Tải bản đầy đủ

Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện cao lãnh, tỉnh đồng tháp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH


HUỲNH THỊ HOÀI THU

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đinh Thế Định

Đồng Tháp, năm 2015


2


LỜI CÁM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ban Lãnh đạo nhà trường,
Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh đã tạo
điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập, rèn luyện.
Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã nhiệt tình
giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc
biệt, PGS. TS Đinh Thế Định - người hướng dẫn khoa học đã tận tình, quan
tâm định hướng, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp,
Huyện ủy, UBND huyện, các ban Đảng thuộc Huyện ủy Cao Lãnh, Trung tâm
Bồi dưỡng Chính trị huyện Cao Lãnh, Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính – Kế
hoạch, Văn phòng HĐND – UBND, Chi cục Thống kê huyện Cao Lãnh, tỉnh
Đồng Tháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như
cung cấp số liệu và tư vấn khoa học cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng, nhưng với điều kiện thực tiễn Huyện
Cao Lãnh và một số kinh nghiệm của bản thân, luận văn không thể tránh khỏi
những hạn chế, thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy,
cô giáo và bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp.
Cao Lãnh, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn

Huỳnh Thị Hoài Thu


3

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN TRONG THỰC HIỆN CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở nước ta hiện nay và năng lực
lãnh đạo của cán bộ chủ chốt trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
1.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT VÀ
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT HUYỆN CAO LÃNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá và tình hình
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
hiện nay
2.3. Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cao
Lãnh, tỉnh Đồng Tháp


4
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HUYỆN
CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
3.1. Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Cao Lãnh,
tỉnh Đồng Tháp
3.2. Những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp hiện nay
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


5

KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1

AN-QP

:

An ninh, quốc phòng

2

BCH

:

Ban chấp hành

3

CBCC

:

Cán bộ chủ chốt

4

CCB

:

Cựu chiến binh

5

CN, TTCN

:

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

6

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

7

CSVC

:

Cơ sở vật chất

8

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

9

HTCT

:

Hệ thống chính trị

10

KH-CN

:

Khoa học, công nghệ

11

KHKT

:

Khoa học kỹ thuật

12

KT-XH

:

Kinh tế - xã hội

13

LHPN

:

Liên hiệp phụ nữ

14

LLCT

:

Lý luận chính trị

15

MTTQ

:

Mặt trận Tổ quốc

16

UBND

:

Ủy ban nhân dân

17

VH-XH

:

Văn hóa - xã hội


6

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ khi ra đời, Đảng ta đã khẳng định cán bộ là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế
độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Trong tất cả các giai đoạn
cách mạng, cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác xây
dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và thắng lợi của cách mạng. Mỗi giai
đoạn cách mạng cần có đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, điều này phụ
thuộc và quyết định bởi công tác cán bộ.
Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng minh một cách
sinh động sau khi có đường lối đúng, cán bộ là nhân tố quyết định thắng lợi của
cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc; công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.
Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay đang
đặt ra cho đội ngũ cán bộ nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi phải huy động các nguồn
lực; sức mạnh của cả hệ thống chính trị, chăm lo đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ
chủ chốt các cấp có đủ phẩm chất, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi nhưng đồng thời
cũng có những nguy cơ và thách thức đan xen. Để nâng cao sự lãnh đạo của
Đảng lên ngang tầm với nhiệm vụ chính trị, chủ động nắm thời cơ, vượt qua
thách thức và nguy cơ, thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược và đường lối của
Đảng đề ra trong giai đoạn hội nhập và phát triển, công tác xây dựng Đảng được
xác định là nhiệm vụ then chốt, công tác cán bộ của Đảng trở thành "khâu then
chốt của vấn đề then chốt".
Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề quan trọng của
Đảng, vì vậy từ trước đến nay đã được Đảng và Nhà nước nghiên cứu, được cụ
thể hóa trong nhiều Nghị quyết, Kết luận, Hướng dẫn: Kết luận số 24-KL/TW,


