Tải bản đầy đủ

Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 90012000 tại Tổng công ty CNTT Bạch Đằng.DOC

Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, chất lượng sản phẩm và dịch vụ đóng vai trò quan trọng quyết
định trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Dưới tác
động của tiến bộ khoa học – công nghệ, của nền kinh tế thị trường và hội
nhập với nền kinh tế thế giới, khoa học quản lý chất lượng có sự phát triển
nhanh và không ngừng. Nhận thức tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm,
trong thời gian thực tập em đã đi sâu vào nghiệp vụ quản trị chất lượng sản
phẩm trong doanh nghiệp.
Tổng công ty Vinashin Bạch Đằng với Công ty mẹ là Tổng công ty
Công nghiệp tàu thuỷ Bạch Đằng là một trong những cơ sở quan trọng bậc
nhất của Tập đoàn kinh tế VINASHIN, phục vụ sự phát triển giao thông vận
tải thuỷ của đất nước.Với mô hình sản xuất kinh doanh mới, Tổng Công ty
Công nghiệp tàu thuỷ Bạch Đằng được tổ chức và hoạt động theo hướng kinh
doanh đa nghành nghề, lấy công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ là
ngành kinh doanh chính, kết hợp với việc mở rộng, phát triển ngành công
nghiệp phụ trợ, kinh doanh vận tải biển và các nghành kinh doanh khác theo
yêu cầu của thị trường nhằm tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh
doanh với việc đổi mới, ứng dụng trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và
chuyên môn hoá cao làm cơ sở để Tổng Công ty phát triển toàn diện và bền
vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống

quản lý chất lượng của tổng công là theo Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 cụ thể
là ISO 9001:2000, hệ thống quản lý chất lượng – các yêu cầu. Bởi vậy, trong
thời gian thực tập ở công ty em đã lựa chọn đề tài: “Áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng ISO 9001:2000 tại Tổng công ty CNTT Bạch Đằng” để đi sâu vào
nghiên cứu tìm hiểuvới sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy giáo Hoàng
Trọng Thanh và các cán bộ nhân viên trong công ty.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
1
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Kết cấu của báo cáo ngoài lời mở đầu và kết luận, gồm ba phần:
Phần thứ nhất: Lý luận cơ bản về chất lượng và quản lý chất lượng.
Phần thứ hai: Thực trạng áp dụng ISO 9001:2000 tại Tổng công ty
CNTT Bạch Đằng.
Phần thứ ba: Các đánh giá và kiến nghị
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
2
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Phần thứ nhất
Lý luận cơ bản về chất lượng và quản lý chất lượng
1.1 1.1. Những vấn đề cơ bản về chất lượng
1.1.1 Khái niệm về chất lượng
Chất lượng là một phạm trù rất rộng và phức tạp phản ánh các nội dung
kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Tuỳ theo từng phạm vi và lĩnh vực nghiên cứu,
người ta đã đưa ra những khái niệm khác nhau về chất lượng. Mỗi khái niệm
xuất phát từ những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau nhưng đều góp
phần thúc đẩy khoa học quản lý chất lượng không ngừng phát triển va hoàn
thiện.
Theo giáo sư IshiKaw-Chuyên gia chất lượng Nhật Bản: “Chất lượng là
sự thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”
Theo tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO(International organization for
standardization ): “Chất lượng là tập hợp những tính chất và những đặc trưng
của sản phẩm và dịch vụ có khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu
cầu tiềm ẩn của khách hàng”
Cục đo lường chất lượng Việt Nam đã đưa ra khái niệm :
“Chất lượng là tổng hợp tất cả các tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù
hợp với nhu cầu xã hội xác định, đảm bảo các yêu cầu của người sử dụng
nhưng củng đảm bảo tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của từng
nước.”(TCVN 5814-1994).
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
3


Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
1.1.2. Các thuộc tính chất lượng sản phẩm :
- Các thuộc tính kỹ thuật của sản phẩm: thể hiện rõ tính năng, công dụng
và điều kiện sử dụng sản phẩm. Bởi vậy, đây là chỉ tiêu quan trọng được giới
thiệu rộng rãi đến người tiêu dùng để họ lựa chọn sản phẩm phù hợp với mục
đích sử dụng của mình.
- Tuổi thọ của sản phẩm: đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản
phẩm giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn quốc tế
thiết kế trong thời gian nhất định trên cơ sở đảm bảo đúng các yêu cầu mục
đích, điều kiện sử dụng và chế độ bảo dưỡng quy định .
- Tính thẩm mỹ của sản phẩm: thể hiện hoạt động chính xác và giữ được
đúng những yêu cầu về mặt kỹ thuật trong một thời gian nhất định. Đây là
một trong những yếu tố quan trọng nhất phản ánh chất lượng của sản phẩm và
đảm bảo cho doang nghiệp duy trì và phát triển thị trường của mình.
- Tính an toàn về sản phẩm, mức độ gây ôi nhiễm môi trường khi sử
dụng vận hành là hai tính chất bắt buộc, tối thiểu phải có, thường phải tuân
thủ theo tiêu chuẩn quốc gia quản lý.
- Tính kinh tế của sản phẩm như tiết kiệm năng lượng , nhiên liệu,…Đây
là thuộc tính quan trọng phản ánh chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường.
