Tải bản đầy đủ

Nhom 5-De tai 3.doc

Tiểu luận môn Ngân sách Nhà nước
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở
VIỆT NAM
GVHD : TS. Nguyễn Thanh Dương
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 5
1. Phạm Thị Kim Oanh
2. Nguyễn Thị Phương
3. Trần Khánh Sang
4. Trần Thị Mộng Tâm
5. Đào Quý Kiên Tâm
6. Dương Thị Thu Thảo
7. Nguyễn Thị Thanh Thảo
8. Đỗ Đình Thi
KHOA : Tài chính ngân hàng
LỚP : Cao học khoá 10
TP.HỒ CHÍNH MINH, THÁNG 03 NĂM 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA T.P HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
BẢN CAM KẾT

Chúng tôi gồm những thành vên ký tên dưới đây là học viên lớp cao học Khoá 10
chuyên ngành Kinh tế Tài chính – Ngân hàng cùng cam kết:
 Tất cả các thành viên đều tham gia viết tiểu luận nay. Mức độ tham gia đóng góp
của các thành viên là ngang nhau, từng thành viên thực hiện công việc theo sự phân công
được tất các các thành viên thông qua.
 Điểm số của tiểu luận cũng chính là điểm số của từng thành viên.
 Họ tên và chữ ký của từng thành viên:
Họ và tên Năm sinh Chữ ký
Phạm Thị Kim Oanh 1985
Nguyễn Thị Phương 1986
Trần Khánh Sang 1985
Trần Thị Mộng Tâm 1984
Đào Quý Kiên Tâm 1982
Dương Thị Thu Thảo 1987
Nguyễn Thị Thanh Thảo 1985
Đỗ Đình Thi 1985
2
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NSNN : Ngân sách nhà nước
NSTW : Ngân sách trung Ương
NSĐP : Ngân sách đại phương
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
THUẾ TNDN : Thuế Thu nhậpp doanh nghiệp
THUẾ TNCN : Thuế Thu nhập cá nhân
THUẾ TTĐB : Thuế tiêu thụ đặc biệt
XNK : Xuất nhập khẩu
GTGT : Giá trị gia tăng
TP.HCM : thành phố Hồ Chí Minh
VN : Việt Nam
XDCB : Xây dựng cơ bản
3
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
Mục lục
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................................................................. 3


NSNN : Ngân sách nhà nước .................................................................................................................................. 3
NSTW : Ngân sách trung Ương ............................................................................................................................... 3
NSĐP : Ngân sách đại phương ............................................................................................................................... 3
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước ............................................................................................................................ 3
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân ............................................................................................................................... 3
THUẾ TNDN : Thuế Thu nhậpp doanh nghiệp ......................................................................................................... 3
THUẾ TNCN : Thuế Thu nhập cá nhân ..................................................................................................................... 3
THUẾ TTĐB : Thuế tiêu thụ đặc biệt ....................................................................................................................... 3
XNK : Xuất nhập khẩu ............................................................................................................................................. 3
GTGT : Giá trị gia tăng ............................................................................................................................................ 3
TP.HCM : thành phố Hồ Chí Minh .......................................................................................................................... 3
VN : Việt Nam ........................................................................................................................................................ 3
XDCB : Xây dựng cơ bản ......................................................................................................................................... 3
Mục lục .................................................................................................................................................................... 4
MỞ ĐẦU .................................................................................................................................................................. 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ....................................................... 7
1.1 Khái quát về NSNN ....................................................................................................................................... 7
1.1.1 Khái niệm NSNN ..................................................................................................................................... 7
1.1.2 Bản chất và chức năng của NSNN .......................................................................................................... 8
1.1.3 Vai trò của NSNN .................................................................................................................................. 10
1.2 Khái quát về Cân đối NSNN ........................................................................................................................ 11
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Cân đối NSNN ........................................................................................... 11
1.2.2 Vai trò của Cân đối NSNN trong nền kinh tế thị trường ...................................................................... 12
1.3 Các chỉ tiêu cấu thành Cân đối NSNN .................................................................................................... 15
1.3.1 Thu NSNN ............................................................................................................................................. 15
1.3.2 Chi NSNN .............................................................................................................................................. 17
1.3.3 Tình trạng ngân sách Nhà nước - Bội chi ngân sách. ........................................................................... 19
1.4 Các quan điểm về cân đối NSNN ................................................................................................................. 21
1.4.1 Quan điểm ngân sách cân bằng ........................................................................................................... 21
1.4.2 Quan điểm ngân sách chu kỳ ............................................................................................................... 21
1.4.3 Quan điểm ngân sách thâm hụt ........................................................................................................... 22
4
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
1.4.4 Quan điểm về ngân sách duy nhất và hai ngân sách ........................................................................... 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010 .............. 24
2.1 Thực trạng Cân đối NSNN của VN trong giai đoạn 2001-2010 ................................................................... 24
2.1.1 Thực trạng thu ..................................................................................................................................... 24
Thực trạng chi .............................................................................................................................................. 32
2.1.3 Thực trạng Cân bằng ngân sách trong giai đoạn 2001-2010 ............................................................... 40
Nhận xét về ưu nhược điểm của cân đối NSNN Việt Nam giai đoạn 2001-2010 ............................................. 46
2.2.1 Ưu điểm: .............................................................................................................................................. 46
2.2.2 Nhược điểm: ....................................................................................................................................... 46
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VÀ KIẾN
NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ................................................................................................................................................................ 48
3.1 Định hướng cân đối ngân sách giai đoạn 2011-2015 ................................................................................. 48
3.2 Kiến nghị về cân đối NSNN trong giai đoạn 2011 – 2015 ........................................................................... 53
3.3 Hoàn thiện cân đối NSNN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam .......................................................... 55
3.3.1 Trong điều kiện bình thường ............................................................................................................... 55
3.3.2 Trong điều kiện lạm phát cao. ............................................................................................................. 62
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngân sách nhà nước (NSNN) đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng
và nhiệm vụ như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội góp phần thúc đẩy
nền kinh tế phát triển bền vững. Đặc biệt trong xu thế kinh tế thị trường như hiện nay thì vấn
đề thu chi NSNN cần có một cơ cấu thu chi hợp lý hơn. Thu như thế nào để tận dụng được
5
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
nguồn trong nước, không bị ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài bảo đảm nguồn thu ổn định.
Và chi như thế nào để vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, bảo đảm đời sống cho người
dân, vừa không góp phần tăng lạm phát và đảm bảo chi trong giới hạn của thu. Đây là một vấn
đề quan trọng mà nhiều quốc gia, không chỉ riêng Việt Nam vẫn đang phải nghiên cứu và thực
thi.
