Tải bản đầy đủ

Giải pháp nhằm hoàn thiện nhập khẩu máy móc, vật tư thiết bị của Công ty Xây dựng và Thương mại nước ta.doc

Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
CHƯƠNG I
NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP
XUẤT NHẬP KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA
I. KINH DOANH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA NHẬP KHẨU ĐỐI
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
1. Kinh doanh thương mại quốc tế
Kinh doanh thương mại là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các doanh nghiệp của
các quốc gia thông qua hành vi mua bán.
Sản xuất hàng hoá ra đời kéo theo sự phát triển của phân công lao động xã hội và
chuyên môn hoá sản xuất. Trao đổi và lưu thông hàng hoá ngày càng phát triển cao hơn và
hiện đại hơn từ trao đổi hàng hoá trong từng vùng, quốc gia tiến tới mua bán hàng hoá và
dịch vụ giữa các quốc gia với nhau. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội
và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt
của các quốc gia.
Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống riêng rẽ mà vẫn đầy đủ được. Thương mại
quốc tế cho phép một quốc gia tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn có thể
tiêu dùng, với ranh giới khả năng sản xuất và tiêu dùng trong nước khi thực hiện chế độ tự
cung tự cấp.
Phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá ngày càng sâu sắc là tiền đề xuất hiện

sự trao đổi hàng hoá. Ngày nay với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, phạm vi chuyên môn hoá
ngày càng tăng thì nhu cầu của con người về hàng hoá và dịch vụ cũng không ngừng phát
triển phong phú và đa dạng. Sự phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng chặt chẽ. Xu hướng
toàn cầu hoá ngày càng tăng. Do vậy một quốc gia nếu tách khỏi môi trường thế giới thì sẽ bị
tụt hậu và kém phát triển. Xuất nhập khẩu là một công cụ để giúp các quốc gia hoà nhập vào
sự phát triển chung của thế giới, đẩy nhanh sự phát triển của đất nước và văn minh xã hội.
Trước hết, thương mại quốc tế xuất hiện từ sự đa dạng, sự khác nhau về điều kiện tự
nhiên của sản xuất giữa các khu vực và các quốc gia. Điều đó dẫn đến một việc rất có lợi là
mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàng cụ thể phù hợp với tài nguyên và
nhân lực của mình, xuất khẩu hàng hoá của mình và nhập khẩu hàng hoá của các nước khác.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
1
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Song như chúng ta đã biết, phần lớn số lượng thương mại lại thuộc về mặt hàng không xuất
phát từ điều kiện tự nhiện vốn có của sản xuất. Cũng như tại sao Mỹ đã sản xuất được vô
tuyến còn mua vô tuyến của Nhật.
Nhà kinh tế học David Ricordo (1887) đã trả lời câu hỏi này đầu tiên và chứng minh
bằng lý thuyết “Lợi thế so sánh”. Quy luật lợi thế tương đối mạnh sự khác nhau về chi phí
sản xuất, coi đó là chìa khoá của các phương thức thương mại. Lý thuyết này khẳng định một
quốc gia (hoặc một cá nhân) có thể nâng cao mức sống và thu nhập thực tế cách chuyên môn
hoá vào sản xuất so sánh cao nhất. Đây chính là khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô sản
xuất.
Điều kiện để có thương mại quốc tế là trao đổi và chuyên môn hoá sản xuất trên cơ sở
lợi thế so sánh. Thương mại quốc tế càng trở nên quan trọng bởi vì thương mại quốc tế luôn
tác động đến phân công lao động quốc tế và chuyên môn hoá sản xuất, nó rất cần thiết cho
việc chuyên môn hoá sâu để có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao trong nhiều ngành công
nghiệp hiện đại . Chuyên môn hoá theo quy mô lớn làm cho chi phí sản xuất giảm. Và hiệu
quả kinh tế theo quy mô sẽ được thực hiện ở từng nước trong các nước sản xuất. Mặt khác
sự khác nhau về sở thích và nhu cầu của người dân ở các quốc gia cũng là nguyên nhân để có
buôn bán quốc tế, ngay cả trong trường hợp hiệu quả ở hai nơi sản xuất giống hệt nhau cũng
có thể diễn ra sự trao đổi, buôn bán do sở thích khác nhau.
Trong điều kiện của thế giới hiện đại khi quá trình quốc tế hoá ra đời sống trở nên sâu
sắc rộng khắp, và khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã phát triển đến một trình độ cao
trở thành một yếu tố không thể thiếu cho sự phát triển của nền kinh tế, cho phép có thể phân
chia các giai đoạn của quá trình sản xuất ở những khâu khác nhau và phân bổ ở những vị trí
khác nhau thì không một nước nào có thể đóng cửa nền kinh tế, tự mình thực hiện một chính
sách biệt lập tách khỏi mối quan hệ cùng có lợi với thế giới bên ngoài. Nhận thức được điều
đó Đảng và Nhà nước ta đã có những hướng đi thích hợp trong chính sách của mình. Trong
nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ tám đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nền kinh tế


đối ngoại đối với nhiệm vụ ổn định và phát triển đất nước cũng như phát triển khoa học kỹ
thuật công nghệ.
2. Vai trò nhập khẩu nói chung và nhập khẩu vật tư - thiết bị Giao thông vận tải nói
riêng trong nền kinh tế nước ta:
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
2
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Nhập khẩu là một trong hai nhiệm vụ cấu thành nghiệp vụ ngoại thương xuất nhập
khẩu khẩu, là một mặt hàng không thể tách khỏi nghiệp vụ ngoại thương. Có thể hiểu đó là
một sự mua bán hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái
sản xuất nhằm mục đích thu lợi thể hiện sự phụ thuộc, gắn bó lẫn nhau giữa các nền kinh tế
quốc gia với nền kinh tế thế giới, nó cũng quyết định sự sống còn đối với một nền kinh tế mà
đặc biệt trong tình hình thế giới hiện nay các nước thống nhất dưới mái nhà chung, nền kinh
tế quốc gia đã hoà nhập vào nền kinh tế thế giới thì vai trò của nhập khẩu càng trở nên quan
trọng.
Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong
nước. Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất
không đáp ứng nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu về những hàng hoá
mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu.
Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động
tích cực đến sự phát triển nền kinh tế quốc dân, trong đó cân đối trực tiếp ba yếu tố của sản
xuất: Công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập khẩu được
thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng, từng bước công nghiệp hoá đất nước.
- Bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát triển kinh tế cân
đối và ổn định.
- Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. ở đây, nhập khẩu
vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo vào cho sản
xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể hiện ở chỗ:
Nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất nhập khẩu, tạo điều kiện môi trường thuận lợi
cho việc xuất khẩu hàng Việt nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.
