Tải bản đầy đủ

Quản lý bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên ở các trường mầm non huyện mê linh, thành phố hà nội

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

TRẦN THÙY LINH

QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG KĨ NĂNG TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG GÓC CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC
TRƢỜNG MẦM NON HUYỆN MÊ LINH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kiểm

HÀ NỘI, 2015


2


LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám
hiệu, các quý thầy cô của Phòng Sau Đại học cùng tập thể giáo viên trong
khoa Quản lí giáo dục - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình
giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi cũng như tập
thể lớp QLGD- K17 trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến nhà giáo Nguyễn Thị
Nhường – Hiệu trưởng trường Mầm non TT Sao Mai Kitty, những người
thân trong gia đình đã luôn cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
tôi tham gia học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cám ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng Giáo
dục và Đào tạo huyện Mê Linh, các đồng chí cán bộ quản lí và tập thể giáo
viên các nhà trường mầm non trên địa bàn huyện Mê Linh đã nhiệt tình cung
cấp số liệu, phối hợp trong công tác khảo sát, đánh giá giúp tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn.
Đặc biệt, tôi xin được tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến
PGS.TS Trần Kiểm – người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp
đỡ để tôi có thể vượt qua những khó khăn, có thêm động lực để cố gắng
hoàn thành luận văn này.
Dù đã rất cố gắng nhưng chắc hẳn luận văn không tránh khỏi những
thiết sót, tôi mong rằng sẽ nhận được những sự góp ý chân thành của các
quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ

Trần Thùy Linh


3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và
được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Kiểm. Các nội dung nghiên
cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình
thức nào trước đây.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Nếu có phát hiện có bất kì sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về nội dung luận văn của mình. Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong
quá trình thực hiện (nếu có)
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2015
TÁC GIẢ

Trần Thùy Linh


4

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa...........................................................................................

1

Lời cảm ơn................................................................................................

2

Lời cam đoan............................................................................................

3

Mục lục.......................................................................................................

4

MỞ ĐẦU....................................................................................................

8

NỘI DUNG. ..............................................................................................

14

CHƢƠNG 1. Cơ sở lí luận về quản lí bồi dƣỡng kĩ năng tổ
chức hoạt động góc cho giáo viên ở các trƣờng Mầm non.......

14

1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu...........................................

14

1.1.1. Vị trí của trường Mầm non trong hệ thống giáo dục
quốc dân ....................................................................................................

16

1.1.2. Vị trí, vai trò , nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường
Mầm non ....................................................................................................

19

1.1.3 Hoạt động vui chơi và vai trò của hoạt động vui chơi
trong việc giáo dục trẻ Mầm non..........................................................

21

1.2. Hoạt động góc và vai trò của hoạt động góc đối với việc
giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi ................................................................

24

1.2.1. Đặc điểm tâm sinh lí trẻ mẫu giáo 5 tuổi …....................

24

1.2.2. Hoạt động góc và vai trò của hoạt động góc trong
công tác giáo dục trẻ Mẫu giáo 5 tuổi….............................................

26

1.2.3. Kĩ năng tổ chức hoạt động góc…........................................

28

1.3. Bồi dƣỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc ...........................

32

1.3.1. Bồi dưỡng kĩ năng xác định mục đích tổ chức hoạt
động góc......................................................................................................

32

1.3.2.Bồi dưỡng kĩ năng xác định nội dung hoạt động góc…

33


5

1.3.3. Bồi dưỡng kĩ năng lựa chọn hình thức tổ chức hoạt
động góc.................. ..................................................................................

33

1.3.4. Bồi dưỡng kĩ năng sử dụng phương pháp tổ chức hoạt
động góc .....................................................................................................

34

1.3.5. Bồi dưỡng kĩ năng đánh giá kết quả tổ chức hoạt
động góc ....................................................................................................

35

1.4. Quản lí bồi dƣỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc ...............

35

1.5. Các nhân tổ ảnh hƣởng đến việc quản lí bồi dƣỡng kĩ
năng tổ chức hoạt động góc..................................................................

37

1.5.1. Các nhân tổ liên quan đến chủ thể quản lí .....................

37

1.5.2 Các nhân tổ liên quan đến đối tượng quản lí...................

38

1.5.3 Các nhân tổ thuộc về môi trường bên ngoài....................

38

Kết luận chƣơng 1..................................................................................

40

CHƢƠNG 2. Thực trạng quản lí bồi dƣỡng kĩ năng tổ chức
hoạt động góc cho giáo viên ở các trƣờng Mầm non trên địa
bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội..........................................

41

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã
hội của huyện Mê Linh, thành phố Hà nội.....................................

41

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, truyền
thống lịch sử của huyện Mê Linh, thành phố Hà
nội.................................................................................................................

41

2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mê
Linh ............................................................................................................

43

2.2 Tình hình phát triển giáo dục Mầm non của huyện Mê
Linh..............................................................................................................

50

2.2.1. Tình hình về trường, lớp, giáo viên và học sinh Mầm
non................................................................................................................

50


6

2.2.2. Tình hình về chất lượng chăm sóc, giáo dục ở các
trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê Linh ................................

54

2.3. Khái quát quá trình khảo sát....................................................

63

2.3.1. Mục đích khảo sát.................................................................

63

2.3.2. Nội dung khảo sát..................................................................

63

2.3.3. Đối tượng khảo sát................................................................