Trong thời gian qua, thực trạng cân đối NSNN của Việt nam thường xuyên là bội chi với mức
6.9% GDP năm 2009 và 6.2% năm 2010. Điều này cũng tác động lại nền kinh tế làm cho lạm
phát tăng, không đủ nguồn vốn đầu tư các hạng mục cơ bản, tăng nợ vay nước ngoài, làm cho
chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ xung đột lẫn nhau, …. Nhưng quan trọng hơn cả, nó
là chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính quốc gia, ảnh hướng đến uy tín của một quốc gia trên
trường quốc tế. Do vậy, để đảm bảo cân đối NSNN thì chính phủ các nước đã có những biện
pháp như kiểm soát chặt chẽ các khoản thu chi tránh tình trạng thất thoát, chi sai, định hướng
và dự toán thu chi hợp lý theo từng năm và tùy theo điều kiện phát triển kinh tế xã hội tại từng
thời điểm.
Đối với việt Nam, trong thời kỳ kinh tế mở như hiện nay thì việc cân đối thu chi lại càng quan
trọng hơn nữa. Bởi có những khoản thu trong thời gian tới do hội nhập sẽ giảm thuế một số
mặt hàng xuất nhập khẩu, do nguồn tài nguyên thiên nhiên là có hạn sẽ giảm dần. Còn chi thì
sẽ tăng lên do nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế xã hội, chi đảm bảo an
sinh cho người dân. Do vậy, nhóm chúng tôi đã chọn nghiên cứu về đề tài “Cân đối Ngân
sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” để hiểu rõ hơn về thực trạng trong
thời gian gần đây của cân đối ngân sách cũng như đưa ra một số nhận xét, kiến nghị về việc
hoàn thiện cân đối NSNN của Việt nam.
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Về lý luận: tìm hiểu sâu hơn những khái niệm, lý luận có liên quan đến Cân đối NSNN
trong nền kinh tế thị trường.
- Về thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện Cân đối
NSNN tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
3.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu chi ngân sách nhà nước, biện pháp cân đối NSNN
4.PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong cân đối NSNN của Việt Nam trong giai đoạn 2006-
2010 và định hướng cho giai đoạn 2011-2015.
5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn và phương pháp thảo luận nhóm. Các số liệu được
sử dụng trong đề tài là nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn: các báo, tạp chí
kinh tế, internet, các luận văn thạc sĩ…
6.KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận chung về Ngân sách nhà nước.
Chương 2: Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010
và định hướng cho giai đoạn 2011-2015
Chương 3: Một số nhận định và kiến nghị nhằm hoàn thiện Cân đối ngân sách nhà nước của
Việt Nam trong nền kinh tế thị trường.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát về NSNN
1.1.1 Khái niệm NSNN
Theo Điều 1 luật ngân sách nhà nước 2002, ngân sách nhà nước được định nghĩa là: NSNN là
toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.
7
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
NSNN chính là một đạo luật tài chính do Quốc hội ban hành, dự toán về các khoản thu chi
thực hiện trong một năm của một quốc gia, bên cạnh đó NSNN còn là một công cụ tài chính
quan trọng để Nhà nước thực hiện và điều tiết hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước.
1.1.2 Bản chất và chức năng của NSNN
• Bản chất của ngân sách nhà nước
Mọi hoạt động của NSNN phản ánh hoạt động phân phối các nguồn tài chính, vì vậy NSNN
thể hiện các mối quan hệ kinh tế trong phân phối. Đó là những mối quan hệ giữa một bên là
nhà nước và một bên là xã hội. Các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối
các nguồn tài chính để hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước bao gồm:
♦ Thứ nhất: Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất
và kinh doanh. Nhóm quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình hình
thành thu của quỹ NSNN bằng hình thức thuế của tất cả các doanh
nghiệp. Trong quá trình sử dụng quỹ NSNN, nhà nước còn cấp phát các
khoản chi về phát triển kinh tế cho các doanh nghiệp nhà nước, tài trợ
vốn cho các doanh nghiệp trong một số ngành hoạt động nếu xét thấy cần
thiết. Bằng các quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp, nhà
nước có thể tiến hành kiểm tra thường xuyên, toàn diện về mặt tài chính
đối với doanh nghiệp theo chính sách và pháp luật tài chính.
♦ Thứ hai: Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự
nghiệp. Quan hệ kinh tế giữa NSNN với những đơn vị này được phát
sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc ngân
sách nhà nước cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước theo các
dự toán kinh phí. Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay các đơn vị
thuộc lĩnh vực sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế bằng hoạt động của
mình họ có nguồn thu dưới hình thức phí, lệ phí. Nguồn thu này một
phần các đơn vị văn hóa, giáo dục, y tế làm nghĩa vụ tài chính đối với
ngân sách (thuế), một phần trang trải các khoản chi tiêu của mình để
giảm bớt gánh nặng cho ngân sách.
8
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
♦ Thứ ba: Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước với hộ gia đình và
dân cư. Một bộ phận dân cư làm nghĩa vụ tài chính với nhà nước thông
qua các khoản thuế, phí, lệ phí. Một bộ phận dân cư khác nhận từ ngân
sách nhà nước các khoản trợ cấp xã hội theo chính sách quy định.
♦ Thứ tư: Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước với thị trường tài
chính. Xuất phát từ chính sách tài chính - tiền tệ, từ cung cầu về vốn trên
thị trường, nhà nước có thể tham gia trên thị trường tài chính bằng việc
phát hành các loại chứng khoán của kho bạc nhà nước (tín phiếu, trái
phiếu, chứng từ đầu tư) nhằm huy động vốn của tất cả các chủ thể trong
xã hội đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của ngân sách nhà nước. Nhà nước
tham gia góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh hoặc cho các đơn vị kinh
tế vay dưới hình thức tín dụng nhà nước.
Như vậy, NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các
nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm
thực hiện các chức năng của nhà nước.
• Chức năng của ngân sách nhà nước.
Là một phạm trù kinh tế chứa đựng các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trinh phân phối,
NSNN thực hiện hai chức năng: chức năng phân phối và chức năng giám đốc.
 Chức năng phân phối
Chức năng phân phối của NSNN phản ánh sự phân chia tổng sản phẩm quốc dân theo những
tỷ lệ và xu hướng nhất định cho tiết kiệm và tiêu dùng nhằm tích tụ, tập trung vốn để đầu tư
phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu chung của nhà nước và xã hội. Đối tượng phân
phối của NSNN là các nguồn tài chính của xã hội.
Trong quá trình phân phối ngân sách phải tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã
hội. Nếu phân phối hợp lý, phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, đáp ứng được yêu cầu
thực tiễn ngân sách sẽ thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Nếu phân phối của ngân
sách không hợp lý, trái với quy luật kinh tế thì sẽ gây ra hậu quả to lớn đối với tốc độ phát
triển kinh tế, kìm hãm tăng trưởng và gây rối loạn trong phân phối lưu thông.