Nhập khẩu trang thiết bị, kỹ thuật công nghệ sẽ góp phần phát triển các ngành công
nghiệp và kết cấu hạ tầng, phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp chế biến và
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
3
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
tiêu dùng, cải tạo và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước đáp ứng mục tiêu dân giàu nước mạnh của Đảng ta. Hoạt động xuất
nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào nước ta: Các loại máy móc
thiết bị phục vụ cho ngành Giao thông vận tải được sản xuất trong nước rất ít và lạc hậu. Nhờ
hoạt động nhập khẩu mà ngành Giao thông vận tải cũng như các ngành khác đã có được các
loại máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng đường xá, cầu
cống . . . . Qua đó tiếc kiệm được chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát
triển trong nước.
Hoạt động nhập khẩu góp phần làm đa dạng hoá mặt hàng về chủng loại, quy cách,
cho phép thoả mãn nhu cầu trong nước. Nhu cầu về máy móc thiết bị ngành Giao thông vận
tải rất lớn và cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta thì nhu cầu này ngày càng đòi hỏi
phải nhập nhiều máy móc thiết bị hiện đại để phục vụ cho ngành trong việc xây dựng cơ sở
hạ tầng.
Nhập khẩu còn có vai trò nhất định trong việc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân
dân bởi thông qua nhập khẩu, sản xuất của nước ta mới có đủ nguyên vật liệu thiết bị máy
móc hoạt động, nên công nhân mới có đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định. Mặt khác
nhập hàng tiêu dùng làm cho cơ cấu hàng hoá lưu động trên thị trường trở nên phong phú
hơn, góp phần thoả mãn nhu cầu của nhân dân về hàng hoá, đặc biệt là đối với những mặt
hàng mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được.
Ngoài ra nhập khẩu còn có tác dụng kìm giữ giá cả, ổn định thị trường, làm cân đối
cung cầu hạn chế sự khan hiếm hàng hoá và tình trạng leo thang giá cả.
Thực hiện nhập khẩu máy móc thiết bị vật tư và công nghệ hợp lý sẽ tạo cơ sở để tận
dụng nguồn lao động dư thừa trong nước, nâng cao trình độ kỹ năng của người lao động.
Thêm vào đó hàng hoá sản xuất ra từ máy móc thiết bị, công nghệ nhập khẩu có chất lượng
tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn. Đó là một kích thích cho cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh
nghiệp trong nước, đòi hỏi họ phải phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, phân công lao
động có hiệu quả, tạo ra động lực cho sự phát triển nền kinh tế trong nước.
Chính vì hoạt động nhập khẩu đóng vai trò quan trọng như vậy mà hiện nay Đảng và
Nhà nước ta rất quan tâm chú trọng tới nhập khẩu, khuyến khích nhập khẩu máy móc thiết bị,
vật tư công nghệ tiên tiến phục vụ cho sản xuất và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
4
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
đất nước. Hạn chế nhập khẩu những hàng hoá xa xỉ, lãng phí ảnh hưởng xấu tới sản xuất và
tiêu dùng trong nước cũng như làm mất sự cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế trong nước.
3. Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu và các hình thức nhập khẩu:
3.1. Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu:
Hoạt động nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinh doanh trong nước.
Việc buôn bán ra ngoài biên giới của một đất nước đòi hỏi phải có trình độ cao hơn. Những
hoạt động chủ yếu của hoạt động nhập khẩu gồm:
- Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều ước quốc tế
và ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán thương mại quốc tế.
- Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong phú đó là:
Giao dịch trực tiếp thông qua các mối quan hệ, giao dịch qua các trung gian giới thiệu, giao
dịch tại hội chợ triển lãm và qua thông tin quảng cáo. . . .
- Mọi hoạt động nhập khẩu hàng hoá đều phải thông qua hợp đồng kinh tế.
- Các phương thức thanh toán rất đa dạng: Thanh toán bằng chuyển khoản qua Ngân
hàng, thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán nhờ thu, hàng đổi hàng, tín dụng chứng từ . . . .
- Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ tự do chuyển đổi như: Đồng Đô la
Mỹ, Bảng anh, đồng EURO, . . . .
- Điều kiện cơ sở giao hàng: Có rất nhiều hình thức được quy định cụ thể trong
INCOTERM 2000, xong phổ biến nhất là nhập khẩu theo điều kiện FOB; CIF và CF. . .
- Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên địa bàn rộng, thủ tục
phức tạp, thời gian thực hiện lâu .
- Kinh doanh nhập khẩu phục thuộc vào kiến thức kinh doanh, trình độ quản lý, trình
độ nghiệp vụ ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin.
- Trong hoạt động nhập khẩu có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hàng hoá. Để đề
phòng rủi ro, có thể mua các bảo hiểm tương ứng. Chí phí bảo hiểm có thể do đơn vị nhập
khẩu hay người bán trả tuỳ thuộc vào những điều khoản đã thoả trong hợp đồng.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
5
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
3.2. Các hình thức nhập khẩu hiện nay:
Nhập khẩu hàng hoá là hoạt động thương mại liên quan tới việc mua bán hàng hoá với
thị trường nước ngoài. Ta có thể chia thành các tiêu thức phân loại hình thức nhập khẩu sau:
Phân loại theo chủ thể hoạt động
3.2.1. Nhập khẩu uỷ thác:
Khái niệm: Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh
nghiệp có nhu cầu về hàng hoá cần nhập khẩu song lại không có sẵn nguồn hàng, không có
nghiệp vụ kinh doanh về ngoại thương uỷ thác cho một doanh nghiệp có hoạt động chuyên
doanh về ngoại thương, có nguồn hàng mà bên uỷ thác yêu cầu.
Đặc điểm:
+ Doanh nghiệp nhận uỷ thác nhập khẩu mua hàng bằng tiền, hạn ngạch (nếu có) của
doanh nghiệp uỷ thác.
+ Doanh nghiệp nhận uỷ thác làm các thủ tục về giao dịch, ký hợp đồng với nước
ngoài, thanh toán, thủ tục giao nhận hàng theo yêu cầu của bên uỷ thác.
+ Khi tiến hành nhập uỷ thác thì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ được tính kim
ngạch xuất nhập khẩu chứ không được tính doanh số, không chịu thuế doanh số.
+ Khi nhập uỷ thác thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu (nhập uỷ thác) phải lập hai hợp
đồng:
 Hợp đồng ngoại mua bán hàng hoá với nước ngoài.
 Một hợp đồng uỷ thác với bên uỷ thác.
3.2.2. Nhập khẩu tự doanh:
Khái niệm: Hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự
nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực
tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên
quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho
cả hai bên, cùng chia lãi và cùng chịu lỗ.