7
ngày 05 tháng 6 năm 2012 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác quy hoạch và
luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo;
Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26 tháng 5 năm 2014 của Bộ Chính trị về tiếp
tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW, ngày 05 tháng 11
năm 2012 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo,
quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30 tháng 11 năm 2004
của Bộ Chính trị (khóa IX) và Kết luận số 24-KL/TW, ngày 05 tháng 6 năm
2012 của Bộ Chính trị (khóa XI).
Về công tác cán bộ cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
được thực hiện ở nhiều góc độ khác nhau, như:
- Luận án tiến sĩ của Phạm Công Khâm (2000), Xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã đưa ra các khái niệm, mục đích, tầm
quan trọng của công tác cán bộ, tác giả đã làm rõ thực trạng xây dựng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
- Luận văn thạc sĩ của Hà Văn Bình ( 2014), Nâng cao năng lực lãnh đạo
của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên,
tỉnh Hà Tĩnh. Tác giả đã đưa ra quan niệm, vị trí, vai trò cán bộ chủ chốt trong
hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, làm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ
và nêu các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong
hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Ngoài ra, một số bài viết trên các báo và tạp chí cũng đề cập đến vấn đề
này như: "Một số vấn đề quan trọng về công tác tổ chức và cán bộ của Đảng
hiện nay" của Phan Diễn, Tạp chí Cộng sản, số 31, 2002, tr.3-9. Tác giả tổng kết
những đánh giá của Trung ương về việc thực hiện các nghị quyết Trung ương
khoá VII, khóa VIII và Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX về công tác
tổ chức - cán bộ. Từ đó, tác giả đề nghị các cấp, các ngành tiếp tục quán triệt sâu


8
sắc, cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả các nghị quyết trong thời gian tới.
Trong đó, tác giả nêu phân tích khá chi tiết những mặt làm được và những mặt
hạn chế của các nội dung công tác tổ chức; công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo,
quản lý; công tác luân chuyển cán bộ; vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng. Tác
giả đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác tổ chức cán bộ
trong thời gian tới.
"Nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở: những vấn đề lý luận và thực tiễn"
của Hoài Nhân, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 12, 2002, tr.39, 52. Tác giả nêu
lên số liệu thống kê của tỉnh Bình Dương về trình độ mọi mặt của đội ngũ cán
bộ cơ sở, chỉ ra những bất cập cần khắc phục và những trăn trở, băn khoăn của
đội ngũ cán bộ cơ sở trước những thực trạng đáng báo động về tình hình hoạt
động và chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở. Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp
nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở như: chính sách ưu đãi thu hút nhân tài, kế
hoạch đào tạo và bồi dưỡng, các hình thức đào tạo, cải tạo tổ chức Đoàn thanh
niên để tạo nguồn cán bộ trẻ nhằm xây dựng hệ thống chính trị ngày càng
vững mạnh.
Bài viết "Tư tưởng Hồ Chí Minh về luân chuyển cán bộ" của tác giả Trần
Đình Huỳnh, đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng, số 8, 2003. Tác giả đã phân tích
mục đích của việc luân chuyển cán bộ và một số phương châm tiến hành công
tác cán bộ.
Ngoài ra, để tiếp tục củng cố, nâng cao trình độ cho đội ngũ các bộ các
cấp trong tỉnh, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã có một số Nghị
quyết, Quyết định về việc đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đối với cán bộ, công
chức ở huyện, Quyết định số: 10/2009/QĐ-UBND ngày 18 tháng 5 năm 2009
ban hành Quy định chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công
chức, viên chức thuộc tỉnh Đồng Tháp.
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã có những luận giải có giá trị về
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Nhưng, đến nay chưa có công trình


9
nào đi sâu nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở địa
phương có tính đặc thù như huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, tuy điều kiện kinh tế - xã hội còn khó
khăn nhưng với sự quan tâm của Tỉnh uỷ, huyện uỷ, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện của Cao Lãnh đã phấn đấu và có bước trưởng thành, là nhân tố quan trọng
góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng và
an ninh ở địa phương… Song, so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay thì đội ngũ cán
bộ này còn bất cập về một số mặt: trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ, năng lực tổ chức
hoạt động thực tiễn... Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay là vấn
đề vừa cần thiết, cấp bách, vừa có ý nghĩa cơ bản và mang tính chiến lược cho
các nhiệm kỳ tiếp theo.
Là một cán bộ làm công tác Đảng cấp huyện, tôi mong muốn thông qua
việc nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp: "Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn" có thể đóng góp một phần cùng với cấp uỷ đảng
huyện Cao Lãnh làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện,
nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, xây dựng
nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt và nâng cao năng


