Tải bản đầy đủ

Xây dựng quy trình làm phân compost từ rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại TP. Hội An

MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng và
sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch….kéo theo mức
sống của người dân càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, nan giải trong công
tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ của cộng đồng dân cư. Lượng chất thải phát sinh
từ các hoạt động sinh hoạt của con người ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành
phần và độc hại hơn về tính chất.
Ở các đô thị lớn của Việt Nam, rác thải đã và đang gây ô nhiễm môi trường
trầm trọng. Xử lý rác luôn là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý môi trường đô thị.
Không riêng gì đối với các đô thị đông dân cư, việc lựa chọn công nghệ xử lý rác như
thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên những hậu quả xấu về môi trường trong
tương lai và ít tốn kém chi phí luôn là nỗi bức xúc của các ngành chức năng. Việc xử
lý chất thải sinh hoạt một cách hợp lý đã và đang đặt ra những vấn đề bức xúc đối với
hầu hết các tỉnh, thành của nước ta.
Hội An là một thành phố cổ tập trung nhiều khách du lịch thì vấn đề phát sinh
ra rác thải cũng rất lớn, nên gây ra nhiều khó khăn trong việc thu gom và xử lý rác
thải sinh hoạt, và chủ yếu lượng rác thải phát sinh ra đó được công ty công trình công
cộng thu gom và vận chuyển đến bãi rác gây ra tình trạng quá tải ở bãi rác Cẩm Hà và
làm cho môi trường ở đây ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng.
Trong lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ra hằng ngày đó chủ yếu là rác thải từ
nhà bếp mà trong thành phần của rác thải nhà bếp chủ yếu là rác thải hữu cơ dễ phân

hủy gây mùi hôi thối gây ảnh hưởng đến môi trường không khí và sức khỏe của con
người nơi đây. Tuy nhiên nếu chúng ta biết tận dụng nó và biến nó thành một sản
phẩm mới để phục vụ cho đời sống của mình mà đặc biệt là sử dụng rác thải hữu cơ
để làm phân compost sẽ giúp cho môi trường giảm thiểu được lượng rác thải, hạn chế
được lượng phân hóa học trên cách đồng và giúp con người giảm chi phí trong sản
xuất nông nghiệp.
Xuất phát từ những tồn tại trên và sự cần thiết của việc phân loại rác tại
nguồn để làm phân compost nên tôi đã chọn đề tài “Xây dựng quy trình làm phân
compost từ rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại TP. Hội An Tỉnh Quảng Nam”
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trong cuộc sống hằng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số
lượng lớn các nguyên liệu, thực phẩm để tồn tại và phát triển, mà đồng thời cũng vứt
thải cho thiên nhiên và môi trường sống những lượng rác thải có nguy cơ hủy hoại
môi trường.Trong số lượng rác thải được vứt bỏ đó thì thành phần của rác thải nhà
bếp chiếm một phần lớn gây ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống con người, làm phát
sinh nhiều bệnh tật và đặc biệt là lượng rác ngày càng nhiều thì sẽ chiếm một diện
tích lớn đất chôn lấp, làm mất cảnh quan môi trường.
1.1 ĐỊNH NGHĨA RÁC THẢI NHÀ BẾP
Nói một cách khái quát dễ hiểu thì rác thải nhà bếp đó là các chất rác từ
nguyên liệu thực phẩm, thức ăn thừa, hoa quả và vỏ trái cây, bánh kẹo, hoa lá trang
trí trong nhà đã bị héo…mà con người không dùng được nữa… vứt bỏ vào môi
trường sống.
Theo định nghĩa khoa học thì đó là những thành phần tàn tích hữu cơ của các
chất hữu cơ phục vụ sinh hoạt sống của con người. Chúng không được con người sử
dụng nữa và vất thải trở lại môi trường sống, gọi là rác thải nhà bếp.[4]
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA RÁC THẢI NHÀ BẾP
- Rác thải nhà bếp hằng ngày chiếm một khối lượng và tỷ lệ rác thải rất lớn so
với các loại rác thải vô cơ khác
- Rác thải nhà bếp là những vật liệu dễ phân hủy, và gây thối rửa
- Rác thải nhà bếp khó được thu gom phân loại riêng tại nguồn, gây khó khăn
cho việc xử lý rác.
- Rác thải nhà bếp sẽ khó được tận dụng tái chế thành phân hữu cơ nếu không
được phân loại tại nguồn.Vì vậy cần phải được thu gom và phân loại riêng trong
những túi chất liệu đặc biệt dễ phân hủy.
Với thành phần, và đặc điểm của rác thải nhà bếp như trên thì con người
chúng ta không ngừng nâng cao hiểu biết và tìm ra những phương pháp hữu hiệu nhất
để góp phần nâng cao đời sống và đặc biệt là bảo vệ môi trường sống của nhân
loại.Và để xử lý được rác thải nhà bếp người ta đã ứng dụng nhiều nhà máy chế biến


phân compost, các nhà máy tái chế rác thải sinh hoạt…
2
Với xu hướng xử lý rác thải thân thiện với môi trường thì mô hình sản xuất
phân compost từ rác thải nhà bếp với quy mô hộ gia đình là một trong những biện
pháp không những giúp giảm thiểu được tổng lượng rác thải mà còn tạo cho người
dân chúng ta bắt đầu tiếp xúc với việc nghiên cứu khoa học. Sản xuất ra lượng phân
compost phục vụ trong nông nghiệp của từng địa phương [4]
1.3 ĐỊNH NGHĨA PHÂN COMPOST
Phân compost hay còn gọi là phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm phân bón được
tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất có nguồn gốc khác
nhau, có tác động của vi sinh vật hoặc các hợp chất sinh học được chuyển hóa thành
mùn. Tùy thuộc vào nhu cầu của sản xuất mà có thể cân đối phối trộn các phân liệu
sao cho cây trồng phát triển tốt nhất mà không cần phải bón bất kỳ các loại phân nào.
Phân vi sinh có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc. Loại phân này có hàm lượng dinh
dưỡng cao nên khi bón trộn đều với đất. Nếu sản xuất phù hợp cho từng loại cây
trồng thì đây là loại phân hữu cơ tốt nhất.[12]
1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LÀM PHÂN
COMPOST [8]
Ngoài sự có mặt của những sinh vật cần thiết, những yếu tố chính ảnh hưởng
lên quá trình sản xuất compost có thể được 03 nhóm chính là: nhóm những yếu tố
dinh dưỡng, môi trường và vận hành.