9
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
 Chức năng giám đốc.
Chức năng giám đốc là hệ quả của chức năng phân phối, bắt nguồn từ tính tất yếu khách quan
phải theo dõi, kiểm tra quá trình phân phối các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng quỹ tiền
tệ tập trung của nhà nước.
Giám đốc của NSNN được thực hiện trong quá trình huy động vốn cho ngân sách, trong quá
trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước cho những mục đích xác định. Chức
năng giám đốc của ngân sách nhà nước được thực hiện bằng đồng tiền. Ở đâu có sự vận động
tiền vốn của NSNN thì ở đó đều thực hiện giám đốc bằng đồng tiền. Giám đốc của NSNN có
phạm vi rộng lớn, trên nhiều lĩnh vực và gắn với tính hiệu quả của toàn bộ nền kinh tê quốc
dân.
1.1.3 Vai trò của NSNN
 Vai trò huy động nguồn tài chính của NSNN để đảm bảo nhu cầu chi tiêu
của nhà nước. Vai trò về mặt tài chính này của NSNN được xác định trên cơ sở
bản chất kinh tế của NSNN. Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho
những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước phải được thoả
mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế. Đây là vai trò lịch
sử của NSNN được xuất phát từ nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ
chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải thực hiện và phát huy.
 Vai trò điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế xã hội của NSNN. Đây là vai trò
của NSNN được xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong một
gian đoạn phát triển nhất định. Thay đổi cơ chế kinh tế ở nước ta hiện nay đã tác
động trực tiếp đến NSNN và được thể hiện ở hai mặt: thay đổi cơ cấu thu và chi
của ngân sách nhà nước; thay đổi vai trò và nhiệm vụ của NSNN trong nền kinh
tế, đặc biệt là thay đổi phương pháp cấp phát tài chính cho các nhu cầu của
doanh nghiệp. Nhà nước sử dụng NSNN là công cụ để điều tiết quản lý vĩ mô
nền kinh tế - xã hội theo ba nội dung cơ bản:
• Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng kinh tế xã hội.
10
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
• Điều tiết thị trường giá cả, chống lạm phát.
• Điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội.
1.2 Khái quát về Cân đối NSNN
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Cân đối NSNN
 Khái niệm về cân đối Ngân sách Nhà nớc
Cân đối NSNN là tổng hợp các khoản thu và chi của NSNN trong một thời kỳ (thường là một
năm) và nguồn bù đắp thiếu hụt hoặc sử dụng kết dư của NSNN. Qua khái niệm nói trên, có
thể hiểu cân đối NSNN theo các nội dung cơ bản sau:
• Cân đối NSNN là cân đối về mặt giá trị, nó phản ánh nguồn lực tài chính được tập
trung dưới sự quản lý của Nhà nước và dùng để phân phối cho các nhu cầu chi tiêu
theo những mục tiêu nhất định.
• Cân đối thu chi NSNN được xác định trên cơ sở thực thu, thực chi ngân sách; thu chi
NSNN bao gồm những yếu tố nào, khoản mục nào, đối tượng phạm vi ra sao thì đối
với mỗi quốc gia cũng có sự khác biệt nhất định, song một nguyên tắc chung đó là trên
cơ sở thực tế có phát sinh.
• Các khoản thu chi phản ánh trong cân đối NSNN được thực hiện trong năm tài chính;
dẫu rằng có các khoản thu chi không thuộc thời kỳ này, nhưng thực tế có phát sinh
trong nằm tài chính đều được phản ánh vào cân đối năm đó.
• Cân đối thu chi NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính
quyền địa phương; phạm vi và mức độ ảnh hưởng của cân đối NSTW và ngân sách các
cấp chính quyền địa phương cũng có sự khác nhau, tuỳ theo sự phân cấp quản lý kinh
tế và phân cấp quản lý ngân sách của mỗi nước.
 Đặc điểm của cân đối Ngân sách Nhà nước
Cân đối NSNN là một bộ phận của cân đối thu chi tài chính. Đặc điểm này thể hiện qua các
nội dung cơ bản sau:
• Cân đối thu chi tài chính là cân đối nguồn lực tài chính theo nghĩa rộng mang tính chất
toàn xã hội, nó bao gồm thu chi trong và ngoài ngân sách, thu chi tín dụng và thu chi tiền tệ
11
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
của các thành phần kinh tế; còn cân đối NSNN phản ánh nguồn lực tài chính mà Nhà n-
ước có thể chi phối trực tiếp.
• Cân đối thu chi tài chính phản ánh sự tập trung và phân phối vốn tiền tệ toàn xã hội, là
sự cân đối tổng hợp nguồn lực tài chính ở tầm vĩ mô; còn cân đối NSNN thể hiện nguồn
lực tài chính được tập trung vào NSNN thông qua thuế và các công cụ tài chính khác;
đồng thời phản ánh khâu then chốt của nền kinh tế có được cân đối về mặt tài chính
hay không.
• Cân đối thu chi tài chính mang đặc tính của kế hoạch có tính chỉ đạo; phản ánh quan hệ
cân đối, phân bổ nguồn lực tài chính toàn xã hội, chỉ đạo và điều hoà việc sử dụng phối hợp
các loại vốn; còn cân đối NSNN về thực chất thể hiện sự cân đối thu chi tài chính trong
khuôn khổ tài chính Nhà nước, có đặc tính của kế hoạch pháp lệnh.
• Cân đối NSNN chiếm tỷ trọng khá lớn trong cân đối thu chi tài chính, đó là tụ điểm
tài chính lớn của nền kinh tế. Cân đối thu chi NSNN có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển kinh tế của đất nước.
Thông qua cân đối Ngân sách Nhà nước, Nhà nước đưa ra các chính sách tài chính trong
từng thời kỳ và sử dụng quyền lực tài chính của mình để điều tiết thu nhập xã hội, phục
hưng và phát triển kinh tế. Đồng thời thông qua đó Nhà nước thực hiện việc kiểm kê, kiểm
soát các hoạt động kinh tế – xã hội nhằm đảm bảo thực hiện đúng pháp luật và đảm bảo
mục tiêu phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô.
