Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC QUA DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN LỊCH SỬ- GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU
NƯỚC QUA DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN LỊCH SỬ- GIÁO
DỤC QUỐC PHÒNG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “ Dạy học tích
hợp sẽ mang lại nhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng được nhiều kỹ
năng, nền tảng kiến thức tích hợp giúp việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn,
khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái độ học tập tích cực đối
với học sinh. Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về số lượng
và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng
một số chuyên đề dạy học tích hợp. Không đòi hỏi phải tăng cường quá
nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học”.
Đối với môn Lịch sử THPT, cần viết dưới dạng chủ đề. Đây là sự kết
hợp giữa việc truyền thụ kiến thức là chủ yếu với định hướng phát triển năng
lực của người học, khi vai trò của người dạy và người học có sự thay đổi. “
Với cách dạy này, người thầy không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức mà
giữ vai trò điều hành các hoạt động của các lớp học, tức là có nhiệm vụ tổ
chức, hướng dẫn học sinh học tập, giúp các em tự tìm kiếm thông tin theo chủ
đề có tính chất khái quát và chuyên sâu; tích cực, chủ động thu nhận kiến
thức để có thể vận dụng vào thực tiễn” – PGS Vỳ cho hay.

Thực trạng của việc dạy và học lịch sử trong nhà trường phổ thông hiện
còn những tồn tại là nội dung của nhiều bài giảng lịch sử rất khô khan, nhiều
sự kiện nên chưa tạo được hứng thú học lịch sử đối với học sinh. Học sinh
hiểu một cách rời rạc, nông cạn về kiến thức lịch sử, không nắm được mối
liên hệ hữu cơ giữa các tri thức thuộc lĩnh vực đời sống xã hội, về kiến thức
liên môn…
Dạy học theo chủ đề tích hợp là một trong những nguyên tắc quan
trọng trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, đây được coi là
một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh,
đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục. Dạy học tích hợp làm cho người học
sử nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục, thống nhất, thấy
được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, khắc phục
được tính tản mạn rời rạc trong kiến thức.
Dạy học liên môn trong môn Lịch sử là hình thức liên kết những kiến
thức giao thoa với môn Lịch sử như Ngữ văn, Địa lí, Giáo dục quốc phòng,
Giáo dục công dân. Rèn luyện kĩ năng sống, Giáo dục bảo vệ di sản văn hóa
địa phương… để học sinh tiếp thu kiến thức, biết vận dụng kiến thức lịch sử
vào cuộc sống và ngược lại từ cuộc sống để giải quyết các vấn đề liên quan
đến lịch sử…
Trong chương trình phổ thông, giáo viên có thể sử dụng phương pháp
tích hợp trong hầu hết các bài dạy, từ đó làm tăng hứng thú cho học sinh.

1


Chính vì những lí do trên nên tôi chuyên đề “ Một số kinh nghiệm về
giáo dục truyền thống yêu nước qua dạy học tích hợp liên môn Lịch Sử- Giáo
dục quốc phòng”
2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tôi sử dụng kiến thức một số môn học khác giáo dục quốc
phòng, văn học, giáo dục công dân để giảng dạy và làm nổi bật những nội
dung trọng tâm của chuyên đề. Qua đó, giúp học sinh nhận thức quá trình
dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta từ thời Hùng Vương đến giữa
thế kỉ XIX. Đồng thời qua phần tích hợp, tôi có thể hỏi, kiểm tra được nhận
thức của học sinh những kĩ năng học tập bộ môn lịch sử đối với từng giai
đoạn trong quá trình dựng nước và giữ nước. Quá trình thực hiện đề tài, tôi
mong muốn giờ học Lịch sử phải thực sự là một giờ học hấp dẫn, có ý nghĩa
giáo dục, giáo dưỡng và thực sự tạo được hứng thú học tập và phát triển toàn
diện cho học sinh.
3. Phạm vi nghiên cứu


Trong phạm vi của đề tài, tôi vận dụng một số kiến thuộc các môn lịch
sử và giáo dục quốc phòng để vận dụng vào dạy bài 27- Lịch Sử 10: “Quá
trình dựng nước và giữ nước” và bài 1- Giáo dục quốc phòng lớp 10: “
Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” , chương trình
chuẩn trong năm học 2014-1015. Qua nội dung tích hợp, học sinh có thể hiểu
được kiến thức bài học, nhận thức được một cách khái quát quá trình dựng
nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta từ thời Hùng Vương đến giữa thế
kỉ XIX, từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm của giai đoạn lich sử này và
vận dụng nội dung kiến thức này trong học tập và nghiên cứu các môn học
khác như Địa Lí, Ngữ Văn...
4. Đối tượng nghiên cứu
Với chuyên đề này tôi áp dụng thử nghiệm dạy với lớp 10A, 10B trong
năm học 2014-2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận sử học Mác- Lênin, đề tài được thực hiện
dựa trên phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgic, phương pháp liên liên ngành....Phân tích một số nội dung lịch sử trọng
tâm của bài học bằng việc dựa trên kiến thức của các môn Địa Lí, Ngữ Văn,
Giáo dục quốc phòng.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Theo từ điển Tiếng Việt: Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích
hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp.
Theo từ điển giáo dục học: Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực
khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.
Trong tiếng Anh, tích hợp có nghĩa là toàn bộ, toàn thể. Có nghĩa là sự
phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ
thống ấy.
2