10
lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ
chốt huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cán bộ chủ chốt cấp huyện: trưởng,
phó các ban, ngành, đoàn thể huyện Cao Lãnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đội ngũ cán bộ đương nhiệm, kế cận cán
bộ trưởng, phó các ban, ngành, đoàn thể huyện và công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Cao Lãnh từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ của
Đảng trong điều kiện có chính quyền.
Luận văn được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời sử dụng kết hợp các
phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, gắn lô-gích với lịch sử,
đặc biệt chú trọng phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh và
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của huyện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm góp phần xây dựng
đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng
yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn giai
đoạn hiện nay.


11
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp thêm những luận
cứ khoa học cho các cấp uỷ đảng trong tỉnh thực hiện tốt công tác cán bộ chủ
chốt cấp huyện hiện nay. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc
nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn Xây dựng Đảng ở Trường Chính trị tỉnh
Đồng Tháp và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, thị xã, thành phố
trong tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt và xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp hiện nay.
- Chương 3: Mục tiêu, phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.


12

B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN TRONG THỰC HIỆN
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và năng lực lãnh đạo của cán
bộ chủ chốt trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1. Một số khái niệm
- Khái niệm cán bộ
Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên năm
1998 viết: "Cán bộ: Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước;
người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các
cơ quan, tổ chức nhà nước" [48, tr 249]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát và dễ
hiểu: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho
Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [40, tr 33].
Luật Cán bộ, công chức ở nước ta quy định: Cán bộ, công chức là công
dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách.
Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để
chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn
thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công, bao gồm những
người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn
thể chính trị, xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng vũ trang từ Trung
ương đến địa phương và cơ sở.
Cán bộ có bốn đặc trưng cơ bản sau:
+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác
trong HTCT... lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động.


13
+ Cán bộ giữ chức vụ, trọng trách nào đó trong một tổ chức của HTCT.
+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn
thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách căn cứ vào nội dung, chất
lượng hoạt động và thời gian công tác của họ.
Như vậy, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên môn,
nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà
nước hoặc từ các nguồn khác. Họ được hình thành từ tuyển dụng, phân công
công tác sau khi tốt nghiệp, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
- Khái niệm cán bộ chủ chốt
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2002
viết: Chủ chốt là tính từ chỉ "quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [47, tr
174]. Từ cách tiếp cận đó và từ khái niệm cán bộ, có thể hiểu cán bộ chủ chốt là
người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong
các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm
đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực
hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp
mình về lĩnh vực công tác được giao.
Cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau:
+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định
trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các
quyết định và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên
giao. Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ
sung, điều chỉnh kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; rút kinh nghiệm, tổng kết
thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận. CBCC còn là người giữ vai trò đoàn
kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của
đơn vị và xây dựng tổ chức vững mạnh.


14
+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một nhóm, tập
thể... chủ yếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ
quan Đảng, chính quyền (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những
người chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa
phương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận.
1.1.2. Vai trò, vị trí, đặc điểm và tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ chủ chốt
cấp huyện
1.1.2.1. Vai trò, vị trí của người cán bộ chủ chốt cấp huyện
Theo quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen, cán bộ là những người tiêu
biểu cho phong trào cách mạng; có tri thức và trình độ nhận thức cao, biết kết
hợp vận dụng lý luận cách mạng với thực tiễn để tổ chức phong trào cách mạng
của quần chúng, lãnh đạo quần chúng thực hiện các cuộc cải cách có ý nghĩa
cách mạng. Họ phải là những người tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động, có trách nhiệm cao và được quần chúng noi theo.
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen , V.I.
Lênin đã khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ trong tiến trình cách
mạng của giai cấp công nhân. Để có được đội ngũ cán bộ có trình độ quản lý nhà
nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước, V.I.
Lênin đã xem trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn, đề bạt cán bộ vào các
cương vị công tác, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của họ, chú ý
giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực công
tác cho cán bộ, chống bệnh quan liêu, xa dân, thoái hóa, biến chất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác cán bộ nhằm xây dựng
đội ngũ cán bộ đủ sức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người
coi: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc". Vai trò của người cán bộ, theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, được thể hiện trong bốn mối quan hệ chủ yếu: cán bộ
với đường lối chính sách, cán bộ với tổ chức bộ máy, cán bộ với công việc và