- Tính tiện lợi của sản phẩm phản ánh về những đòi hỏi về tính sẵn có,
tính dễ sử dụng, bảo quản …
- Các đặc tính chất lượng không phản ánh cụ thể như: dịch vụ sau bán,
nhãn hiệu, uy tín có tác dụng thu hút sự chú ý và kích thích ham muốn mua
hàng của khách hàng.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
4
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
1.1.3. Đặc điểm của chất lượng sản phẩm:
* Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế - kỹ thuật - xã hội tổng
hợp luôn thay đổi theo thời gian, không gian, môi trường và điều kiện kinh
doanh:
Chất lượng là khả năng đáp ứng các yêu cầu, vì vậy một sản phẩm muốn
đáp ứng được nhu cầu sử dụng thì có tiêu chuẩn về chất lượng phù hợp. Để
tạo ra tiêu chuẩn đó thì phải có những giải pháp kỹ thuật thích hợp bằng công
nghệ cao, máy móc thiết bị tiên tiến phù hợp với trình độ lao động, nguyên
vật liệu tốt.
Chất lượng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề kinh tế, sự
thoả mãn nhu cầu khách hàng không chỉ bằng những tiêu chuẩn về chức năng
sản phẩm mà còn bằng chi phí tạo ra nó. Đời sống xã hội ngày càng phát
triển, nhu cầu con luôn thay đổi họ không chỉ muốn “ Ăn no mặc ấm” mà còn
“ Ăn ngon mặc đẹp”. Như vậy, chất lượng sản phẩm là sự kết hợp ba yếu tố
kinh tế - kỹ thuật – xã hội.
*Chất lượng sản phẩm phải được đánh giá qua các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ
thể:
Không thể tạo ra một mức chất lượng cao nếu chỉ dựa trên ý tưởng, nhận
xét về mặt định tính. Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tiêu chuẩn , đặc
điểm riêng biệt nội tại của nó phụ thuộc vào trình độ thiết kế sản phẩm và
được biểu hiện bằng các chỉ tiêu cơ, lý, hoá nhất định có thể đo lường và đánh
giá được nhờ đó ta có thể so sánh được chất lượng các sản phẩm.
*Chất lượng sản phẩm có tính tương đối :
Tính tương đối của chất lượng sản phẩm thể hiện ở cả hai mặt không
gian và thời gian. Một loại sản phẩm có thể được đánh giá cao ở thị trường
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
5
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
này nhưng không được đánh giá cao ở thị trường khác. Nhu cầu khách hàng
luôn thay đổi và ngày một cao hơn, đòi hỏi chất luợng sản phẩm phải luôn
được đổi mới, linh hoạt. Doanh nghiệp muốn thành công phải đón trước được
nhu cầu của khách hàng.
*Chất lượng sản phẩm cần được đánh giá trên cả hai mặt khách quan và
chủ quan :
Tính chủ quan của chất lượng thể hiện thông qua chất lượng trong sự
phù hợp hay còn gọi là chất lượng thiết kế. Đó là sự phù hợp giữa thiết kế với
nhu cầu khách hàng. Nâng cao loại chất lượng loại này có ảnh hưởng trực
tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Tính khách quan của chất lượng thể hiện thông qua các thuộc tính vốn có
trong từng sản phẩm. Nhờ tính khách quan này chất lượng có thể đo lường,
đánh giá qua các tiêu chuẩn, chỉ tiêu cụ thể. Nâng cao chất lượng loại này
giúp các doanh nghiệp giảm chi phí chất lượng.
Như vậy, chất lượng sản phẩm có tính tương đối và luôn vận động liên
tục, luôn thay đổi theo không gian, thời gian cũng như nhu cầu của khách
hàng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn quan tâm tới việc quản lý chất
luưọng để cải tiến không ngừng vì sự phát triển của doanh nghiệp.
1.2 1.2. Quản lý chất lượng
1.2.1. Khái niệm về quản lý chất lượng:
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của
hàng loạt yếu tố liên quan với nhau. Muốn đặt được chất lượng mong muốn
cần quản lý đứng đắn các yếu tố này. Quản lý chất lượng là một khía cạnh của
chức năng quản lý đẻ xác định và thực hiên chính sách chất lượng. Hoạt động
quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
6
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Hiện nay, khái niệm về quản lý chất lượng được rất nhiều đối tượng
quan tâm, và được nhiều tổ chức nghiên cứu. Mỗi tổ chức đều đưa ra một
khái niệm dựa trên mục đích nghiên cứu khác nhau, mỗi khái niệm đều đóng
góp một phần vào sự phát triển của khoa học quản lý chất lượng. Khái niệm
sau của tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 được coi là đầy đủ và phù
hợp với mục đích nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hơn cả :
Quản lý chất lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm
mục đích đề ra chính sách mục tiêu , trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các
biện pháp như hoạch định chất lượng , kiểm soát chất lượng , đảm bảo chất
lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng.
1.2.2. Vai trò của quản lý chất lượng :
Quản lý chất lượng không chỉ là bộ phận hữu cơ của quản lý kinh tế mà
quan trọng hơn nó là bộ phận hợp thành của quản trị kinh doanh. Khi nền
kinh tế và sản xuất – kinh doanh phát triển thì quản trị chất lượng càng đóng
vai trò quan trọng và trở thành nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu của doanh
nghiệp và xã hội.