1.2.2 Vai trò của Cân đối NSNN trong nền kinh tế thị trường
Cân đối NSNN được bắt đầu từ việc quyết định vai trò của nhà nước, và nó là công cụ để can
thiệp vào hoạt động kinh tế – xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, cân đối NSNN có các vai
trò sau đây:
 Cân đối ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô chỉ ra rằng, cân đối NSNN là một trong ba cân đối quan trọng của nền kinh
tế. Để ổn định kinh tế vĩ mô, ba cân đối này phải đảm bảo:
(S-I) + (T-G) = (X-M)
=> (G - T) = (S-I) + (M-X) (1)
12
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
Trong đó: S là tiết kiệm của khu vực tư nhân; I là đầu tư của khu vực tư nhân; T là thu NSNN;
G là chi tiêu NSNN; X là kim ngạch xuất khẩu và M là kim ngạch nhập khẩu. Từ công thức
(1) ta thấy một trong ba cân đối này không được kiểm soát tốt sẽ ảnh hưởng đến các cân đối
còn lại. Và, chính sách cân đối NSNN thông qua chính sách thuế, chính sách chi tiêu và quyết
định mức bội chi NSNN hàng năm hoàn toàn có thể tác động đến tiết kiệm và đầu tư của khu
vực tư cũng như cán cân thương mại quốc tế. Từ đó, góp phần thực hiện được các mục tiêu
của chính sách ổn định kinh tế vĩ mô như: tăng trưởng GDP thực ở tốc độ cao và ổn định; tỷ
lệ thất nghiệp thực tế được giữ ở mức thất nghiệp tự nhiên; lạm phát được duy trì ở mức vừa
phải và có thể dự đoán được; duy trì tỷ giá hối đoái ổn định tương đối; ổn định cán cân
thương mại nhằm chủ động trong quản lý nợ nước ngoài và hạn chế những áp lực của phần
còn lại của thế giới lên hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia.
 Cân đối ngân sách nhà nước góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế
Do sự chi phối của quy luật kinh tế khách quan, nền kinh tế thị trường vận động theo tính chu
kỳ của nó. Thông qua cân đối NSNN, nhà nước có thể can thiệp để bằng phẳng hóa các chu kỳ
kinh tế.
Khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái, quy mô sản xuất thu hẹp, của cải vật chất tạo ra
giảm, năng suất lao động xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng…Trong bối cảnh này, với chính
sách tài khóa mở rộng: giảm thuế và tăng chi tiêu, chính phủ có thể thực hiện chính sách kích
cầu để phục hồi kinh tế. Chính sách này có thể làm gia tăng chi phí của nền kinh tế, do việc
gia tăng bội chi NSNN, gia tăng cung tiền và lạm phát… Bởi vậy, để tối thiểu hóa chi phí, yêu
cầu chính sách kích cầu từ mở rộng chính sách tài khóa phải có hiệu quả. Sự phục hồi kinh tế
nhờ thực hiện chính sách này phải làm giảm nhẹ gánh nặng của NSNN đối với khoản chi trợ
cấp xã hội, đem lại nguồn thu để NSNN trở về tình trạng cân bằng và đẩy lùi lạm phát.
Khi nền kinh tế ở giai đoạn hưng thịnh, quy mô kinh tế mở rộng, của cải vật chất tạo ra nhiều,
năng suất lao động xã hội cao, thất nghiệp giảm. Trong giai đoạn này, chính phủ chủ động
thực hiện chính sách tài khóa thận trọng, thắt chặt trong chi tiêu NSNN nhằm kìm hãm hiện
tượng phát triển quá “nóng” của nền kinh tế. Thặng dư NSNN trong giai đoạn hưng thịnh
13
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
được dành cho dự trữ, trả nợ – nhất là nợ nước ngoài, hoặc thực hiện những chương trình, dự
án dài hạn, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng bền vững, ổn định.
Kế đến là tạo lập ngân sách bổ sung. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ, bên cạnh việc sử
dụng quỹ dự trữ, nhà nước có thể phát hành trái phiếu chính phủ để tạo nguồn thu bù đắp
thiếu hụt ngân sách và tài trợ cho những chương trình, dự án lớn có tính hiệu quả và khả thi
nhằm phục hồi nền kinh tế. Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu chính phủ phải được đặt
trong một khuôn khổ quản lý nợ công hợp lý để giảm thiểu những tác động tiêu cực của nó
đến tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư.
 Cân đối ngân sách nhà nước góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài
chính có hiệu quả
Thật ra, quan hệ giữa cân đối NSNN và phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả là
mối quan hệ nhân quả liên hoàn. Cân đối NSNN góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài
chính có hiệu quả. Ngược lại, phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả sẽ giúp cho cân
đối NSNN kỳ sau thuận lợi hơn. Cân đối NSNN có thể góp phần phân bổ và sử dụng nguồn
lực hiệu quả ngay từ khi lập dự toán NSNN bằng cách lựa chọn trình tự ưu tiên hợp lý trong
phân bổ NSNN và sự gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với công tác
lập kế hoạch ngân sách.
 Cân đối ngân sách nhà nước góp phần đảm bảo công bằng xã hội, giảm
thiểu sự bất bình đẳng giữa các địa phương.
Nước ta với mỗi một vùng lại có một điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau, có những vùng điều
kiện kinh tế- xã hội rất khó khăn làm ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng cuộc sống của
người dân, có những vùng điều kiện kinh tế- xã hội thuận lợi, phát triển làm cho thu nhập và
cuộc sống của người dân được nâng lên. Vì vậy cân đối NSNN sẽ đảm được sự công bằng,
giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa người dân và các vùng miền. Nhà nước có thể huy động
nguồn lực từ những người có thu nhập cao, những vùng có kinh tế phát triển để hỗ trợ, giúp
đỡ những người nghèo có thu nhập thấp và những vùng kinh tế kém phát triển. Bên cạnh đó,
cân đối NSNN góp phần phát huy lợi thế của từng địa phương, tạo nên thế mạnh kinh tế cho
địa phương đó dựa trên tiềm năng có sẵn của địa phương.
14
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
1.3 Các chỉ tiêu cấu thành Cân đối NSNN
1.3.1 Thu NSNN
Thu NSNN là biểu hiện bằng tiền phần giá trị tổng sản phẩm quốc dân được tập trung vào
quỹ tiền tệ của Nhà nước để chi dùng cho sự tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước và
cho các nhu cầu phát triển chung của xã hội.
Theo ý nghĩa đó thu NSNN là toàn bộ các khoản thực thu của NSNN trong thời gian một năm
mà không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp. Khoản thu quan trọng nhất của Ngân sách
Nhà nước là thu trong nước bao gồm thu thuế, thu không có tính chất thuế, thu bán tài sản và
các khoản thu khác từ nền kinh tế; khoản thu từ nước ngoài chủ yếu là thu viện trợ.
Thu Ngân sách Nhà nước được phân loại thành thu thường xuyên và thu về vốn. Thu thường
xuyên bao gồm thu thuế và thu không có tính chất thuế như phí, lệ phí… thu về vốn bao gồm
tiền thu bán tài sản, bán cổ phiếu và các khoản thu chuyển vốn khác. Với quan niệm thu
NSNN nói trên thì vay nợ không tính trong thu NSNN.