Tích hợp là một xu thế, một trào lưu dạy học và giáo dục phổ biến trên
thế giới trong nhiều thập kỉ qua. Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong
quá trình dạy học là cần thiết. dạy học tích hợp là một xu hướng của lí luận
dạy học và được nhiều nước trên thế giới thực hiện. Quan điểm dạy học tích
hợp được xem là định hướng lí luận của chương trình giáo dục Việt Nam hiện
hành và những năm sắp tới.
Trong bộ môn Lịch Sử có rất nhiều nội dung cần có sự phối hợp giảng
dạy kiến thức Sử học với các môn khoa học khác, đặc biệt là các môn khoa
học xã hội như giáo dục quốc phòng và giáo dục công dân. Ở bài 27 phần
Lịch sử lớp 10 – ban cơ bản là bài tổng kết lại từ bài 13 đến bài 26 nhưng
lượng kiến thức nhiều mà thời lượng trên lớp chỉ có 1 tiết, nên để có thể hiểu
được nội dung này một cách khái quát, sâu sắc những vấn đề cốt lõi của bài
học, giảm được thời lượng trên lớp cũng như có thể vận dụng vào việc học tập
các môn học khác thì việc vận dụng kiến thức liên môn là hết sức cần thiết ở
phần này.
2. Thực tế bài giảng tích hợp qua giáo án
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG
YÊU NƯỚC QUA DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN LỊCH SỬGIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
2.1. Mục tiêu dạy học:
a. Kiến thức:
Trọng tâm:
- Quá trình xây dựng và phát triển đất nước (Lịch sử- Bài 27- Lớp 10).
- Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm: Chống quân Nam Hán; chống
Tống thời Lí; chống quân Mông – Nguyên; chống quân Minh; chống quân
Thanh (Lịch sử- Bài 27 –Lớp 10).
- Các anh hùng Lịch sử Việt Nam (Lịch sử- Bài 27- Lớp 10)
- Truyền thống đánh giặc, giữ nước của dân tộc Việt Nam (Giáo dục quốc
phòng- Bài 1- Lớp 10).
b. Kỹ năng:
- Rèn luyện học sinh kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá sự kiện lịch sử.
- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ, kĩ năng phân tích, tổng
hợp kiến thức.
- Rèn luyện kĩ năng liên hệ thực tế và rút ra bài học cho bản thân.
c. Vận dụng:
Học sinh vận dụng kiến thức môn Lịch sử - Giáo dục quốc phòng để giải
quyết vấn đề bài học đặt ra.
2.2 Phương pháp, phương tiện:
- Phương pháp: đàm thoại, thảo luận nhóm
- Thiết bị, đồ dùng dạy học:
+ Máy chiếu Projector, máy tính...
+ Tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, phim tư liệu.
+ Các tư liệu thành văn liên quan đến bài học.
3


2. 3. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học:
Hoạt động của GV và HS

Nội dung

A. Khởi động
Hoạt động cá nhân ( 2 phút)
I. Quá trình xây dựng và phát triển
Giáo viên cho học sinh chơi trò đất nước của dân tộc Việt Nam
chơi khởi động
1. Thời Văn Lang – Âu Lạc :
Bảng thống kê
a. Thời gian:
- Thế kỉ VII trước công nguyên: quốc
gia Văn Lang ra đời.
Thời gian
Thời kì
- Thế kỉ III trước công nguyên: quốc
Thế kỉ VII Văn Lang – Âu
gia Âu Lạc thành lập.
TCN179 Lạc
b. Địa bàn
TCN
179TCN - 938
Thế kỉ X

Bắc Thuộc
Ngô,
ĐinhTiền Lê
XI- Lí – Trần

Thế kỉ
XIII
Thế kỉ XV
Thế kỉ XIX

Lê sơ
Nguyễn

GV chỉ cho HS lược đồ Việt Nam
thời Văn Lang- Âu Lạc để cho HS
hiểu thời bấy giờ địa bàn bao gồm
Bắc Bộ kéo dài tới Đèo Ngang của
tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
GV cho HS quan sát về sơ đồ bộ
máy nhà nước

c. Bộ máy nhà nước

Em hãy nhận xét về bộ máy nhà
nước thời Văn Lang – Âu Lạc?
GV nhận xét, kết luận: Bộ máy nhà
nước mặc dù còn đơn giản và sơ
khai nhưng đánh dấu thời kì dựng
nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
2. Thời Bắc thuộc:
a. Phong kiến phương Bắc đô hộ
Hoạt động cá nhân: ( 10 phút)
GV đàm thoại với HS về thời Bắc b. Các cuộc đấu tranh giành độc lập
thuộc
Nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa
4


Hai Bà Trưng:
“ Một xin rửa sạch mối thù
Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sởi công lênh này”
GV nhấn mạnh: Đây là cuộc khởi
nghĩa mở đầu quá trình đấu tranh
chống phong kiến phương Bắc của
dân tộc Việt Nam.

c. Nền độc lập tự chủ được thành lập.

GV cho HS quan sát về cuộc khởi
nghĩa của Lí Bí để thành lập nhà
nước Vạn Xuân vào năm 544.

3. Thời Ngô, Đinh – Tiền Lê
a. Chiến thắng chống quân Nam
Hán trên sông Bạch Đằng của Ngô
Quyền

GV cho HS quan sát lược đồ chiến
thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền và
nhấn mạnh cho HS ý nghĩa lịch sử:
- Kết thúc ngàn năm phong
kiến phương Bắc đô hộ ở
nước ta.
- Mở ra thời kì độc lập tự chủ
lâu dài cho quốc gia, dân
tộc.

-> Nền độc lập của dân tộc được
khôi phục.
b. Ngô Quyền lên ngôi đóng đô ở Cổ
Loa, nối tiếp vương triều Ngô là vương
triều Đinh – Tiền Lê.
=> Các vương triều này đặt nền
móng cho chế độ phong kiến Đại
Việt.
5


4. Thời Lí – Trần
GV đọc đoạn trích về Chiếu dời đô
a. Năm 1009, Lí Công Uẩn lên ngôi,
của Lí Công Uẩn để thấy tầm nhìn lập ra vương triều Lí
chiến lược khi chọn thành Đại La
làm kinh đô:
“ Thành Đại La ( Thăng Long), ở
b. Năm 1010, Lí Công Uẩn rời đô từ
giữa khu vực trời đất, có thể rồng Hoa Lư về Đại La .
cuộn hổ ngồi, ở giữa nam bắc
đông tây tiện hình thế núi sông,
sau trước đất rộng mà bằng phẳng,
chỗ cao mà sáng sủa, dân cư
không khổ vì ngập lụt, muôn vật
rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp
nước Việt chỗ ấy là nơi hơn cả,
thực là chỗ định đô của kinh sư
muôn đời”
GV chốt ý: Với tầm nhìn chiến
lược của Lí Công Uẩn thì hiện nay
Hà Nội vẫn được chọn làm thủ đô
yêu dấu của dân tộc Việt Nam:

c. Sự hưng thịnh của Việt Nam
dưới thời Trần
• + Bộ máy nhà nước:
• + Luật pháp: Hình luật.
• + Quân đội: quân chính quy và
ngoại binh
• + Mở rộng lãnh thổ

GV kể cho HS nghe về việc mở
rộng lãnh thổ gắn liền với câu
chuyện hôn nhân giữa vua Chế
Mân và công chúa Huyền Trân.