* Đặc điểm:
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
6
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
So với nhập khẩu tự doanh thì các doanh nghiệp ít chịu rủi ro hơn bởi mỗi doanh
nghiệp liên doanh nhập khẩu góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của các
bên cũng tăng lên theo số vốn góp. Việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn góp
và chỉ chịu thuế doanh thu trên doanh số đó.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải lập hai hợp đồng:
- Một hợp đồng mua hàng với người nước ngoài
- Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác (không nhất thiết phải là Doanh
nghiệp Nhà nước)
Ngoài ra còn có một số hình thức nhập khẩu khác:
3.2.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng:
* Khái niệm: Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ
yếu của buôn bán đối lưu. Nó là một hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh toán
không phải dùng tiền mà là hàng hoá. ở đây, mục đích của nhập hàng không phải để chỉ thu
lãi từ hoạt động nhập mà còn nhằm để xuất được hàng, thu cả lãi từ hoạt động xuất.
* Đặc điểm:
- Hoạt động này rất có lợi bởi vì cùng một lúc thu lãi được từ hai hoạt động xuất -
nhập.
- Hàng hoá xuất và nhập tương đương nhau về giá trị, tính quý hiếm và cân bằng về
giá cả
- Người bán đồng thời là người mua.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim ngạch nhập và kim ngạch
xuất, doanh số tiêu thụ trên cả hàng xuất.
- Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng: Dùng thư tín dụng đối ứng (Reciprocal
Letter of Credit): Đây là một loại L/C mà trong nội dung của nó có một điều khoản quy định:
L/C này chỉ có hiệu lực khi người hưởng mở 1 L/C khác có kim ngạch tương đương.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
7
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Dùng người thứ ba khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, người thứ ba chỉ giao chứng
từ đó cho người nhận hàng khi người này đổi lại một bộ chứng từ sở hữu hàng hóa có giá trị
tương đương
Nhập khẩu tái xuất:
* Khái niệm: Là hoạt động nhập hàng nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà
để xuất sang một nước thứ ba nào đó nhằm thu lợi nhuận. Những hàng nhập này không được
qua chế biến ở nước tái xuất.
Kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất là mua hàng của một nước (nước xuất
khẩu) để bán cho một nước khác (nước nhập khẩu) nhằm mục đích kiếm lợi, có làm thủ tục
nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam trong một thời gian nhất định rồi tái suất mà không qua
gia công chế biến.
* Đặc điểm:
- Doanh nghiệp nước tái suất phải tính toán chi phí ghép mối bạn hàng xuất và bạn
hàng nhập, đảm bảo sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để thu được
lãi khi tiến hành hoạt động.
- Hàng hoá tái nhập tái xuất phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát của
hải quan cho tời thời điểm hàng thực xuất ra khỏi lãnh thổ Việt nam.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải lập hai hợp đồng: Một hợp đồng xuất khẩu và
một một hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp không phải chịu thuế xuất nhập khẩu nhưng
phải chịu thuế doanh thu xuất khẩu.
- Để đảm bảo thanh toán hợp đồng của hợp đồng tạm nhập tái xuất thường dùng thư
tín dụng giáp lưng (Back to back - L/C)
- Hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về tái xuất mà có thể chuyển thẳng sang
nước thứ ba, nhưng tiền do người tái xuất thu được của người nhập khẩu và trả cho người
xuất khẩu.
II. NỘI DUNG CỦA NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP KINH
DOANH XUẤT NHẬP KHẨU:
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
8
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Nhập khẩu là việc giao dịch mua hàng hoá với nước ngoài nhằm phát triển sản xuất
kinh doanh và đời sống trong nước. Song việc mua hàng ở đây có những nét riêng phức tạp
hơn mua bán trong nước như giao dịch với những người có quốc tịch khác nhau, thị trường
rộng, rất khó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiểm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán là
ngoại tệ mạnh, hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu của các quốc gia khác
nhau, phải tuân thủ các tập quán và thông lệ quốc tế cũng như của địa phương.
1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu, lựa chọn bạn hàng:
Nghiên cứu thị trường trong hoạt động nhập khẩu là một loạt các thủ tục và kỹ thuật
được đưa ra để giúp các nhà nhập khẩu có đầy đủ thông tin cần thiết để từ đó tạo ra những
quyết định chính xác về marketing. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu là cả một quá trình tìm
kiếm khách quan và có hệ thống cùng với việc phân tích tổng hợp các thông tin cần thiết để
giải quyết vấn đề marketing. Bởi vậy, nghiên cứu thị trường ngày càng đóng một vai trò để
giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong hoạt động nhập khẩu. Thị trường là một quá
trình mà người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng
hàng hoá mua bán. Thị trường có thể nhìn thấy được cũng có thể không nhưng nó luôn bao
gồm người mua, người bán, các quan hệ mua bán và dịch vụ, dung lượng thị trường.
Để nắm vững các yếu tố của thị trường, hiểu rõ quy luật vận động của thị trường
nhằm ứng xử kịp thời , các nhà nhập khẩu nhất thiết phải tiến hành công tác nghiên cứu thị
trường. Nghiên cứu thị trường bao gồm những bước sau:
1.1. Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu:
Mục đích của nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu là để tiến hành nhập khẩu đúng chủng
loại mà thị trường trong nước cần, kinh doanh có hiệu quả, đạt được mục tiêu lợi nhuận của
doanh nghiệp. Việc nhận biết mặt hàng nhập khẩu trước hết căn cứ vào nhu cầu sản xuất và
tiêu dùng trong nước, về số lượng, chất lượng, tính thời vụ, thị hiếu cũng như tập quán tiêu
dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh của hàng
hoá cần nhập khẩu như công dụng, đặc tính, quy cách, phẩm chất, mẫu mã, giá cả, điều kiện
mua bán, khả năng sản xuất và các dịch vụ kèm theo . . . .
Để lựa chọn được mặt hàng nhập khẩu, một nhân tố nữa được tính đến đó là tỷ suất
ngoại tệ của các mặt hàng. Trong nhập khẩu, tỷ suất ngoại tệ là tổng số tiền bản tệ có thể thu
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
9
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
được khi chi ra một đơn vị ngoại tệ để nhập khẩu. Nếu tỷ suất ngoại tệ mặt hàng đó (ví dụ:
VNĐ/USD) lớn hơn tỷ giá hối đoái trên thị trường thị việc chọn mặt hàng nhập khẩu có hiệu
quả.
1.2. Nghiên cứu dung lượng thị trường:
Dung lượng thị trường khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một phạm vị thị
trường nhất định, trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Nghiên cứu dung
lượng thị trường phải xác định nhu cầu thật của khách hàng và khả năng cung cấp của nhà
sản xuất. Nghiên cứu dung lượng của thị trường nhằm hiểu rõ hơn về quy luật vận động của
thị trường. Từ đó nhà nhập khẩu có thể giải quyết hàng loạt các vấn đề có liên quan đến thị
trường.
Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến động có tính chu kỳ: Là sự vận động
của tình hình kinh tế các nước trên thế giới đặc biệt là những nước tư bản chủ nghĩa, tính thời
vụ trong sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá.
Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến dung lượng thị trường:
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật: sự phat triển của khoa học kỹ thuật đã dẫn đến sản xuất
và nhu cầu về hàng hoá được mở rộng. Đối với máy móc thiết bị vật tư, khả năng sản xuất
cũng khong ngừng thay đổi, nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị vật tư ở các nước kém phát
triển cũng khoong ngừng gia tăng lên làm anh r hưởng đến dung lượng thị trường.
- Các chính sách của nhà nước và các tập đoàn lũng đoạn thị trường.
- Thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay thế.
Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường như hiện tượng đầu cơ
gây ra những đột biến về cung cầu, các yếu tố tự nhiên như thiên tai, động đất, bão lụt, hạn
hán...các yếu tố chính trị xã hội.
1.3 Lựa chọn bạn hàng
Trong thương mại quốc tế, bạn hàng hay khách hàng là những người hoặc những tổ
chức có quan hệ giao dịch với tanhằm thực hiện các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá hay
dịch vụ, các hoạt dộng hợp tác kinh tế hay khoa học kỹ thuật liên quan đến việc cung cấp
hàng hoá.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
10
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Chọn nước để nhập khẩu hàng hoá , để đáp ứng nhu cầutrong nước chúng ta cần phải
nghiên cứu tình hình sản xuất của nước đó, chất lượng mẫu mã hàng xuất khẩu, chính sách
và tập quán thương mại nước đó.
Chọn thương nhân để giao dịch. Thường chọn những người xuất nhập khẩu trực tiếp.
Cần phải quan tâm đến : quan điểm kinh doanh của thương nhân đó, lĩnh vực kinh doanh của
họ, vốn và cơ sở vật chất, uy tín và mối quan hệ trong kinh doanh của họ.
1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trong nhập khẩu:
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời biểu hiện một cách tổng
hợp các hoatj động kinh tế, các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quôc dân. Giá cả luôn
gắnliền với thị trường và là một yếu tố cấu thành thị trường, nghiên cứu giấ cả thị trường là
một một bộ phận của nghiên cứu thị trường bao gồm các công việc như: nghiên cứu mức giá
từng mặt hàng tại từng thời điểm trên thị trường, xu hướng biến động và các nhân tố ảnh
hưởng đến nó, các loại giá.
Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với một loại hàng hoá nhất định trên thị trường
thế giới và là giá của những giao dịch thông thường, không kèm theo một đều kiện đặc biệt
nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
Khi định giá nhập khẩu cho một hàng hoá, nhà nhập khẩu có thể tham khảo giá xuất
khẩu mặt hàng đó trên thị trường khác, cước phí vận tải. . . và cũng cần lưu ý rằng với mức
giá đó cộng với chi phí liên quan liệu có phù hợp với thị trường trong nước hay không.
2. Giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu:
2.1. Các phương thức chủ yếu trong giao dịch nhập khẩu:
Sau khi tiến hành công việc nghiên cứu thị trường quốc tế thì căn cứ vào mặt hàng dự
định nhập khẩu, đối tượng, thời gian giao dịch và năng lực của người tiến hành giao dịch mà
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu lựa chọn cho mình một phương thức giao dịch phù
hợp nhất, thuận tiện nhất cho doanh nghiệp mình. Dưới đây là một số phương thức giao dịch
cơ bản trong buôn bán quốc tế.
* Giao dịch trực tiếp:
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
11
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Giao dịch trực tiếp trong kinh doanh thương mại quốc tế là giao dịch mà người mua
(hoặc bán) thoả thuận, bàn bạc trực tiếp (hoặc thông qua thư từ, điện tín . . . ) với người bán
(người mua) về hàng hoá, giá cả, giao dịch, phương thức thanh toán.
Trong phương thức giao dịch này hai bên tiếp cận thị trường hỏi giá, báo giá, chào
hàng và đi đến chấp thuận giá cả của hàng hoá đó. Và sau đó đi đến ký hợp đồng nhập khẩu
hàng hoá. Ngày nay giao dịch này ngày càng phát triển vì hình thức giao dịch này tạo điều
kiện cho cả hai bên có thể thoả thuận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất và ít xẩy ra những
hiểu lầm đáng tiếc, giảm được chi phí trung gian, có điều kiện thu thập thông tin thị trường.
Song giao dịch trực tiếp cũng có nhược điểm đó là: Đối với những thị trường mới thường có
nhiều bỡ ngỡ, dễ gặp phải sai lầm, bị chèn ép trong mua bán.
* Giao dịch trung gian:
Giao dịch trung gian trong kinh doanh thương mại quốc tế là giao dịch mà người mua
(hoặc người bán) quy định về điều kiện trong giao dịch mua bán về hàng hoá, giá cả, điều
kiện giao dịch, phương thức thanh toán . . . phải qua một người thứ ba là người trung gian
buôn bán.
Trung gian buôn bán chủ yếu là các cửa hàng đại lý, các môi giới hay tổ chức môi
giới.
Việc sử dụng đại lý và môi giới có nhiều ưu điểm đó là:
Những người trung gian hiểu rõ về tình hình thị trường, pháp luật, tập quán địa
phương, giảm được chi phí vận chuyển, hình thành được đại lý buôn bán tiêu thụ rộng, tạo
điều kiện cho việc chiếm lĩnh thị trường mới và những người trung gian này thường có một
số vốn nhất định. Tuy nhiên giao dịch trung gian có những nhược điểm là mất liên hệ trực
tiếp với khách hàng, thị trường buôn bán, lợi nhuận bị chia sẻ.
* Giao dịch tại hội chợ triển lãm:
Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ tổ chức vào một thời gian và địa điểm cố
định trong một thời gian nhất định. Tại đó người bán trung gian bày hàng hoá của mình và
tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua bán.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
12
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Triển lãm không phải là thị trường, là nơi trưng bày hàng hoá để giới thiệu thành tựu
của nền kinh tế, của doanh nghiệp hay của một nơi nào đó.
* Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá:
Sở giao dịch hàng hoá là thị trường đặc biệt, tại đó thông qua người môi giới do sở
giao dịch chỉ định người mua và người bán mua bán hàng hóa có khối lượng lớn có phẩm
chất đồng loại và có thể thay thế nhau.
Các loại giao dịch ở sở giao dịch:
- Giao dịch ngay
- Giao dịch kỳ hạn
- Nghiệp vụ tự bảo hiểm
* Buôn bán đối lưu:
Khái niệm: Là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập
khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi có giá trị tương
đương. Mục đích của xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ không phải là thu về ngoại tệ mà
nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương.
Các loại hình buôn bán đối lưu: Nghiệp vụ hàng đổi hàng, nghiệp vụ bù trừ, nghiệp vụ
buôn bán đối lưư là một bên bán thiết bị cho khách hàng của mình để đổi lại mua sản phẩm
sản xuất ra, nghiệp vụ giao chuyển nghĩa vụ, giao dịch bồi hoàn , nghiệp vụ mua lại.