63

2.3.4. Phương pháp khảo sát..........................................................

64

2.3.5. Tiêu chí, thang đo khảo sát.................................................

64

2.4. Thực trạng kĩ năng tổ chức hoạt động góc của giáo viên
Mầm non ....................................................................................................

64

2.5 Thực trạng bồi dƣỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc của
giáo viên Mầm non..................................................................................

68

2.6 Thực trạng quản lí bồi dƣỡng kĩ năng tổ chức hoạt động
góc của giáo viên Mầm non................................................................

69

2.6.1 Thực trạng quản lí bồi dưỡng kĩ năng xác định mục
đích tổ chức hoạt động góc...................................................................

69

2.6.2 Thực trạng quản lí bồi dưỡng kĩ năng xác định nội
dung hoạt động góc..................................................................................

70

2.6.3 Thực trạng quản lí bồi dưỡng kĩ năng lựa chọn hình
thức tổ chức hoạt động góc....................................................................

71

2.6.4 Thực trạng quản lí bồi dưỡng kĩ năng sử dụng phương
pháp tổ chức hoạt động góc.................................................................

72

2.6.5 Thực trạng quản lí bồi dưỡng kĩ năng đánh giá kết quả
tổ chức hoạt động góc............................................................................

73

2.7 Thực trạng các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lí bồi
dƣỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc............................
2.7.1 Thực trạng các nhân tố ảnh liên quan đến chủ thể

74


7

quản lí..........................................................................................................

74

2.7.2 Thực trạng các nhân tố ảnh liên quan đến đối tượng
quản lí..........................................................................................................

75

2.7.3 Thực trạng các nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài

76

Kết luận chƣơng 2...................................................................................

78

CHƢƠNG 3. Biện pháp quán lí bồi dƣỡng kĩ năng tổ chức
hoạt động góc cho giáo viên ở các trƣờng mầm non trên địa
bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội..........................................

79

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp.............................................

79

3.2 . Các biện pháp cụ thể ....................................................................

80

3.2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lí và
giáo viên về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động góc trong
trường Mầm non.......................................................................................

80

3.2.2. Xây dựng nội dung quản lí bồi dưỡng kĩ năng tổ
chức hoạt động góc cho giáo viên.......................................................

82

3.2.3. Đa dạng hóa các hình thức quản lí bồi dưỡng kĩ năng
tổ chức hoạt động góc............................................................................

90

3.3.4. Tăng cường các điều kiện cho công tác quản lí bồi
dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc…..............................................

97

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp.................................................

103

3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp..............................................................................................................

104

Kết luận chƣơng 3...................................................................................

109

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. …................................................................

110

1.Kết luận....................................................................................................

110

2. Khuyến nghị...........................................................................................

112

TÀI LIỆU THAM KHẢO. .........................................................................

114


8

I. MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài:
Sự phát triển của khoa học và công nghệ, kinh tế thế giới đang phát
triển theo xu hướng toàn cầu hóa, tất cả các quốc gia đều nhận thức rõ vai
trò của Giáo dục – Đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc
gia, dân tộc mình. Đó là những thách thức lớn, đồng thời cũng là thời cơ của
mỗi quốc gia, có khả năng tụt hậu hoặc vươn lên hội nhập với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng đã chỉ rõ “Chăm lo phát triển giáo dục Mầm non”, thực hiện
“Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Thực hiện chủ trương của Đảng và
Nhà nước ta đến năm 2020 là “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học
Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ
cho các gia đình”.
Luật Giáo dục năm 2005 (có sửa đổi và bổ sung năm 2009) của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra các nội dung thể hiện rõ nhận
định giáo dục có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của mỗi dân tộc cũng như toàn thể nhân dân. Chiến lược giáo dục,
chiến lược con người là bộ phận quan trọng của chiến lược kinh tế - xã hội...
Bởi chức năng chủ yếu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách
thế hệ trẻ. Phát triển giáo dục không phải chỉ quan tâm đến quy mô, tốc độ,
số lượng mà đặc trưng chủ yếu là tổ chức các quá trình giáo dục, thông qua
việc tổ chức dạy và học dưới nhiều hình thức. Nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ
đi vào cuộc sống xã hội. Nhất là đối với giáo dục Mầm non mà đặc trưng
của nó là tính giáo dục gia đình và tính tự nguyện cao. Trẻ em hôm nay sẽ là
chủ nhân đất nước những thập niên đầu thế kỷ XXI, vì thế cần phải bắt đầu
từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ em từ tuổi mầm non và trách nhiệm này
không chỉ thuộc về nhà trường Mầm non mà còn là trách nhiệm của gia đình