Quản lý chất lượng sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng trong doanh
nghiệp, nó quyết định chất lượng sản phẩm tung ra trên thị trường như thế
nào, cao hay thấp, … Qua đó quyết định sự tồn vong và thịnh suy của sản
phẩm trên thị trường. Đối với mọi doanh nghiệp, quản lý chất lượng sản phẩm
nhằm duy trì, đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó tăng lợi nhuận. Kono Suke
Matuhita – chủ tịch tập đòan điện tử Nhật Bản : “ Nếu cho rằng mọi hàng hóa
có linh hồn thì chất lượng chính là linh hồn của nó ” ( Bản lĩnh trong kinh
doanh – NXB Quốc Gia 1994 ) .
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
7
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Với nền kinh tế quốc dân, đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ
tiết kiệm được lao động xã hội do sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, sức
lao động, công cụ lao động, … Như vậy , nâng cao chất lượng sản phẩm là tư
liệu sản xuất có ý nghĩa quan trọng tới tăng năng suất xã hội, thực hiện tiến bộ
khoa học – công nghệ, tiết kiệm.
Với người tiêu dùng, đảm bảo và nâng cao chất lượng sẽ thỏa mãn được
các yêu cầu của người tiêu dùng, sẽ tiết kiệm cho người tiêu dùng và góp
phần cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống. Từ đó tạo lòng tin và sự ủng hộ
của người tiêu dùng với người sản xuất, góp phần phát triển sản xuất – kinh
doanh.
Như vậy, chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Tầm quan trọng của quản lý chất lượng ngày càng được nâng lên, do đó phải
không ngừng nâng cao trình độ quản lý chất lượng và đổi mới không ngừng
công tác quản lý chất lượng.
1.2.3. Chức năng của quản lý chất lượng :
• Chức năng hoạch định :
Hoạch định là chức năng quan trọng nhất và là khâu mở đầu của quản lý
chất lượng. Hoạch định chính xác là cơ sở giúp cho doanh nghiệp định hướng
tốt các hoạt động tiếp theo. Đây là cơ sở làm giảm đi các hoạt động điều
chỉnh.
Hoạch định chất lượng làm cho họat động của doanh nghiệp có hiệu quả
hơn nhờ việc khai thác các nguồn lực một cách có hiệu quả, giúp cho doanh
nghiệp chủ động hơn trong việc đưa ra các biện pháp cải tiến chất lượng.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
8
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Hoạch định chất lượng xác định một cách rõ ràng và chính xác các mục
tiêu của doanh nghiệp nói chung và chất lượng nói riêng để phục vụ chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp.
• Chức năng tổ chức thực hiện :
Tổ chức thực hiện là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động tác
nghiệp bằng các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp cụ thể nhằm đảm bảo
đúng chất lượng theo yêu cầu đặt ra.
Tổ chức thực hiện giúp cho từng người, từng bộ phận nhận thức được
mục tiêu của mình một cách rõ ràng và đầy đủ; phân giao nhiệm vụ cho từng
người, từng bộ phận một cách cụ thể và khoa học, tạo sự thoải mái trong quá
trình làm việc; giải thích cho mọi người biết chính xác nhiệm vụ cụ thể cần
phải được thực hiện; tổ chức các chương trình đào tạo và cung cấp những
kiến thức, kinh nghiệm cần thiết để đảm bảo mỗi người đạt được kế hoạch đề
ra.
Ngoài ra, tổ chức thực hiện còn cung cấp các nguồn lực về tài chính,
phương tiện kỹ thuật để thực hiện mục tiêu đã đề ra.
• Chức năng kiểm tra, kiểm soát:
- Theo dõi, thu nhập, đánh giá thông tin và tình hình thực hiện các mục
tiêu chiến lược của doanh nghiệp theo kế hoạch đã đề ra.
- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ và tìm ra những nguyên nhân
dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ đó, từ đó đưa ra các biện pháp điều
chỉnh, cải tiến kịp thời.
- So sánh các hoạt động thực tế với kế hoạch đã đề ra để có sự điều chỉnh
hợp lý, phù hợp.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
9
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
- Tìm kiếm nguyên nhân gây ra sự bất ổn khi thực hiện các hoạt động
bằng việc kiểm tra 2 vấn đề chính :
+ Mức độ tuân thủ các quy trình, quy phạm kỹ thuật, kỷ luật lao động
xem có đảm bảo có đầy đủ không và có được duy trì hay không.
+ Kiểm tra tính chính xác cũng như tính khả thi của kế hoạch đã đề ra.
Có thể tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra bất thường.
• Chức năng điều chỉnh và cải tiến:
Điều chỉnh và cải tiến nhằm làm cho các hoạt động của hệ thống trong
doanh nghiệp có khả năng thực hiện được những tiêu chuẩn chất lượng đã đề
ra. Đồng thời cũng là hoạt động nâng chất lượng lên một mức cao hơn, đáp
ứng với tình hình mới. Điều đó cũng có nghĩa là làm giảm khoảng cách giữa
mong muốn của khách hàng và thực tế chất lượng đã đạt được, thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng ở mức độ cao hơn.
Đối với những chỉ tiêu không đạt yêu cầu, phải phân tích nguyên nhân
nhằm xác định xem vấn đề thuộc về khách hàng hay việc thực hiện của doanh
nghiệp, từ đó tìm ra cái sai để tiến hành hoạt động điều chỉnh hợp lý, có thể
cải tiến hoặc đổi mới.
