Tải bản đầy đủ

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng 79

PHẦN MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường tạo môi trường để các doanh nghiệp phát triển
trong mối quan hệ kinh tế đa dạng. Điều đó đã và đang diễn ra trong nền
kinh tế nước ta; ngày nay doanh nghiệp không chỉ tồn tại trong khu vực
kinh tế quốc doanh với hình thức doanh nghiệp Nhà nước, nó còn tồn tại và
phát triển với các hình thức: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu
hạn, Công ty tư nhân, Công ty liên doanh… thuộc sở hữu các thành phần
kinh tế. Doanh nghiệp Nhà nước không những phải giữ vai trò điều chỉnh
vĩ mô nền kinh tế xã hội, tiến hành các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong
các lĩnh vực, ngành nghề có sự cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác.
Khi điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở
thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì khu vực kinh tế quốc
doanh đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, mà biểu hiện tập
trung nhất là cuộc khủng hoảng về vốn. Để thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng
này và tồn tại được trong môi trường cạnh tranh với các thành phần kinh tế
khác, các doanh nghiệp Nhà nước phải vượt qua hai thử thách mới là: Đổi
mới phương thức tạo vốn và đổi mới cơ chế quản lý vốn để sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn huy động. Việc giải quyết hai vấn đề trên thực chất là đi tìm
giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong những mô hình tổ chức
doanh nghiệp có khả năng thu hút và quản lý vốn thích ứng với cơ chế thị
trường.

Công ty cổ phần xây dựng 79 là một trong những mô hình doanh
nghiệp có những ưu thế về tạo vốn và quản lý sử dụng vốn phù hợp với cơ
chế đó.
Xuất phát từ thực tế trên, sau thời gian thực tập tại Công ty được sự
giúp đỡ của Giám đốc - Chủ tịch hội đồng quản trị Cô Khúc Thị Lâm, Anh
Đinh Xuân Nam – Kế toán trưởng cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô
1


giáo Trần Thị Thanh Tú, em đã lựa chọn đề tài "Giải pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần xây dựng 79".
Chuyên đề có kết cấu như sau:
Chương I: Vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần
xây dựng 79.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty
cổ phần xây dựng 79
Do kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề của em khó tránh khỏi được
nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để chuyên
đề này được hoàn thiện hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn!

2


CHƯƠNG I
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1. Vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.

Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thực

hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích tối
đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu.
Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? là ba câu hỏi đặt
ra mà bất cứ doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường cần phải
quan tâm. Trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực của sự cạnh tranh gay gắt,
cùng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều thành phần kinh
tế, các doanh nghiệp đều nhằm tìm ra lời giải đáp cho ba câu hỏi cơ bản trên
với mục đích thu được lợi nhuận cao nhất. Nền kinh tế thị trường cho phép
mọi doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo khuôn khổ của pháp luật.
Chính sự tự do ấy đã tạo nên các quan hệ kinh doanh, biểu hiện thông qua
quan hệ mua bán trên thị trường và thái độ cư sử của từng thành viên nhằm
dẫn dắt thị trường tới mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Việc quyết định sản xuất cái gì phụ thuộc vào quan hệ giữa người
mua và người bán. Họ gặp nhau trên thị trường để tìm hiểu xem một bên
thị trường cần gì và một bên là thị trường đáp ứng gì cho mình. Từ thị hiếu
nhu cầu trên thị trường và dựa vào khả năng cung ứng của bản thân, các
doanh nghiệp tự quyết định mình sản xuất cái gì.
Sản xuất bằng phương thức nào được quyết định bởi sự canh tranh
giữa các nhà sản xuất. Cách duy nhất để doanh nghiệp được về giá cả và
thu được nhiều lợi nhuận là giảm chi phí đến mức tối thiểu thông qua áp

3


dụng phương thức sản xuất có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng
suất và đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Để giải quyết câu hỏi thứ ba, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu
kỹ các chỉ tiêu về cung cầu giá cả, số lượng, chất lượng cũng như hình thức
cạnh tranh trên thị trường. Họ phải xác định được khách hàng của mình là
ai, họ cần gì và làm thế nào để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng…
Có thể thấy mọi hoạt động của doanh nghiệp, dưới bất kỳ hình thức
nào về bản chất đều nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản của thị trường và
thu được lợi nhuận phù hợp.
1.2.