9

và cũng là trách nhiệm của toàn xã hội. Cũng trong Luật giáo dục năm 2005
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ “Giáo dục Mầm
non thực hiện việc nuôi dưỡng; chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6
tuổi”. Hội nghị của Thủ tướng Chính phủ (25/6/2002) bàn về phát triển giáo
dục Mầm non theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII và Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ) đã một lần nữa khẳng định: Giáo
dục Mầm non là bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân,
góp phần đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Mầm non là ngành học
thể hiện tính xã hội hoá cao hơn hết. Giáo dục Mầm non thể hiện sinh động
nguyên tắc Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Để đẩy mạnh hơn nữa
sự nghiệp phát triển giáo dục Mầm non, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội
nghị bàn về công tác giáo dục Mầm non. Hội nghị đã đề ra các giải pháp cơ
bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hoá sự nghiệp
giáo dục Mầm non; đa dạng hoá các loại hình giáo dục Mầm non, kiến nghị
cần có chính sách để đầu tư cho giáo dục Mầm non; ban hành Quyết định số
164/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục Mầm non
Giáo dục mầm non đặc thù hơn các bậc học khác bởi sự khác biệt về
đặc điểm tâm sinh lý cũng như những nhu cầu học tập và tiếp nhận những tri
thức mới. Một chân lý “ Học mà chơi, chơi mà học” luôn đúng với giáo dục
mầm non. Một đứa trẻ bình thường phải là đứa trẻ ham chơi. Không biết
chơi thì có nghĩa đứa trẻ đó chỉ tồn tại, lớn lên theo thời gian về thể chất chứ
không có sự phát triển. Có thể nói “ trò chơi và tuổi thơ chính là hai người
bạn thân thiết không tách rời nhau được” [17, tr 29]
Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận và chứng minh vai trò của hoạt động
vui chơi đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em lứa tuổi mầm non. Tuy
nhiên, thực tế ở các trường Mầm non hiện nay đã có nhiều sự quan tâm đầu


10

tư để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ về nhiều
phương diện như: đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, phương tiện, đồ dùng
hiện đại, quy mô trường lớp,…. Tất cả những quan tâm, những đầu tư đều
vẫn thường chú trọng về giáo dục kiến thức cho trẻ trên các hoạt động học
tập mà không quan tâm đến sự phát triển toàn diện của trẻ trên hiệu quả của
hoạt động vui chơi. Do đó chưa phát huy được hiệu quả trong việc thực hiện
nhiệm vụ nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho trẻ em
trong nhà trường.
Nghiên cứu về quản lý nhà trường, về công tác bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên ở các nhà trường phổ thông đã có nhiều nhà khoa học trong và
ngoài nước đề cập, quan tâm . Đối với cấp học mầm non cũng đã có những
nghiên cứu về các phương pháp dạy trẻ về cách phát âm, cách hát, cách học
biểu tượng sơ đẳng về toán,…. Có thể thấy những nghiên cứu rất quan tâm
đến việc giáo dục kiến thức cho trẻ. Về công tác quản lý cũng vậy, các công
trình nghiên cứu đều quan tâm nghiên cứu về việc quản lí hoạt động dạy
học, quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn, quản lí các hoạt động của tổ
chuyên môn,…. Và qua tìm hiểu nghiên cứu, tôi thấy rằng nghiên cứu về
quản lý công tác bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên ở
các trường Mầm non thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Hay
nói cách khác, việc quản lý công tác bồi dưỡng về kĩ năng tổ chức hoạt động
góc cho giáo viên còn thiếu sự quan tâm chú trọng.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Mầm non, phát triển và duy trì
những mục tiêu giáo dục trẻ Mầm non theo chương trình giáo dục mầm non
mới đặt ra những đòi hỏi, yêu cầu không chỉ ở trình độ chuyên môn của đội
ngũ lãnh đạo, quản lý của nhà trường mà vai trò của giáo viên, những người
trực tiếp triển khai thực hiện các định hướng của công cuộc chăm sóc, giáo
dục trẻ, những nhân tố then chốt và là yêu cầu tối cần thiết là ở trình độ, kĩ


11

năng của đội ngũ giáo viên không chỉ về các lĩnh vực giáo dục mà còn cả ở
việc tổ chức hoạt động vui chơi cho học sinh , trong đó quan trọng hơn hết là
tổ chức hoạt động góc để trẻ được phát triển toàn diện.
Như vậy, có thể thấy việc tổ chức cho trẻ các hoạt động góc một cách
sáng tạo, hấp dẫn sẽ mang lại hiệu quả giáo dục tốt cho trẻ mầm non. Muốn
làm được như vậy cần bồi dưỡng cho giáo viên mầm non các kĩ năng tổ
chức hoạt động góc. Dưới góc nhìn từ một nhà quản lý giáo dục thì vấn đề
quản lí công tác bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên là
vấn đề có ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Quản lý
bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên ở các trường Mầm
non huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng kĩ năng tổ chức
hoạt động góc của giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các biện pháp bồi dưỡng kĩ năng tổ
chức hoạt động góc cho giáo viên nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục toàn diện cho học sinh trong các trường Mầm non.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa lý luận về quản lý bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt
động góc cho giáo viên của hiệu trưởng các trường Mầm non.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý dưỡng kĩ năng tổ
chức hoạt động góc cho giáo viên của hiệu trưởng các trường Mầm non trên
địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất biện pháp quản lý bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc
cho giáo viên nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục


12

toàn diện cho trẻ, đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục mầm non
mới ở các trường Mầm non trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Quản lí bồi dưỡng cho giáo viên mầm non.
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí bồi dưỡng kĩ năng tổ chức
hoạt động góc cho giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Chủ thể quản lí: Hiệu trưởng trường Mầm non.
- Nội dung nghiên cứu: Hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non gồm có 2
hoạt động đó là: Hoạt động ngoài trời và hoạt động góc. Trong luận văn này
chỉ nghiên cứu về hoạt động góc cho trẻ 5 tuổi.
- Khách thể điều tra: Điều tra cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh, phụ
huynh học sinh.
- Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu tại 10 trường mầm non đại diện cho
các trường trên các vùng có điều kiện kinh tế, văn hóa khác nhau trên địa
bàn huyện Mê Linh.
- Số liệu khải sát thống kê: Lấy số liệu của 3 năm học gần đây.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận triển khai đề tài: Quan điểm tiếp cận hệ thống,
đồng bộ đi theo công việc giáo viên khi tổ chức hoạt động góc và các biện
pháp quản lý bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc của Hiệu trưởng
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp, phân tích các công trình
nghiên cứu, nêu các quan điểm, đường lối giáo dục, các phạm trù, khái niệm
liên quan đến việc quản lý bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc cho
giáo viên các trường mầm non


13

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra bằng bảng
hỏi, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu sản phẩm.
- Phương pháp bổ trợ: Lấy ý kiến chuyên gia, thống kê toán học trong
xử lý số liệu khảo sát.
6. Giả thuyết khoa học:
Nếu áp dụng các chức năng quản lý trong việc quản lí bồi dưỡng kĩ
năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên, đổi mới phương pháp, hình thức
tổ chức hoạt động góc của giáo viên; bổ sung, tìm tòi và tích cực trong việc
lựa chọn, phát triển số lượng và chất lượng đồ dùng, đồ chơi linh hoạt, sáng
tạo trong việc tổ chức hoạt động vui chơi cho học sinh của giáo viên và tăng
cường mối quan hệ trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên, giữa
học sinh với học sinh thì sẽ nâng cao chất lượng công tác tổ chức hoạt động
góc của giáo viên.
7. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, nội dung luận văn được cấu trúc 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt
động góc cho giáo viên ở các trường Mầm non (26 trang).
- Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động
góc cho giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê Linh thành phố Hà Nội (37 trang).
- Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động
góc cho giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê Linh thành phố Hà Nội (30 trang).
Kết luận và khuyến nghị: (04 trang)
Cuối luận văn là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


14

II. NỘI DUNG:
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG KĨ
NĂNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GÓC CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC
TRƢỜNG MÂM NON.
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu:
Trải qua nhiều thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Việt Nam. Với tư tưởng “Lấy dân làm gốc”, “Sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng” đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo và thực hiện các
quan điểm “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” là sức mạnh tiềm tàng
cho sự phát triển nền giáo dục nước nhà.
Ngay sau khi cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, dân tộc Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ đã bắt tay xây dựng một nền
giáo dục quốc dân nhằm đào tạo thế hệ trẻ Việt nam thành những người
công dân hữu ích cho một nước Việt Nam dân chủ - cộng hòa - độc lập – tự
do – hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi chống nạn thất
học”. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước đã được Chủ
tịch hồ Chí Minh khái quát thành một chân lý của thời đại mang tên người.
Đó là sự phát triển giáo dục có thể kéo theo sự phát triển kinh tế và thúc đẩy
tiến bộ xã hội. Giáo dục có thể biến một nước nghèo nàn lạc hậu thành một
cường quốc tiên tiến trên thế giới. Trong thư gửi cho học sinh nhân ngày
khai trường đầu tiên của các em học sinh nước Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí
Minh viết rõ: “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc
Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm
châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”
[11, tr.32]


15

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch cả nước đã trở thành một xã
hội học tập, tiêu biểu, sôi động nhất đó là phong trào bình dân học vụ... Tư
tưởng giáo dục “Ai cũng được học hành” của Hồ Chủ tịch đã thực sự đi vào
cuộc sống.
Đảng và Nhà nước ta xác định giáo dục có vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình phát triển đất nước. Đảng ta xác định, muốn tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi phải phát triển giáo dục và đào
tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và
bền vững. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta đã có nhiều chủ
trương, chính sách để phát triển Giáo dục và Đào tạo.
Giáo dục con người tốt cần giáo dục ngay từ khi con người bắt đầu có
nhận thức. Giáo dục mầm non chính là cấp học đầu tiên, là nền tảng cho
giáo dục phổ thông. Chương trình giáo dục mầm non trong suốt những năm
dài nghiên cứu và phát triển qua các chương trình từ chương trình cải cách,
chương trình thí điểm đổi mới hình thức, chương trình đổi mới giáo dục
mầm non và chương trình giáo dục mầm non đổi mới như hiện nay được Bộ
giáo dục ban hành. Thành phố Hà Nội đã tiến đến thực hiện chương trình
giáo dục mầm non mới đại trà trên toàn huyện. Trên những giai đoạn chuyển
mình đó, giáo dục mầm non luôn nhận định và đánh giá đúng đắn vai trò của
hoạt động vui chơi trong sự phát triển của trẻ em.
Đối với trẻ em mầm non, chương trình giáo dục mầm non đã đưa ra
chế độ sinh hoạt của trẻ một ngày gồm 10 hoạt động, trong đó hoạt động học
tập chỉ chiếm 1/10 hoạt động. Hoạt động vui chơi chiếm đến 3/10 hoạt động
(bảng 1.1) Như vậy có thể thấy nhu cầu vui chơi đối với trẻ có tầm quan
trọng như thế nào so với hoạt động học tập tri thức. Hoạt động vui chơi đối
với trẻ mầm non chính là một hoạt động giáo dục bởi nội dung chơi mang ý
nghĩa giáo dục mạnh mẽ. Hoạt động chơi được tổ chức tốt sẽ mang lại hiệu