1.2.4. Nội dung quản lý chất lượng trong doanh nghiệp :
• Quản lý chất lượng trong thiết kế sản phẩm :
Đây là hoạt động hết sức quan trọng và ngày nay được coi là nhiệm vụ
hàng đầu của doanh nghiệp vì mức độ thỏa mãn khách hàng phụ thuộc lớn
vào chất lượng của các thiết kế, mặt khác việc thiết kế ra những sản phẩm
hàng hóa dịch vụ không chỉ nhằm đáp ứng được các đòi hỏi của khách hàng
trong nước mà còn ở thị trường quốc tế khó tính.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
10
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Trong giai đọan này phải tổ chức được một nhóm thực hiện công tác
thiết kế phối hợp linh hoạt với những bộ phận liên quan. Đây là giai đọan
sáng tạo ra những sản phẩm mới với đầy đủ những chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật,
do đó cần đưa ra nhiều phương án sau đó lựa chọn phương án tốt nhất mà
phản ánh được nhiều đặc điểm quan trọng của sản phẩm như : thỏa mãn nhu
cầu thị trường, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp, có tính cạnh tranh,
chi phí sản xuất, tiêu dùng hợp lý … Từ đó, đánh giá các phương án và lựa
chọn phương án tối ưu. Đó chính là việc so sánh lợi ích thu được từ mỗi đặc
điểm của sản phẩm với chi phí bỏ ra.
Những chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá trong quá trình thiết kế là trình độ
chất lượng : chỉ tiêu về thẩm định bản vẽ thiết kế, chất lượng công việc chế
tạo thử sản phẩm, chỉ tiêu hệ số khuyết tật và chất lượng của các biện pháp
điều chỉnh cũng như hệ số chất lượng của thiết bị để chuẩn bị cho việc sản
xuất hàng loạt, …
• Quản lý chất lượng trong giai đọan cung ứng:
Mục tiêu cơ bản trong phân hệ này là cần đáp ứng đẩy đủ năm yêu cầu
cơ bản sau :
+ Sự chính xác về mặt thời gian.
+ Sự chính xác về địa điểm.
+ Sự chính xác với số lượng.
+ Đảm bảo về số lượng.
+ Đúng chủng loại yêu cầu.
Vì vậy mà quản lý chất lượng trong giai đọan này cần :
+ Lựa chọn nhà cung ứng phù hợp để đảm bảo tính ổn định cao của đầu
vào trong quá trình sản xuất. Đây chính là việc lựa chọn một số ít trong các
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
11
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
nhà cung ứng để xây dựng mối quan hệ ổn định, tin tưởng, lâu dài và thường
xuyên.
+ Đánh giá chính xác và đầy đủ các nhà cung ứng đồng thời cùng với họ
thiết lập các hệ thống thông tin về chất lượng. Một trong những yêu cầu đặt ra
là giữa nhà cung ứng, doanh nghiệp và nhà tiêu dùng phải luôn có sự trao đổi
thông tin, tài liệu của hệ thống đảm bảo chất lượng để có thể kiểm soát đánh
giá lẫn nhau.
+ Thỏa thuận về việc đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của nguyên vật
liệu cung ứng cũng như các phương pháp kiểm tra thẩm định và xác minh.
+ Xác định rõ ràng, đầy đủ, thống nhất những điều khoản trong việc giải
quyết những trục trặc và khiếm khuyết khi cung ứng cũng như phương án
giao nhận sao cho nhanh chóng và hiệu quả.
+ Trong phân hệ cung ứng thì số lần cung ứng nguyên vật liệu không
đúng thời hạn, tỉ lệ nguyên vật liệu không đúng tiêu chuẩn và tổng chi phí cho
việc kiểm tra quá trình cung ứng là các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của
nhà cung ứng. Vì vậy để đảm bảo tính thống nhất thì chúng ta phải đảm bảo
quản lý phân hệ này một cách thường xuyên.
• Quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất :
Mục đích của giai đọan nàylà huy động và khai thác có hiệu quả quy
trình công nghệ, thiết bị và con người đã lựa chọn để sản xuất sản phẩm có
chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn của khách hàng và quốc tế đã đặt ra. Điều
đó có nghĩa là chất lượng sản phẩm phải hoàn toàn phù hợp với các thiết kế.
Để đạt được mục đích đó chúng ta phải tập trung vào các nhiệm vụ sau :
+ Phân công công việc rõ ràng : là việc thông báo đến các thành viên về
mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp tiến hành cũng như là đưa ra những
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
12
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
chuẩn mực về thao tác, những phương pháp phải làm như kiểm tra nguyên vật
liệu đầu vào, kiểm tra máy móc thiết bị trước khi đưa vào sản xuất, kiểm tra
các chi tiết bộ phận trong từng giai đọan, kiểm tra tình hình kỷ luật lao động,
kiểm tra các phương tiện đo lường chất lượng,…
+ Các chỉ tiêu chất lượng trong các giai đọan sản xuất đó là những thông
số về tiêu chuẩn kỹ thuật của các chi tiết, bộ phận của máy móc thiết bị phải
luôn luôn được cập nhật, đổi mới và kiểm soát thường xuyên. Các chỉ tiêu
đánh giá các tổn thất lãng phí do các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn cũng như
các chỉ tiêu đánh giá tình hình thực hiện các quy trình quy phạm phải luôn
luôn được ghi chép một cách chi tiết và đầy đủ để có thể kiểm soát được sự
thay đổi, biến động của giá thành trong quá trình sản xuất.
• Quản lý chất lượng trong phân phối và tiêu dùng :
Mục đích của giai đọan này là cung cấp các sản phẩm một cách nhanh
nhất, kịp thời đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng với chi phí hợp lý. Bên
cạnh đó phải tìm cách tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng có thể
khai thác sử dụng tối đa những tính năng của sản phẩm.