 Thu từ thuế, phí và lệ phí
Thuế, phí và lệ phí đều là nguồn thu chủ yếu, thường xuyên của ngân sách nhà nước. Các
khoản thu này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn cho ngân sách nhà nước và là
công cụ để Nhà nước điều hành, quản lý xã hội góp phần thực hiện công bằng xã hội. Nguồn
thu từ thuế, phí và lệ phí vừa đảm bảo để ngân sách nhà nước chi cho tiêu dùng, vừa hỗ trợ
cho chi đầu tư phát triển và chi cho tiêu dùng.
Thuế là khoản thu mang tính cưỡng chế của Nhà nước, nhằm động viên một bộ phận thu
nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc chi tiêu hàng hóa, dịch vụ và từ việc lưu giữ, chuyển
dịch tài sản của các tổ chức và cá nhân tập trung vào quỹ NSNN để phục vụ nhu cầu chi tiêu
của nhà nước. Thu từ thuế là nguồn thu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu NSNN
chiếm khoảng 90%, bởi vì thuế đánh vào tất cả các hoạt động tiêu dùng của xã hội như: hoạt
động sản xuất, chế tạo, sữa chữa, chế biến,… Còn đối với cá nhân, thuế đánh vào tất cả các
thu nhập thường xuyên và bất thường của họ dựa vào những quy định cụ thể của luật thuế.
Phí là khoản thu nhằm thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng không
thuần túy theo quy định của pháp luật và là khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân phải trả
15
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
khi sử dụng các dịch vụ công cộng đó. Thu phí sẽ làm tăng thu nhập cho NSNN, từ đó làm
tăng khả năng đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất hàng hóa và các dịch vụ công cộng, đảm bảo
công bằng xã hội. Các khoản thu từ phí cũng có thể là những khoản thu đưa vào NSNN, cũng
có thể là những khoản thu để lại cho các đơn vị thu sử dụng. Đối với các khoản thu về cho
NSNN, đây là một trong những nguồn thu quan trọng của các cấp ngân sách và được đưa vào
cân đối chung của ngân sách các cấp.
Lệ phí là những khoản thu gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý của
nhà nước cho các cá nhân và tổ chức nhằm phục vụ cho công việc quản lý hành chính nhà
nước theo quy định của pháp luật. Khoản tiền này không phải là giá dịch vụ mà là khoản thu
phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhà nước. Chỉ có một số cơ quan thuộc bộ máy nhà nước
mới được phép thu lệ phí và phải được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật hoặc của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Lệ phí là nguồn thu nộp hoàn toàn vào ngân sách nhà nước và
là nguồn thu thường xuyên của ngân sách các cấp.Vì vậy thu lệ phí được bố trí trong cân đối
thu chi của ngân sách các cấp, đảm bảo cho nhu cầu chi bình thường của ngân sách cấp đó.
 Các khoản thu ngoài thuế, phí và lệ phí
Ngoài nguồn thu cơ bản từ thuế, phí và lệ phí thì NSNN còn bao gồm những nguồn thu khác
bổ sung vào ngân sách nhà nước. Những nguồn thu đó không mang tính chất thường xuyên,
ổn định và chỉ là phần đóng góp khá nhỏ vào ngân sách nhà nước nhưng nó cũng đảm bảo cho
Nhà nước có nguồn vốn để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra, góp phần cân đối
giữa hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước.
 Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước : Bao gồm tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các
cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân, thu nhập
của nhà nước từ việc góp vốn vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực
hiện nghĩa vụ về thuế của tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của nhà nước.
 Thu từ hoạt động viện trợ : Bao gồm các khoản thu từ viện trợ nhân dân, viện trợ không
hoàn lại của các quốc gia và các tổ chức quốc tế,…Đây là những nguồn quan trọng để bổ
sung vào NSNN, giúp cho nhà nước thực hiện các khoản chi phát triển, cải cách kinh tế, xã
hội, nâng cao đời sống người dân.
16
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
 Thu từ các khoản đóng góp tự nguyện của cá nhân và tổ chức: Đây là những khoản thu
không mang tính ổn định vào NSNN, nhưng nó cũng góp một phần quan trọng cho NSNN
khi nhà nước tiến hành chi cho các vấn đề xã hội của đất nước, các chương trình phát triển
về giáo dục, kinh tế- xã hội,…góp phần bù đắp những khoản thiếu hụt NSNN.
1.3.2 Chi NSNN
Chi NSNN là quá trình Nhà nước phân bổ và sử dụng quỹ ngân sách để đáp ứng cho các nhu
cầu chi gắn liền với việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Chi NSNN là các
khoản thực chi trong năm tài chính mà không phát sinh nghĩa vụ bồi hoàn trực tiếp. Chi
NSNN được phân loại theo chức năng của Chính phủ và theo tính chất kinh tế.
Theo chức năng thì chi NSNN bao gồm chi cho các hoạt động công cộng chung như chi quốc
phòng, an ninh, chi y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội: chi cho các hoạt động kinh tế như công
nghiệp, nông nghiệp, đánh cá, hầm mỏ, giao thông và các khoản chi kinh tế khác.
Theo tính chất kinh tế thì chi NSNN bao gồm chi về hàng hoá, dịch vụ, chi trả lãi tiền vay, chi
hình thành tài sản cố định, mua cổ phiếu và các khoản chi chuyển vốn trong nước, nước ngoài
khác.
 Chi đầu tư phát triển
Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được
tạo lập thông qua hoạt động thu của NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội,
phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hóa nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu ổn
định và tăng trưởng của nền kinh tế.
Chi đầu tư phát triển là khoản chi quan trọng nhưng không mang tính ổn định. Khoản chi này
tạo ra nguồn tài sản cố định, năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế. Chi đầu tư phát triển bao
gồm những nội dung sau: Chi về đầu tư xây dựng cơ bản; chi để hình thành và bổ sung vốn
lưu động của doanh nghiệp nhà nước; chi cho quỹ dự trữ tài chính; chi bổ sung một phần vốn
điều lệ của quỹ hổ trợ phát triển để thực hiện các hoạt động tín dụng đầu tư phát triển,…
 Chi thường xuyên
17
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5

Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng
các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về kinh tế-xã
hội. Hiện nay sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước đã làm cho các khoản chi thường
xuyên tăng lên với nhiều nội dung chi khác nhau như: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào
tạo, dạy nghề, y tế,…các hoạt động sự nghiệp kinh tế; các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh,
trật tự an toàn xã hội theo quy định của chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện…; hoạt
động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam; hoạt động của các tổ chức
chính trị xã hội; hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội nghề nghiệp; phần chi thường xuyên trong các chương trình mục tiêu quốc gia; trợ giá
theo chính sách của nhà nước... Các khoản chi này thường mang tính ổn định.