16

quả giáo dục nhiều mặt bởi nó tác động đến tâm tư, tình cảm, hành vi đạo
đức của trẻ. Mặt khác, chơi giúp trẻ làm quen với thế giới hiện thực xung
quanh, mở rộng hiểu biết, kích thích trí thông minh,…từ đó phát triển về
tình cảm – quan hệ xã hội, phát triển đạo đức, thẩm mĩ, trí tuệ và thể lực.
Như vậy, hoạt động vui chơi mang lại hiệu quả giáo dục toàn diện cho trẻ
mầm non như mục tiêu giáo dục đã đặt ra của chương trình giáo dục mầm
non.
1.1.1. Vị trí của trƣờng Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
và vai trò của ngƣời giáo viên Mầm non.
Giáo dục mầm non là một bậc giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc
dân Việt Nam, có nhiệm vụ thu hút trẻ từ 3 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi, tạo
thành một quá trình giáo dục thống nhất, liên tục cho trẻ mầm non.
Với chỉ thị 153/CP của Hội đồng chính phủ ra ngày 12/8/1966 về “
Công tác giáo dục mẫu giáo nhằm giáo dục trẻ bằng cách tổ chức vui chơi
mà giáo dục các cháu những đức tính tốt, chăm sóc sức khỏe, tập cho các
cháu vừa chơi vừa học, chuẩn bị cho các cháu vào trường phổ thông. Giáo
dục mẫu giáo tốt, mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [23, tr.23] đã xác định
rõ vị trí, tầm quan trọng cũng như mục tiêu của giáo dục mầm non. Từ đó
đến nay, vị trí của bậc giáo dục mầm non ngày càng được coi trọng và xác
định rõ ràng. Giáo dục mầm non là bậc giáo dục mở đầu trong hệ thống giáo
dục quốc dân Việt Nam, khâu đầu tiên của giáo dục phổ thông, giáo dục
thường xuyên cho mỗi người.
Trẻ lứa tuổi mầm non là thời kỳ mà sự tăng trưởng về cơ thể và phát
triển về trí tuệ, tình cảm, mối quan hệ xã hội diễn ra rất nhanh. Có thể nói
đây là thời kì tăng trưởng và phát triển nhanh nhất so với các giai đoạn sau
này của cuộc đời con người. Những thành tựu khoa học nghiên cứu về trẻ
em cho thấy: Có tới 50% sự phát triển trí tuệ của con người được diễn ra


17

trong lứa tuổi từ bào thai đến 4 tuổi; 30% sự phát triển trong lứa tuổi từ 4
tuổi đến 8 tuổi và tiếp tục hoàn thiện cho đến tuổi trưởng thành nhưng tốc độ
chậm dần sau 18 tuổi.
Các công trình nghiên cứu khoa học về tâm lý học cho thấy, lứa tuổi
mầm non là thời kỳ mà nhân cách con người cũng bắt đầu được hình thành,
tuy chưa được hoàn toàn định hình nhưng đã có cơ sở tương đối ổn định cho
việc tiếp tục phát triển và hoàn thiện. Cũng trong những nghiên cứu này cho
thấy những nét tính cách cơ bản trong nhân phẩm của trẻ được hình thành
chính trong thời lỳ này và thường ảnh hưởng đến đạo đức mai sau của trẻ.
Nhà giáo dục Nga Usinsky đã nói: “ Tính tình của con người hình thành
chính trong những năm thơ ấu, cái gì đã khắc sâu cá tính thời đó thì nó sẽ ăn
sâu một cách chặt chẽ như thiên tính thứ hai”. Hay bà Crupxkaia có nêu “
Những cảm giác đầu tiên thời thơ ấu để lại dấu vết suốt đời, cho nên ngay từ
buổi đầu ta phải thận trọng trong việc dạy trẻ, nếu ta muốn giáo dục một
cách đúng đắn lớp người của chủ nghĩa Cộng sản” [23, tr.24]
Tuổi mầm non cũng là thời kì trẻ rất nhạy cảm với mọi tác động bên
ngoài, do đó trong việc giáo dục có sự ảnh hưởng từ người lớn đến sự phát
triển của trẻ. Người lớn chăm sóc, giáo dục trẻ chu đáo sẽ có ảnh hưởng tích
cực đến sự phát triển của trẻ và ngược lại, những sai lầm trong giáo dục trẻ
sẽ ảnh hưởng xấu đến trẻ và khó mà sửa chữa được. Như vậy, ở lứa tuổi
mầm non trẻ đạt được những thành tựu tương đối lớn về tăng trưởng và phát
triển. Những thành tựu này có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển mai
sau của đứa trẻ. Trẻ có tính nết tốt hay xấu, ngoan hay hư, năng lực, năng
khiếu có được phát hiện và nảy nở hay không sẽ có ảnh hưởng quyết định
đến các giai đoạn sau này.
Giáo dục mầm non còn góp phần chuẩn bị cho trẻ vào trường tiểu học.
Trong thời gian ở trường mầm non, trẻ được chuẩn bị về mọi mặt: thể lực,