Bảng 1.1: Điều kiện tối ưu cho quá trình ủ phân compost
Các thông số Khoảng hợp lý Khoảng tối ưu nhất
Kích thước vật liệu (cm) 1-8 4-5
Tỷ lệ dinh dưỡng C/N (%) 20-40 25-30
Độ ẩm (%) 40-65 52-58
Độ PH 5,5-9 6-8
Nhiệt độ(
0
C) 40-65 50-55
Nồng độ oxy (%) >5 Lớn hơn 5
1.4.1 Các yếu tố dinh dưỡng.
1.4.1.1 Nguyên tố đa lượng và vi lượng
* Nguyên tố đa lượng như: C, N, P, Ca, và K.
* Nguyên tố vi lượng như: Mg, Mn, Co, Fe, S …
3
Trong thực tế, hầu hết chúng trở nên độc nếu nồng độ vượt quá mức cho phép.
Hầu hết những nguyên tố Mg, Co, Mn, Fe, S…có vai trò trong việc trao đổi tế bào
chất.
Cơ chất là nguồn cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng và vi lượng
cần thiết, trong thực tế muốn có lợi ích bắt buộc phần lớn hoặc tất cả cơ chất trong
quá trình sản xuất compost đều là chất thải.
1.4.1.2 Tỷ lệ C/N
Tỷ lệ C:N là hệ số dinh dưỡng chính. Trong sản xuất compost, tỷ lệ này vào
khoảng 20:1 đến 25:1. Nếu tỷ lệ C:N vượt quá giới hạn vừa nêu, tốc độ phân hủy sẽ
bị chậm lại. Ngược lại, nếu tỷ lệ thấp hơn 20:1, N bị thất thoát (Bởi vì, N dư chuyển
hóa thành NH3). Giai đoạn chuyển hóa tích cực trong sản xuất compost có đặc điểm
là nồng độ PH và nhiệt độ khá cao. Tương quang C/N nhỏ dần cho đến khi tỷ lệ nitơ
cố định và nitơ khoáng hoá như nhau. Sau một quá trình dài, tỷ lệ C/N của phần còn
lại sẽ bằng với tỷ lệ của vi sinh vật.
Bảng 1.2 : Hàm lượng N và tỷ lệ C:N có trong những loại rác thải và chất thải khác
nhau
Chất thải Hàm lượng N Tỷ lệ C/N
Bùn hoạt tính 5 6
Máu 10-14 3
Phân bò 1,7 18
Bùn đã phân hủy 2-6 4-28
Mỡ cá, bã cá 6,5-10 5,1
Rác trái cây 1,5 34,8
Cỏ bị xén 3-6 12-15
Phân ngựa 2,3 25
Cỏ hỗn hợp 214 19
Phân bắc 5,5-6,5 6-10
4
Rác rau củ, không kể các
loại rau đậu
2,5-4 11-12
Phân heo 3,8 4-19
Thân, lá khoai tây 1,5 25
Phân gia cầm 6,3 15
Bùn tươi 4-7 11
Mùn cưa 0,1 200-500
Rơm, yến mạch 1,1 48
Rơm, lúa mì 0,3-0,5 128-150
Nước tiểu 15-18 0,8
1.4.2 Những yếu tố môi trường
Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình sản xuất compost là nhiệt độ,
độ ẩm và pH. Chúng có thể là từng yếu tố hoặc nhiều yếu tố kết hợp lại, góp phần
quyết định tốc độ và mức độ phân hủy.
1.4.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ tối ưu cho quá trình sinh hóa là 40-55
0
C. Vì mỗi loài vi sinh vật đều
có nhiệt độ tối ưu để sinh trưởng và phát triển. Trong đó, khi nhiệt độ cao đối với
đống ủ thì tốc độ ủ sẽ nhanh và không khí được tuần hoàn trong đống ủ thì oxy sẽ
luôn luôn có mặt.
Sự giải phóng CO
2
tối đa xảy ra ở nhiệt độ 55
0
C. Nó bắt đầu tăng từ từ trong
khoảng từ 25 đến 40
0
C, sau đó tăng từ 45 – 55
0
C.
Nhiệt độ cao đối với đống ủ thì tốc độ, mức ủ sẽ nhanh.
Nếu nhiệt độ trên 65
0
C quá trình sản xuất compost sẽ bị ảnh hưởng xấu một
cách nghiêm trọng. Lý do là vi sinh vật hình thành bào tử tại mức nhiệt độ cao hơn
65
0
C và chúng sẽ rơi vào giai đoạn nghỉ hoăc chết. Vì vậy phương pháp sản xuất
compost hiện nay sử dụng quy trình vận hành được thiết kế tránh nhiệt độ cao hơn
60
0
C.
5
Lưu ý, cần tránh hiện tượng quá khô,quá lạnh ở phần nào đó của đống ủ.
1.4.2.2 Độ pH
pH có ý nghĩa quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật,
ion H
+
và OH
-
là hai ion hoạt động mạnh nhất, những biến đổi nồng độ của chúng dù
là rất nhỏ đều có ảnh hưởng rất lớn đến tế bào vi sinh vật. Cho nên việc xác định PH
thích hợp ban đầu là rất quan trọng. PH tối ưu là 6-8.
Vào giai đoạn đầu, độ pH là 6,3 sau đó giảm xuống còn 4,8 và cuối cùng tăng
lên pH = 9. Quá trình sản xuất compost độ pH thường bị giảm xuống ở giai đoạn đầu
vì những phản ứng tạo thành acid hữu cơ. Đường biểu diễn độ pH sau đó tăng lên
tương ứng với vi sinh vật sử dụng những acid vừa sinh ra trong giai đoạn trước. Ở
giai đoạn đầu pH giảm xuống không gây ức chế đối với hầu hết các vi sinh vật, vì thế
để nâng pH người ta dùng Ca(OH)
2
để cải thiện điều kiện vật lý của khối ủ, một phần
hoạt động như vật liệu hút ẩm.
1.4.2.3 Yếu tố độ ẩm
Việc sản xuất compost từ rác thải đô thị có một đặc điểm quan trọng là mối
quan hệ mật thiết giữa độ ẩm và không khí, cơ sở của mối quan hệ này dựa trên thực
tế là nguồn oxi chủ yếu cần cung cấp cho quần thể vi khuẩn đó là không khí giữ lại
trong những khe hở giữa những chất thải. Việc khuyết tán oxi trong không khí và bên
trong khối chất thải để thỏa mãn nhu cầu oxi của vi sinh vật là không quan trong lắm.