Những nhiệm vụ chủ yếu :
+ Xác định các hình thức và phương thức quảng cáo phù hợp làm cho
khách hàng có ấn tượng tốt về sản phẩm, tránh tình trạng quảng cáo phóng đại
thiếu tính tế nhị và lịch sự.
+ Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm trong quá
trình vận chuyển bảo quản. Trên cơ sở đó thiết kế lựa chọn phương tiện vận
chuyển, bốc dỡ và bảo quản hợp lý.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
13
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
+ Tổ chức hướng dẫn cho người sử dụng, thuyết minh đầu đủ các đặc
tính chất lượng, các điều kiện và quy trình sử dụng, giúp cho khách hàng
không bị bỡ ngỡ khi sử dụng.
+ Tổ chức mạng lứơi bảo hành, điều kiện bảo hành và coi vấn đề tổ chức
mạng lưới bảo hành như một chính sách chất lượng, nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó có thể tổ chức các dịch vụ kỹ thuật
ngay khi đưa sản phẩm vào thị trường vì ngay khi đưa vào thì những đặc điểm
kỹ thuật như hao mòn vô hình, lợi ích đem lại cho người sản xuất, người tiêu
dùng và tuổi thọ của sản phẩm có ảnh hưởng đến chất lượng. Từ đó sẽ nâng
cao uy tín, danh tiếng cho người sản xuất.
+ Đề xuất các phương án bao gói, bảo quản, vận chuyển, bốc dỡ,…
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng trong doanh
nghiệp :
A – Các nhân tố vĩ mô :
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời một phần câu
hỏi : “ Doanh nghiệp phải đối phó những cái gì ? ”
• Nhân tố thể chế chính trị
Sự ổn định chính trị, việc công bố các chủ trương, chính sách về luật, các
pháp lệnh và nghị định cũng như quy định pháp quy có ảnh hưởng đến doanh
nghiệp, tác động đến cách thức hoạt động của doanh nghiệp. Pháp lệnh về
hàng hóa đã, đang ban hành cũng như chính sách chất lượng Quốc gia sẽ là
định hướng quan trọng để các doanh nghiệp đổi mới công quản lý chất lượng,
đề xuất ra chính sách chất lượng, chiến lược phát triển chất lượng và xây
dựng hệ chất lượng cho doanh nghiệp mình.
• Nhân tố kinh tế :
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
14
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Các nhân tố này có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp. Chúng
rất rộng lớn, đa dạng và phức tạp. Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế bao gồm
các nhân tố lãi suất ngân hàng, thực trạng của giai đọan mà hãng đang hoạt
động trong chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ
… Vì các nhân tố này rất rộng nên từng doanh nghiệp phải xuất phát từ đặc
điểm của doanh nghiệp mình để chọn lọc các nhân tố có liên quan và phân
tích tác động cụ thể của chúng từ đó xác định những nhân tố có thể ảnh hưởng
đến hoạt động điều khiển kinh doanh cũng như tới hoạt động quản lý chất
lượng của doanh nghiệp. Mỗi nhân tố kinh tế có thể là cơ hội thuận lợi hoặc là
thách thức, đe dọa đối với doanh nghiệp.
• Nhân tố xã hội:
Các nhân tố thương thay đổi chậm nên thường khó nhận ra, nhưng chúng
cũng là những nhân tố tạo cơ hội hay gây ra nguy cơ cho doanh nghiệp :
phong tục, tập quán … Bởi vậy, đòi hỏi người quản lý chất lượng phải có sự
tìm hiểu kĩ càng, sâu sắc.
• Nhân tố khoa học - kỹ thuật :
Cùng với đà phát triển của cuộc cách mạng khoa học – ký thuật cũng
như cuộc cách mạng công nghệ mới, những thành tựu mới của KHKT tạo ra
khả năng không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, mang lại sức cạnh
tranh lớn cho doanh nghiệp.
Khoa học quản lý phát triển hình thành những phương pháp quản lý tiên
tiến, hiện đại góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn nhu cầu khách
hàng và giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng mức
thỏa mãn khách hàng.
• Nhân tố tự nhiên :
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
15
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Các điều kiện về vị trí địa lý, khí hậu thời tiết có ảnh hưởng rõ rệt đến
các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên,
năng lượng, về môi trường đòi hỏi doanh nghiệp phải có biện pháp xử lý thích
đáng để đảm bảo sự hài hòa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của người
tiêu dùng, lợi ích xã hội.
B – Các nhân tố thực hiện :
• Đối thủ cạnh tranh :
Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh là cực kỳ quan trọng đối với doanh
nghiệp. Nó đòi hỏi cần phải phân tích từng đối thủ cạnh tranh để nắm và hiểu
được khả năng và ý đồ của họ cũng như các biện pháp phản ứng hành động
mà họ có thế thực hiện để giành lợi thế.
Doanh nghiệp cần phải biết các đối thủ của mình hiện đang làm gì và có
thể làm gì, mục tiêu và chiến lược hiện tại của họ như thế nào, tình hình tài
chính va kinh doanh cùng cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ của họ, những
mặt mạnh, yếu của đối thủ, phương thức quản lý chất lượng của họ, họ đã có
chính sách chất lượng và hệ thống chất lượng chưa? Những tiềm năng của
họ? Dự kiến phát triển của họ?...