18

đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ,… Đặc biệt được chuẩn bị về những kĩ năng, thói
quen cần thiết cho hoạt động học tập – hoạt động chủ đạo ở trường phổ
thông. Thực tế đã chứng minh cho thấy rằng những trẻ được học qua trường
mầm non thì khi vào lớp một sẽ tiếp thu nhanh hơn, có thói quen học tập tốt
hơn và kết quả học tập cao hơn so với những trẻ không qua học trường mầm
non.
Như vậy, giáo dục mầm non giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong
toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người. [23, tr.25].
Giáo dục mầm non là một bậc giáo dục mang tính tự nguyện. Giáo
dục mầm non chỉ phát triển tốt khi các nhà trường mầm non, các nhà quản
lý, giáo viên mầm non, các gia đình và toàn xã hội đều có những nhận thức
đúng đắn về vai trò, vị trí của nó trong sự nghiệp giáo dục. Định hướng cho
giáo dục mầm non đi theo con đường đúng đắn và phát triển thì cần các nhà
quản lý giáo dục có đầy đủ kiến thức chuyên môn, trình độ quản lý cũng như
những hiểu biết xã hội.
Giáo viên mầm non là chủ thể giáo dục, có vai trò tổ chức điều khiển,
điều chỉnh quá trình giáo dục trẻ em, làm cho quá trình đó vận động, phát
triển đúng hướng và đạt kết quả mong muốn.
Chương trình giáo dục mầm non hiện nay xác định rõ tầm quan trọng
của giáo viên mầm non đối với hiệu quả giáo dục trên phương diện là người
hướng dẫn, là người tạo điều kiện, tạo cơ hội cho các hoạt động giáo dục
diễn ra một cách tích cực, hấp dẫn, sáng tạo nhằm kích thích ở trẻ những yếu
tố học tập mang lại hiệu quả giáo dục tốt nhất cho trẻ.
Như vậy, có thể nhìn nhận vai trò của giáo viên chính là điều kiện cần
thiết và là yếu tố đầu tiên có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện các
mục tiêu của giáo dục mầm non đã đề ra.


19

1.1.2. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Hiệu trƣởng trƣờng Mầm non.
Đối với trường Mầm non, Hiệu trưởng giữ vai trò “là người chịu trách
nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ.“ [1]
Hiệu trưởng trường Mầm non cần có kiến thức chuyên môn về giáo
dục mầm non, điều này được quy định tại Điều 16 của Điều lệ trường Mầm
non (2008):
“Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng nhà trường,
nhà trẻ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
a) Có trình độ chuẩn được đào tạo là có bằng trung cấp sư phạm mầm
non, có ít nhất 5 năm công tác liên tục trong giáo dục mầm non. Trường hợp
do yêu cầu đặc biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc công nhận là
Hiệu trưởng có thể có thời gian công tác trong giáo dục mầm non ít hơn theo
quy định;
b) Đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý; có uy tín về
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực
tổ chức, quản lý nhà trường, nhà trẻ và có sức khoẻ.“
Cũng trong điều 16 - Điều lệ trường Mầm non (2008) quy định rõ:
“Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng:
a) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức
thực hiện kế hoạch giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực
hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
b) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn
trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó. Đề xuất các thành
viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;


20

c) Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển
dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân
viên theo quy định;
d) Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà
trường, nhà trẻ;
đ) Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng,
phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ em do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;
e) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý;
tham gia các hoạt động giáo dục 2 giờ trong một tuần; được hưởng chế độ
phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;
f) Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức
chính trị - xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất
lượng chăm sóc, giáo dục trẻ;
g) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối
với cộng đồng „
Hiệu trưởng trường Mầm non được coi như là kim chỉ nam để định
hướng, xây dựng và thực hiện các nội dung giáo dục mầm non trên cơ sở
chức năng của một nhà quản lí trong việc: lập kế hoạch giáo dục; phân công,
tổ chức cơ cấu nhân lực giáo dục; bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo viên;
tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất,… Như vậy có thể thấy được vai
trò, vị trí của Hiệu trưởng trường Mầm non giống như một nhà quản lí và
thực hiện nhiệm vụ quản lí nhà trường trên phương diện tập trung vào quản
lí công việc và tổ chức, quản lí con người và quản lí các hoạt động giáo dục.