15
cán bộ với quần chúng. Trong quan niệm của Người, cán bộ không chỉ là
người vạch ra đường lối mà còn có vai trò quyết định trong việc tổ chức thực
hiện đường lối.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yêu cầu cán bộ phải sâu sát quần chúng,
nắm bắt kịp thời và phản ánh tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của
nhân dân với Đảng và Nhà nước để quyết định đường lối, chủ trương, chính
sách hợp lòng dân. Đối với cơ sở, điều này càng đặc biệt quan trọng. Người
chỉ rõ: "Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong
quần chúng mà ra và trở lại nơi quần chúng". Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu
mỗi cán bộ phải là người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng nhân dân thực hiện
mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là người tận tụy phục vụ nhân dân, đem lại cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn
toàn Đảng ta rằng: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức
cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng
ta trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân" [39, tr 131].
Quá trình 85 năm tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn
chú trọng và đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với đòi hỏi
của từng thời kỳ cách mạng, đó chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Đảng ta xác định phải "có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm
chất và năng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện
thắng lợi đường lối, đó là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng
cầm quyền" [26, tr 27]. Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự
nghiệp CNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong chiến lược
cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành
bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ,
là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [21, tr 66]. Theo quan điểm
của Đảng, trong khi phải xây dựng đội ngũ cán bộ một cách đồng bộ, đáp ứng


16
với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, cần đặc biệt chú trọng xây dựng
đội ngũ CBCC các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở.
Vai trò của đội ngũ CBCC rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng.
Trong giai đoạn CNH, HĐH vai trò của CBCC cấp huyện được thể hiện cụ thể:
- Là người được giao các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều
hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên về
nhiệm vụ được phân công.
- Có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương chính sách và sự lãnh đạo từ
cấp trên theo ngành, lĩnh vực được phân công.
- Là người giữ vị trí quan trọng trong việc cụ thể hoá đường lối, chính
sách của Đảng, chính quyền cấp trên vào điều kiện của huyện, của ngành. Tham
gia đề xuất mục tiêu, phương hướng, đề ra nghị quyết, chương trình tổ chức để
nhân dân tham gia thực hiện những nhiệm vụ phát triển KT-XH, đảm bảo an
ninh, chính trị ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn huyện.
- Có thẩm quyền tham gia giải quyết các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã
hội, an ninh quốc phòng trong phạm vi toàn huyện.
Cán bộ chủ chốt cấp huyện là những người đứng đầu quan trọng trong
HTCT ở huyện, có ảnh hưởng quyết định đến việc chấp hành chủ trương, đường
lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thông qua việc
lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội
trên địa bàn cấp huyện.
1.1.2.2. Đặc điểm chủ yếu của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
- Cán bộ chủ chốt cấp huyện hầu hết trưởng thành trong thực tiễn ở cơ
sở. Do đó, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,
công cuộc đổi mới đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; nắm vững
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệt tình, tâm huyết,
trách nhiệm cao với công việc, có kinh nghiệm công tác, khả năng tuyên truyền
vận động quần chúng, được nhân dân tin yêu, tín nhiệm. Số cán bộ trẻ được đào


17
tạo cơ bản, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, địa phương, năng động,
tiếp cận, thích nghi với cái mới nhanh; được các cán bộ hưu trí, những cán bộ
lãnh đạo đi trước hướng dẫn, hỗ trợ nên họ trưởng thành, trở thành nguồn cán bộ
lãnh đạo cao hơn ở địa phương hoặc cung cấp nguồn cán bộ cho huyện, tỉnh,
trung ương.
- Đội ngũ CBCC cấp huyện hoạt động trong điều kiện CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn, kinh tế ngày càng phát triển, với đòi hỏi yêu cầu ngày càng
cao, cho nên họ năng động, luôn tìm tòi, sáng tạo trong các hoạt động kinh tế,
chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng, luôn cố gắng phấn đấu vươn
lên nhằm đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương.
- Cán bộ chủ chốt cấp huyện là cán bộ, công chức nên thuận lợi trong việc
thực hiện chính sách cán bộ theo qui định của Nhà nước, tạo sự yên tâm công tác,
gắn bó lâu dài với ngành, địa phương.
1.1.2.3. Những tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ chủ chốt cấp huyện
- CBCC cấp huyện phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trên cơ sở
lập trường của giai cấp công nhân tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách
mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định con
đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có năng lực dự báo, dự đoán và
định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối,
chính sách, pháp luật; vận động và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ
cách mạng. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
- CBCC cấp huyện phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phụng sự
Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, gắn bó mật thiết với nhân dân
và được nhân dân tín nhiệm.
- CBCC cấp huyện phải có kinh nghiệm, tâm huyết và nghệ thuật trong