Bởi vì, trong các khe hở giữa những chất thải có chứa độ ẩm tự do trong khối ủ giữa
độ ẩm và oxi phải có một sự căn bằng. Theo đó, nếu ở mức cao hơn nữa sự thiếu oxi
sẽ diễn ra và tình trạng kỵ khí sẽ bắt đầu phát triển. Tầm quan trọng của việc giữ độ
ẩm của cơ chất từ 40%– 45% thường bị coi nhẹ trong quá trình sản xuất compost.
Điều này thực chất rất quan trọng bởi vì độ ẩm thấp hơn sẽ kìm hãm hoạt động của vi
khuẩn và tất cả vi khuẩn sẽ ngừng hoạt động ở độ ẩm 12%.
1.4.2.4 Hệ thống vi sinh vật
Vi sinh vật có một đóng góp vô cùng quan trọng đến thời gian ủ phân
compost. Với một hệ thống vi sinh vật được tuyển chọn tốt thì không những thời gian
ủ được rút ngắn mà chất lượng phân bón cũng đảm bảo hơn.
6
Các vi sinh vật có mặt trong quá trình ủ phân compost bao gồm vi khuẩn, nấm, men,
khuẩn tia,… Người ta xác định hầu hết các loài trong nhóm VSV nêu trên đều có khả
năng phân giải gần hết các hữu cơ thô trong rác thải. Tất nhiên mỗi một loài sinh vật
có khả năng tốt nhất để phân hủy một dạng chất hữu cơ nào đó.
Thí dụ nấm men , khuẩn tia …, hoạt động rất mạnh đối với cellulose và
hemicellulose. Quá trình trao đổi chất là hiện tượng phổ biến trong ủ phân rác và một
yếu tố khác là sự giải nhiệt do hoạt động đồng hóa và dị hóa của VSV để tạo ra mùn.
1.4.3 Vận hành
Việc kiểm soát tốt các điều kiện môi trường ảnh hưởng tới hoạt động của vi
sinh vật chính là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình ủ compost. Kiểm
soát tốt quá trình ủ compost cũng giúp giảm phát sinh mùi ô nhiễm và loại bỏ các
mầm vi sinh vật gây bệnh. Vì vậy các giải pháp kỹ thuật trong công nghệ ủ compost
hiện đại đều hướng tới mục tiêu kiểm soát tối ưu các điều kiện môi trường cùng với
khả năng vận hành thuận tiện.
1.4.3.1 Làm thoáng và kích thước nguyên liệu.
Kích thước nguyên liệu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới
thời gian ủ phân compost.Việc làm giảm kích thước nguyên liệu sẽ góp phần làm gia
tăng tốc độ phân hủy. Đối với nguyên liệu thô kích thước tối ưu là từ 5-8cm.
Đảo trộn mục đích làm đồng đều, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm của vật liệu,
tránh tạo cột không khí cũng như việc tạo ra các bánh cứng. Tốc độ ủ phụ thuộc vào
kích thước vật liệu và quá trình đảo trộn rất lớn.
1.4.3.2 Sự thông khí
Thông thường áp lực tĩnh là 0,1 - 0,15 mm cột nước, cần tạo ra để đẩy không
khí qua chiều sâu từ 2 - 2,5 m vật liệu, áp lực đó chỉ cần quạt gió là đủ chứ không cần
máy nén. Sự phân phối O
2
cho bể ủ là rất cần thiết bởi vi sinh vật hiếu khí cần O
2
,
trung bình lượng O
2
tiêu thụ là 4,2 g O
2
/1 kg rác/ngày, nghĩa là khoảng 4m
3
O
2
/1 tấn
rác/ngày. Sự sản sinh CO
2
tương đương với lượng O
2
tiêu thụ. Tỷ lệ O
2
tiêu thụ
không ổn định, phụ thuộc vào nhiệt độ, sự thay đổi trong thành phần, mức độ ủ chín
và kích thước nguyên liệu.
7
So sánh với phương pháp sản xuất compost kỵ khí, phương pháp sản xuất
compost hiếu khí có rất nhiều ưu điểm:
• Sự phân huỷ xảy ra nhanh hơn.
• Nhiệt độ cao đủ để làm chết những mầm bệnh.
• Số lượng và nồng độ khí hôi thối giảm mạnh.
Mùi khó chịu là vấn đề không thể tránh trong xử lý và thải bỏ chất thải. Để cải
thiện đáng kể nồng độ và sự tập trung mùi trong sản xuất compost hiếu khí cần cung
cấp đủ nhu cầu Oxi cho quần thể vi khuẩn hoạt động bằng cách sử dụng quy trình
thông khí thích hợp. Khí sinh ra có thể được kiểm soát bằng cách thu khí từ khối ủ
compost do quá trình phân hủy và xử lý chúng bằng hệ thống xử lý hoá học hay sinh
học, nhờ vậy mùi hôi khó chịu sẽ giảm.
1.4.3.3 Tốc độ thông khí
Tốc độ thông khí sao cho khối compost duy trì hiếu khí phụ thuộc bản chất và
cấu trúc của các thành phần cuả rác thải và tùy thuộc vào phương pháp thông khí.
Tốc độ tiêu thụ oxy tùy thuộc không chỉ nhiệt độ mà còn phụ thuộc vào kích
thước vật liệu, quần thể vi sinh vật và mức độ xáo trộn. Nhu cầu oxy trong thời tiết
ấm sẽ cao hơn trong lúc lạnh. Để đạt được kết quả tôt nhất, nên giữ nhiệt độ ban đầu
là 45-50
O
trong một số ngày đầu, sau đó tăng lên 55-70
O
C để cho giai đoạn lên men
diễn ra mạnh. Lượng không khí cần thiết phải cung cấp cho vi sinh vật phát triển
trong quá trình ủ hiếu khí.
1.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT PHÂN COMPOST
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.5.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost trên Thế Giới
Sự ra đời của và phát triển của phân compost
Lịch sử quá trình ủ compost đã có từ rất lâu, ngay từ khi khai sinh của nông
nghiệp hàng nghìn năm trước Công nguyên, ghi nhận tại Ai Cập từ 3.000 năm trước
Công nguyên như là một quá trình xử lý chất thải nông nghiệp đầu tiên trên thế giới.