6


GV giới thiệu cải cách của vua Lê
Thánh Tông qua bộ máy nhà nước:

5. Thời Lê sơ
Cải cách hành chính của vua Lê
Thánh Tông:
+ Bộ máy nhà nước

GV chốt ý: với cải cách của vua Lê
Thánh Tông nhân dân rất là ca
ngợi:
“ Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng
buồn ăn”

+ Giáo dục: “ Hiền tài là nguyên
khí quốc gia”
+ Luật pháp: Bộ luật Hồng Đức

6. Thời Nguyễn

GV cho HS quan sát lược đồ Việt
Nam thời vua Minh Mạng
GV chốt lại: Quá trình xây dựng
và phát triển đất nước diễn ra vô
cùng gian khổ và vất vả nhưng
rất đáng tự hào.

B. TĂNG TỐC
II. QUÁ TRÌNH GIỮ NƯỚC CỦA
Hoạt động nhóm: ( 30 phút)
1. Cuộc kháng chiến chống quân DÂN TỘC VIỆT NAM ( Từ thời Hùng
Vương đến thế kỉ XIX)
Nam Hán
2. Cuộc kháng chiến chống Tống
thời Lí.
3. Cuộc kháng chiến chống quân
7


Mông – Nguyên.
4. Cuộc kháng chiến chống quân
Minh.
5. Cuộc kháng chiến chống quân
Thanh.
6. Các anh hùng lịch sử Việt Nam
( từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX).
1. Cuộc kháng chiến chống quân
Nam Hán
HS chuẩn bị trước ở nhà.
a. Nguyên nhân
Các nhóm trình bày.
Kiền Công Tiễn cầu cứu nhà Nam
Nhóm khác nhận xét, bổ sung
Hán
b. Diễn biến
- Năm 938: quân Nam Hán xâm lược
HS thuyết trình
nước ta.
- Ngô Quyền:
+ Lãnh đạo nhân dân giết chế tên phản
Sau khi HS trình bày xong, GV cho tặc Kiều Công Tiễn.
HS xem đoạn phim về chiến thắng
+ Tổ chức đánh quân Nam Hán trên
Bạch Đằng của Ngô Quyền
sông Bạch Đằng.
c. Kết quả
Đập tan âm mưu xâm lược của quân
Nam Hán.
d. Ý nghĩa
Chiến thắng chống quân Nam Hán
trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền
chấm dứt ngàn năm phong kiến phương
Bắc đô hộ, mở ra thời kì độc lập tự chủ
lâu dài của quốc gia, dân tộc.
2. Cuộc kháng chiến chống Tống thời
Lí.
HS trình bày cuộc kháng chiến:
- Nguyên nhân
- Diễn biến
- Kết quả
- Ý nghĩa

8


3. Cuộc kháng chiến chống quân
Mông – Nguyên.

HS nhóm khác yêu cầu nhóm này
giải thích về vấn đề các em chưa
hiểu:
- Tại sao quân dân nhà Trần lại
có thể 3 lần chiến thắng quân
Mông – Nguyên?
- Tướng lãnh đạo cuộc kháng
chiến chống quân Mông – Nguyên.
GV sẽ trợ giúp cho nhóm trưởng để
giải đáp thắc mắc của các bạn

4. Cuộc kháng chiến chống quân
Minh.

Đại diện của nhóm lên trình bày
GV chốt lại vấn đề.

5. Cuộc kháng chiến chống quân
Thanh.

Đại diện nhóm trình bày cuộc
kháng chiến bằng cách trình chiếu
sản phẩm PowerPoint do nhóm tự
thiết kế.

9


6. Các anh hùng lịch sử Việt Nam ( từ
nguồn gốc đến thế kỉ XIX).

Sản phẩm do nhóm trình bày gồm
có:
- Phim về các anh hùng lịch sử Việt
Nam
- Đàm thoại với học sinh các nhóm
khác về nhân vật lịch sử.
- Bài hát: Dân nước nam
- Kết thúc là hình ảnh về anh hùng
thời Trần với hai chữ “ sát thát”
trên tay trao lại hào khí yêu nước
cho thế hệ trẻ hôm nay.
HS các nhóm khác phát biểu cảm
nhận của mình sau khi nghe phần
thuyết trình của nhóm về các anh
hùng lịch sử Việt Nam.

III. Truyền thống đánh giặc, giữ
nước của dân tộc Việt Nam
1. Truyền thống dựng nước đi đôi với
giữ nước
Hoạt động nhóm: ( 5 phút)
GV cho HS chơi trò chơi ô chữ để
dự đoán truyền thống.
GV hướng dẫn luật chơi
HS lần lượt trả lời các câu hỏi
1,2,3,4,5 tuỳ theo lựa chọn của các
nhóm rồi sau đó trả lời tự chìa khoá
dựa trên chữ màu đỏ gợi ý
Câu 1 ( 4 chữ cái): Thái úy Lí
Thường Kiệt đã lãnh đạo nhân
dân chống quân xâm lược….
Câu 2 ( 8 chữ cái): Ngô Quyền đã
chiến thắng quân Nam Hán trên
sông…..
Câu 3 ( 6 chữ cái): Nghĩa quân
…..đại phá quân Thanh năm 1789
Câu 4 ( 4 chữ cái): Lê lợi lãnh đạo
nghĩa quân Lam Sơn chống
quân….xâm lược
Câu 5 ( 7 chữ cái): Quân dân
…….ba lần kháng chiến chống
quân Nguyên - Mông
CK ( 7 chữ cái): Đây là truyền
thống quý báu của dân tộc ta.