18
hoạt động chính trị, năng động, thân thiện, linh hoạt, giải quyết kịp thời đúng
đắn những tình huống phát sinh. Chủ động cập nhật kiến thức, thông tin, nhất là
các kiến thức CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, với phương châm giỏi một
việc, biết nhiều việc, vận dụng thực tiễn tại cơ sở, ứng dụng công nghệ thông tin
trong điều hành, xử lý công việc, trao đổi thông tin lãnh đạo, quản lý.
- CBCC cấp huyện phải có tri thức và văn hoá chính trị, có khả năng lãnh
đạo nhân dân. Người cán bộ của Đảng phải biết làm giàu trí tuệ của mình bằng
tri thức nhân loại. CBCC cấp huyện phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu, rèn
luyện trên các mặt, thống nhất giữa đức và tài, thực hiện được mục tiêu là đưa
sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi.
1.1.3. Năng lực lãnh đạo và các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo
của cán bộ chủ chốt ở cấp huyện
1.1.3.1. Năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt ở cấp huyện
Từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2002 viết: Năng lực là khả
năng đạt được kết quả hoạt động nào đó. Năng lực không phải là những thuộc
tính cá nhân riêng lẻ mà là một tổ hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu
cao của hoạt động. Các thuộc thuộc tính ấy có quan hệ tác động lẫn nhau, thống
nhất với nhau trong một chỉnh thể. Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng
lực tiềm ẩn, những năng lực đó được bộc lộ hay không tùy thuộc vào những điều
kiện chủ quan hay khách quan. Đối với những người có tài năng vượt trội, năng
lực của họ được phát triển mạnh mẽ và đạt hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Năng
lực vừa mang tính bẩm sinh, di truyền, vừa là kết quả của quá trình học tập, rèn
luyện và năng lực hoạt động thực tiễn của con người.
Theo Hồ Chí Minh: Năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên
mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có. Vì thế, năng lực không
chỉ là tư chất bẩm sinh thuần tuý vốn có của con người, mà là kết quả của sự
phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu dưỡng, học tập
thông qua hoạt động thực tiễn của con người.


19
Cán bộ lãnh đạo nói chung, CBCC nói riêng dù ở cấp nào cũng phải có
năng lực. Trong đó, năng lực tư duy lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn là hai
nhân tố quan trọng nhất. Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không
tách rời nhau, tác động tương hỗ cùng phát triển. Không có năng lực tư duy lý
luận thì không có khả năng khái quát, sáng tạo và vận dụng đúng đắn linh hoạt
các qui luật khách quan. Không có năng lực thực tiễn thì sa vào bệnh chủ quan
duy ý chí, xa rời thực tiễn. CBCC cấp huyện phải có năng lực bao quát trên các
lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực mới, việc khó thì mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ được giao. CBCC cấp huyện phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán và
khả năng, nghệ thuật xử lý các mối quan hệ và làm việc với con người.
1.1.3.2. Những yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC
cấp huyện
Năng lực tư duy lý luận
Năng lực tư duy lý luận là tổng thể tri thức, phương pháp luận của chủ thể
đáp ứng yêu cầu phát triển, nhận thức nhanh nhạy, đúng đắn về những vấn đề
thực tiễn ở cấp độ lý luận, giúp cho CBCC cấp huyện có những phản ứng linh
hoạt, khả năng vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động lãnh đạo, quản lý.
Năng lực tư duy lý luận của CBCC cấp huyện được biểu hiện:
- Khả năng tiếp thu lý luận, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước một cách đúng đắn, phát hiện những vấn đề mới, khả
năng tổng kết thực tiễn và vận dụng sáng tạo lý luận, đường lối, chủ trương,
chính sách để xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, kế hoạch phát triển
KT-XH phù hợp với thực tiễn ở cơ sở.
- Khả năng liên kết tri thức các lĩnh vực, các ngành nghề, các bộ phận
thành một chỉnh thể ở mức độ khái quát để khi tổ chức điều hành lãnh đạo, chỉ
đạo vừa mang tính lịch sử cụ thể vừa mang tính khái quát tổng hợp.
- Khả năng biến những tri thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương,