 Các khoản chi khác
Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: Dự trữ tài chính là nguồn quỹ đặc biệt được dùng để tạm
ứng cho NSNN thực hiện các nhiệm vụ chi khi nguồn thu chưa tập trung kịp cho ngân sách,
dùng để xử lý cân đối NSNN trong trường hợp cần nguồn quỹ để thực hiện các nhiệm vụ cần
thiết như: phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh,… Bên cạnh đó dự
trữ tài chính còn dùng để khắc phục tình trạng bội chi ngân sách nhà nước trong trường hợp
các khoản vay để bù đắp bội chi không đạt mức dự toán đã được quy định thông qua.
Chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư: Trong quá trình chấp hành ngân sách, do thường
xuyên phải đương đầu với tình trạng thu không đủ chi Chính phủ thường lựa chọn một biện
pháp hữu hiệu là vay nợ trong và ngoài nước. Việc sử dụng biện pháp này để cân đối thu, chi
ngân sách đã dẫn đến tính tất yếu của khoản chi trả nợ trong kết cấu chi NSNN.
Chi viện trợ: Là khoản chi nảy sinh trong quan hệ đối ngoại của Nhà nước, cho phép Chính
phủ có thể giúp đỡ các quốc gia bị lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính do hậu quả của
thiên tai để lại, hoặc do các biến cố về chính trị,…
Qua đó ta thấy có sự tương thích giữa cơ cấu thu và chi ngân sách nhà nước đã góp phần
quan trọng cho ngân sách nhà nước được cân đối. Nhà nước có thể điều phối hoạt động chi
dựa trên nguồn thu vào của một tài khóa, phân định những nguồn thu nào quan trọng và cần
thiết, từ đó có những chính sách chi tiêu hợp lý.
18
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
1.3.3 Tình trạng ngân sách Nhà nước - Bội chi ngân sách.
Bội thu hay bội chi NSNN là chỉ tiêu phản ánh sự chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi
NSNN. Tổng thu NSNN bao gồm cả thu viện trợ, còn tổng chi NSNN bao gồm cả chỉ tiêu cho
vay trừ đi thu nợ.
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong quản lý NSNN là đảm bảo cân đối giữa thu
và chi. Tuy nhiên, do khả năng nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm, còn các nhu cầu chi lại
tăng rất nhanh, nên thường xuyên xảy ra tình trạng bội chi ngân sách ở hầu hết các nước trên
thế giới.
 Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước.
Bội chi NSNN được hiểu là chênh lệch giữa tổng số chi và tổng số thu (thu từ thuế và một số
khoản không mang tính chất hoàn trả, không bao gồm các khoản vay) của NSNN.
 Nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước
Một nguyên nhân mang tính phổ biến và nổi bật, không chỉ có ở các nước nghèo, các nước
đang phát triển, mà nó còn tồn tại ở các nước có nền kinh tế phát triển, đó là: nhu cầu chi và
thực tế chi của nhà nước cho tiêu dùng không những không thể cắt giảm, mà ngày càng
tăng lên. Trong khi đó việc tăng thu bằng công cụ thuế gặp phải sự chống đối mạnh mẽ từ
mọi phía và hậu quả của tăng thuế lại kèm theo kìm hãm tốc độ tích tụ vốn cho sản xuất, hạn
chế tiêu dùng, tức là dẫn tới khả năng suy thoái kinh tế.
Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo thì vấn đề bội chi NSNN dường
như không thể tránh khỏi. Điều này bắt nguồn từ: Tình trạnh thu nhập đầu người quá thấp và
không cho phép các chính phủ tăng tỷ trọng động viên từ GDP vào NSNN. Trong khi đó, các
nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên. Đặc biệt những dự án phát triển
trong chiến lược phát triển kinh tế thường đòi hỏi nguồn vốn lớn để nhà nước thực hiện
chương trình đầu tư nhằm cải thiện cơ cấu kinh tế và hướng tới sự tăng trưởng.
Tuy nhiên, bội chi NSNN không phải hoàn toàn tiêu cực. Theo kinh nghiệm thực tiễn kinh tế
thế giới cho thấy nếu bội NSNN ở mức độ nhất định (dưới 5% so với tổng chi ngân sách
nhà nước/năm) là có tác dụng kích thích sản xuất. Những nước có trình độ phát triển cao
19
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
người ta vẫn chỉ cố gắng thu hẹp bội chi NSNN chứ chưa loại trừ nó hoàn toàn. Thực chất bội
chi ngân sách là một hiện tượng kinh tế khách quan.
 Nguyên tắc quản lý cân đối NSNN.
Một nguyên tắc luôn luôn quán triệt trong việc quản lý cân đối NSNN ở các nước có nền kinh
tế thị trường là phân biệt rạch ròi về ranh giới giữa thu thường xuyên (thu từ thuế và các
khoản khác không mang tính hoàn trả) với chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển kinh tế.
Từ sự phân biệt này đã dẫn tới phương pháp cân đối ngân sách như sau:
•Lấy tổng số thu thường xuyên so với tổng chi thường xuyên, yêu cầu chung là chi
thường xuyên không được vượt quá thu thường xuyên.
•Số còn lại được so với dự toán chi đầu tư phát triển kinh tế để xác định số bội chi ngân
sách và tìm biện pháp bù đắp.
Toàn bộ số thâm hụt ngân sách được thể hiện ở nhu cầu chi đầu tư phát triển kinh tế và tìm
biện pháp bù đắp. Như vậy, toàn bộ số thâm hụt ngân sách được thể hiện ở nhu cầu chi đầu tư
phát triển kinh tế và việc tìm kiếm nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách cũng chính là việc tìm
kiếm vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.
Phương pháp cân đối ngân sách trên đây tạo ra thế chủ động rất lớn cho chính phủ để đối phó
với tình hình diễn biến của nền kinh tế xã hội. Việc ưu tiên chi thường xuyên cho các chính
phủ giải quyết trước hết các yêu cầu cấp bách để ổn định đời sống và trật tự xã hội. Hơn nữa,
nó cũng vạch một ranh giới rõ ràng về phạm vi chi thường xuyên nằm trong nguồn thu từ
thuế. Các nguồn thu bù đắp (bổ sung) chỉ phục vụ cho chi đầu tư phát triển kinh tế.