2. Truyền thống lấy ít địch nhiều, lấy
10


yếu chống mạnh
* Hoạt động cá nhân, tập thể ( 3
phút)
GV cho HS quan sát bảng so sánh
tương quan lực lượng giữa ta và
địch trong các cuộc kháng chiến rồi
hỏi HS:
Chúng ta đang muốn nhắc đến
truyền thống nào?
3. Truyền thống cả nước chung sức
đánh giặc, toàn dân đánh giặc,
đánh giặc toàn diện
- Bà Triệu : “Tôi muốn cưỡi cơn gió
mạnh, đạp luồng sóng giữ, chém cá
kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô,
GV thuyết trình các câu nói nổi giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ
không chịu khom lưng làm tỳ thiếp
tiếng của: ( 3 phút)
người”- Bà Triệu
- Trần Quốc Tuấn
- Trần Quốc Tuấn: “ Ta thường tới
bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau
như cắt, nước mắt đầm đìa chỉ hận
chưa thể lột da, ăn gan, uống máu
quân thù. Dẫu cho trăm thân ta phơi
ngoài nội cỏ, nghìn xác ta bọc trong
da ngựa ta cũng nguyện xin làm.
4. Truyền thống đánh giặc bằng trí
thông minh, sáng tạo, bằng nghệ
thuật quân sự độc đáo.
GV hỏi HS các kế sách mà cha ông
ta đã sử dụng trong các cuộc
kháng chiến ( 2 phút)
- Kế sách: bố trí trận địa mai phục
- Kế sách: tiên phát chế nhân
- Kế sách: vườn không nhà trống, dĩ
đoản chế trường...

5. Truyền thống đoàn kết quốc tế

11


GV liên hệ cho HS truyền thống
đoàn kết quốc tế qua cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mĩ ở thế kỉ XX. ( 3 phút)

6. Truyền thống một lòng theo Đảng,
tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, vào thắng lợi của cách
mạng Việt Nam

GV giáo dục cho HS tin tưởng
theo sự lãnh đạo của Đảng
( 5 phút)

C. Về đích

GV đặt câu hỏi:
Vai trò của học sinh trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong giai đoạn hiện nay?
HS thuyết trình ( 5 phút)
GV chốt lại vấn đề ( 2 phút)

12


2.4 Củng cố:
- Quá trình xây dựng và phát triển đất nước ( Từ thời Hùng Vương đến
giữa thế kỉ XIX?
- Trình bày cuộc kháng chiến chống ngoại xâm mà em yêu thích?
- Vai trò của thanh niên trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước?
2.5. Bài thu hoạch:
Em hãy viết bài tự luận khoảng 1000 về nguyên nhân thắng lợi trong
cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên dưới thời Trần?
Bài làm tiêu biểu của học sinh Dương Thị Linh lớp 10A:
Bạch Đằng một trận hoả công
Giặc kia tan tác, máu hồng đỏ sông
Đó là hai câu thơ nổi tiếng miêu tả chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 kết
thúc cuộc xâm lược nước ta của quân Mông – Nguyên. Một đế quốc hùng
mạnh ở thế kỉ XIII mà lại phải thất bại tới 3 lần dưới quân dân nhà Trần. Vậy
nguyên nhân nào đã làm nên chiến thắng hào hùng này:
Thứ nhất, quân dân nhà Trần có tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng
cùng nhau quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm với ý chí đuổi quân Mông –
Nguyên ra khỏi bờ cõi: dẫu cho trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây bọc
trong da ngựa cũng nguyện xin làm.
Thứ hai, sự lãnh đạo tài giỏi của Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn.
Một vị tướng tài ba của dân tộc Việt Nam. Trần Quốc Tuấn đã quên đi mối
thù nhà để phò vua, giúp nước.
Thứ ba, quân dân nhà Trần có lòng yêu nước nồng nàn.
Thứ tư, các chính sách, chiến lược của nhà Trần đúng đắn khích lệ nhân
dân quyết tâm đấu tranh tới cùng để bảo vệ nền độc lập của đất nước. Khi vó
ngựa Mông – Nguyên kéo vào kinh thanh Thăng Long, chúng đã vấp phải
khó khăn khi ta sử dụng kế vườn không nhà trống để rồi ta biết cách dĩ đoản
chế trường khiến quân địch thất bại thảm hại.
Thế hệ trẻ chúng em hôm nay may mắn được sống trong hoà bình để
được biết thêm những trang sử hào hùng của dân tộc ta. Vì vậy chúng em
13


nguyện xin phấn đấu học tập thất tốt để góp phần làm cho đất nước ta ngày
càng giàu đẹp hơn.
2.6. Nhận xét sau khi dạy và học xong giáo án tích hợp
- Nếu như sử dụng phương pháp cũ là giáo viên thuyết trình chủ yếu về
hệ thống kiến thức trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam hoặc hướng dẫn học sinh làm bài tập theo dạng tổng hợp như sau:
Bài tập 1: Hệ thống kiến thức cơ bản của các thời kì xây dựng và phát
triển đất nước theo bảng sau:
Thời kì
Nội dung chủ Kinh tế
Văn hoá - Xã hội
yếu về chính
giáo dục
trị

Bài tập 2: Thống kê các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam
Tên cuộc đấu Vương triều
Lãnh đạo
Kết quả
tranh