Người Trung Quốc đã ủ chất thải từ cách đây 4.000 năm, người Nhật đã sử dụng
compost làm phân bón trong nông nghiệp từ nhiều thế kỷ. Tuy nhiên đến năm 1943,
8
quá trình ủ compost mới được nghiên cứu một cách khoa học và báo cáo bởi Giáo sư
người Anh, Sir Albert Howard thực hiện tại Ấn Độ. [10]
Phân compost được Noble Hilter sản xuất đầu tiên tại Đức năm 1896 và đặt
tên là Nitragin. Sau đó phát triển sản xuất tại một số nước như Mỹ, canada, Anh và
Thụy Điển.
Nitragin là loại phân được chế tạo bởi vi khuẩn Rhizobium, do Beijernk phân
lập năm 1888 và được Fred đặt tên vào năm 1989 dùng để bón cho các loại cây trồng
thích hợp, kể cả họ đậu. Từ đó cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm
ứng dụng và mở rộng việc sản xuất phân bón trên nền chất mang hữu cơ khác nhau.
Các kết quả từ Mỹ, Canađa, Nga, Nhật, Trung Quốc, Ấn độ, Thái Lan …cũng
cho thấy sử dụng phân compost có thể cung cấp cho đất và cây trồng từ 30 đến 60kg
nitơ/ hecta đất, một năm có thể thay thế từ 1/3 đến 1/2 lượng phân bón hóa học [2]
Hiện nay đã có nhiều tài liệu viết về quá trình ủ compost và nhiều mô hình
công nghệ ủ compost quy mô lớn được phát triển trên thế giới.Các mô hình công
nghệ ủ compost quy mô lớn hiện nay trên thế giới được phân loại theo nhiều cách
khác nhau. Theo trạng thái của khối ủ compost tĩnh hay động, theo phương pháp
thông khí khối ủ cưỡng bức hay tự nhiên, có hay không đảo trộn.[10]
Ở các vùng của Mỹ và Canađa có khí hậu ôn đới thường áp dụng phương
pháp xử lý rác thải ử đống tĩnh có đảo trộn như sau:
Rác thải được tiếp nhận và tiến hành phân loại. Rác thải hữu cơ được nghiền
và bổ sung vi sinh vật, trộn với bùn và đánh đống ở ngoài trời. Chất thải được lên
men từ 8-10 tuần lễ, sau đó sàng lọc và đóng bao [5]
9
Hình 1.1: Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Mỹ và Canada
Ở Đức thì rác thải ở các gia đình đã được phân loại, ở những nơi công cộng
phân loại chưa triệt để, được tiếp nhận và tiến hành phân loại rác tiếp.
Rác hữu cơ được đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các thùng chịu áp lực
cùng với thiết bị thu hồi khí sinh ra trong quá trình lên men phân giải hữu cơ.
Tiếp nhận rác
Loại bỏ tạp chất
không hữu cơ
Lên men từ 8 -10 tuần
Nghiền hữu cơ
Đánh luốn
Sàng xử lý chất hữu cơ
Bổ sung vi sinh vật
Chôn lấp chất
trơ
Bùn
Đóng bao phân bón
10
Hình 1.2. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Đức
Ở Trung Quốc những thành phố lớn thì thường áp dụng công nghệ trong các
thiết bị kín. Rác được tiếp nhận đưa vào thiết bị ủ kín sau 10-12 ngày, hàm lượng các
khí CH
4,
SO
2
, H
2
S…. giảm đựợc đưa ra ngoài ủ chín. Sau đó mới tiến hành phân loại,
chế biến thành phân bón hữu cơ
Tiếp nhận rác thải
sinh hoạt
Phân loại
Hút khí
Lọc
Rác thải vô cơ
Tái chế
Chôn lấp chất
trơ
Rác hữu cơ lên men
Phân hữu cơ vi sinh
11
Hình 1.3. Công nghệ xử lý rác sinh hoạt Trung Quốc
1.5.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost ở Việt Nam
Lịch sử phát triển nông nghiệp Việt đã trải qua thời kỳ canh tác hữu cơ. Đó là
thời kỳ mà ngành công nghiệp hóa học chưa phát triển, các loại phân hữu cơ chưa
xuất hiện nhiều trên thị trường, nhất là các nước nghèo và lạc hậu như Việt Nam. Lúc
đó, nền nông nghiệp Việt nam sản xuất chủ yếu dựa vào các nguồn phân hữu cơ nội
Thiết bị chứa có bổ sung vi sinh vật, thu nước
thải trong thời gian 10-12 ngày
Ủ chính, độ ẩm 40%, thời
gian từ 15-20 ngày
Sàn phân loại theo kích thước
Vật vô

Phân loại sản
phẩm để tái chế
Chôn lấp chất trơ
Phân loại theo trọng
lượng bằng không khí có
thu kim loại
Phối trộn các nguyên tố
khác N,P,K và các nguyên
tố khác
Ủ phân bón trong thời gian
5-10 ngày
Đóng bao
tiêu thụ sản
phẩm
12
Tiếp nhận rác thải
tại là chính như: phân chuồng, bùn ao, phân xanh, xác bã mắm, phân dơi trong hang
núi. Tuy nhiên,đó chỉ là gai đoạn canh tác nông nghiệp hữu cơ theo tình thế, còn lạc
hậu và mất cân đối.
Trong giai đoạn hiện nay với tốc độ phát triển khá nhanh mà nền khoa học sản
xuất phân bón, ngoài việc đã sữ dụng khá nhiều các loại phân vô cơ thì Việt Nam đã,
đang và sẽ ứng dụng các loại phân HCVS từ các nguồn khác nhau (nhập khẩu và chế
biến trong nước) nhằm đóng qóp tích cực vào việc giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi
trường do các nguyên liệu này gây ra.[11]
Ở Việt Nam, phân compost cố định đạm cho cây họ đậu ntragin, phân
compost phân giải lân phosphobacterin đã được nghiên cứu từ năm 1960.Nhưng tới
năm 1987 trong chương trình 52D - 01- 03 thì quy trình sản xuất Nitragin trên nền
chất mang than bùn mới hoàn thiện.