* Đấu giá quốc tế:
Khái niệm: Là phương thức bán hàng đặc biệt, tại đó người bán trưng bày hàng hoá và
người mua sau khi xem xét hàng hoá và tự do trả giá, hàng hoá sẽ bán cho người nào trả giá
cao nhất.
Các bước tiến hành: Chuẩn bị đấu giá - Trưng bay hàng hoá để người mua có thể xem
xét và lựa chọn hàng - tiến hành đấu giá - ký hợp đồng và giao hàng.
 Đấu thầu quốc tế:
Khái niệm: Đấu thầu quốc tế trong thương mại quốc tế là một phương thức giao dịch
đặc biệt, trong đó người mua (tức là gọi thầu) công bố trước điều kiện mua hàng để người
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
13
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
bán (tức là dự thầu) báo giá của mình muốn bán. Sau đó người mua sẽ chọn mua của người
nào đó với giá thấp nhất và điều kiện mua bán phù hợp nhất.
Các bước tiến hành: Chuẩn bị đấu thầu- Thu nhận báo giá- Mở thầu và lựa chọn người
cung cấp- Ký kết hợp đồng.
2.2. Đàm phán:
Sau khi nhận được thư chào hàng hay đặt hàng và có sự trả lời của phía bên kia, hai
bên tổ chức đàm phán, thương lượng để đi đến một thoả thuận chung về điều kiện mua bán
và tiến hàn ký kết hợp đồng.
*Đàm phán: là bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các nhà kinh
doanh để đi đến thống nhất ký kết hợp đồng. Trong thương mại quốc tế có 3 hình thức đàm
phán sau:
- Đàm phán qua thư tín
- Đàm phán qua điện thoại
- Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp
Mỗi hình thức đàm phán đều có những ưu nhược điểm nhất định, tuỳ từng trường hợp
cụ thể mà lựa chọn hình thức đàm phán cho phù hợp. Chẳng hạn, trong trường hợp nhập
khẩu máy móc thiết bị vật tư đòi hỏi phải có kinh nghiệm về kỹ thuật thì neen áp dụng các
hình thức khác tuỳ theo từng trường hợp cụ thể.
*Các bước đàm phán trong nhập khẩu bao gồm: Hỏi giá- Chào hàng (phát giá)- Hoàn
giá (mặc cả)- Chấp nhận- Xác nhận
2.3. Ký kết hợp đồng nhập khẩu:
Hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận giữa những đương sự có quốc tịch
khác nhau trong đó một bên là bên bán (bên xuất khẩu) có nghĩa vụ phải chuyển quyền sở
hữu cho bên kia (bên nhập khâủ) một tài sản nhất định gọi là hàng hoá. Bên mua có trách
nhiệm trả tiền và nhập hàng. Hình thức hợp đồng bằng văn bả là một hình thức bắt buộc đối
với các đơn vị xuất nhập khẩu ở nước ta. Các điều khoản trong hợp đồng do bên mua và bên
bán thoả thuận chi tiết, mặc du trước đó đã có đơn đặt hàng và chào hàng, nhưng vẫn phải
thiết lập văn bản hợp đồng làm cơ sở pháp lý cụ thể cho các hoạt động trao đổi hàng hoá từ
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
14
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
quốc gia này sang quốc gia khác, và làm căn cứ cho việc xác định lỗi khi có tranh chấp xẩy
ra.
Hợp đồng kinh tế ngoại thương có vai trò rất quan trọng vì:
+ Là bằng chứng bảo vệ quyền lợi các bên tham gia ký kết
+ Là bằng chứng để quy trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng.
+ Tạo thuận lợi cho thống kê, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện hợp đồng cũng như
sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền.
- Đặc điểm của hợp đồng kinh tế ngoại thương
+ Chủ thể của hợp đồng mua bán ngoại thương là các pháp nhân có quốc tịch khác
nhau.
+ Hàng hoá được chuyển từ nước này sang nước khác.
+ Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ hay có nguồn gốc ngoại tệ đối với
một trong hai bên ký kết hợp đồng.
Các phương thức ký kết hợp đồng:
+ Hai bên cùng ké kết vào hợp đồng mua bán (một văn bản)
+ Người mua xác nhận (bằng văn bản) là người mua đã đồng ý với các điều kiện và
điều khoản củamột thư chào hàng tự do.
+ Người bán xác nhận (bằng văn bản) đơn đặt hàng của người mua trong thời hạn
hiệu lực của đơn đặt hàng.
+ Trao đổi bằng thư xác nhận đạt được những điều thoả thuận trong đơn đặt hàng
trước đây của hai bên (nêu rõ những điều đã được thoả thuận)
Hợp đồng chỉ có thể coi như đã ký kết khi các bên đã ký vào hợp đồng. Các bên tham
gia ký kết hợp đồng phải có đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật và có đủ thẩm quyền.
3. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu:
Việc tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm những bước sau:
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
15
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
* Xin giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số
doanh nghiệp xuất khẩu:
Trước khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy chứng nhận
đăng kỹ kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệm xuất nhập khẩu thay vì
xin giấy phép nhập khẩu như trước đây.
 Mở L/C (thư tín dụng):
Nếu sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ thì phải làm thủ tục mở L/C
khi bên bán yêu cầu. L/C là một văn bản pháp lý trong đó Ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền
cho người xuất khẩu nếu họ trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của
L/C. Các đặc điểm của L/C rất quan trọng, vì vậy khi mở L/C cần phải làm và kiểm tra kỹ
lưỡng.
* Thuê tàu chở hoặc uỷ thác thuê tàu:
Trong trường hợp nhập khẩu với giá FOB chúng ta phải tiến hành thuê tàu với những
căn cứ sau:
- Những điều khoản của hợp đồng
- Đặc điểm của hàng hoá mua bán
- Điều kiện vận tải
Tuỳ thuộc vào khối lượng hàng hoá cần chuyên chở mà lựa chọn thuê tàu cho phù hợp
đảm bảo thuận lợi và nhanh chóng. Nếu đối với hàng hoá có khối lượng nhỏ thường thuê tàu
chợ, hàng có khối lượng lớn phức tạp thường thuê tàu chuyến.
Hiện nay do điều kiện tàu Việt Nam còn hạn chế và do điều kiện khác, chúng ta
thường nhập khẩu theo điều kiện giá CIF
* Mua bảo hiểm:
Để đề phòng rủi ro và tổn thất cần mua bảo hiểm, trong kinh doanh thương mại quốc
tế bảo hiểm đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất. Các đơn vị kinh doanh khi mua bảo
hiểm phải làm một hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm. Tuỳ vào đặc điểm, tính chất
của hàng hoá, điều kiện vận chuyển mà mua bán bảo hiểm chuyến hay mua bảo hiểm bao.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
16
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
* Làm thủ tục hải quan:
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hay nhập khẩu đều phải
làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là một công cụ quản lý hành vi mua bán theo pháp
luật của Nhà nước để ngăn chặn buôn lậu.
Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bước: Khai báo hải quan, xuất trình hàng hoá, thực
hiện các quy định của Hải quan.
* Nhận hàng nhập khẩu:
Theo nghị định 200/CP ngày 31/12/1993 của Nhà nước thì mọi việc giao nhận hàng
đều phải uỷ thác qua cảng khi hàng về cảng chủ hàng biết và chủ hàng đến làm thủ tục nhận
hàng.
* Kiểm tra hàng hoá:
Sau khi nhận hàng, bên nhập khẩu làm thủ tục kiểm tra quy cách phẩm chất hàng
nhập. Thông thường hai bên lựa chọn một cơ quan giám định chẳng hạn như
VINACONTROL
* Thanh toán tiền hàng nhập khẩu:
Nghiệp vụ thanh toán là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toán quốc tế, là
nghiệp vụ quan trọng và cuối cùng trong việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Trong kinh
doanh thương mại quốc tế hiện nay có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như:
Phương thức nhờ thu; phương thức chuyển tiền; phương thức tín dụng chứng từ . . . nhưng
trong thực tế hiện nay phương thức tín dụng chứng từ và phương thức chuyển tiền được sử
dụng phổ biến nhất.
III. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA
DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU:
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu là hết sức quan trọng. Vì
nhờ nó mà biết được những nguyên nhân ảnh hưởng tới sự tăng giảm của hiệu quả nhập
khẩu. Từ đó tìm ra những biện pháp phát huy những mặt mạnh, khắc phục những thiếu sót để
hoàn thiện hiệu quả hoạt động nhập khẩu.
Dưới đây là một số nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tới hoạt động nhập khẩu:
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
17
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
1. Nhân tố vĩ mô:
1.1. Quan hệ chính trị và kinh tế giữa nước ta với nước khác:
Hoạt động nhập khẩu vận động trong một khung cảnh rộng lớn là nền kinh tế thế giới,
thị trường quốc tế, đối tượng hợp tác rất đa dạng. ở bình diện quốc gia sự phát triển hoạt
động nhập khẩu đòi hỏi phải mở rộng đối tượng hợp tác đa phương các mối quan hệ kinh tế
đối ngoại, thiết lập mối quan hệ kinh tế thương mại với Nhà nước, không phân biệt chế độ
chính trị. Việc mở rộng các mối quan hệ chính trị ngoại giao sẽ tạo điều kiện thuận lợi và tiền
đề pháp lý cho các tổ chức kinh doanh phát triển bán hàng mới. Trên cơ sở đó ảnh hưởng đến
hoạt động nhập khẩu của các công ty xuất nhập khẩu
1.2. Chế độ chính sách pháp luật của nước ta và nước xuất khẩu:
Đó là chính sách luật pháp về thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu, quản lý ngoại hối . . .
Về thuế quan:
Thực chất của biện pháp thuế quan là dùng tỷ lệ thuế quan để điều tiết hoạt động nhập
khẩu. Đối với những hàng hoá muốn hạn chế nhập khẩu thì đánh thuế cao, với hàng hoá
khuyến khích nhập thì có thể không hoặc đánh thuế thấp với những mức thuế ưu đãi. Từ đó
khuyến khích hoặc hạn chế nhập khẩu.
Tuy nhiên chính sách thuế của Nhà nước thay đổi quá nhiều lần trong một thời gian
ngắn khiến cho hoạt động nhập khẩu gặp không ít khó khăn. Ví dụ, lúc ký hợp đồng ta áp
dụng một biểu thuế nhưng một thời gian sau Nhà nước thay đổi chính sách thuế nên khi thực
hiện hợp đồng ta gặp phải không ít những vướng mắc và khiến cho bạn hàng nước ngoài
không có cảm giác khi tham gia hoạt động nhập khẩu với chúng ta. Đặc biệt hiện nay chúng
ta áp dụng luật thuế giá trị gia tăng, đây cũng là một chính sách thuế mà các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu rất băn khoăn và lo ngại vì đối với các doanh nghiệp chủ yếu tham gia vào
lĩnh vực nhập khẩu thì áp dụng biểu thuế này không mấy gì làm thuận lợi cho họ.
Hạn ngạch nhập khẩu:
áp dụng để quản lý hoạt động nhập khẩu. Hạn ngạch nhập khẩu được hiểu là quy định
của Nhà nước về số lượng, giá trị của mặt hàng hoặc nhóm hàng được nhập khẩu từ một thị
trường nhất định trong một thời gian nhất định.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
18
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Nếu đơn vị kinh doanh những mặt hàng nằm trong chế độ quản lý hạn ngạch thì hạn
ngạch được cấp nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến quy mô kinh doanh của doanh nghiệp .
Ngoài ra còn có những biện pháp điều tiết nhập khẩu khác như: Biện pháp ký quỹ, hệ
thống thuế nội địa, cơ chế tỷ giá .
1.3. Ảnh hưởng của sự biện động thị trường ở trong và ngoài nước:
* Ảnh hưởng của sự biến động thị trường trong nước:
Có thể hình dung hoạt động nhập khẩu như là chiếc cầu nối thông thường giữa hai thị
trường hai nước, tạo ra sự phù hợp, gắn bó cũng như phản ánh sự tác động qua lại giữa
chúng, phản ánh sự biến động của mỗi thị trường. Cụ thể như tồn đọng hàng hoá, giá cả,
giảm nhu cầu về một mặt hàng ở trong nước, sẽ làm giảm ngay lập tức lượng hàng nhập
khẩu. Cũng như vậy, thị trường nước ngoài quyết định tới sự thoả mãn các nhu cầu trên thị
trường trong nước, sự biến động của nó về khả năng cung cấp, về sản phẩm mới, về sự đa
dạng của hàng hoá sẽ ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu trong mối quan hệ hữu cơ.
* Ảnh hưởng của sự biến động thị trường ngoài nước:
Sự phát triển của nền sản xuất trong nước, tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ tới sản phẩm
hàng hoá nhập khẩu, tạo ra sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu do vậy làm nhu cầu. Và nếu
như sản xuất kém phát triển, không thể sản xuất những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật sản xuất
cao thì nhu cầu về hàng nhập khẩu tăng lên do đó ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu.
Ngược lại sự phát triển của nền sản xuất ở nước ngoài làm tăng khả năng của sản
phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm mới hấp dẫn phù hợp nhu cầu, hiện đại do vậy có thể thúc
đẩy hoạt động nhập khẩu. Nhưng có thế để bảo vệ sản xuất trong nước khi nền sản xuất nước
ngoài phát triển thì hoạt động nhập khẩu cũng bị kiểm soát gắt gao.