21

1.1.3. Hoạt động vui chơi và vai trò của hoạt động vui chơi trong
việc giáo dục trẻ Mầm non.
Tuổi mầm non là giai đoạn diễn ra sự phát triển nhanh và mạnh trên
các mặt về thể chất như: trọng lượng, số đo, cơ bắp, cũng như các mặt tâm lí
– xã hội của trẻ. Để đáp ứng và thúc đẩy tốc độ phát triển đó, cần tổ chức
cho trẻ tham gia vào các hoạt động chăm sóc, giáo dục phù hợp với từng giai
đoạn, độ tuổi.
Mỗi giai đoạn phát triển của trẻ gắn liền với một dạng hoạt động mà
nội dung giáo dục đều được thực hiện thông qua hoạt động đó. Hoạt động
đặc trưng và chủ đạo của mỗi giai đoạn phát triển hay chính là của mỗi độ
tuổi đó đều có sự tác động đến sự phát triển về tất cả các mặt: thể chất, nhận
thức, ngôn ngữ, tâm lí, tình cảm và các mối quan hệ xã hội. Cụ thể như: Đối
với trẻ dưới 1 tuổi thì hoạt động đặc trưng và chủ đạo là hoạt động giao lưu
cảm xúc trực tiếp với người lớn; đối với trẻ từ hơn 1 tuổi đến 3 tuổi thì hoạt
động với đồ vật là hoạt động đặc trưng và chủ đạo của trẻ; hay đối với trẻ từ
3-6 tuổi thì hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo.
Hoạt động vui chơi là một trong các loại hình hoạt động của trẻ ở
trường mầm non. Hoạt động vui chơi là hoạt động đặc trưng, chủ đạo của trẻ
mấu giáo ( 3-6 tuổi) được người lớn tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa
mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát
triển toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này. [29, tr.147]
Chương trình giáo dục mầm non trải qua nhiều quá trình thay đổi để
tìm ra hiệu quả giáo dục tốt nhất cho trẻ. Ở đó có sự phân bố các hoạt động
trong một ngày được tổ chức với thời gian, thời lượng phù hợp với sự phát
triển tâm, sinh lí của trẻ. Với tuổi mẫu giáo, chúng ta có thể thấy rõ vai trò
của hoạt động vui chơi chiếm vị trí quan trọng như thế nào khi nhìn vào
bảng “ Chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo” dưới đây:


22

Bảng 1.1.3: Chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo
Thời gian

Hoạt động

80 – 90 phút

Đón trẻ, chơi, thể dục sáng

30 – 40 phút

Học

40 – 50 phút

Chơi, hoạt động ở các góc

30 – 40 phút

Chơi ngoài trời

60 – 70 phút

Ăn bữa chính

150 phút

Ngủ

20 – 30 phút

Ăn bữa phụ

70 – 80 phút

Chơi, hoạt động theo ý thích

60 – 70 phút

Trẻ chuẩn bị ra về và trả trẻ

Mỗi chúng ta, ai cũng đã trải qua thời kì tuổi thơ và đều từng tham gia
vào hoạt động vui chơi. Hoạt động vui chơi chiếm vị trí đặc biệt quan trọng
đời sống tuổi thơ mỗi người. Cũng chính vì lẽ đó mà hoạt động vui chơi đã
lôi cuốn rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực
tâm lí học, sinh học, xã hội học, giáo dục học,…
Các nhà sinh học có quan điểm cho rằng: Trẻ chơi là để giải tỏa năng
lượng dư thừa. Hoạt động vui chơi được coi như một loại hoạt động bản
năng, vô thức, có nguồn gốc từ cơ chế sinh học.
Các nhà tâm lí học, giáo dục học lại có quan điểm riêng. Theo quan
điểm của tâm lí học, giáo dục học Mácxít khẳng định rằng hoạt động vui
chơi có nguồn gốc từ lao động, nó góp phần chuẩn bị cho thể hệ trẻ đến lao
động. Nội dung chơi phản ảnh hiện thực cuộc sống xung quanh trẻ.
Theo N.K Crupxkaia thì: “ Trẻ có nhu cầu chơi vì trẻ mong muốn hiểu
biết về cuộc sống xung quanh. Hơn nữa trẻ mẫu giáo rất thích bắt chước
người lớn, thích được hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi. Hoạt động
vui chơi giúp trẻ thỏa mãn hai nhu cầu trên” [ 29, tr.148]


23

Các nhà tâm lí học, giáo dục học Xô Viết như L.Vuwgoski, A.N
Leonchiep, A.P.Uxova, Ph.I.Rucopxkaia,…cho rằng: Hoạt động vui chơi
của trẻ mẫu giáo là sản phẩm sáng tạo của trẻ dưới ảnh hưởng trực tiếp của
môi trường xung quanh.
Động cơ chơi của trẻ không nhằm tạo ra sản phẩm cụ thể mà nằm
trong chính hành động chơi, trong sự hấp dẫn, hứng thú hay của tiến trình
chơi.
Trong khi chơi, thông qua trò chơi, trẻ phản ảnh cuộc sống của người
lớn chứ không phải là sự mô phỏng hoàn toàn cuộc sống. Trẻ tái tạo cuộc
sống của người lớn một cách tổng quát trong hoàn cảnh tưởng tượng. Cũng
chính nhờ trí trưởng tượng của trẻ mà cuộc sống của người lớn đối với
chúng trở nên dễ hiểu và gần gũi. Thiếu trí tưởng tượng thì trẻ không thể
chơi được, không thể tái hiện lại các hành động và quan hệ xã hội phức tạp
của người lớn.
Hoạt động chơi của trẻ mang tính độc lập, tự do và tự nguyện rõ nét.
Trẻ tự mình nghĩ ra các dự đinh, các nội dung chơi; tự mình tìm bạn chơi; tự
mình bàn bạc, thảo luận về các nội dung chơi; tự tìm đồ chơi; tự nguyện gắn
bó với nhau để cùng tham gia chơi. Trẻ sẽ không chơi nữa khi thấy trò chơi
không còn hấp dẫn, khi trẻ thấy chán.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu được rằng, hoạt động vui chơi là dạng
hoạt động phản ánh sáng tạo, độc đáo, hiện thực tác động qua lại giữa trẻ với
môi trường xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, nhu cầu nhận thức
của trẻ. Lần đầu tiên trong hoạt động vui chơi, trẻ thực sự là một chủ thể
hoạt động tích cực, trẻ trò chuyện, giao tiếp, vận dụng các ấn tượng, kinh
nghiệm đã có ,…để thực hiện ý đồ chơi, nhờ thế mà nhân cách trẻ được hình
thành và phát triển thông qua hoạt động vui chơi.