Từ năm 1991, 10 đơn vị trong toàn quốc đã nghiên cứu phân compost cố định
đạm. Ngoài nitragin cho cây họ đậu đỗ còn có mở rộng cho cây lúa và các cây họ đậu
khác. Hai đơn vị đẫn đầu trong công tác nghiên cứu và ứng dụng phân compost là:
Viện Công nghệ Sing học (Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia) và
Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn). Hiện nay có nhiều tổ chức và cá nhân đã thành công trong việc nghiên
cứu sản xuất phân compost trên những nền chất mang khác nhau và ứng dụng trên
nhiều cây công nghiệp, nông nghiệp như: PGS – TS Đỗ Châu Thu, TS Nguyễn Ích
Tâm cùng cộng sự của trung tâm Nghiên cứu và phát triển Nông nghiệp Bền vững
thuộc trường Đại học Nông nghiệp I đã hợp tác với khoa Sinh học và kinh tế Nông
nghiệp thuộc Đại học Udine (Italia) tiến hành đề tài: “Sản xuất phân cốpt từ rác thải
hữu cơ sinh hoạt và phế thải nông nghiệp dùng làm phân bón cho 3 loại rau sạch ở
ngoại ô thành phố như: rau ăn lá (cải bắp), rau ăn củ (củ cải), rau ăn quả (cà chua)’’.
Các cán bộ trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng Nông thôn đã sản xuất thành
công loại phân compost đa chuẩn loại quy mô hộ gia đình trên nền nguyên liệu chủ
yếu là rác thải, phế phẩm nông nghiệp, phân gia súc , bèo tây, hay thân cây ngô.
Phan Thị Thanh Hoài, Đặng Ngọc Huệ, Nguyễn Nữ Quỳnh Giang, Ngô Nữ Quỳnh
Như, và Nguyễn Bá Dũng (ĐH Tây Nguyên) đã thành công trong việc sản xuất phân
compost từ vỏ cà phê và cũng đã được ứng dụng cho một số loại cây như : chè, cà
13
phê, lúa, ngô, cây ăn quả,.. Nông dân đều nhận xét loại phân này làm chgo cây phát
triển tốt, đỡ sâu bệnh, đất tơi xốp và thấy tác dụng của phân bền lâu hơn so với phân
hóa học, năng suất tăng rõ rệt.[7]
Hiện nay, trung bình mỗi ngày, TP HCM thải ra khoảng 6.400 tấn rác sinh
hoạt, trong đó, rác có nguồn gốc từ thực phẩm có thể tái chế thành những loại phân
bón hoặc được đốt để tạo ra khí gas làm nhiên liệu phát điện chiếm tỷ lệ 80% - 90%.
Tuy nhiên, đến nay, 100% lượng rác thải sinh hoạt của thành phố (khoảng 6200
tấn/ngày) chỉ được xử lý bắng biện pháp chôn lấp ở hai bãi rác chính là bãi Đa
Phước( huyện Bình Chánh) và bãi Phước Hiệp ( huyện Củ Chi) vừa tốn kém kinh phí
thu gom, vận chuyển và xứ lý (khoảng trên 600 tỷ đồng/năm) mà còn tốn một diện
tích đất khá lớn để chôn lấp.
Theo Sở Tài nguyên - Môi trường, việc phân loại rác tại nguồn thành công sẽ
giúp thành phố tiết kiệm được khoảng một tỷ đồng mỗi ngày. Chính vì thế nên đã có
một số nhà máy khẩn trương hoàn thành và đi vào hoạt động ngay trong năm 2010
như: nhà máy chế biến phân compost công suất 500 tấn một ngày của công ty xử lý
chất thải rắn Việt Nam, nhà máy chế biến phân compost của Công ty Vietstar có công
suất giai đoạn 1 là 600 tấn một ngày đã vận hành thử và sẽ chính thức đi vào hoạt
động ổn định trong năm 2010. Ngoài ra, nhiều nhà máy xứ lý rác khác đang được
khẩn trương xây dựng và sẽ đi vào hoạt động trong những năm kế tiếp...[13]
- Ở miền Bắc Việt Nam hiện nay có nhà máy sản xuất phân hữu cơ Cầu Diễn
Hà Nội được tài trợ dây chuyền sản xuất của Tây Ban Nha có công nghệ composting
từ rác thải sinh hoạt hỗn hợp
14
Hình 1.4. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt ở Hà Nội
Ở huyện Long Phú, Sóc Trăng thì mô hình xử lý rác thải làm phân compost
thuộc Dự án “Phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân” do Tổ chức Care
(Đan Mạch) tài trợ đang được thực hiện tại xã Lịch Hội Thượng. Dự án được thực
hiện từ tháng 3/2009 với kinh phí xây dựng nhà xưởng khoảng 550 triệu đồng, tới
nay đã đưa vào hoạt động hơn 7 tháng. 312 hộ dân tham gia dự án được cấp các dụng
cụ chứa rác và được hướng dẫn cách phân loại rác thải hữu cơ và vô cơ tại hộ gia
đình. Qua phân loại, rác thải hữu cơ thường chiếm khoảng 40%, nếu không được xử
lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường và cuộc sống người dân. Cái
lợi lớn nhất từ dự án mang lại chính là ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân
cư đã được nâng lên rõ rệt. Rác thải này được nhân viên thu gom phân loại lần hai
trước khi đưa vào bể ủ. Mỗi bể ủ chứa từ 800-850kg rác thải hữu cơ có bổ sung chế
phẩm vi sinh EM, sau 55 ngày sẽ bị phân huỷ thành nguồn phân compost có ích cho
nhiều loại cây trồng.[3]
Ở Quảng Nam cụ thể là ở TP.Hội An người dân bắt đầu phân loại rác thải tại
nguồn và một số hộ đã tận dụng rác hữu cơ để làn phân hữu cơ tại nhà từ khi có dự
án thí nghiệm sản xuất phân compost tại 30 hộ gia đình và đã dạt đựoc kết quả tốt
,và sắp đến sẽ mở rộng hơn nữa. [4]
Băng tải chuyền và
tuyển lựa rác, phân lọai
rác
Tiếp nhận rác Rác hữu cơ
Nguyên
liệu hữu cơ
Phân hữu cơ
Chất dẻoGiấy vụn
Đem chôn
Ép, đóng kiện
Đóng bao
Chất trơ
Băng tải
Băng tải
Vi sinh vật
15
1.6. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TP. HỘI AN
1.6.1 Điều kiện tự nhiên – khí hậu - ở Hội An
1.6.1.1 Vị trí địa lý [9]
Hội An nằm ở vùng ven biển của Quảng Nam,cách thành phố Đà Nẵng 28km
về phía Nam.
Tọa độ địa lý: 15
0
12

26
’’
÷

15
0
50

15
’’
vĩ Bắc từ 108
0
17

08
’’
÷ 108
0
23

10
’’
kinh độ Đông.