I.4. Ảnh hưởng của tỷ giá hối và của hệ thống tài chính Ngân hàng
* Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa các đồng tiền của hai nước với nhau hay nói
cách khác giá cả của đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một số tiền tệ của nước
khác. Trong cơ chế giá hối đoái thả nổi như hiện nay, tỷ giá hối đoái được xác định và biến
động phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ cung cầu trên thị trường hối đoái.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
19
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Nhân tố này tác động trực tiếp tới việc xác định mặt hàng, bạn hàng phương án kinh
doanh, quan hệ kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp nói chung. Sự biến động của nhân tố
này sẽ gây ra biến đổi lớn trong tỷ trọng xuất nhập khẩu. Chẳng hạn, khi tỷ giá hối đoái của
đồng tiền thuận lợi cho đồng tiền nhập khẩu thì lại bất lợi cho xuất khẩu và ngược lại. Tỷ
xuất ngoại tệ thay đổi giữa các mặt hàng cũng sẽ làm chuyển hướng các mặt hàng cũng như
phương án kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do vậy, phải tính toán rất kỹ
nhân tố này vì thời gian nhập khẩu thiết bị thường dài.
* Ảnh hưởng của hệ thống tài chính Ngân hàng:
Với sự phát triển nhanh chóng và hiện đại của hệ thống tài chính Ngân hàng đã có liên
hệ chặt chẽ tới các hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế dù lớn hay nhỏ, nó có
vai trò quan trọng trong việc quản lý, cung cấp vốn, thanh toán một cách thuận tiện, nhanh
chóng chính xác. Hoạt động nhập khẩu hiện nay phụ thuộc rất lớn vào hệ thống Ngân hàng.
Dựa trên các mối quan hệ, uy tín, nghiệp vụ của mình các Ngân hàng đã đảm bảo được lợi
ích của các doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu. Đồng thời, với lòng tin của Ngân
hàng, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng có thể được Ngân hàng đứng ra bảo
lãnh cho vay với khối lượng lớn, kịp thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nắm bắt được
những thời cơ hấp dẫn.
I.5. Ảnh hưởng của hệ thống giao thông vận tải - liên lạc:
Hoạt động nhập khẩu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc vận chuyển thông tin
liên lạc đã tạo điều kiện rất lớn cho hoạt động nhập khẩu. Do đó việc nghiên cứu áp dụng
những phương tiện thông tin liên lạc và giao thông vận tải là một nhân tố quyết định rất lớn
đến sự phát triển của hoạt động nhập khẩu như: FAX; TELEX; TEL; INTERNET . . . đã đơn
giản hoá các khâu công việc của hoạt động nhập khẩu rất nhiều, giảm bớt hàng loạt chi phí,
nhanh gọn, kịp thời, chính xác. Việc hiện đại hoá các phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo
quản . . . cũng góp phần làm cho quá trình nhập khẩu an toàn và hiệu quả.
I.6. Yếu tố cạnh tranh:
Cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì cạnh tranh cũng đã xuất hiện trong hoạt
động xuất nhập khẩu làm giảm hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời, khi có
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
20
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
nhà nhập khẩu cùng quan tâm tới một loạt hàng hoá, giá cả của việc nhập khẩu cũng tăng lên
làm tăng chi phí và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong cùng một lĩnh vực sản
xuất kinh doanh.
2. Nhân tố vĩ mô:
2.1. Ảnh hưởng của bộ máy tổ chức:
Tổ chức bộ máy của doanh nghiệp là sự liên kết giữa các cá nhân, những bộ phận,
những quá trình hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra dựa trên các chức
năng quản trị đã quy định.
Tổ chức bộ máy của doanh nghiệp, một mặt phản ánh quy mô, tính chất hoạt động
kinh doanh. Nếu bộ máy tổ chức của doanh nghiệp không phù hợp với quy mô, tính chất và
loại hình kinh doanh của doanh nghiệp thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. Tổ
chức bộ máy cồng kềnh sẽ làm giảm bước tiến của doanh nghiệp và nếu như nghiệp vụ của
cán bộ công nhân viên lại không tốt thì doanh nghiệp không những trì trệ không phát triển
được mà còn có xu hướng suy thoái. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức của doanh
nghiệp là một điều hết sức quan trọng trong kinh doanh xuất nhập khẩu.
2.2. Cơ sở vật chất và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp:
Các công trình nhà cửa, kho tàng dùng làm nơi bán hàng, bảo quản đóng gói, gìn giữ
giá trị và sử dụng của hàng hoá, các phương tiện vận tải, trang thiết bị phục vụ cho các
nghiệp vụ kinh doanh.
Nếu Công ty có cơ sở vật chất kỹ thuật càng hiện đại bao nhiêu thì càng tạo điều kiện
cho công việc kinh doanh. Hệ thống kho tàng hiện đại giúp cho việc giữ gìn bảo quản hàng
hoá được tốt hơn. phương tiện vận tải chuyển tốt cũng tiếc kiệm chi phí trong khâu vận
chuyển . Hệ thống các cửa hàng kho bãi nếu được đầu tư đúng mức sẽ nâng cao chất lượng
dịch vụ, thu hút được khách hàng, nâng cao doanh số.
Nhân tố uy tín ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động nhập khẩu trong giai đoạn hiện
nay. Việc Công ty tạo ra được uy tín cao trong kinh doanh sẽ tăng khả năng thâm nhập thị
trường trong và ngoài nước. Có uy tín cao Công ty sẽ có nhiều thuận lợi và ưu đãi trong quan
hệ bạn hàng.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
21
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
2.3. Mặt hàng kinh doanh và khả năng tài chính của Công ty:
Dựa vào kết quả nghiên cứu thị trường nhà kinh doanh lựa chọn cho mình mặt hàng
dự định kinh doanh là mặt hàng gì, quy cách, phẩm chất, nhãn hiệu bao bì đóng gói hàng hoá
đó như thế nào là điều hết sức quan trọng. Nếu doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá mà trong
nước nhu cầu về mặt hàng đó ít thì sẽ rất bất lợi cho doanh nghiệp trong việc thực hiện hoạt
động kinh doanh hàng nhập khẩu của mình. Ngược lại nếu doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng
mà họ cần nhưng trong nước lại không có thì rất có lợi cho việc kinh doanh mặt hàng nhập
khẩu của doanh nghiệp. Vì vậy tuỳ theo vào tình hình thị trường, nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng
của khách hàng để lựa chọn mặt hàng nhập khẩu phù hợp với doanh nghiệp mình nhất đồng
thời đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng.