Vốn trong hoạt động của doanh nghiệp

1.2.1. Khái niệm về vốn
Vốn luôn đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển
của một doanh nghiệp. Để định nghĩa “vốn là gì?” các nhà kinh tế đã tốn
rất nhiều công sức và mỗi người đều có những định nghĩa riêng, theo quan
điểm riêng của mình.
Theo quan điểm của Marx, dưới giác độ các yếu tố sản xuất, vốn đã
được khái quát hóa thành phạm trù tư bản trong đó nó đem lại giá trị thặng
dư và là ”một đầu vào của quá trình sản xuất”. Định nghĩa về vốn của Marx
có một tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của
vốn. Bản chất của vốn chính là giá trị cho dù nó có thể được biểu hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau: nhà cửa, tiền của…Vốn là giá trị đem lại giá trị
thặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất
kinh doanh. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ kinh tế lúc bấy giờ, Marx đã
chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ
có kinh doanh sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Còn theo David Begg, tác giả cuốn “kinh tế học”, thì vốn bao gồm:
vốn hiện vật và vốn tài chính doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ hàng
hóa đã sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa khác, vốn tài chính là các tiền
và các giấy tờ có giá của doanh ngiệp.
4


Trong định nghĩa của mình, tác giả đã đồng nhất vốn với tài sản của
doanh nghiệp. Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất
cả tài sản của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh. Vốn của doanh
nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp.. Bất cứ
doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định để thực hiện
những khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, mua sắm
nguyên vật liệu, trả lãi vay, nộp thuế…đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp được liên tục, chi phí mua công nghệ và máy móc
thiết bị mới… để tái sản xuất mở rộng. Do vậy vốn đưa vào sản xuất kinh
doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá
trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí đã bỏ ra và có lãi. Số tiền ban đầu đã
được tăng thêm nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình này diễn ra
liên tục bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Còn trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa.
Nó giống các hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc
điểm khác vì người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một
thời gian nhất định. Cái giá của quyền sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính
nhờ có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu
chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật
chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho
quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong
quá trình sản xuất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản
xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá
trình sản xuất dầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Tóm lại, do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó có một định
nghĩa chính xác va hoàn chỉnh về vốn. Tuy nhiên có thể hiểu mọt cách khái
quát về vốn như sau:
5


Vốn là toàn bộ các giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất
tiếp theo. Vốn là giá trị tạo ra giá trị thăng dư.
1.2.2. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Cơ cấu vốn là thuật ngữ dùng để chỉ một doanh nghiệp sử dụng các
nguồn vốn khác nhau với một tỷ lệ nào đó để tài trợ cho tài sản của nó.
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp bao gồm:
- Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
bao gồm: Vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và
từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do nhà nước tài trợ (nếu có). Vốn chủ sở
hữu được xác định là phần còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi
đã trừ toàn bộ nợ phải trả.
- Nợ phải trả: là những khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm có trách nhiệm phải thanh
toán cho các tác nhân kinh tế như: nợ tiền vay ngân hàng, nợ các tổ chức
kinh tế khác, thuế phải nộp cho nhà nước, phải trả công cho nhân viên.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn được
phân bổ, đầu tư cho các tài sản cố định và tài sản lưu động để tiến hành sản
xuất. Biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định và tài sản lưu động là số tiền bỏ
ra để đầu tư cho các tài sản này, đó chính là vốn cố định và vốn lưu động.
Và hiệu quả sử dụng tài sản cũng chính là hiệu quả sử dụng vốn đã bỏ ra để
đầu tư cho các tài sản đó. Trong luận văn này, chúng ta nghiên cứu các giải
pháp để sử dụng vốn cố định và vốn lưu động sao cho có hiệu quả hơn.
Để nghiên cứu vấn đề này, trước hết ta cần hiểu thế nào là vốn cố định
và thế nào là vốn lưu động.
• Vốn cố định:
Quản lý vốn cố định là một trong những nội dung quan trọng của cống
tác quản lý tài chính daonh nghiệp. Khi tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liền với hình thái biểu hiện
vật chất của nó – tài sản cố định và được tuân theo tính quy luật nhất định.
6


