưng
chậm và chiếm khoảng 42% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc.
Nhóm hàng công nghiệp: Trong giai đoạn 2007 – 2015 tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng này
trong tổng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ tăng từ 20% đến 25%.
Nhóm hàng tiêu dùng: nhóm hàng này cũng có khả năng tăng nhập khẩu trong giai đoạn tới
và chiếm tỷ trọng từ 25% lên đến 30%.

17


3.3. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và
Trung Quốc nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng
3.3.1. Giải pháp về phía nhà nước
a) Hoàn thiện hệ thống chính sách thương mại cho phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo cơ sở
pháp lý cho việc phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước.
b) Nâng cao vai trò lãnh đạo của địa phương hai nước.
c) Nâng cao năng lực tổ chức quản lý và điều hành hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
giữa Việt Nam với Trung Quốc.
d) Thúc đẩy tiến trình hợp tác xây dựng “Hai hành lang và một vành đai kinh tế”
e) Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại tại các cửa khẩu và trên toàn tuyến biên
giới phía Bắc.
f) Tăng cường phát triển hệ thống chợ biên giới và quản lý các hoạt động mua bán, trao đổi
hàng hóa tại các chợ biên giới.
g) Hoàn thiện thủ tục thanh toán qua ngân hàng ở khu vực biên giới.
h) Tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại.
3.3.2. Giải pháp về phía tỉnh Lạng Sơn.
Sớm hoàn chỉnh hệ thống cơ chế chính sách riêng phù hợp với việc điều hành hoạt động
xuất nhập khẩu ở vùng biên giới và theo hướng ưu đãi, khuyến khích xuất khẩu.
Kiện toàn Ban chỉ đạo điều hành buôn bán biên mậu gắn với việc tăng quyền chủ động và
chỉ đạo cụ thể hoạt động xuất nhập khẩu với Trung Quốc.
Để tránh các hiện tượng tranh mua, tranh bán giữa những người xuất khẩu, nên thành lập
những hiệp hội của các nhà xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc.
Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân về tác hại của buôn lậu, trốn
thuế, gian lận thương mại…
Để tăng tỷ trọng xuất khẩu của địa phương, hướng lâu dài tỉnh cần tăng đầu tư cho chuyển
dịch cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp hướng vào xuất khẩu.
Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng ở cửa khẩu.
Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác xuất khẩu.

18


3.3.3. Giải pháp về phía doanh nghiệp
Các doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc cần biết tận dụng cơ hội để phát triển mạnh loại
hình buôn bán chính ngạch, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho buôn bán qua biên giới.
Tích cực gặp gỡ tiếp xúc để nghiên cứu, đàm phán nhằm chuyển từ thương mại đơn thuần
sang hợp tác sản xuất những mặt hàng mà hai bên có tiềm năng và có nhu cầu bổ sung lẫn nhau.
Các doanh nghiệp cần tăng cường công tác xúc tiến thương mại.

19


KẾT LUẬN
Quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng phát triển
mạnh mẽ, trên cơ sở các Hiệp định hai bên cùng ký như Hiệp định FTA, ACFTA, hai nước ngày
càng tăng cường hơn nữa sự hợp tác của mình với các chiến lược cụ thể như: “Một trục hai cánh”,
“Hai hành lang một vành kinh tế”. Điều này giúp cho nền kinh tế của hai nước tăng trưởng nhanh
hơn, giúp cho các tỉnh vùng biên giới giữa hai nước có cơ hội thay đổi cơ cấu nền kinh tế của tỉnh
mình, tăng thu ngân sách trên địa bàn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, giảm
tỷ lệ hộ nghèo, thất nghiệp. Vì vậy đã khẳng định vai trò to lớn của thương mại qua biên giới đối
với nền kinh tế của một quốc gia và đối với các tỉnh biên giới. Tuy nhiên để xem xét khả năng và
mức độ hợp tác của hai nước thì cần phải nghiên cứu cụ thể chính sách biên mậu của Trung Quốc
và Việt Nam bởi đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ thương mại qua biên giới của hai
nước.
Việt Nam và Trung Quốc chính thức bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, theo số liệu
của Tổng cục Hải quan thì kim ngạch xuất nhập khẩu của hai nước luôn tăng qua các năm, tuy
nhiên cán cân thương mại nó lại có sự khác biệt rõ ràng trong từng thời kỳ, từ năm 1991 đến năm
2000 nhìn chung Việt Nam xuất siêu, từ năm 2001 đến nay Việt Nam luôn luôn nhập siêu. Cơ cấu
mặt hàng trao đổi buôn bán của Việt Nam cũng có sự thay đổi qua từng thời điểm khác nhau,
chúng có xu hướng tăng lên về số lượng các mặt hàng đồng thời cũng tăng lên về tỷ trọng. Bên
cạnh các loại hàng hóa được kiểm soát khi đem trao đổi thì tình trạng buôn lậu ở biên giới cũng
diễn ra rất sôi nổi và khó kiểm soát. Đây là một vấn nạn mà việc tìm ra các biện pháp để ngăn chặn
không dễ dàng.
Việt Nam có bảy tỉnh biên giới giáp với Trung Quốc, trong đó có hai tỉnh có lưu lượng
buôn bán hàng hóa qua biên giới diễn ra sôi động nhất là Lạng Sơn và Quảng Ninh. Quá trình trao
đổi hàng hóa giữa Lạng Sơn và Trung Quốc xét ở một khía cạnh nào đó nó mô tả rõ nét nhất quan
hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hay nói một cách khác nó chính là bức
tranh thu nhỏ nhưng sinh động và chi tiết về quan hệ thương mại qua biên giới Việt Nam – Trung
Quốc.
Sự hợp tác về kinh tế giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc ngày càng bền chặt, để duy
trì và phát triển được sự bền vững này cần xác định rõ ràng, thống nhất về định hướng và mục tiêu
ngắn hạn cũng như dài hạn của quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc –
thực tiễn ở Lạng Sơn, song song với nó là các chính sách, giải pháp về phía nhà nước, tỉnh Lạng
Sơn, và doanh nghiệp.

20



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×