Như vậy 1 tiết học của học sinh cũng chỉ dừng lại bằng việc kiểm tra hệ
thống kiến thức của các em chứ chưa phát huy được năng lực tư duy, tự tìm
tòi tài liệu để hiểu sâu về kiến thức lịch sử của dân tộc.
- Nhưng với việc dạy theo giáo án tích hợp, học sinh được:
+ Giáo viên gợi mở kiến thức phong phú không chỉ tài liệu có trong sách
giáo khoa mà còn qua các tài liệu tham khảo và lên mạng.
+ Học sinh chuẩn bị theo nhóm sẽ phát huy cao độ sự đoàn kết và hợp tác
của các em hơn. Từ đó các em sẽ có tiếng nói chung và hiểu nhau hơn.
+ Với việc trình bày trên lớp học sinh sẽ tự tin hơn không chỉ trong học
tập mà còn giao tiếp ngoài xã hội.
+ Học sinh sẽ được chơi các trò chơi qua các phần của bài giảng chứ
không chỉ là chỉ nghe giáo viên thuyết trình từ đầu tới cuối.
+ Giáo viên sẽ nhận thấy sự thông minh, tư duy của học sinh. Đặc biệt
một số học sinh khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tự làm
phim, thiết kế phần nhóm mình chuẩn bị trên giáo án power point rất tốt.
Như vậy các em sẽ thấy việc học Lịch Sử rất sôi nổi, bổ ích. Quan trọng
hơn các em biết rút ra bài học cho chính bản thân mình để sống có ích và biết
phấn đấu vươn lên góp sức lực nhỏ bé để thể hiện lòng yêu nước nồng nàn
của mình. Qua đó, tôi cũng cảm thấy công việc của mình tuy nhỏ bé nhưng có
ý nghĩa lớn lao.

14


3. Tài liệu tham khảo cho bài giảng
TRƯNG NỮ VƯƠNG
(40 - 43)
May mắn thay đến những năm đầu công nguyên từ miền đất Mê Linh
(vùng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, Vĩnh Phú) đã xuất hiện hai người con gái kiệt
xuất Trưng Trắc, Trưng Nhị (gia đình họ Trưng có nghề chăn tằm. Nghề chăn
tằm gọi kén đầy là kén chắc, kén mỏng là kén nhị. Tên Trắc và Nhị từ đó mà
ra) và ở Chu Diên (ở dọc sông đáy, sông Hồng, trên đất Hà Sơn Bình, Hà Nội,
Hải Hưng ngày nay) là chàng trai Thi Sách dũng mãnh. Bởi thế, mùa xuân
năm ấy, khi mùa săn ở Mê Linh bắt đầu, quan Lạc tướng Chu Diên đã cho
con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với
họ Trưng. Ý quan lạc Tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu
Diên liên kết thì chẳng phải tốt lành cho chuyện nhân duyên của đôi trẻ Thi
Sách – Trưng Trắc mà sức mạnh của người Việt sẽ được nhân lên. Sức mạnh
ấy có thể xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán, khôi phục lại
nước cũ của người Việt. Ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng
Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của
người Việt: vợ chồng tuy thành thân nhưng người nào vẫn ở lại đất cũ của
người ấy.
Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với
con trai Lạc tướng Chu Diên. Bởi hắn biết rõ, đằng sau cuộc hôn nhân là sự
liên kết thế lực giữa hai miền đất lớn của người Việt. Sự liên kết ấy đang nhân
bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà Hán. Linh cảm thấy trước một cuộc
chiến sẽ xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê Linh, Tô Định hoảng hốt tìm
cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo
về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn.
Tin dữ từ Chu Diên đưa tới khiến Trưng Trắc đau đớn. Rồi ngay sau
đó, Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết trả thù cho chồng, rửa
nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, dao
búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về nhà làng. Trên bành voi
cao, nữ chủ tướng Mê Linh mặc giáp phục rực rỡ. Dân Mê Linh trông thấy nữ
chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào bám theo chân voi,
theo chủ tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngập trời của đoàn quân khởi nghĩa,
tòa đô úy trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê
Linh đạp bằng dinh lũy giặc tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân trẩy đi phá
quận trị Giao chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi
đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của một biển
người ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu trống đồng của Trưng Trắc, Trưng
Nhị. Tô Định kinh hoàng cao chạy xa bay về Nam Hải chịu tội với vua Hán.
Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho người dân
Việt nhiều đêm liền không ngủ. Trải qua hàng chục đời, nay đất nước của vua
Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của của tướng Mê Linh nay đã
được trả. Trai gái rìu đồng giáo sắt nắm chắc trong tay, những chiếc lông
15


chim cắm ngất ngưỡng trên đầu, bộ áo lông chim xòe rộng theo nhịp trống
đồng dồn dập như không bao giờ dứt. Tin thắng trận bay đi, các quận Cửu
Chân, Nhật nam, Hợp Phố cũng nổi lên theo về với Hai Bà Trưng
Đất Nước sạch bóng quân thù. Hai Bà Trưng được cả Nước tôn lên làm
vua, đóng đô tại Mê Linh. Những nữ thủ lĩnh được phong các chức tướng lĩnh
rồi người nào trở về đất ấy dốc sức cùng dân xây dựng cuộc đời mới. Trưng
Nữ Vương miễn hẳn thuế khóa trong thiên hạ trong hai năm.
Năm Tân Sửu (41) vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long
làm phó tướng cùng với quan Lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn
tinh binh kéo sang đánh Trưng Vương.
Một trận huyết chiến tối sầm cả trời đất giữa 20 vạn quân của Mã Viện
với dân binh các làng chài do Trưng vương thống suất đã diễn ra ở Lăng Bạc
(vùng từ Đông Triều đến Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện đóng sẵn trên
các triền đất cao giữa vùng Lãng Bạc lầy lội chuẩn bị tiến công Mê Linh thì bị
Trưng Vương đem quân tới chận đánh. Hơn một vạn người Việt đã ngã xuống
trong trận đánh bất lợi này. Trưng Vương thu quân về giữ Cấm Khê (vùng
Thạch Thất- Hà Nội và Quốc Oai - Hà Tây). Mã Viện lại kéo tới một loạt trận
huyết chiến lại xảy ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy. Hơn hai vạn người
Việt nữa lại nằm xuống ở đây. Chiến trường chính chống lại cuộc đàn áp man
rợ của Mã Viện là quận Giao Chỉ và Cửu Chân, Tổng số dân mới có 91 vạn
cả già trẻ lớn bé. Vậy mà chỉ trong mấy trận đánh hơn 4 vạn người đã bị giết
và bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn
để sống mái với bọn lang sói theo ý chí kiên cường của Trưng Vương. Trong
một trận đánh, sau khi phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối
cùng, Trưng Trắc, Trưng Nhị đã gieo mình xuống dòng Hát Giang. Đó là
ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43)
NGÔ QUYỀN
(897-944)
Ngô Quyền là bộ tướng của Dương Đình Nghệ sinh ngày 12 tháng 3
năm Đinh Tỵ (897) ở Đường Lâm (Ba Vì, Hà Nội). Cha Ngô Quyền là Ngô
Mân, một hào trưởng có tài. Lớn lên trên quê hương có truyền thống bất
khuất, nơi sản sinh và nuôi dưỡng người anh hùng dân tộc Phùng Hưng, Ngô
Quyền sớm tỏ rõ chí khí phi thường hiếm thấy. Vốn thông minh, có thân thể
cường tráng, lại thường xuyên luyện tập võ nghệ nên tiếng tăm Ngô Quyền
lan rộng cả một vùng. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư mô tả Ngô Quyền "vẻ
khôi ngôi, mắt sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, sức có thể nhấc
vạc, giơ cao". Vì có tài nên Dương Đình Nghệ giao cho Ngô Quyền cai quản
đất Ái Châu và gả con gái cho. Trong 5 năm (934-938), Ngô Quyền đã đem
lại yên vui cho đất Ái Châu, tỏ rõ là người có tài đức.
Khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại, và vua Nam Hán là
Lưu Cung cho con là Vạn vương Hoằng Tháo đem quân sang xâm lược nước
ta, Ngô Quyền đã nhanh chóng tập hợp lực lượng để trừ nội phản, diệt ngoại
16