Vì vậy để quản lý, sử dụng có hiệu quả vốn cố định trước hết cần nghiên
cứu tính chất và đặc điểm của tài sản cố định trong doanh nghiệp.
Trong nền sản xuất hành hóa, để tiến hành sản xuất sản phẩm, bao giờ
cũng có các yếu tố: sức lao động, tư liệu sản xuất và tiền. Căn cứ vào tính
chất và tác dụng tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu sản xuất được chia
làm hai bộ phận: đối tượng lao động và tư liệu lao động. Tài sản cố định là
những tư liệu lao động chủ yếu dược tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng, phương tiện vận tải, các công trình kiến trúc, các chi phí mua bằng
phát minh sáng chế…
Khác với đối tượng lao động, đặc điểm cơ bản của tài sản cố định-những
tư liệu lao động chủ yếu là chúng có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào
nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, mặc dù tài sản cố định bị hao mòn
song chúnhg vẫn giữ nguyên hình thái biểu hiện vật chất ban đầu. Vhỉ khi nào
chúng đã bị hao mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt
kinh tế thì khi đó chúng mới cần được thay thế đổi mới.
Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, một tư liệu lao động chỉ đượccoi là
tài sản khi nó là sản phẩm của lao động. Do đó, tài sản cố định không chỉ có
giá trị sử dụng mà còn có giá trị. Nói cách khác tài sản cố định phải là một
hàng hóa như mọi hàng hóa thông thường khác. Thông qua mua bán trao đổi
nó có thể chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể
khác trên thị trường tư liệu sản xuất. Việc quản lý tài sản cố định trên thực tế
là một công việc phức tạp. Để giảm nhẹ khối lượng quản lý về tài chính kế
toán, người ta có những quy định thống nhất về tiêu chuẩn giới hạn của một
tài sản cố định. Thông thường một tư liệu lao động phải được đồng thời thỏa
mãn hai tiêu chuẩn sau đây mới được coi là tài sản cố định:
+ Phải có thời gian sử dụng tối thiểu một năm trở lên.
+ Phải có giá trị tối thiểu đến một mức độ nhất định. Riêng tiêu
chuẩn này thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp vói tình hình thời giá của
7


từng thời kỳ. Hiện nay theo quy định là TSCĐ phải có trị giá từ 5 triệu
đồng trở lên.
Qua những phân tích nêu trên, có thể rút ra định nghĩa về tài sản cố
định trong doanh nghiệp như sau:
Tài sản cố định trong doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ
yếu mà đặc điểm của chúng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong
quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị tiêu hao hoàn toàn trong
lần sử dụng đầu tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá
thành sản phẩm của chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, để mua sắm, xây dựng tài sản
cố định trước hết cần phải có một số vốn nhất định. Vốn tiền tệ ứng trước
để mua sắm, xây dựng tài sản cố định hữu hình hoặc những chi phí đầu tư
cho những tài sắm cố định không có hình thái vật chất được gọi là vốn cố
định của doanh nghiệp.
Là khoản tiền ứng trước về tài sản cố định, quy mô của vốn cố định
sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định. Song đặc điểm vận động của tài
sản cố định lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố
định. Trên ý nghĩa của mối liên hệ này, có thể khái quát những nét đặc thù
về sự vận động của vốn cố định trong sản xuất kinh doanh như sau:
- Vốn cố định được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Có đặc điểm
này là do tài sản cố định có thể phát huy trong nhiều chu kỳ sản xuất, vì thế
vốn cố định-hình thái biểu hiện bằng tiền của nó được tham gia vào các chu
kỳ sản xuất tương ứng.
- Vốn cố định được luân chuyển từng phần. Khi tham gia vào quá
trình sản xuất, giá trị sử dụng của tài sản giảm dần. Theo đó vốn cố định
cũng được tách ra làm hai phần: một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất
sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng giảm dần giá trị sử
dụng tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó, cũng là lúc tài
sản cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển.
8


Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về vốn cố định:
Vốn cố định của một doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư
ứng trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng
phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi
tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của
vốn đầu tư nói riêng, của vốn sản xuất nói chung. Quy mô của vốn cố định
và trình độ quản lý, sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng đến trình độ trang bị
kỹ thuật. Do ở vị trí then chốt và đặc điểm vận động của nó lại tuân theo
tính quy luật riêng nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm
của công tác tài chính doanh nghiệp.
• Vốn lưu động:
Trong phần trên ta đã biết rằng, tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao
động và tư liệu lao động Đúng vậy, mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành
sản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động ra còn phải có đối tượng lao
động. Đối tượng lao động khi tham gia quá trình sản xuất không giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động
sẽ thông qua quá trình chế biến hợp thành thực thể của sản phẩm và được
bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện.
Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ
phận. Một bộ phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản
xuất được diễn ra liên tục (nguyên, nhiên vật liệu), một bộ phận khác chính
là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm chế tạo, bán thành
phẩm). Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu
động. Để phục vụ cho qua trình sản xuất còn cần phải dự trữ một số công
cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế, vật đóng gói cũng được coi là tài sản lưu
động. Mặt khác quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắn
liền vói quá trình lưu thông. Trong quá trình lưu thông còn phải tiến hành
một số công việc như chọn lọc đóng gói, xuất giao sản phẩm và thanh
9