24

1.2. Hoạt động góc và vai trò của hoạt động góc đối với việc giáo
dục trẻ Mẫu giáo 5 tuổi
1.2.1. Đặc điểm tâm sinh lý trẻ Mẫu giáo 5 tuổi
Theo quan điểm về sự phát triển của trẻ em thì trẻ lớn lên thông qua
hai quá trình: tăng trưởng và phát triển.
Tăng trưởng là quá trình trong đó các bộ phận của cơ thể được thay
đối về số đo như: kích thước, trọng lượng,..
Phát triển là quá trình trong đó có sự hình thành và hoàn thiện, đa
dạng hóa, phức tạp hóa các chức năng của con người như: nói, suy nghĩ,…
Tăng trưởng và phát triển là hai quá trình có sự phụ thuộc lẫn nhau và
trong suốt quá trình liên tục trẻ phản ứng, thích ứng với những điều kiện
bẩm sinh và những điều kiện của môi trường sống.
Trẻ ở tuổi mầm non còn rất non nớt nhưng lại có sự tăng trưởng và
phát triển cực nhanh so với cả đời người. Ở độ tuổi 5 tuổi là thời kì đứa trẻ
đã đi đến năm cuối cùng của độ tuổi mầm non. Sự tăng trưởng và phát triển
của trẻ lúc này gần như đã hoàn thiện theo sơ đồ phát triển bình thường. Lúc
này, trẻ đã có được sự phát triển của hệ thần kinh mà khối lượng não là
811,68 đối với trẻ nam và 824,55 đối với trẻ nữ.
Cùng với sự phát triển về cơ thể thì sự phát triển tâm lí của trẻ ở độ
tuổi 5 tuổi cũng có khá nhiều điểm đáng chú ý để từ những đặc điểm tâm lí
đó để có cách thứ, phương pháp, hoạt động giáo dục trẻ một cách phù hợp.
Một đặc điểm tâm lý quan trong của trẻ ở độ tuổi này đó là ý thức về
Bản ngã (hay chính là Cái Tôi của trẻ). Trẻ bắt đầu biết phân biệt một cách
rõ ràng giữa bản thân và những người xung quanh. Trẻ có ý thức về tính sở
hữu, biết cái gì của mình, cài gì không phải của mình mà là của người khác.
Sự phát triển về cảm xúc, tình cảm và ngôn ngữ của trẻ cũng đã bắt
đầu phức tạp hơn với các độ tuổi nhỏ trước đó. Trẻ có sự đòi hỏi ở người lớn


25

sự quan tâm, chăm sóc một cách cụ thể và đa dạng hơn; từ đó trẻ cũng có
những phản ứng, biểu hiện cảm xúc rõ ràng hơn với những người thân xung
quanh mình và trước những sự việc xảy ra. Điều này cũng chính là đặc điểm
mà trẻ có thể rấ dễ bị tổn thương khi cảm xúc tình cảm bị từ chối, bị mất cân
bằng hoặc thiếu thốn tình cảm.
Đối với trẻ 5 tuổi, trí tưởng tượng của trẻ cũng đã phát triển phong
phú hơn. Trẻ biết hình tượng hóa, nhân cách hóa và tự tưởng tượng về một
sự việc và đặt giả định nó đang diễn ra ngay trong thực tế cuộc sống của trẻ.
Chính vì vậy, trẻ có thái độ yêu ghét rõ rệt: yêu cái thiện, ghét cái ác. Trẻ
cũng có thể mô phỏng cuộc sống của người lớn vào các trò chơi một cách rất
dễ dàng và giản đơn.
Nhận thức của trẻ về cuộc sống, các mối quan hệ và các ý thức của trẻ
về việc tôn trọng các mối quan hệ trong cuộc sống cũng bắt đầu tích cực
hơn. Vốn hiểu biết của trẻ cũng phong phú, đa dạng hơn , trong đó có cả
những kĩ năng học tập mà nhà trường, gia đình và quá trình sống đã cung
cấp cho trẻ.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi cũng đạt được mức tương đối
hoàn chỉnh. Trẻ có thể nói rõ ràng, nói câu dài, diễn đạt ý muốn, tình cảm,
cảm xúc của bản thân bằng lời nói một cách đầy đủ, mạch lạc đồng thời có
thể hiểu được những yêu cầu của người khác thông qua lời nói. Thậm chí trẻ
có thể bắt trước rất tốt các ngôn ngữ, giọng nói thể hiện ở cao độ, độ lớn, kết
hợp nét mặt, thái độ phù hợp với từng lời nói, câu nói.
Như vậy, có thể nói, trẻ 5 tuổi đã có sự phát triển khá hoàn thiện về
tâm sinh lí để có thể tiếp nhận những nội dung giáo dục phức tạp hơn. Đây
cũng là đặc điểm nền tảng để có thể chuẩn bị cho trẻ những tâm thế bước
đầu cho trẻ có được sự hình thành một nhân cách tốt qua các hoạt động giáo


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×