xâm. Từng hâm mộ tài đức của Ngô Quyền, hào trưởng từ nhiều nơi đem binh
về với Ngô Quyền.
Đầu mùa đông năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền đem quân vượt qua
đèo Ba Dội, tiến như vũ bảo vào Đại La, bắt giết tên nội phản Kiều Công
Tiễn, bêu đầu hắn trước cổng thành. Thù trong, đã diệt xong, Ngô Quyền rảnh
tay đối phó với giặc ngoài.
Đem quân xâm lược nước ta, chưa biết thắng bại ra sao, Lưu Cung đã
vội phong cho con tước Giao Vương (tước vương đất Giao Chỉ). Lưu Cung
còn đích thân đốc quân ra đóng ở trấn Hải Môn để sẵn sàng chi viện.
Để chống lại giặc mạnh, Ngô Quyền đưa ra kế hoạch độc đáo. Ông cho
bố trí một trận địa cọc nhọn bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi
nước triều lên ông cho dử thuyền giặc vào bên trong hàng cọc, đợi khi thủy
triều xuống sẽ dốc toàn sức tiêu diệt địch bằng một trận quyết chiến nhanh
gọn.
Tháng 12 năm Mậu Tuất (938) các chiến thuyền của giặc hùng hổ vượt
biển tiến vào sông Bạch Đằng. Chúng nghênh ngang tràn vào trận địa mai
phục của Ngô Quyền, bị đánh bất ngờ nên chỉ trong một thời gian rất ngắn
thuyền giặc bị đắm gần hết, quân giặc bị chết quá nữa. Máu chảy loang đỏ
khúc sông, Hoằng Tháo cũng bị đâm chết tại trận. Tin thất trận ở Bạch Đằng
cùng với tin Hoằng Tháo bị giết khiến vua Nam Hán kinh hoàng phải khóc
lên, thu nhặt tàn quân rút chạy. Vua Nam Hán trước tên là Nham sau đổi là
Thiệp, rồi sau đó "vì có rồng trắng nổi lên" nên đổi là Cung. Bị thất trận, vua
Nam Hán cho tên Cung là xấu và đổi sang tên khác là Yểm, tức Lưu Yểm.
Sau chiến thắng, Ngô Quyền xưng vương, bãi bõ chức Tiết Độ Sứ,
đóng đô ở Cổ Loa ( Hà nội). Để củng cố trật tự triều chính, Ngô Quyền đặt ra
các chức quan văn võ, qui định nghi lễ trong triều. Đáng tiếc thời tại ngôi của
Ngô Quyền quá ngắn ngủi, chỉ được 6 năm (939-944) thì mất, thọ 47 tuổi.
DANH NHÂN VĂN HOÁ NGUYỄN TRÃI
Nguyễn Trãi (chữ Hán: 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), 1380–1442, là đại
thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Ông được xem là một anh hùng
dân tộc của Việt , một danh nhân văn hóa nổi tiếng toàn quốc .
Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông ngoại là quan Đại tư
đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là
Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên
Đán.
Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổi, mẹ ông mất. Sau đó không lâu, Trần Nguyên
Đán cũng mất. Ông về ở với cha tại quê nội ở làng Nhị Khê.
Năm 1400, sau khi lên ngôi Vua, Hồ Quý Ly mở khoa thi. Nguyễn Trãi ra
thi, ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm ông 20 tuổi. Hồ Quý Ly cử ông giữ
chức Ngự sử đài chánh chưởng. Còn cha ông là Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng
nhãn từ năm 1374, được Hồ Quý Ly cử giữ chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa
trung thư kiêm Hàn lâm Viện học sĩ tư nghiệp Quốc Tử Giám.
Năm 1406, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quân sang xâm lược
17