toán…Do đó hình thành một số khoản hàng hoá và tiền tệ, vốn trong thanh
toán….
Tài sản lưu động nằm trong quá trình sản xuất và tài sản lưu động nằm
trong quá trình lưu thông thay chỗ cho nhau vận động không ngừng nhằm
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi.
Như vậy, doanh nghiệp nào cũng cần phải có một số vốn thích đáng
để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản đó được gọi
là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Vốn lưu động được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu
là tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hóa và cuối cùng trở về hình thái tiền tệ
ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục không
ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng , hoàn thành
một vòng tuần hòan sau một chu kỳ sản xuất.
Tóm lại, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản
lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiến
hành thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị
ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn
sau một chu kỳ sản xuất.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá
trình tái sản xuất. Muốn cho qua trình tái sản xuất được diễn ra liên tục,
doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau
đó, khiến cho các hình thái mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như
vậy sẽ khiến cho chuyển hóa của vốn được thuận lợi. Nếu như doanh
nghiệp nào đó không đủ vốn thì tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn, và
do đó quá trình sản xuất cũng gặp trở ngại hoặc gián đoạn..
Việc tổ chức và quản lý vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh là rất quan trọng. Người quản lý phải biết phân phối nguồn vốn lưu
động trong từng khâu dự trữ, sản xuất, lưu thông một cách hài hòa, không
để vốn lưu động ứ thừa quá nhiều ở bất kỳ khâu nào. Doanh nghiệp sử
dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng sản xuất ra được nhiều sản
10


phẩm, điều đó thể hiện tốt sự kết hợp hài hòa quá trình mua sắm, sản xuất
và tiêu thụ.

1.3. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường.
1.3.1.Khái niệm
Mục tiêu chủ yếu của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường là tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu. Vì vậy,
sử dụng vốn một cách có hiệu quả có nghĩa là kinh doanh có hiệu quả, đạt
lợi nhuận cao.
Hiệu quả sử dụng vốn được hiểu như sau:
- Với một số vốn nhất định, doanh nghiệp phải đạt được lợi nhuận.
- Ngoài khả năng của mình, doanh nghiệp phải năng động tìm nguồn
tài trợ để tăng số vốn hiện có nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, gia tăng
mức lợi nhuận so với khả năng ban đầu.
Ngoài ra hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp còn thể hiện ở các
chỉ tiêu về hiệu quả theo thu nhập, khả năng thanh toán, chỉ tiêu về sử
dụng và phân bổ vốn.
1.3.2.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh
nghiệp. Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp cần phải có một hệ thống
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo phản ánh và đánh giá
được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
• Cơ cấu vốn:
Vốn của doanh nghiệp được đầu tư chủ yếu vào TSCĐ và TSLĐ.
Với một lượng vốn nhất định doanh nghiệp muốn thu được kết quả cao thì
cần phải có một cơ cấu vốn hợp lý. Vì vậy, ta phải xem xét đến vốn đầu tư
vào tài sản ra sao, hợp lý hay chưa hợp lý, ta có:
Hiệu quả sử dụng tài
sản

=

Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tổng tài sản

11


Công thức trên cho biết một đồng vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng
có bao nhiêu đầu tư vào TSCĐ, có bao nhiêu đầu tư vào TSLĐ. Tuỳ theo
từng loại hình sản xuất mà tỷ số này ở mức độ cao thấp khác nhau, nhưng
bố trí cơ cấu vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao
bấy nhiêu. Nếu bố trí cơ cấu vốn làm mất cân đối giữa TSCĐ và TSLĐ dẫn
đến thừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó sẽ có ảnh hưởng không tốt tới
doanh nghiệp.
• Vòng quay toàn bộ vốn:
Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánh
một đồng vốn doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lại
mấy đồng doanh thu.
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn = ---------------------------------Tổng số vốn
• Kỳ thu tiền bình quân.
Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh ra các khoản phải thu, phải
trả là tất yếu. Khi các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ vốn của doanh
nghiệp bị ứng đọng trong khâu thanh toán càng nhiều, có ảnh hưởng không
tốt tới doanh nghiệp. Vì vậy, các nhà phân tích tài chính rất quan tâm tới
thới gian thu hồi và chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân với mục đích thông tin về
khả năng thu hồi vốn trong thanh toán. Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân = -----------------------------------Doanh thu bình quân ngày
Các hoản phải thu x 360
Hoặc = ------------------------------Doanh thu

12


Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Lợi nhuận sau thuế
- Mức doanh lợi của vốn cố định = --------------------------------Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định đem lại mấy đồng lợi
nhuận.
Trong đó vốn cố định được tính như sau:
Giá trị còn lại đầu kỳ + giá trị còn lại cuối kỳ
VCĐ bình quân trong kỳ = -------------------------------------------------2
Vốn cố định bình quân
- Hàm lượng vốn cố định = --------------------------------Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần cần có bao nhiêu đồng
vốn cố định.
Doanh thu thuần
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định = --------------------------------Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo được mấy đồng doanh
thu thuần.
Công suất thực tế
- Hệ số sử dụng công suất TSCĐ = ---------------------------------Công suất thiết kế
Sau khi tính được các chỉ tiêu trên, người ta thường so sánh giữa các
năm, các kỳ với nhau để xem sự biến động đó là tốt hay xấu. Người ta cũng
có thể so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, cùnglĩnh vực để
xét khả năng cạnh tranh, tình trạng quản lý, kinh doanh có hiệu quả hay