 Các biện pháp tạo nguồn bù đắp bội chi ngân sách
♦ Phát hành tiền : Xử lý bội chi NSNN thông qua phát hành tiền và đưa ra lưu thông sẽ
giúp cho chính phủ huy động nhanh nguồn vốn để cân đối NSNN. Tuy nhiên, giải pháp
này có thể gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành quá nhiều tiền để bù đắp bội chi
NSNN, sẽ gây ra những vấn đề khó khăn cho nền kinh tế sau này như: Kinh tế tăng
trưởng nóng, không cân đối với khả năng tài chính hiện tại của đất nước,… Nhưng nếu
phát hành tiền ở mức hợp lý, phù hợp với diễn biến của nền kinh tế và sử dụng tiền đó
có hiệu quả thì sẽ không làm tăng lạm phát, không gây tác động xấu đến nền kinh tế mà
20
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
sẽ góp phần khắc phục tình trạng bội chi ngân sách nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển
và đảm bảo cân đối NSNN.
♦ Biện pháp đi vay để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước : Là biện pháp được sử dụng ở
hầu hết các nước trên thế giới. Nguồn vay không chỉ để bù đắp thiếu hụt ngân sách, mà
nó còn được sử dụng để cho vay lại hoặc giảm phát. Thông thường đi vay bao gồm: vay
ngân hàng, vay dân và các tổ chức trong xã hội và vay nước ngoài. Ưu điểm của biện
pháp này là đáp ứng được nhu cầu thiếu hụt của NSNN đồng thời góp phần rút bớt
lượng tiền thừa trong lưu thông, trước mắt không có tác dụng làm bùng nổ lạm phát. Tuy
nhiên, vay trong nước hay vay nước ngoài đều phải trả nợ gốc và cả lãi, càng vay thì
gánh nặng về nợ sẽ càng tăng. Nếu về lâu dài sử dụng biện pháp vay nợ để bù đắp bội
chi NSNN thì sẽ gây nhiều áp lực cho chính phủ về nợ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến
vấn đề cân đối NSNN, NSNN khó đạt mức cân bằng.
Như vậy, biện pháp sử dụng nguồn vốn vay để bù đắp bội chi NSNN chỉ có tác dụng tích
cực hữu hiệu khi nguồn vốn vay được sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển kinh tế,
tuyệt đối không sử dụng vốn vay để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng.
1.4 Các quan điểm về cân đối NSNN
1.4.1 Quan điểm ngân sách cân bằng
Theo trường phái kinh tế học cổ điển, ngân sách phải luôn được giữ cân bằng theo chu kỳ
kinh tế, tức là mỗi năm số thu phải ngang bằng số chi. Nếu số chi vượt số thu, nhà nước phải
tăng thuế, vay nợ hoặc phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt dẫn đến nguy cơ tình trạng nợ chồng
chất, rơi vào lòng lẩn quẩn của lạm phát và suy thoái. Nếu số thu vượt số chi, chứng tỏ nhà
nước đã thu quá mức, số tiền nhà nước thu về một chỗ và không sinh lời, điều đó kiềm hãm
sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
1.4.2 Quan điểm ngân sách chu kỳ
Theo quan điểm này, thì NSNN không nhất thiết phải cân bằng hàng năm mà nên cân bằng
theo chu kỳ, vì nền kinh tế phát triển theo chu kỳ, chịu sự tác động của quy luật tự nhiên có
tăng trưởng thì có suy thoái. Cân bằng ngân sách theo chu kỳ sẽ giúp nhà nước thực hiện các
21
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
chính sách kinh tế phù hợp với từng giai đoạn. Theo quan điểm này, các nhà kinh tế đưa ra các
phương pháp sau:
+ Tạo lập quỹ dữ trữ khi nền kinh tế đang phồn thịnh nhằm dự phòng cho những năm thiếu
hụt của thời kỳ suy thoái, với điều kiện quỹ này phải sinh lời và không được chi tiêu khi
không cần thiết
+ Khi nền kinh tế suy thoái, thì nhà nước nên thực hiện chính sách thâm hụt dể kích thích cho
nền kinh tế phục hồi và phát triển. Khoản thâm hụt này sẽ được bù đắp lại bằng những khoản
thặng dư của thời kỳ phồn thịnh
1.4.3 Quan điểm ngân sách thâm hụt
Vấn đền cân bằng ngân sách phải được giải quyết tùy thuộc vào thực trạng nền kinh tế và sự
ảnh hưởng của chính sách thu, chi tài chính công tới nền kinh tế. Theo quan điểm này, thì
thâm hụt ngân sách, tức số chi vượt số thu ngân sách trong năm tài chính, sẽ được thực hiện
nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế đang trong tình trạng trì trệ. Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách
cố ý sẽ có thể mang lại hậu quả nguy hại là gây ra lạm phát. Nhưng những người ủng hộ
thuyết này cho rằng “sự phục hồi kinh tế sẽ đem lại nguồn để NSNN trở về tình trạng cân
bằng và đẩy lùi lạm phát”
1.4.4 Quan điểm về ngân sách duy nhất và hai ngân sách
Các nhà kinh tế học cổ điển rất tôn trọng nguyên tắc một ngân sách duy nhất để thuận tiện cho
việc thiết lập, thi hành và kiểm soát ngân sách về sau
Trong khi đó, các nhà kinh tế học hiện đại lại cho rằng nên thực hiện hai ngân sách, có nghĩa
là NSNN nên chia thành 2 bộ phận: ngân sách điều hành để đảm bảo hoạt động của guồng
máy nhà nước và ngân sách đầu tư để tham gia vào lĩnh vực sản xuất đặc biệt của nhà nước.
Ngân sách điều hành sẽ thực hiện theo nguyên tắc “nhất niên”, còn ngân sách đầu tư có thể
thực hiện theo nguyên tắc “đa niên”
Về nguồn tài trợ, vì ngân sách điều hành không tạo ra thu nhập nên phải tài trợ bằng các
khoản thu không hoàn lại. Trong khi ngân sách đầu tư có tạo ra thu nhập thì nên có thể được
tài trợ bằng các khoản vay trong hay ngoài nước.
 Nhận xét :
22
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
Mỗi quan điểm về cân đối ngân sách có những khía cạnh, góc độ và thời điểm khác nhau
nhưng đều cùng hướng tới vấn đề là làm sao cho ngân sách được cân bằng và được quản lý
một cách hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì thuyết cổ điển về ngân sách cân bằng không còn phù
hợp nữa vì quá tuyệt đối, chỉ đúng trong bối cảnh nền kinh tế hàng hóa còn sơ khai, hoặc
trong điều kiện nền kinh tế phải rất giàu có, ngân sách có đủ nguồn tài chính đảm bảo cho nhu
cầu chi tiêu hàng năm của nhà nước hoặc trong môi trường kinh tế cạnh tranh hoàn hảo,
không bị giới hạn bởi bất kỳ yếu tố nào như biên giới, hàng rào bảo hộ… Tuy nhiên, hiện nay
thế giới vẫn chưa đạt tới cạnh tranh tự do hoàn hảo và bội chi ngân sách vẫn đang tồn tại như
một hiện tượng bình thường ở nhiều nước trên thế giới. Các thuyết hiện đại thì đưa ra những
biện pháp mạnh hơn để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước.