Vị trí địa lý
- Phía Bắc,phía Tây giáp với huyện Điện Bàn
- Phía Nam giáp huyện Duy Xuyên
- Phía Đông giáp Biển Đông
1.6.1.2 Điều kiện khí hậu và thủy văn[9]
- Khí hậu
Thành phố Hội An có chế độ khí hậu mang những tính chất và đặc điểm của
khí hậu Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên ngoài những đặc trưng
chung, Hội An là một khu vực ven biển Trung Bộ nên có những tính chất riêng, mang
tính địa phương do điều kiện địa lý, địa hình đem lại.
+ Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm là 25,6
0
C
+ Hội An có 2 mùa, mùa mưa và mùa khô rõ rệt: mùa khô kéo dài trong 8
tháng (từ tháng 2 đến tháng 9), mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau.
+ Lượng mưa trung bình hằng năm là : 2.076 mm.
+ Độ ẩm bình quân các tháng là 82,1%
- Đặc điểm thuỷ văn
Thành phố Hội An chịu ảnh hưởng chính của chế độ thuỷ văn của các con
sông lớn.
- Sông Thu Bồn có diện tích lưu vực 10.590 Km
2
với tổng lưu lượng 19,9 tỷ
m
3
/năm.
Đoạn sông Thu Bồn chảy ra biển Đông ở Cửa Đại, có các đặc trưng sau đây:
+ Chiều dài đoạn chảy qua thành phố Hội An: 8,5 km.
16
+ Chiều rộng: 120 - 240m, đoạn qua thành phố rộng 200 m.
+ Diện tích lưu vực: 3.510 Km
2
.
+ Lưu lượng nước bình quân: 232 m
3
/giây.
+ Lưu lượng lũ bình quân: 5.430 m
3
/giây.
+ Lưu lượng kiệt: 40 - 60 m
3
/giây.
+ Mực nước ứng với lưu lượng bình quân: 0,76 m.
+ Mực nước bình quân mùa lũ: 2,48 m.
+ Mực nước ứng với lưu lượng kiệt: 0,19 m
- Sông Đế Võng: từ xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, chạy dọc từ Tây sang
Đông ở phía Bắc thành phố Hội An.
+ Chiều dài đoạn chảy qua thành phố trên 7 km.
+ Chiều rộng: 80 - 100 m.
+ Chế độ mực nước sông Đế Võng phụ thuộc vào chế độ thuỷ triều từ Cửa
Đại và cửa sông Hàn. Tại khu vực Cửa Đại, biên độ nhật triều không đều, từ 1,00 m -
1,50 m, giữa kỳ nước cường và nước kém, biên độ triều chênh lệch không đáng kể.
Trong kỳ nước kém, biên độ triều khoảng 0,50 m.
+ Chế độ dòng chảy: khi triều lên từ Cửa Đại, mực nước trong sông dâng lên,
khi triều xuống, dòng nước trong sông lại đổ ra biển. Nói chung dòng chảy tương đối
điều hoà nhưng do lưu tốc nhỏ là nguyên nhân gây bồi cạn trong sông. Về mùa khô
có những đoạn sông bị cạn, nước bị nhiễm mặn.
- Thuỷ triều
Biển Hội An chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ triều của vùng biển Trung Trung
Bộ, mỗi ngày thuỷ triều lên xuống 2 lần (bán nhật triều). Biên độ dao động của triều
trung bình là 0,6 m. Triều cường = +1,4 m; triều kiệt = 0,00 m. Trong các cơn bão có
những đợt sóng có biên độ rất lớn, cao độ lớn nhất của sóng lên đến 3,40 m ở khoảng
cách 50 m so với bờ biển, gây thiệt hại lớn cho vùng ven biển. Về mùa khô, do nước
sông xuống thấp, nước biển thâm nhập sâu vào lục địa gây mặn ảnh hưởng lớn cho
vấn đề dân sinh kinh tế.
- Địa hình
17
Hội An hình thành trên dãi cồn cát cửa sông, địa hình toàn vùng có dạng đồi
thoai thoải. Độ dốc trung bình: 0,015
1.6.2 Điều kiện kinh tế- xã hội ở Hội An
Hội An là một thị xã lớn ở Quảng Nam thuộc vùng dồng bằng ven biển miền
Trung. Hội An là nơi hội tụ của các sông ngòi va biển cả nên có thể dễ dàng giao
thương với các vùng trong và ngoài tỉnh nhờ giao thông đường thủy khá thuận lợi.[9]
Dân số của Hội An là: 81.021 người với 17.640 hộ, trong đó 5 phường nội thị
là 39.281 người.Các hoạt động kinh tế của Hội An là du lịch, nông nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp,chế biến,...
Hội An là thành phố chứa đựng các di sản văn hóa lâu đời cho nên thu hút
được nhiều khách du lịch , đặc biệt là khách từ nước ngoài đến. Chính điều đó đã
thúc đẩy nền kinh tế cho địa phương. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, khách du
lịch năm 1992 là 460.000 người tăng gấp 3 lần so với năm 1999, lượng khách du lịch
liên tục tăng. Do vậy , hiện nay số khách sạn liên tục mọc lên, các công trình công
cộng được nâng cấp rất nhiều.[9]
1.7 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NHÀ BẾP
HIỆN NAY Ở TP. HỘI AN [6]
1.7.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn
Hội An có khu phố cổ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới
vào năm 1999. Hội An đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tốc
độ đô thị hóa ngày càng gia tăng cùng với đời sống vật chất của người dân không
ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, song song với sự phát triển này nảy sinh các vấn đề
ảnh hưởng đến môi trường. Việc phát sinh, thu gom và quản lý chất thải rắn là một
trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của chính quyền Thành phố. Theo ước tính
của Công ty Công trình Công cộng Thành phố Hội An, lượng chất thải rắn phát sinh
hàng năm rất lớn, dân số trung bình của Thành phố Hội An tính đến ngày 31/12/2007
là 85.076 người, với lượng rác phát sinh tính khoảng 75,38 tấn/ngày.
1.7.2 Tốc độ phát sinh chất thải rắn
18
1.7.2.1 Chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị
Dân số 8 phường nội thị là 58.730 người, chiếm 69,71% dân số.Giả thiết tại
khu vực đô thị loại 3, định mức phát thải trung bình là 0.85kg/người/ngày thì chất
thải rắn phát sinh khu vực đô thị là 49,92 tấn/ngày.