13


không,từ đó rút ra những ưu điểm, khuyết điểm, kịp thời đưa ra các biện
pháp hợp lý.
• Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng vốn lưu động
Lợi nhuận sau thuế
- Mức doanh lợi của vốn lưu động = ------------------------------------Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra mấy đồng lợi
nhuận.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt.
Trong đó vốn lưu động được tính như sau:
VLĐ đầu tháng + VLĐ cuối tháng
VLĐ bình quân tháng = ------------------------------------------------2
Tổng VLĐ sử dụng bình quân 3 tháng
VLĐ bình quân quý = ------------------------------------------------3
Tổng VLĐ sử dụng bình quân 4 quý
VLĐ bình quân năm = ------------------------------------------------4
V1/2 + V2 + V3 +…..+Vn/2
= --------------------------------------n-1
( V1, V2, V3…là vốn lưu động hiện có vào đầu các tháng)
Doanh thu thuần
- Số vòng quay của vốn lưu động = --------------------------------Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu động và cho biết
trong một năm vốn lưu động quay được mấy vòng. Nếu số vòng quay càng
nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tăng và ngược lại.
14


- Thời gian một vòng luân chuyển:
360
Thời gian một vòng luân chuyển = -------------------------------------Số vòng luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được
một vòng. Thời gian luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển vốn càng
lớn, đảm bảo nguồn vốn lưu động tránh bị hao hụt mất mát trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
Vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = ---------------------------------Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu
đồng vốn lưu động.
Ngoài việc xem xét hiệu quả kinh doanh dưới góc độ TSCĐ và
TSLĐ thì khi phân tích cần xem xét hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ sinh
lời. Đây là một trong những nội dung phân tích được các nhà đầu tư, tín
dụng đặc biệt quan tâm. Để đánh giá khả năng sinh lời của vốn, người phân
tích thường tính và so sánh các chỉ tiêu sau:
Lợi nhuận
- Hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh = -------------------Vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận, phản ánh trình độ sử dụng vốn của người quản lý doanh
nghiệp.

15


1.3.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
1.3.3.1. Những nhân tố khách quan
• Môi trường kinh doanh:
Doanh nghiệp là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển trong mối quan
hệ qua lại với môi trường xung quanh.
- Môi trường tự nhiên:
Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như khí
hậu, thời tiết, môi trường. Khoa học càng phát triển thì con người càng
nhận thức được rằng họ là một bộ phận không thể tách rời của tự nhiên.
Các điều kiện làm việc trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ tăng năng
suất lao động và tăng hiệu quả công việc. Tính thời vụ, thiên tai, lũ lụt…
gây khó khăn rất lớn cho nhiều doanh nghiệp.
- Môi trường kinh tế:
Là tác động của các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc
dân, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá hối đoái…. đến các hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn do nền kinh tế có lạm phát, sức
mua của đồng tiền giảm sút dẫn tới sự tăng giá các loại vật tư hàng hóa…
Vì vậy, nếu doanh nghiệp không kịp thời điều chỉnh giá trị của các loại tài
sản đó thì sẽ làm cho vốn của doanh nghiệp bị mât dần theo tốc độ trượt giá
của tiền tệ
- Môi trường pháp lý:
Là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật tác động
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, nhà nước tạo
môi trường điều hành cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô. Với bất kỳ sự thay đổi nào
trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối các mảng hoạt động của
doanh nghiệp. Các văn bản pháp luật về tài chính, về quy chế đầu tư như

16


các quy định về trích khấu hao, về tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản về
thuế … đều ảnh hưởng lớn tới hoạt động của doanh nghiệp.
- Môi trường chính trị, văn hóa:
Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới khách hàng. Do
đó các phong tục tập quán của khách hàng sẽ ảnh hưởng trưc tiếp tới hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môi
trường văn hóa lành mạnh, chính trị ổn định thì hiệu quả sản xuất kinh
doanh sẽ được nâng cao.
- Môi trường khoa học công nghệ: Là sự tác động của các yếu tố như
trình độ tiến bộ của KHKT, công nghệ.
Trong điều kiện hiện nay, chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các
nước rất lớn. Doanh nghiệp muốn kinh doanh có hiệu quả thì cần phải nắm
bắt được công nghệ hiện đại vì công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp
tăng năng suất, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tính
cạnh tranh…
- Môi trường cạnh tranh:
Cơ chế thị trường là cơ chế có sự cạnh tranh gay gắt. Bất cứ doanh
nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển cũng đều phải đứng vững trong cạnh
tranh. Doanh nghiệp phải sản xuất ra mặt hàng mặt hàng phải căn cứ vào
nhu cầu hiện tại và tương lai. Sản phẩm để cạnh tranh phải có chất lượng
cao, giá thành hạ, mà điều này chỉ có ở những doanh nghiệp nâng cao hàm
lượng công nghệ, kỹ thuật của TSCĐ. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải
có kế hoạch đầu tư, cải tạo, đầu tư mới tài sản cố định trước mắt cũng như
lâu dài.
• Nhân tố giá cả:
Đây là nhân tố do doanh nghiệp quyết định nhưng lại phụ thuộc vào
mức chung của thị trường. Khi giá cả tăng, các kết quả kinh doanh tăng dẫn
đến hiệu quả sử dụng vốn tăng, đồng thời sự biến động về giá cả sẽ làm cho