Trong điều kiện chuyển đổi và hội nhập như Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải lựa chọn
và vận dụng hợp lý các lý thuyết đó để đưa đất nước phát triển. Đối với nền kinh tế đi lên từ
nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, trình độ kỹ thuật công nghệ còn
thấp kém thì đòi hỏi nhà nước phải đứng ra cấp vốn quan trọng cho các chương trình đầu tư
cấu thành sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Điều này đồng nghĩa với việc
triển khai chi tiêu nhiều hơn khả năng thu từ nội bộ nền kinh tế và thâm hụt ngân sách là điều
khó tránh khỏi. Do đó, việc ưu tiên chiến lược là tất yếu. Hoặc là, nhà nước chọn giảm thâm
hụt ngân sách, kiềm chế lạm phát là mục tiêu chiến lược bao trùm tất cả các mục tiêu khác,
tiến tới cân bằng ngân sách thì sẽ duy trì được thế ổn định của nền tài chính nhưng con đường
phát triển kinh tế bị chậm lại. Hoặc là, lấy công nghiệp hóa- hiện đại hóa làm mục tiêu trọng
yếu để phát triển kinh tế, thì mục tiêu kiềm chế thâm hụt ngân sách phải đặt xuống hàng thứ
yếu cho đến khi năng suất lao động xã hội tăng lên đạt tới mức tiến tiến của thế giới thì phải
chấp nhận quan điểm thâm hụt ngân sách.
23
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2001-2010
2.1 Thực trạng Cân đối NSNN của VN trong giai đoạn 2001-2010
2.1.1 Thực trạng thu
Khai thác nguồn thu hợp lý là công việc quan trọng hàng đầu của cân đối NSNN. Chính sách
thu NSNN được coi là hợp lý khi đáp ứng được 4 yêu cầu: (i) giải quyết được nhu cầu chi tiêu
của Nhà nước, (ii) kích thích kinh tế tăng trưởng, (iii) điều tiết được thu nhập và (iv) phù hợp
thông lệ quốc tế. Để thõa mãn 4 điều kiện này, đầu tiên cần phải thiết lập kỷ luật tài khóa tổng
thể, tiếp theo là phải thực hiện cải cách thuế theo hướng hoàn thiện chính sách thuế và cải tiến
công tác quản lý hành thu. Cho nên, việc tiến hành đánh giá thực trạng khai thác nguồn thu
trong cân đối NSNN giai đoạn 2001- 2010 sẽ thông qua các nội dung trên
 Về thiết lập kỷ luật tài khóa tổng thể
Dựa vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm, kỷ luật tài khóa tổng thể đã được chính
phủ thiết lập cho từng thời kỳ bằng việc quyết định tỷ lệ động viên vào NSNN trên GDP (giai
đoạn 2001-2005 là 20-21%GDP, giai đoạn 2006-2010 là 21- 22%GDP); từ đó đã gián tiếp qui
định mức bội chi NSNN, mức vay nợ trong và ngoài nước để bù đắp bội chi NSNN
 Về cải cách thuế
Hoàn thiện chính sách thuế:
+ Cải cách thuế bước hai: qua cải cách bước một 1990- 1995, bước đầu thuế đã phát huy vai
trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nguồn thu cho NSNN. Đến giai đoạn 1996- 2002, cải cách
hệ thống chính sách thuế bước hai được thực hiện theo chiều sâu, mở rộng diện thu theo
hướng bồi dưỡng và tạo nguồn thu mới, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp và phức
tạp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng CNH- HĐH, từng bước phù hợp với
thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình hội nhập, hệ thống thuế phải đơn giản và
minh bạch. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã đổi mới căn bản hệ thống thuế bằng việc ban hành
Luật thuế giá trị gia tăng thay cho Luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bổ sung; Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, bổ sung hoặc ban hành mới một số loại thuế phí có
tác đông mạnh mẽ đến các hoạt kinh tế như thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế đất,
thuế tài sản.
24
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
+ Cải cách thuế bước ba: cải cách thuế bước hai tuy đã góp phần hoàn thiện chính sách thuế
cho phù hợp với lộ trình hội nhập, song những nhược điểm cơ bản của hệ thống thuế được
tổng kết thúc đẩy cải cách bước một vẫn chưa được giải quyết triệt để. Cụ thể:
(i) Hệ thống thuế vẫn còn phân biệt đối xử giữa các đối tượng nộp thuế, giữa doanh nghiệp
trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng ưu đãi cho các nhà
đầu tư nước ngoài, trong khi chính sách phát triển kinh tế là coi trọng nội lực;
(ii) Hệ thống thuế vẫn phức tạp, chồng chéo;
(iii) Mức thuế suất cận biên tối đa của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao còn khá cao so với các nước trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực
đến môi trường đầu tư (xem phụ lục số 2.2.1);
(iv) Hệ thống nguồn thu lệ thuộc nhiều vào thuế XNK và bán dầu thô.
Do vậy cải cách thuế bước ba được thực hiện và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. Trọng tâm của
cải cách thuế bước ba là hướng vào thực hiện ba mục tiêu: đơn giản, công bằng, hiệu quả
của hệ thống chính sách thuế. Theo đó, Chính phủ đã tiến hành triển khải bước đầu công việc
cải cách thuế theo lộ trình đã hoạch định. Để khuyến khích đầu tư trên cơ sở vẫn đảm bảo
nguồn thu cho ngân sách, Nhà nước đã giảm gánh nặng thuế qua việc giảm thuế suất, đơn giản
hóa hệ thống thuế, mở rộng đối tượng chịu thuế. Cụ thể:
(i) Đối với thuế thu nhập, thuế TNDN được áp dụng thống nhất, không phân biệt thành
phần kinh tế, không phân biệt doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài với thuế suất 28% và các mức thuế suất ưu đãi là 20%, 15% và 10%. Về thuế
thu nhập cá nhân (TNCN),Việt Nam cũng đã từng bước giảm dần mức thuế suất lũy tiến
cao nhất trong biểu thuế, từ 50% xuống 40% và từ 10/10/2009 xuống còn 35% và giảm
mức thuế suất khởi điểm từ 10% xuống 5%, áp dụng thống nhất với người Việt Nam và
người nước ngoài . Ngoài ra, bổ sung thu nhập từ chuyển quyến sử dụng đất, chuyển quyền
thuê đất vào thu nhập chịu thuế; thống nhất điều kiện ưu dãi thuế theo lĩnh vực và địa bàn
phù hợp với luật khuyến khích đầu tư trong nước; mở rộng phạm vi ưu đãi đầu tư; các qui
đinh về chi phí hợp lý, hợp lệ cũng được bổ sung, sửa đổi
25
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×