Bảng 1.3. Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Nam)
1.7.2.2 Chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn
Với dân số nông thôn khoảng 25.530 người, chiếm 30,29% dân số của Thành
phố. Phần lớn người dân sống tập trung vùng đồng bằng ven biển và vùng hạ lưu
sông Thu Bồn với nghề chủ yếu là trồng lúa nước, khai thác nuôi trồng thủy sản.
Giả thiết khu vực nông thôn thuộc các huyện đồng bằng, định mức phát thải
trung bình là 0.5kg/người/ngày thì lượng rác thải phát sinh tại khu vực nông thôn vào
khoảng 12,77tấn /ngày.
Trong đó, riêng xã Tân Hiệp vì cách biển nên không thể thu gom, vận chuyển
và xử lý chung cùng Thành phố, mà được xử lý nội bộ.
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại khu vực nông thôn Thành phố Hội An
Bảng 1.4. Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn
Thành phố Xã Dân số
(người)
Trung bình
(kg/người/ngày)
Lượng CTRSH phát sinh
(tấn/ngày)
Hội An 5 25.530 0.5 12,77
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Nam)
1.7.2.3 Thành phần chất thải rắn
Thành phần các chất có trong chất thải rắn bao gồm: Chất hữu cơ, cao su,
nhựa, giấy, bìa carton, giẻ vụn, kim loại, gốm sứ, đất đá, gạch, cát. Tỷ lệ phần trăm
các chất có trong rác thải không ổn định, rất biến động theo mỗi địa điểm thu gom
rác, khu vực sinh sống, phát triển sản xuất và theo mỗi mùa trong năm. Tỷ lệ thành
Thành phố
Hội An
Phường Dân số
(người)
Trung bình
(kg/người/ngày)
Lượng CTRSH phát sinh
(tấn/ngày)
8 58.730 0,85 49,92
19
phần chất hữu cơ chiếm 45-60% tổng lượng chất thải, tỷ lệ thành phần nilon, chất
dẻo chiếm từ 6 -10%. Độ ẩm trung bình của rác thải từ 46-52%.
Bảng 1.5. Thống kê tỷ lệ thành phần rác của thành phố Hội An
Thành phần Tỷ lệ (% trọng lượng)
Các chất cháy được 84,1
1/ Giấy 3,1
2/ Hàng dệt 2,3
3/ Rác thải (gồm cả thịt, xương, vỏ sò) 63,9
4/ Cỏ, gỗ, củi, rơm rạ… 0,7
5/ Chất dẻo, nilon 4
6/ Da và cao su 10,1
Các chất không cháy được 15,9
1/ Tổng kim loại 7,1
2/ Các kim loại sắt
3/ Các kim loại không phải là sắt
4/ Thủy tinh 0,9
5/ Đá và sành sứ 0,8
6/ Đất cát và các thành phần khác 7,1
Các chất hỗn hợp 0
1/ Kích thước lớn hơn 5 mm
2/ Kích thước nhỏ hơn 5 mm
Tỷ trọng riêng (kg/m
3
) 450
(Nguồn: Công ty Công trình Công cộng)
1.8 HIỆN TẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN [1]
1.8.1 Công tác thu gom và vận chuyển rác thải
- Công ty Công trình Công cộng là đơn vị chịu trách nhiệm thu gom chất thải
rắn của Thành phố Hội An. Lượng rác thu gom khoảng 45 tấn/ngày, ước tính chiếm
tỷ lệ khoảng 70% lượng rác phát sinh trên địa bàn thành phố.
20
Hiện công ty có 86 cán bộ công nhân viên, trang thiết bị chính phục vụ cho
công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn hiện có 8 xe ô tô chuyên dụng (gồm: 4
loại 2tấn, 4 tấn, 5 tấn, 6 tấn)
+ Số lượng xe thu gom đẩy tay: 40 chiếc.
+ Các loại xe khác: 2 chiếc xe hút chất thải, 1 xe tưới đường, 2 xe tải cẩu, 1 xe
tải tự đổ, 1 xe xúc lật.
+ Phương tiện xử lý rác và làm sạch môi trường gồm có (1 xe tưới rửa đường,
1 xe xúc lật dùng để san ủi đầm nén rác tại khu xử lý chất thải)
Theo số liệu thống kê của Công ty, tỷ lệ thu gom của toàn thành phố đạt
khoảng 60%. Điều này là do phương tiện thu gom không đủ, hầu hết còn lạc hậu, và
một nguyên nhân khách quan nữa là do đường xá nhỏ hẹp, không thuận tiện cho việc
thu gom lượng chất thải rắn, còn lại phần lớn là các hộ gia đình nằm sâu trong các
ngõ hẽm, xe thu gom không vào được.
- Tình trạng vận hành và hoạt động hiện tại
Chất thải rắn chưa phân loại trước khi thu gom: Ở các tuyến đường rộng, có
xe cuốn ép rác thu gom chất thải rắn từ những hộ theo giờ nhất định. Trong các hẻm,
các công nhân đi thu gom chất thải rắn bằng xe ba bánh đẩy tay, sau đó tập trung chất
thải rắn đến các điểm quy định trên các trục lộ chính, đổ vào xe ép rác. Dọc theo sông
Hội An ( dọc theo đường Bạch Đằng), rác trôi trên sông đã được thu gom bằng
xuồng. Sau khi thu gom, rác thải được vận chuyển lên bãi rác, đổ xuống phía trước
bãi rác. Sau đó, xe xúc lật xúc rác lên xe Ben để vận chuyển vào sâu dần phía trong
bãi rác.
Mỗi ngày, rác thu gom được tập kết đến bãi theo hai đợt
Buổi sáng: từ 9-11h
Buổi chiều: từ 15h30-17h.
Công suất chôn lấp: 45 tấn/ngày.
- Dự kiến thời gian hoạt động đóng bãi: bãi rác đã quá tải, hiện đang tạm sử dụng.
1.8.2 Công tác xử lý rác thải
Hiện nay công ty Công trình Công cộng là đơn vị chịu trách nhiệm xử lý tất cả
các lượng rác sinh hoạt trên địa bàn thành phố. Tất cả những lượng rác thải đó sau
khi thu qom thì sẽ được vận chuyển đến bãi rác Cẩm Hà thành phố Hội An.