20
chương trình hành động. Trên cơ sở đó đưa ra những quyết định đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn cơ sở trong giai đoạn CNH, HĐH nông nghiệp
nông thôn.
Năng lực tư duy lý luận của CBCC cấp huyện có giá trị định hướng hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cơ sở của năng lực tư duy lý luận là tri
thức lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tri thức của nhân
loại, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và sự trải nghiệm trong hoạt
động thực tiễn tại địa phương.
Năng lực tổ chức thực tiễn
Năng lực tổ chức thực tiễn là tổ chức vận hành bộ máy HTCT, có nhiệm
vụ xác định hoạt động nhịp nhàng, chặt chẽ, có hiệu lực, hiệu quả nhằm hiện
thực hoá những mục tiêu đề ra. Biểu hiện năng lực tổ chức thực tiễn của đội
ngũ CBCC cấp huyện:
Một là, có khả năng thu nhập và xử lý thông tin trên các lĩnh vực của
đời sống xã hội ở cấp huyện một cách nhanh chóng và có hiệu quả cụ thể, thiết
thực. Công tác lãnh đạo quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo
quản lý và khách thể bị lãnh đạo, quản lý. Khi thiếu thông tin hoặc xử lý thông
tin không kịp thời, chính xác người lãnh đạo quản lý sẽ có những quyết định
không phù hợp thực tiễn.
CBCC cấp huyện gắn liền với cơ sở, vừa phải tổ chức thực hiện các chỉ
thị, nghị quyết của cấp trên, vừa phải sát cơ sở, nắm chắc tình hình để triển
khai thực hiện kế hoạch đúng đắn phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, thu thập xử lý
thông tin đầy đủ trước hết phải nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, chỉ thị Nghị quyết của cấp trên. Đồng thời phải xây
dựng phương pháp làm việc khoa học hình thành các kênh cung cấp thông tin
xác thực từ cơ sở kết hợp với việc đi sát cơ sở nắm vững những diễn biến hoạt
động KT-XH, an ninh - quốc phòng. Khi có đầy đủ thông tin, người cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp huyện phải có khả năng tổng hợp, khái quát, phân tích,


21
lắng nghe các phản biện, dư luận xã hội để rút được những đặc điểm, nguyên
nhân đề ra được những giải pháp, quyết định phù hợp, khả thi giải quyết có
hiệu quả những vấn đề đặt ra.
Hai là, khả năng tổ chức bộ máy, phối hợp các lực lượng, các bộ phận, cá
nhân thực hiện nhiệm vụ đặt ra ở cấp huyện. CBCC ở cấp huyện phải có tư duy
tổ chức phối hợp các bộ phận trên cơ sở phát hiện ra những điểm mạnh, hạn chế
của cán bộ để bố trí phù hợp và phát huy được năng lực, sở trường. Phải là trung
tâm đoàn kết, thu hút cán bộ và nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp thực thi
những nhiệm vụ của ngành, địa phương.
Ba là, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát để duy trì, điều chỉnh việc thực
hiện các quyết định quản lý. Phát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh để
giải quyết, tìm ra những sai sót để sửa chữa, điều chỉnh các vấn đề thực tế đặt ra
để các quyết định có hiệu lực, hiệu quả.
Công tác kiểm tra giám sát làm tăng hiệu quả các quyết định quản lý, đảm
bảo cho việc hoàn thành nhiệm vụ một cách triệt để, hạn chế các sai phạm có thể
nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Năng lực này còn thể hiện ở khả
năng đánh giá hiệu quả việc thực hiện các quyết định và khả năng rút kinh
nghiệm thực tiễn vận dụng vào công tác điều hành công việc. Chú trọng việc
kiểm tra để ngăn ngừa, hạn chế sai phạm trong thực hiện nhiệm vụ giai đoạn
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn địa phương.
Năng lực sáng tạo và tính quyết đoán
Năng lực sáng tạo là khả năng vận dụng tri thức lý luận và khoa học vào
thực tiễn một cách linh hoạt, tìm ra những con đường mới những phương pháp
mới, giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra phù hợp với đòi hỏi khách
quan. Với tư duy năng động, người CBCC cấp huyện phải nắm bắt được sự vận
động biến đổi liên tục ở cấp huyện giai đoạn CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn trên quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển để đưa
ra những quyết định đúng.