17


hoạt động của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng đến hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.3.3.2 Những nhân tố chủ quan
Ngoài các nhân tố khách quan trên, còn rất nhiều nhân tố chủ quan do
chính bản thân doanh nghiệp tạo nên làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
vốn. Nhân tố này gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả cuối cùng
của hoạt động kinh doanh cả về trước mắt cũng như lâu dài. Bởi vậy, việc
xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với các yếu tố này cực kỳ quan trọng.
Thông thường, trên góc độ tổng quát, người ta xem xét những yếu tố sau:
- Ngành nghề kinh doanh:
Nhân tố này tạo ra điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng như định
hướng cho nó trong suốt quá trình tồn tại. Với một ngành nghề kinh doanh
đã được chọn, chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu
tiên về tài chính bao gồm:
+ Cơ cấu vốn hợp lý
+ Chi phí vốn của công ty bao nhiêu là hợp lý để giữ không làm thay
đổi số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu công ty.
+ Cơ cấu tài sản được đầu tư như thế nào thì hợp lý, mức độ hiện đại
so với đối thủ cạnh tranh đến đâu.
+ Nguồn tài trợ được huy động từ đâu, có bảo đảm lâu dài và an toàn
không.
+ Ngoài ra, qua ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp còn có thể tự
xác định được mức độ lợi nhuận đạt được, khả năng chiếm lĩnh và phát
triển thị trường trong tương lai, sự đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm kinh
doanh… để có kế hoạch bố trí nguồn lực cho phù hợp.
- Lao động:
+ Trình độ quản lý của lãnh đạo: Vai trò của người lãnh đạo trong sản
xuất kinh doanh là rất quan trọng, thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu và
hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm giảm
18


những chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh,
đem lại cho doanh nghiệp sự tăng trưởng và phát triển.
+ Trình độ tay nghề của người lao động:
Thể hiện ở khả năng tìm tòi sáng tạo trong công việc, tăng năng suất
lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
+ Cung ứng hàng hóa: là quá trình tổ chức nguồn hàng cho hoạt động
bán ra bao gồm hoạt động mua và dự trữ.
Để đảm bảo việc kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn, mua hàng phải
đảm bảo chi phí tối ưu tức là phải hạ thấp giá thành sản phẩm đầu vào. Mục
tiêu chất lượng trong mua hàng là phải phù hợp với chi phí bỏ ra và nhu
cầu của thị trường vói khả năng thanh toán của khách hàng.
Do hoạt động bán hàng phụ thuộc vào tính thời vụ của tiêu dùng và sự
biến động của sức mua, đồng thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh
luôn có những cơ hội xuất hiện một cách bất ngờ nên đòi hỏi doanh nghiệp
phải luôn có một mặt hàng dự trữ thích hợp để đảm bảo tính liên tục và
tránh lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Bán hàng hay tiêu thụ sản phẩm:
Là khâu quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong
đó việc xac định giá bán tối ưu hết sức phức tạp, thể hiện rất rõ trình độ và
năng lực tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trình độ quản lý và sử dụng nguồn vốn:
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Công cụ chủ yếu để quản lý các nguồn tài chính là hệ thống
kế toán tài chính.
Nếu công tác kế toán được thực hiện tốt sẽ dẫn đến mất mát chiếm
dụng, sử dụng không đúng mục đích…gây lãng phí tài sản, đồng thời có
thể gây các tệ nạn tham ô hối lộ, tiêu cực…là các căn bệnh thường gặp
trong cơ chế hiện nay. Hơn nữa việc sử dụng vốn còn được thể hiện thông
qua phương án đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư. Việc lựa chọn không phù hợp
19