21
Khái quát về bãi chôn lấp TP. Hội An
+ Bãi rác xã Cẩm Hà, cách Thành phố Hội An 5 km, diện tích bãi chôn lấp bãi
rác hiện nay khoảng 9000m
2
được xây bao bằng tường gạch cao 1,5m. Hình thức xử
lý chất thải rắn là đổ lộ thiên, Ở đáy bãi chôn lấp không có lớp lót chống thấm và
chưa có hệ thống thu gom nước rỉ rác, không có hệ thống xử lý nước rỉ rác
+ Ngoài bãi rác lộ thiên ở xã Cẩm Hà, hiện tại thành phố Hội An không còn
bãi rác nào, không có nhá máy sản xuất phân compost, không có cơ sở nào khác đang
hoạt động.
Trước tình hình đó để có 1 hướng xử lý rác thải sinh hoạt thân thiện với môi
trường và giảm được lượng rác thải đem đi chôn lấp đồng thời hạn chế được mùi hôi
cũng như nước rỉ rác trong quá trình vận chuyển và xử lý thì việc làm phân compost
tại nhà sẽ góp một phần rất lớn trong việc giữ cho môi trường không bị ô nhiễm, tạo
ra được một lượng phân bón làm hạn chế được lược lượng phân hóa học và đặc biệt
là khắc phục được tình trạng quá tải ở bãi rác Cẩm Hà.
22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng:
+ Thành phần rác thải nhà bếp là rác hữu cơ như cơm thừa, cá cặn, cọng rau,
vỏ trái cây…
+ phụ gia: tro
Phạm vi nghiên cứu: Thanh Nam Tây, phường Cẩm Nam,TP Hội An,Quảng
Nam

Hình 2.1. Rác thải nhà bếp và phụ gia tro (photo Hồng Hạnh ngày 17/1/2010)
2.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2.2.1 Mục tiêu trước mắt
- Làm cho người dân quan tâm hơn về rác thải do hoạt động sinh hoạt của
mình.
- Giúp cho người dân nắm bắt được quy trình làm phân hữu cơ tại nhà.
- Làm phân hữư cơ tại một số hộ thí điểm để tạo diều kiện mở rộng cho các đề
tài tiếp theo sau này.
- Thông qua việc xử lý rác thải nhà bếp giúp cho người dân phân loại rác tại
nguồn tốt hơn.
2.2.2 Mục tiêu lâu dài
- Lượng rác sinh hoạt được giảm thiểu nhờ làm phân tại nhà.
- Lượng rác thải đem đi chôn lấp được giảm thiểu góp phần khắc phục tình
trạng quá tải ở bãi rác Cẩm Hà.
23
- Tiết kiệm kinh phí cho người dân nhờ việc làm phân tại nhà.
- Giảm được lượng phân hoá học trên đồng ruộng.
- Sản phẩm phân hữu cơ sẽ được sử dụng đại trà.
- Bảo vệ môi trường.
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp lý luận
Tìm hiểu tài liệu ủ phân hữu cơ trên internet, sách, báo, báo cáo khoa học…
tiến hành đọc và tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề có liên quan đến việc ủ phân
compost
2.3.2 Phương pháp ngoài thực địa
- Cân, đo, đong, đếm lượng rác thải nhà bếp hằng ngày.
- Quan sát hiện tượng và tốc độ phân hủy của phân compost.
- Thu thập số liệu bằng cách ghi chép trong quá trình làm phân tại 2 hộ gia
đình ở phường Cẩm Nam Thành phố Hội An.
- Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn, tiến hành điều tra trong 30 hộ gia đình đã
thực hiện chương trình thí nghiệm làm phân tại nhà.
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Thống kê số liệu thu thập được bằng phần mềm excel
- Sử dụng phần mềm excel để vẽ biểu đồ thể hiện sự thay đổi của lượng rác
thải nhà bếp, và nhiệt độ hằng ngày.
2.4 CÁCH BỐ TRÍ VÀ TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM
2.4.1 Địa điểm bố trí thực nghiệm
- Hai hộ gia đình ở phường Cẩm Nam - Thành phố Hội An- Tỉnh Quảng
Nam.
2.4.2 Thời gian tiến hành thực nghiệm
Từ ngày 15/2/2009 đến 1/4/2010
2.4.3 Cách bố trí thực nghiệm
Mỗi gia đình sẽ được cấp 1 thùng nhựa 40 lít với 2 màu sắc khác nhau cụ thể
là nhà ông Phạm A là thùng màu xanh lá cây, còn nhà ông Hứa Đa là màu xanh da
trời được mược từ đợt thí nghiệm lần trước, và được đặt cố định vào một góc vườn
24

Hình 2.2. Thùng nhựa 40 lít được bố trí ở 2 hộ gia đình (photo Hồng Hạnh ngày
15/1/2010)
2.4.4 Tiến hành thực nghiệm
Lượng rác nhà bếp hằng ngày sẽ lược phân loại ra thành 3 nhóm chính đó là
bột, rau, và đạm sau khi phân loại xong sẽ dùng cân 5 kg để xác định khối lượng của
từng thành phần trên sau đó sẽ ghi chép lại và dùng máy ảnh để chụp hình.
Sau khi tiến hành xong những thao tác đó sẽ dùng cân 100 kg để đo khối
lượng của thùng ban đầu, sau đó bỏ lượng rác vừa được cân xong đó vào thùng và
dùng tro rắc đều lên bề mặt sao cho tỷ lệ giữa lượng tro cho vào là tương ứng với độ
ẩm của rác để điều chỉnh độ ẩm (độ ẩm càng cao thì lượng tro sẽ càng nhiều). Sau đó
dùng que nhiệt độ cắm sâu vào 2/3 que là được và đậy nắp thùng lại. Ngày hôm sau
thì quan sát hiện tượng trong ngày, theo dõi ghi chép lại số liệu về diễn biến nhiệt độ
và tốc độ phân hủy của rác hữu cơ, cứ tiến hành làm như vậy đến lúc nào lượng rác
đầy thùng thì ta ngừng bỏ và tiến hành ủ yếm khí, thực hiện giai đoạn ủ yếm khí cho
đến lúc lượng rác trong thùng đã hoai mục hoàn toàn và theo cảm quan của người dân
chất lượng phân có thể dùng được rồi thì dựng lại, Trong giai đoạn này thì vẫn tiếp
tục đo nhiệt độ hằng ngày và cân khối lượng của toàn thùng để có số liệu cụ thể,
ngoài ra còn dùng máy ảnh để chụp hình để làm cơ sở. (xem phụ lục)
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×