Bên cạnh những đối thủ hiện có, cũng cần phát hiện và tìm hiểu những
đối thủ tiềm ẩn mới mà sự tham gia của họ trong tương lai có thể mang lại
nguy cơ mới khiến doanh nghiệp phải thay đổi mục tiêu, chính sách của mình
để đối phó với tình hình mới, do đó phải thường xuyên nghiên cứu cải tiến,
thiết kế, đổi mới công nghệ để không ngừng hoàn thiện sản phẩm của mình.
• Người cung cấp :
Người cung cấp là một phần quan trọng trong hoạt động của doanh
nghiệp có tác động lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
16
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
nguồn cung cấp nguyên – nhiên liệu, chi tiết, phụ tùng, máy móc, thiết bị
công nghệ, cung cấp vốn lao động cho doanh nghiệp. Họ là chỗ dựa vững
chắc cho doanh nghiệp về nhân lực, vật lực, tài lực. Họ có thể gây ra áp lực
cho doanh nghiệp bằng cách tăng giá, giảm chất lượng hoặc cung cấp không
đủ số lượng, không đúng thời hạn mong muốn,… doanh nghiệp cần có đủ
thông tin về những người cung cấp, lựa chọn bạn hàng tin cậy và tạo nên mối
quan hệ hợp tác lâu dài với họ.
• Khách hàng :
Khách hàng chính là nhân tố quyết định sự sống còn của doanh
nghiệp.Doanh nghiệp sẽ không tồn tại nổi không có khách hàng, sự tín nhiệm
của khách hàng là tài sản giá trị của doanh nghiệp.
Khách hàng thường mong muốn chất lượng cao, giá cả vừa phải, bảo
hành và dịch vụ tốt … Doanh nghiệpcần phải nghiên cứu, tìm hiểu mong
muốn của họ để tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, thỏa mãn nhu cầu thị
trường.
C – Các nhân tố nội tại của doanh nghiệp :
Việc phân tích nội bộ đòi hỏi phải thu thập, xử lý những thông tin về
tiếp thị, nghiên cứu – triển khai, sản xuất, nguồn nhân lực, tài chính, kế toán,
nề nếp tổ chức … Qua đó hiểu được thấu đáo công việc của mọi bộ phận và
tìm ra ưu, nhược điểm của doanh nghiệp từ đó đưa ra được những biện pháp
phát huy mọi tiềm năng trong doanh nghiệp.
Quá trình phân tích nội bộ của doanh nghiệp cùng với việc phân tích môi
trường bên ngoài tác động tới doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp xác định rõ
những cơ hội thuận lợi và thách thức nguy hiểm đối với mình, từ đó có cơ sở
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
17
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
để khẳng định mục tiêu, chiến lược, chính sách của doanh nghiệp, đề ra biện
pháp quản lý chất lượng thích hợp nhằm đảm bảo và nâng cao chât lượng sản
phẩm của mình, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện cho sự phát
triển bền vững.
Để làm được điều này, ngoài những thông tin chung về doanh nghiệp,
cần đi sâu phân tích những nhân tố sau đây có liên quan đến quản lý chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
+ Trình độ chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, có sự so sánh với sản
phẩm của các đối thủ cạnh tranh, tiêu chuẩn quốc gia, khu vực, quốc tế …
+ Nguồn vốn của doanh nghiệp, khả năng huy động vốn, giá thành, lợi
nhuận, khả năng giảm giá thành …
+ Tình trạng hạ tầng cơ sở, nguyên, nhiên vật liệu, máy móc, công cụ,
trang thiết bị của doanh nghiệp, trình độ công nghiệp hiện đại, khả năng cải
tiến, đổi mới công nghệ, khả năng đẩu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng.
+ Tình hình tổ chức quản lý trong doanh nghiệp nói chung và quản lý
chất lượng nói riêng trong doanh nghiệp.
+ Tình hình đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Bộ máy
lãnh đạo, trình độ, tư cách đạo đức của cán bộ công nhân viên, công tác tuyển
chọn, đào tạo …
+ Tình hình xây dựng và áp dụng các văn bản trong doanh nghiệp(chính
sách, mục tiêu, kế hoạch …).
+ Tình hình tiến hành các hoạt động nghiên cứu – triển khai, ứng dụng
tiến bộ kỹ thuật, cải tiến công nghệ, các hoạt động tiêu chuẩn hóa …
+ Đảm bảo chất lượng trong các giai đọan của quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
18
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Như vậy qua việc phân tích các nhân tố bên trong và các nhân tố bên
ngoài, doanh nghiệp sẽ có sự đánh giá chính xác bản thân mình và các đối tác
có liên quan, qua đó đưa ra biện pháp quản lý chất lượng hữu hiệu cũng như
đề ra chiến lược phát triển đúng đắn, xây dựng và thực hiện một hệ thống chất
lượng phù hợp góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp.
1.2.6. Những nguyên tắc của quản lý chất lượng sản phẩm :
• Quản lý chất lượng phải được định hướng bởi khách hàng :
Trong cơ chế thị trường, khách hàng là người chấp nhận và tiêu thụ sản
phẩm. Khách hàng đề ra các yêu cầu về sản phẩm, chất lượng và giá cả sản
phẩm. Để tồn tại và phát triển thì sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra phải
tiêu thụ được và có lãi. Do đó, quản lý chất lượng phải hướng tới khách hàng
nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.