Vốn là một trong những vấn đề mà bất cứ một doanh nghiệp nào kinh doanh nói
chung và kinh doanh nhập khẩu nói riêng đều phải quan tâm. Nếu Công ty có số vốn ít thì sẽ
gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh nhập khẩu hàng hoá. Ngược lại nếu Công ty có nhiều
vốn sẽ rất thuận lợi trong nhập khẩu, chẳng hạn như sẽ tự chủ trong việc nhập khẩu hàng hoá
hoặc nhập khẩu hàng hoá có giá trị lớn, số lượng nhiều trong một lần nhập. Hạn chế về số
vốn tất yếu ảnh hưởng đến tính chủ động trong nền kinh doanh xuất nhập khẩu.
2.4. Nhân tố con người:
Đội ngũ cán bộ công nhân viên là một nhân tố quan trọng có tính chất quyết định đối
với sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong hoạt động
nhập khẩu nói riêng. Nếu Công ty có đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi, tinh thông nghiệp
vụ nhập khẩu thì sẽ rất thuận lợi trong quá trình nhập khẩu và ngược lại Công ty không có
cán bộ chuyên môn giỏi nghiệp vụ nhập khẩu thì sẽ làm giảm hiệu quả nhập khẩu của doanh
nghiệp.
IV. NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆP CỦA MỘT
SỐ NƯỚC:
1. Các chính sách nhập khẩu:
Nhận thức được vai trò quan trọng của nhập khẩu, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan
tâm đến đổi mới các chính sách nhập khẩu sao cho phù hợp với tình hình hiện nay. Với mục
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
22
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
tiêu đó, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với hoạt động nhập khẩu được cụ thể hoá
trong nguyên tắc cơ bản của chính sách nhập khẩu.
* Sử dụng vốn nhập khẩu tiếc kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Các hoạt động nhập khẩu phải dựa trên lợi ích và hiệu quả để quyết định. Mặt khác,
phải dựa vào những yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá về trang thiết bị
công nghệ để tiến hành nhập khẩu có hiệu quả. Tiếc kiệm và hiệu quả trong hoạt động nhập
khẩu là quan trọng. Thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa là đòi hỏi các cơ quan quản lý cũng
như doanh nghiệp phải:
- Xác định mặt hàng nhập khẩu phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội khoa
học kỹ thuật của đất nước.
- Sử dụng vốn tiếc kiệm dành ngoại tệ, vật tư thiết bị cho sản xuất và đời sống
khuyến khích sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khâủ.
- Nghiên cứu thị trường để nhập khẩu được thích hợp với giá cả có lợi, nhanh chóng
phát huy tác dụng đẩy mạnh sản xuất và nâng cao đời sống người lao động.
* Nhập khẩu thiết bị tiên tiến hiện đại:
Việc nhập khẩu máy móc và nhận chuyển giao công nghệ, kể cả các thiết bị theo con
đường đầu tư phải nắm vững phương châm đón đầu đi thẳng vào tiếp thu công nghệ hiện đại.
Nhập phải chọn lọc, hết sức tránh nhập những loại công nghệ lạc hậu mà các nước đang tìm
cách thải ra.
* Bảo vệ và thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng nhanh xuất khẩu:
Trong điều kiện sản xuất hiện nay một số mặt hàng trong nước chúng ta chưa sản xuất
được vì vậy ta phải nhập khẩu, giá hàng nhập khẩu này thường rẻ hơn nếu trong nước tiến
hành sản xuất và chất lượng thường tốt hơn. Nhưng nếu quá ỷ lại vào nhập khẩu sẽ không
mở rộng được sản xuất, thậm chí bóp chết sản xuất trong nước. Vì vậy, cần tính toán và tranh
thủ các lợi thế trong nước ta, trong từng thời kỳ để mở mang sản xuất, đáp ứng nhu cầu nội
địa, tạo ra nguồn hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường nước ngoài. Tuy nhiên cũng phải xác
nhận định đúng đắn để bảo vệ sản xuất trong nước với hoạt động nhập khẩu.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
23
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
Đây chính là nguyên tắc cơ bản của chính sách nhập khẩu của Đảng và Nhà nước ta.
Nó cũng được hiểu như là cách xử sự hay đúng hơn là nhưng quy tắc thực hiện trong hoạt
động nhập khẩu sao cho phù hợp với lợi ích của xã hội cũng như các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu.
2. Chính sách nhập khẩu của Việt nam trong những năm tới:
- Nhập khẩu chủ yếu các loại vật tư phục vụ cho sản xuất, hàng tiêu dùng thiết yếu mà
trong nước chưa sản xuất được. Hạn chế một cách tối đa nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ.
- Nhập khẩu thiết bị toàn bộ, dây chuyền sản xuất tiên tiến hiện đại. Ưu tiên nhập
khẩu máy móc thiết bị để chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu.
Trong những năm tới, với mục tiêu đẩy mạnh hơn nữa khai thác nguồn lực trong
nước, Nhà nước nhập khẩu máy móc công nghệ sử dụng nhiều lao động, giải quyết việc làm
cho người lao động.
3. Kinh nghiệm của các nước trong hoạt động nhập khẩu - kinh nghiệm rút
ra cho hoạt động nhập khẩu của Việt Nam:
Kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy trong lĩnh vực nhập khẩu những nước quanh
chúng ta như Singapore, Thái Lan . . . đã tương đối thành công. Trong những năm trước đây
các nước này tiến hành nhập khẩu để thực hiện phát triển kinh tế. Họ có chiến lược nhập
khẩu đúng đẵn, Nhà nước có biện pháp, chính sách quy định các mặt hàng khuyến khích
nhập khẩu. Đồng thời, hạn chế tối đa và cấm nhập những trang thiết bị máy móc đã cũ lạc
hậu. Nhà nước quản lý chặt chẽ các đơn vị kinh doanh nhập khẩu, chỉ cấp giấy phép cho
những doanh nghiệp có đủ năng lực về tài chính, hiểu biết tinh thông và có đủ khả năng trong
lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu. Nhà nước cũng có những chính sách ưu đãi về vốn, thuế
cho các doanh nghiệp.
Ngày nay các nước này đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế.
Đa số các nước này chuyển hướng sang xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước và tạo điều
kiện thu ngoại tệ.
Đối với kinh nghiệm ở nước ta cho thấy trong những năm gần đây chúng ta đã được
những tiến bộ khả quan về hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy chúng ta nhập ở tình trạng nhập
siêu nhưng đó là tất yếu. Từ những thành công của các nước đi trước ta đã đúc ra được
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
24
Các giải pháp nhằm hoàn thiện
Quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại Công ty Xây dựng và Thương mại
những kinh nghiệm quý báu. Do đó chúng ta đã nhập những mặt hàng cần thiết cho nhu cầu
thị trường.
Trên đây là một số lý luận chung về hoạt động nhập khẩu và hiệu quả của nó trong
nền kinh tế nước ta. Dựa trên lý luận này, sau đây chúng ta đi vào xem xét phân tích thực
trạng nhập khẩu, biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu tại Công ty Xây dựng và
Thương mại.
Phạm Thị Quỳnh Hoa - A2CN7
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×