22
Bên cạnh đó phát hiện cái mới, phân tích nguyên nhân phát sinh, xu
hướng vận động của các vấn đề ở cấp huyện để có những giải pháp, phương án
phù hợp. Thực tiễn hết sức phong phú, vì vậy người CBCC cấp huyện phải có
khả năng phân loại, hệ thống hoá vấn đề, xác định được trọng tâm, mâu thuẫn cơ
bản để có phương án giải quyết đúng, ra những quyết định kịp thời, phát huy
được nguồn lực, tiềm năng, thế mạnh của cơ sở, địa phương để ổn định chính trị,
phát triển kinh tế xã hội. Chú trọng khả năng nắm bắt, phát hiện vấn đề, ban
hành những quyết định phù hợp. Trên cơ sở nắm vững cơ sở khoa học của vấn
đề, nắm vững phương pháp luận trong giải quyết vấn đề, tính quyết đoán tăng
thêm hiệu lực, hiệu quả quản lý, tạo được niềm tin cho người thực hiện, bảo đảm
sự thống nhất, nhất quán trong việc ra quyết định lãnh đạo, chỉ đạo. Nó là sản
phẩm của tính kiên quyết, tính chủ động, tư duy sáng tạo, chặt chẽ và niềm tin
khoa học. Tính quyết đoán thể hiện trước hết ở khả năng phán đoán chính xác
tình hình, đưa ra được quyết định chỉ đạo kịp thời, chính xác trong những tình
huống phát sinh. Cấp huyện là nơi diễn ra nhiều hoạt động của đời sống xã hội,
nơi tổ chức và thực thi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi CBCC
gắn bó, gần gũi mật thiết với nhân dân, đòi hỏi người CBCC phải giải quyết kịp
thời, đúng đắn những vấn đề thực tiễn đặt ra. Nếu không sẽ không đạt được hiệu
quả công tác lãnh đạo quản lý; mất thời cơ, bị động, vướng điểm nghẽn đối với
công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ... Vì thế người CBCC cấp huyện
phải phấn đấu học tập, rèn luyện để nhận biết và hành động phù hợp quy luật tự
nhiên, phù hợp sự vận động của thực tiễn, hiểu và nắm vững công việc mình phụ
trách, có phương pháp luận khoa học, rèn luyện tính quyết đoán để có khả năng ra
quyết định một cách kịp thời và bản lĩnh, dám làm, dám chịu trách nhiệm về
quyết định của mình.
Năng lực làm việc với con người
Khả năng giao tiếp vừa thể hiện năng lực lãnh đạo vừa là một nghệ
thuật để nâng cao năng lực lãnh đạo. Phần lớn thời gian làm việc của CBCC