Việt . Nhà Hồ đem quân ra chống cự, nhưng bị đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly
và một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đưa về Trung
Quốc.
Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo
lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già
trong lúc bị cầm tù.
Nguyễn Trãi bỏ trốn tìm theo Lê Lợi. Mùa xuân năm Quý Mão (1423),
Nguyễn Trãi lấy tên là Trần Văn, Trần Nguyên Hãn lấy tên là Trần Võ vào
Lỗi Giang gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trong khi Bình Định Vương lại cho
Phạm Văn Xảo đi tìm Nguyễn Trãi ở Đông Quan. Vì không biết rõ lai lịch hai
vị này, Nguyễn Như Lãm (cận thần của Lê Lợi) đã giao cho Trần Văn làm Ký
lục quân lương, Trần Võ thì đi chở thuyền. Mãi đến khi Nguyễn Trãi dâng
"Bình Ngô sách", Lê Lợi đã ông giữ lại bên mình để lo giúp việc.
Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo
để lật đổ ách đô hộ của nhà Minh, trở thành quân sư đắc lực của Lê Lợi (vua
Lê Thái Tổ sau này) trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn
bản trả lời quân Minh cho Lê Lợi.
Đặc biệt trong giai đoạn từ 1425, khi quân Lam Sơn trên đà thắng lợi, vây
hãm nhiều thành trì của quân Minh, Nguyễn Trãi thường viết thư gửi cho
tướng giặc trong thành để dụ hàng hoặc làm nản ý chí chiến đấu của tướng
giặc.
Năm 1427, ông được liệt vào hàng Đại phu, coi sóc các việc chính trị và
quản công việc ở Viện Khu mật. Quân Lam Sơn giải phóng vùng Bắc Bộ,
đánh tan viện binh của Vương Thông. Thông rút vào cố thủ trong thành Đông
Quan. Vua Minh sai Liễu Thăng và Mộc Thạnh chia làm 2 đường, cầm hơn
10 vạn quân sang cứu viện. Lúc đó quân Lam Sơn đứng trước hai chọn lựa vì
sắp phải đối phó với địch bên ngoài vào và địch đánh ở trong thành ra. Lực
lượng của Vương Thông hợp với quân Minh sang từ trước đã có khoảng 10
vạn người, quân Lam Sơn vây hãm có chút lơi lỏng đã bị địch ra đánh úp, phải
trả giá cao bằng việc mất 3 tướng giỏi: Lê Triện, Đinh Lễ bị tử trận, Đỗ Bí và
Nguyễn Xí bị bắt. Chỉ có Nguyễn Xí sau đó nhờ mưu trí và nhanh nhẹn đã
trốn thoát về.
Số đông các tướng nóng lòng muốn hạ gấp thành Đông Quan để hết lực lượng
làm nội ứng cho Liễu Thăng và Mộc Thạnh. Riêng Nguyễn Trãi không đồng
tình với quan điểm đó. Ông kiến nghị với Lê Lợi ý kiến của mình và được
chấp thuận. Và Lê Lợi đã theo kế của ông nói với các tướng rằng:
"Đánh Đông Quan là hạ sách. Nếu ta đánh thành kiên cố đó, phải mất
mấy tháng hoặc hàng năm, chưa chắc đã hạ nổi, binh sĩ ta phải mệt mỏi chán
nản. Đang khi đó, viện binh của địch kéo dến, thế là ta bị địch đánh cả đằng
trước, đằng sau, đó là rất nguy. Chi bằng ta hãy nuôi sức khoẻ, chứa dũng khí
chờ đánh viện binh. Khi viện binh đã bị phá, tất nhiên quân trong thành phải
hàng, thế là ta chỉ khó nhọc một phen mà thu lợi gấp hai.
Diễn biến chiến sự sau đó quả như Nguyễn Trãi tiên đoán. Lê Lợi điều các
18


tướng giỏi lên đánh chặn hai đạo viện binh, giết được Liễu Thăng, Mộc Thạnh
bỏ chạy về nước. Vương Thông trong thành tuyệt vọng không còn cứu binh
phải mở cửa thành ra hàng, cùng Lê Lợi thực hiện "hội thề Đông Quan", xin
rút quân về nước và cam kết không sang xâm phạm nữa.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, phong ông tước Quan Phục hầu và cho theo
họ Lê của vua. Sau thắng lợi 1 năm, đầu năm 1429, Lê Lợi nghi ngờ Trần
Nguyên Hãn, một tướng giỏi vốn là dòng dõi nhà Trần định mưu phản, nên sai
người đi bắt hỏi tội. Trần Nguyên Hãn nhảy xuống sông tự vẫn. Vì Nguyên
Hãn là anh em họ của Nguyễn Trãi nên ông cũng bị bắt giam vì nghi ngờ có
liên quan tới tội mưu phản. Sau đó vì không có chứng cứ buộc tội, vua Lê lại
thả ông ra. Tuy nhiên cũng từ đó ông không còn được trọng dụng như trước
nữa.
Năm 1433, Thái Tổ mất, thái tử Nguyên Long lên nối ngôi, tức là Lê
Thái Tông. Những năm đầu, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính điều hành triều
chính. Nguyễn Trãi tham gia giúp vua mới. Nhân bàn về soạn lễ nhạc, Nguyễn
Trãi khuyên nhà vua:
"Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn
cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than".
Năm 1435, ông soạn sách Dư địa chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu
biết, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất
nước. Bị các quyền thần đứng đầu là Lê Sát chèn ép, Nguyễn Trãi cáo quan về
ở ẩn tại Côn Sơn, Chí Linh, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay.
Tuy nhiên, trái với dự tính của Lê Sát, Thái Tông còn ít tuổi nhưng
không dễ trở thành vua bù nhìn để Sát khống chế mãi. Năm 1437, nhà vua anh
minh nhanh chóng chấn chỉnh triều đình, cách chức và giết các quyền thần Lê
Sát, Lê Ngân; các lương thần được trọng dụng trở lại, trong đó có Nguyễn
Trãi. Lúc đó ông đã gần 60 tuổi, lại đảm nhiệm chức vụ cũ, kiêm thêm chức
Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông, Bắc (cả nước
chia làm 5 đạo). Thời gian phò vua Thái Tông, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy
được tài năng của ông. Tuy nhiên khi triều chính khá yên ổn thì cung đình lại
xảy ra tranh chấp. Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh
liền 4 hoàng tử. Các bà vợ tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong
triều xảy ra xung đột. Vua truất hoàng hậu Dương Thị Bí và ngôi thứ tử của
con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho
con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử. Cùng lúc đó một bà
vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị
Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Nguyễn
Trãi cùng một người vợ thứ là Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem
nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau
này).
Tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn
19