và đầu tư vốn vào các lĩnh vực không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng vừa thừa
lại vừa thiếu vốn, gây ứ đọng, hao hụt mất mát làm cho hiệu quả sử dụng
vốn rất thấp.
- Mối quan hệ của doanh nghiệp:
Mối quan hệ này được đặt trên hai phương diện là quan hệ giữa doanh
nghiệp với khách hàng và mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung
cấp. Điều này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới nhịp độ sản xuất, khả
năng phân phối sản phẩm, lượng hàng hóa tiêu thụ…là những vấn đề trực
tiếp tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có mối
quan hệ tốt đối với khách hàng và nhà cung cấp thì nó sẽ bảo đảm tương lai
lâu dài cho doanh nghiệp bởi đầu vào được đảm bảo đầu đủ và sản phẩm
làm ra được tiêu thụ hết. Để được vậy, doanh nghiệp cần phải có kế hoạch
cụ thể để duy trì những bạn hàng lâu năm lại vừa tăng cường thêm những
bạn hàng mới. Biện pháp mà mỗi doanh nghiệp đề ra không giống nhau mà
còn phụ thuộc vào tình hình hiện tại của từng doanh nghiệp. Nhưng chủ
yếu là các biện pháp như: đổi mới quy trình thanh toán thuận tiện, mở rộng
mạng lưới bán hàngvà thu mua nguyên vật liệu, đa dạng hóa sản phẩm…
Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng tới hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có thể có nhiều nguyên nhân
khác tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh cụ thể của mỗi doanh nghiệp.
các doanh nghiệp cần nghiên cứu, xem xét từng nguyên nhân để hạn chế
một cách tối đa những hậu quả xấu có thể xảy ra, đảm bảo cho việc tổ chức
huy động đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh đồng thời
làm cho hiệu quả sử dụng vốn ngày càng tăng.

20


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHÀN XÂY DỰNG 79
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 79
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

Công ty Cổ phần Xây dựng 79 là một doanh nghiệp nhà nước, tiền
thân là đội công trình 11- Công ty cầu 12- thuộc Tổng Công ty Xây dựng
công trình giao thông 1-Bộ giao thông vận tải. Công ty có trụ sở chính tại :
số 16 – Phố Sài Đồng- Phường Sài Đồng- Quận Long Biên- TP Hà Nội.
Điện thoại: (04). 8.276.566, (04). 8.289.071- Fax: (04)- 8.289.071. Được
thành lập vào ngày 02/03/1997 theo quyết định số 112/QĐ/TCCB ngày
15/1/1995 của Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải.
Công ty là một đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân riêng,
đồng thời chịu sự chỉ đạo trực tiếp của tổng công ty Công trình GT 1. Do
ảnh hưởng của ngành xây lắp là liên tục di chuyển khắp các miền nên việc
sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào địa hình, thời tiết khí hậu, giá
cả thị trường nơi thi công sản xuất. Ngoài ra, sự tác động lớn nhất đó là cơ
chế đấu thầu xây dựng hiện nay đòi hỏi công ty phải có đội ngũ cán bộ,
công nhân viên có năng lực, thiết bị, vật tư, tiền vồn phải dồi dào mới có
thể đảm bảo trúng thầu.
Công ty có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước, thi công các công
trình mang tính chất chiến lược của Đảng và Nhà nước, các công trình
mang tính chất phúc lợi xã hội có tầm quan trọng cho quá trình phát triển
kinh tế của đất nước như đập Võ Lai (Lào Cai 1998 – 1999); hệ thống tiêu
úng và chống lũ Phú Cường – Hòa Bình (1999 – 2000); bê tông hoá kênh
Nậm Rốm – Lai Châu…. Nói chung, Công ty luôn đảm bảo thi công đúng
tiến độ và bàn giao công trình đúng kế hoạch. Công ty đã tham gia đáu thầu
và thắng thầu xây lắp cũng như được Tổng công ty giao cho nhiều hợp
21


đồng quan trọng. Đó là những ghi nhận bước đầu về 1 phương hướng hoạt
động kinh doanh hợp lý của Công ty. Tuy vậy Công ty còn nhiều hạn chế
do là một doanh nghiệp nhà nước trước đây chủ yếu thực hiện các công
trình do Tổng Công ty giao va trực tiếp quản lý tất cả các khâu, thực hiện
theo kế hoạch đã đề sẵn không có tính năng động, sáng tạo, cơ chế giao lưu
vốn vẫn còn chịu sức ép nặng nề của các mệnh lệnh hành chính và chỉ tiêu,
làm mất đi quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.
Đối với công ty cổ phần xây dựng 79, nguồn vốn kinh doanh được
hình thành chủ yếu từ vốn ngân sách nhà nước, vốn tự bổ xung và vốn vay
qua hệ thống ngân hàng, còn vốn huy động từ các nguồn khác như huy
động cán bộ cộng nhân viên đóng góp, các khoản tiền nhàn rỗi trong và
ngoài doanh nghiệp thì còn rất ít và không đáng kể. Với thị trường vốn
thiếu hụt như hiện nay nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiêu quả hoạt động
tài chính của công ty khi xác định một cơ cấu vốn tối ưu và lựa chọn nguồn
tài chính thích hợp.
Việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã biến tài sản trong doanh
nghiệp trở thành sở hữu hỗn hợp của nhiều chủ thể, trong đó bao gồm sở hữu
Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu của nhiều cá nhân. trên cơ sở chế độ góp
vốn như vậy, đòi hỏi tổ chức bộ máy quản lý của Công ty phải được thiết kế
một cách tối ưu nhất để bảo toàn và phát triển nguồn vốn này.
2. Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng 79