• Coi trọng con người trong quản lý chất lượng :
Con người giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quá trình hình thành,
đảm bảo, nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì vậy, trong công tác quản lý chất
lượng cần áp dụng các biện pháp và phương pháp thích hợp để huy động hết
nguồn lực, tài năng của con người ở mọi cấp, mọi ngành vào việc đảm bảo và
nâng cao chất lượng.
• Quản lý chất lượng phải được thực hiện tòan diện và đồng bộ :
Chất lượng sản phẩm là kết quả tổng hợp của các lĩng vực kinh tế, tổ
chức, kỹ thuật, xã hội … liên quan đến các hoạt động như nghiên cứu thị
trường, xây dựng chính sách chất lượng, thiết kế, chế tạo, kiểm tra, dịch vụ
sau bán. Nó cũng là kết quả của những cố gắng, nỗ lực chung của các ngành,
các cấp địa phương và từng con người. Do vậy, đòi hỏi phải đảm bảo tính
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
19
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
toàn diện và sự đồng bộ trong các mặt họat động liên quan đến đảm bảo và
nâng cao chất lượng.
• Quản lý chất lượng phải thực hiện đồng thời với các yêu cầu đảm bảo
và cải tiến chất lượng :
Đảm bảo và cải tiến chất lượng là sự phát triển liên tục, không ngừng
của công tác quản lý chất lượng. Đảm bảo chất lượng bao hàm việc duy trì và
cải tiến để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Cải tiến chất lượng bao hàm việc
đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả, hiệu suất của chất lượng nhằm thỏa
mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Như vậy, muốn tồn tại và phát triển
trong cạnh tranh, doanhg nghiệp phải đảm bảo chất lượng và cải tiến chất
lượng không ngừng.
• Quản lý chất lượng theo quá trình :
Trên thực tế đang diễn ra hai cách quản trị liên quan tới quản lý chất
lượng :
Một là, quản trị theo quá trình nghĩ là quản lý chất lượng ở mọi khâu liên
quan tới việc hình thành chất lượng đó là các khâu nghiên cứu nhu cầu khách
hàng đến thiết kế, sản xuất, dịch vụ sau bán.
Hai là, quản trị theo mục tiêu tài chính, nghĩa là doanh nghiệp chỉ chú ý
tới lợi nhuận, coi nó là mục tiêu cuối cùng và trong quản lý chất lượng quá
chú trọng đến khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm.
Để phòng ngừa là chính, ngăn chặn kịp thời các nguyên nhân gây ra chất
lượng kém, giảm đáng kể chi phí kiểm tra và sai sót trong khâu kiểm tra và
phát huy nội lực, cần thực hiện quản lý chất lượng theo quá trình.
• Nguyên tắc kiểm tra :
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
20
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Kiểm tra là khâu rất quan trọng của bất kỳ một hệ thống quản lý nào.
Không có kiểm tra sẽ không có hoàn thiện và không có đi lên. Trong quản lý
chất lượng cũng vậy, kiểm tra nhằm mục đích hạn chế và ngăn chặn những
sai sót, tìm những biện pháp khăc phục khâu yếu, phát huy cái mạnh để đảm
bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm ngày một hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu
cầu của thị trường.
1.3 Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
1.3.1. Nguyên tắc quản lý chất lượng của ISO 9000
ISO 9000 đề cập đến các lĩnh vực tiêu chuẩn hoá và quản lý chất lượng.
Nó được quy tụ kinh nghiệm của quốc tế trong lĩnh vực quản lý và đảm bảo
chất lượng trên cơ sở phân tích các quan hệ giữa người mua và người cung
ứng .
Thực chất của bộ tiêu chuẩn ISO 9000 là chứng nhận hệ thống đảm bảo
chất lượng, áp dụng các biện pháp cải tiến chất lượng không ngừng để thoả
mãn khách hàng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chứ không phải
kiểm định chất lượng sản phẩm.
Nguyên tắc của quản lý chất lượng theo ISO 9000 là:
Nguyên tắc 1: Định hướng vào khách hàng: Chất lượng là sự thoả mãn
khách hàng, chính vì vậy quản lý chất lượng phải nhằm đáp ứng mục tiêu đó.
Quản lý chất lượng là không ngừng tìm hiểu về nhu cầu của khách hàng và
xây dựng nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu đó một cách tốt nhất.
Nguyên tắc 2. Vai trò của lãnh đạo: Lãnh đạo công ty thống nhất mục
đích, định hướng vào môi trường nội bộ của công ty, huy động toàn bộ nguồn
lực để đạt được mục tiêu của công ty.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
21
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Nguyên tắc 3. Sự tham gia của mọi người. Con người là yếu tố quan
trọng nhất cho sự phát triển. Việc huy động mọi nguời một cách đầy đủ sẽ tạo
cho họ kiến thức và kinh nghiệm thực hiện công việc, đóng góp cho sự phát
triển của công ty .
Nguyên tắc 4. Phương pháp quá trình: Mỗi một tổ chức, để hoạt động có
hiệu quả, phải nhận ra được và quản lý các quá trình có mối quan hệ tương tác
qua lại lẫn nhau ở bên trong tổ chức đó. Mục đích của Bộ tiêu chuẩn ISO
9000 là khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cân theo quá trình để quản lý
một tổ chức.
Nguyên tắc 5. Quản lý theo phương pháp hệ thống: Việc quản lý có hệ
thống sẽ làm tăng hiệu quả và hiệu lực hoạt động của công ty.