Sơn (Chí Linh, Hải Dương ngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ
theo hầu vua. Trên đường về kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa Lệ Chi
Viên nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh. Nguyễn Trãi bị triều đình do hoàng hậu
Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc)
ngày 16 tháng 8 năm 1442. "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người
bị tội, họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó. Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài
những người họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng
họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của
Nguyễn Phi Khanh, những người trong họ của các bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả
vợ lẽ), tất cả đều bị xử tử.
Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi đã để lại cho đời sau rất nhiều trước
tác, cả bằng Hán văn và bằng chữ Nôm, song đã bị thất lạc sau Vụ án Lệ Chi
Viên. Ông là một trong những tác giả thơ Nôm lớn của Việt thời phong kiến,
điển hình là tác phẩm Quốc âm thi tập. Được biết đến nhiều nhất là Bình Ngô
đại cáo được viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong cuộc
chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm (1418–1427). Tác phẩm này đã thể
hiện rõ ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt cũng như việc lấy dân làm
gốc với những câu như:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
(trích theo bản dịch của Ngô Tất Tố)
Bình Ngô đại cáo là bài cáo của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán vào mùa
xuân năm 1428, thay lời Bình Định vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc cuộc
kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt. Về mặt văn chương,
tác phẩm được người đương thời, ngay cả hậu thế, đều rất thán phục và coi là
thiên cổ hùng văn. Có nhiều ý kiến cho rằng: đây được coi là bản tuyên ngôn
độc lập thứ 2 của Việt (sau bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt và trước bản
Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Hồ Chí Minh).
Ngoài ra ông còn để lại nhiều tác phẩm khác như Quốc âm thi tập, Ức
Trai thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí, Lam Sơn thực lục, Phú núi
Chí Linh, Lam Sơn Vĩnh lăng thần đạo bi, Ngọc Đường di cảo.
Tác phẩm Gia huấn ca được người đời truyền tụng và cho là của ông,
nhưng hiện vẫn chưa có chứng cứ lịch sử xác đáng. Tác phẩm Quốc âm thi
20


tậplà tác phẩm viết bằng chữ Nôm đánh dấu sự phát triển mới của văn học
Việt Nam

4. Các sản phẩm của học sinh
Tranh ảnh, tư liệu học sinh sưu tầm:
4.1. Sản phẩm của nhóm 3: Cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên

4.2. Nhóm 1: Cuộc kháng chiến chống quân Nam -Hán

21


4.3.Cuộc kháng chiến chống quân Thanh

4.4. Cuộc kháng chiến chống quân Minh

4.5. Nhóm chuẩn bị về vai trò của học sinh trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

22


III KẾT LUẬN
Sau quá trình dạy giáo án tích hợp liên môn Lịch Sử - Giáo dục quốc
phòng tôi nhận thấy kết quả có sự chênh lệch giữa các lớp được dạy và lớp
không được dạy.
1. Kết quả học tập của học sinh qua bài thu hoạch:
1.1. Các lớp dạy theo giáo án tích hợp
23


Lớ
p
10A
10B

Sĩ số

Điểm trên trung bình
Ghi chú

38
47

Số lượng

Tỉ lệ

38
47

100%
100%

1.2. Các lớp không dạy theo giáo án tích hợp
Lớ
p
10C

Sĩ số

Điểm trên trung bình
Ghi chú

41

Số lượng

Tỉ lệ

38

92,7%

10D

38
36
94,7%
2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho bản thân
Thứ nhất, tôi sẽ cố gắng học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp, đặc
biệt học hỏi kinh nghiệm từ các anh chị cùng nhóm chuyên môn để không
ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình.
Thứ hai, tôi sẽ cố gắng học hỏi và tự học về công nghệ thông tin để
phục vụ thiết kế những bài giảng ngày một hấp dẫn , bổ ích hơn.
Thứ ba, tôi sẽ hợp tác với học sinh nhiều hơn nữa để phát huy hết năng
lực tư duy của các em.
Thứ tư, tôi sẽ tích cực tìm hiểu thêm nhiều tài liệu tham khảo từ nhiều
nguồn khác nhau để trang bị cho học sinh nhiều kiến thức phong phú hơn để
các em thấy rằng học Lịch Sử không nhàm chán giống như các em tưởng
tượng.
Thứ năm, tôi sẽ cố gắng thiết kế nhiều trò chơi Lịch Sử để các em hào
hứng và nắm bài học một cách dễ hiểu nhất.
3. Kiến nghị, đề xuất:
* Đối với nhóm chuyên môn:
Phát huy tính hợp tác giữa các đồng nghiệp để cùng đưa ra các ý tưởng
về các chuyên đề tích hợp bổ ích, phong phú, thiết thực hơn nữa.
* Đối với nhà trường:
- Luôn sát sao chỉ đạo, động viên kịp thời với những nhóm tác giả
chuẩn bị các sản phẩm tích hợp.
- Góp ý cho các giáo viên nhiều hơn nữa để giáo viên có kinh nghiệm
và ý tưởng hay, hấp dẫn.
24


Trong quá trình giảng dạy tôi đúc rút ra kinh nghiệm thực tiễn như đã
trình bày ở trên, với đề tài này chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót và hạn chế rất
mong sự đóng góp ý kiến của lãnh đạo, của quý thầy cô giáo, các đồng nghiệp
cũng như sự chỉ đạo về chuyên môn của trường để bản thân được học hỏi
thêm, mỗi ngày phát huy tốt hơn giờ dạy lịch sử ở trường phổ thông.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Nguyễn Xuân Trường – Th.S. Trần Thái Hà : Tư liệu dạy và
học môn Lịch Sử 10 – Nhà xuất bản Hà Nội năm 2007.
2. Trịnh Tiến Thuận...: Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách
giáo khoa Lịch Sử 10- Nhà xuất bản Hà Nội năm 2007.
3. Trương Ngọc Quýnh ( chủ biên) : Đại cương Lịch Sử Việt Nam
tập I – Nhà xuất bản Giáo dục năm 2001.
4. Bộ giáo dục và đào tạo : Sách giáo viên Lịch Sử 10 – Nhà xuất bản
Giáo dục năm 2006.

Xác nhận của đơn vị

Minh Phú, ngày 18 tháng 5 năm 2015
Tôi xin cam đoan sáng kiến này là của tôi
viết không sao chép của người khác.
Người viết

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×