23
cấp huyện là giao tiếp với cấp trên, cấp dưới, phối hợp ngang cấp và đặc biệt là
giao tiếp với nhân dân. Chất lượng công tác phụ thuộc rất nhiều vào khả năng,
nghệ thuật giao tiếp, làm việc với con người.
Năng lực làm việc với con người là khả năng nắm bắt được tâm lý, tư
tưởng của đối tượng thông qua giao tiếp để chuyển được chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống thông qua con người. Người CBCC cấp
huyện phải xây dựng được các mối quan hệ, kết nối, thu hút mọi người tham gia
vào công việc chung. Có thái độ hòa nhã, cư xử hài hòa, tôn trọng nhân dân,
hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thông cảm lắng nghe ý kiến, hiến kế
của nhân dân. Biết tự phê bình và phê bình, phát huy sáng kiến nhân dân,
nghiêm khắc với những sai phạm, tiêu cực. Do vậy, CBCC cấp huyện phải có
khả năng đoàn kết, phát huy sức mạnh của đội ngũ cán bộ, sức mạnh của toàn
dân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chủ động trong tham mưu, phối
hợp, huy động các nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ chính trị của
địa phương.
1.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1. Mục đích, nội dung, yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta hiện nay
1.2.1.1. Mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra được những tiền đề về vật chất - kỹ
thuật, về khoa học - công nghệ, về kinh tế - chính trị, về văn hoá - tư tưởng và
con người mới xã hội chủ nghĩa... nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi
nguồn lực, tăng năng suất lao động xã hội, làm cho nền kinh tế tăng trưởng
nhanh và bền vững...
Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá đây là một nhận thức
đúng đắn, nhạy bén của Đảng và Nhà nước ta nhằm đưa sự nghiệp công nghiệp
hoá đến thắng lợi. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hoá,


24
hiện đại hoá là "Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế,
xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến,
hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [21, tr.42].
Công nghiệp hoá là sự thay thế kỹ thuật thủ công bằng máy móc trên quy
mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đẩy mạnh sự phân công lao động xã hội và sản
xuất hàng hoá tạo ra bước ngoặt trong việc nâng cao năng suất lao động xã hội,
biến đổi một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp tiên tiến.
1.2.1.2. Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
- Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu
quả kinh tế cao; phát triển nuôi với tốc độ và chất lượng cao hơn; xây dựng các
vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất,
bảo quản và chế biến. Điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo
hướng: phát huy lợi thế tự nhiên của từng vùng, từng loại cây, con, hình thành
vùng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường và công nghiệp chế biến.
- Tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường, coi trọng và phát triển thị
trường trong nước, tổ chức tốt việc tiêu thụ nông, lâm sản, thủy sản cho
nông dân.
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp và hợp tác
xã đầu tư phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nông, lâm thủy sản…
- Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, và đa dạng hóa các nguồn vốn để
tiếp tục đầu tư phát triển mạnh hơn cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Ưu
tiên nâng cấp và xây dựng mới các hệ thống thủy lợi, chủ động phòng chống lụt
bão và giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường nước. Phát triển giao thông nông
thôn, điện, nước sạch.


25
- Rà soát bổ sung, điều chỉnh chính sách về đất đai, thuế, tín dụng, đầu
tư... nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện việc hình thành các khu và cụm công nghiệp,
các làng nghề ở nông thôn để thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp và kinh
doanh dịch vụ sử dụng nhiều lao động và nguồn nguyên liệu từ nông, lâm
thủy sản…
- Tập trung giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho nông dân và cho lao
động nông thôn, đặc biệt quan tâm giải quyết việc làm và thu nhập cho nông dân
có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích phát triển khu công nghiệp, khu đô
thị, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc
làm tại chỗ và ngoài khu vực nông thôn. Có chính sách trợ giúp thiết thực để đẩy
mạnh đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông thôn, đáp ứng cho yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và tìm việc làm ngoài khu
vực nông thôn, kể cả đi lao động có thời hạn ở nước ngoài.
- Tiếp tục đầu tư nhiều hơn cho chương trình giảm nghèo, trợ giúp thiết
thực cho các vùng và cộng đồng dân cư còn nhiều khó khăn, xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển hệ thống khuyến nông, nâng cao dân trí và có
chính sách tín dụng cho người nghèo từng bước vượt qua khó khăn, thoát nghèo
và nâng cao mức sống…
- Tập trung đầu tư để hoàn thành cơ bản chương trình kiên cố hóa trường
học, thực hiện tốt hơn chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng; thực hiện
ngày càng có nền nếp và chất lượng về quy chế dân chủ ở nông thôn; đẩy mạnh
phong trào xây dựng xã văn hóa, nâng cao chất lượng hoạt động các thiết chế
văn hóa ở cơ sở giữ gìn và phát triển truyền thống văn hóa của dân tộc,
địa phương…
1.2.1.3. Yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tác động thúc đẩy nhanh hơn quá trình
phát triển của lực lượng sản xuất. Công nghiệp hoá là điều kiện quan trọng nhất


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×