22


MÔ HÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY ĐƯỢC TỔ CHỨC
THEO SƠ ĐỒ SAU:

Ban giám đốc
Ban quản lý dự án
(Đ/D chủ đầu tư)

Cán bộ giám sát
của ban QLDA
Chỉ huy trưởng công
trường

Phòng Tài chính
– Kế toán

Đội xây dựng
số 1,2…

Kỹ sư trưởng công
trường

Phòng kỹ thuật và
quản lý công trình

Đội thi công
cơ giới

Đội cung ứng
vật tư

* Giám đốc công ty hoặc phó giám đốc công ty phụ trách XDCB:
- Bổ nhiệm các chức danh Ban chỉ huy công trường
- Chỉ đạo các Chỉ huy trưởng công trường
* Phòng kỹ thuật và quản lý công trình: Thực hiện và triển khai
các chức năng nhiệm vụ:
- Tổ chức theo dõi, giám sát công trường.
- Báo cáo giám đốc phụ trách về: Tiến độ, chất lượng và các vấn đề
liên quan công trình.
- Quản lý thống kê các dữ liệu công trình (hồ sơ kỹ thuật,
kinh tế).
- Cùng với Ban chỉ huy công trường làm thủ tục nghiệm thu bàn
giao công trình.
23


- Theo dõi các chế độ lao động, khen thưởng, kỷ luật và an toàn lao
động công trường.
* Phòng tài chính - kế toán
- Báo cáo Giám đốc phụ trách kế hoạch vốn cho công trường.
- Kiểm tra quản lý các chứng từ thanh toán công trình.
- Làm thủ tục đăng ký thuế của công trường với chi cục thuế tại địa
phận thi công.
- Thanh quyết toán công trình đã được nghiệm thu bàn giao.
* Ban chỉ huy công trường
Chỉ huy trưởng công trường:
- Báo cáo Giám đốc quản lý, các phòng chức năng về :
+ Tiến độ thi công.
+ Biện pháp thi công.
+ Tổ chức nhân sự, lao động .
+ Kế hoạch vốn thi công.
- Làm việc, quan hệ với Chủ đầu tư và các cơ quan liên quan đến
công trình .
- Chịu trách nhiệm và giải quyết các vấn đề liên quan đến công trình
ngay cả khi công trình đã hoàn thành như:
+ Bảo hành.
+ Thanh quyết toán.
+ Thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền.
* Các đội thi công
- Các đội thi công trực thuộc ban chỉ huy công trường chịu sự quản
lý, giám sát trực tiếp của Ban chỉ huy.
* Bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần xây dựng 79

24


BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY

Kế toán trưởng

Tài vụ

Chế độ
chính
sách

Thanh
toán và
vốn

Kế toán

Kế
toán
TSCĐ
và vật


Thủ
quỹ

Kế
K. toán
toán
tập hợp
các
CPSX và
khoản tính giá
T.toán
thành

Kế
toán
tổng
hợp

- Bộ phận tài vụ: Thực hiện chức năng duyệt chi tiêu, xem xét các
chế độ chính sách được thực hiện tại các đơn vị, lo tiền vốn đảm bảo cho
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lập các báo cáo, kế hoạch
về tài chính và thực hiện các chế độ đối với ngân sách nhà nước, cấp trên,
với người lao động, người mua, người bán, ngân hàng và các cơ quan hữu
quan khác, tham gia và giup đỡ giám đốc công ty trong khâu quản lý và
chấp hành pháp luật, kinh doanh sao cho có lãi.
- Bộ phận kế toán: Là bộ phận theo dõi ghi chép phản ánh mọi hoạt
động sản xuát kinh doanh bằng tiền thông qua sổ sách kế toán từ khâu dự
trữ, sản xuất, thanh toán, tieu thụ và kết quả. Qua đó để căn cứ so sánh với
mục tieu đề ra với năm trước…Qua những số liệu kế toán đó mà ban giam
đốc nắm được tình hình tại các khâu ra sao để có biện pháp phù hợp nhằm
kinh doanh tót hơn.
Bộ phận này cũng là bộ phận quản lý tài sản tiền vốn của đơn vị,
thông qua công tác ghi chép, số liệu từ bộ phận này là căn cứ để trích nộp

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×