Nguyên tắc 6. Cải tiến liên tục: Cải tiến liên tục là mục tiêu liên tục của
mọi công ty và điều này càng trở nên quan trọng trong sự biến động không
ngừng của môi trường kinh doanh như hiện nay.
Nguyên tắc 7. Quyết định dựa trên thực tế: Các quyết định và hành động
có hiệu lực dựa trên sự phân tích dữ liệu và thông tin.
Nguyên tắc 8. Quan hệ cùng có lợi với bên cung cấp: Thiết lập mối quan
hệ cùng có lợi với bên cung ứng và sẽ nâng cao khả năng tạo ra giá trị của cả
hai bên.
1.3.2. Đối tượng và các trường hợp áp dụng ISO 9000
Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 có thể áp dụng cho các đối tượng và
trường hợp sau:
- Các tổ chức có mong muốn giành được lợi thế nhờ việc thực thi hệ
thống quản lý chất lượng này.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
22
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
- Các tổ chức có mong muốn giành được sự tin tưởng từ các nhà cung
cấp của họ.
- Những người sử dụng sản phẩm .
- Các tổ chức đánh giá hoặc kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng để xác
định mức độ phù hợp của nó đối với bộ tiêu chuẩn ISO 9001
- Các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn hoặc đào tạo về hệ thống quản lý
chất lượng thích hợp cho tổ chức đó.
1.3.3. Nội dung của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 lần đầu tiên được ban hành vào năm 1987. Lần
sửa đổi thứ nhất diễn ra vào năm 1994 và phiên bản này có giá trị đến năm
2003(song song với phiên bản mới). Lần thứ hai sử đổi thnág 12/2000, bản
ISO 9000:2000 có nhiều thay đổi về cấu trúc và nội dung tiêu chuẩn so với
phiên bản cũ, nhưng sự thay đổi này không trở ngại cho các doanh nghiệp
trong việc xây dựng, duy trì hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000. Phiên bản
ISO 9000:2000 có tác động tích cực hơn tới hoạt động quản lý chất lượng
của mỗi doanh nghiệp.
Thay vì tồn tại nhiều tiêu chuẩn, phiên bản mới (ISO 9000:2000) chỉ còn
3 tiêu chuẩn:
ISO 9000, hệ thống quản lý chất lượng – cơ sở và thuật ngữ
ISO 9001, hệ thống quản lý chất lượng – các yêu cầu
ISO 9004, hệ thống quản lý chất lượng – hướng dẫn cải tiến hiệu quả
hoạt động
Về cấu trúc, từ 20 yêu cầu theo phiên bản cũ nay được tổ chức lại theo
cách tiếp cận quá trình và phân nhóm theo các hoạt động của tổ chức thành 5
thành phần chính :
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
23
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
-Các yêu cầu chung của hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) gồm cả
các yêu cầu hệ thống văn bản, tài liệu và hồ sơ.
- Trách nhiệm của người lãnh đạo – trách nhiệm của lãnh đạo cao cấp
với HTQLCL, gồm cam kết của lãnh đạo, đinh hướng của khách hàng, hoạch
định chất lượng và thống kê nội bộ.
- Quản lý nguồn lực - gồm các yêu cầu về cung cấp nguồn lực cần thiết
cho HTQLCL, trong đó có các yêu cầu về đào tạo.
- Tạo sản phẩm - gồm các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ trong đó có
việc xem xét hợp đồng, mua hàng, thiết kế, sản xuất, đo lường và hiệu chuẩn.
- Đo lường, phân tích và cải tiến - gồm các yêu cầu cho các hoạt động đo
lường sự thoả mãn khách hàng, phân tích dữ liệu và cải tiến liên tục.
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
24
Viện ĐH Mở Hà Nội Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Phần thứ hai
Thực trạng áp dụng ISO 9001-2000 tại Tổng công ty CNTT
Bạch Đằng
2.1 Giới thiệu về Tổng công ty CNTT Bạch Đằng
Trụ sở chính: Số 3 Phan Đình Phùng, phường Hạ Lý, quận Hồng Bàng,
thành phố Hải Phòng.
Điện thoại: 031 3842782 - Fax: 031 3842282
Email: bachdangshincorp@bdsy.com.vn
Website:http://www.bachdangshincorp.com.vn
Tổng giám đốc: Kỹ sư Chu Thế Hưng
Tổng công ty Vinashin Bạch Đằng với Công ty mẹ là Tổng công ty
Công nghiệp tàu thuỷ Bạch Đằng là một trong những cơ sở quan trọng bậc
nhất của Tập đoàn kinh tế VINASHIN, phục vụ sự phát triển giao thông vận
tải thuỷ của đất nước. Tổng công ty chính thức được thành lập theo quyết
định số 2236 QĐ/CNT/TCCB-LĐ ngày 19 - 7 – 2007 của Chủ tịch hội đồng
quản trị Tập doần kinh tế VINASHIN, là đứa con đầu lòng và đầu đàn của
ngành công nghiệp đóng tàu miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là công trình hợp tác
Việt Nam - Trung Quốc.
Với mô hình sản xuất kinh doanh mới, Tổng Công ty Công nghiệp tàu
thuỷ Bạch Đằng được tổ chức và hoạt động theo hướng kinh doanh đa nghành
nghề, lấy công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ là ngành kinh doanh
chính, kết hợp với việc mở rộng, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, kinh
doanh vận tải biển và các nghành kinh doanh khác theo yêu cầu của thị trường
nhằm tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với việc đổi mới,
Lớp K13QT1 Sinh viên: Phạm Thị Thu Trang
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×