Tải bản đầy đủ

Tổng hợp tài liệu, đề thi, câu hỏi TTHS.doc

Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

PHẦN I: CÁC BÀI VIẾT THAM KHẢO TRÊN TẠP CHÍ – SÁCH – BÁO
Một số ý kiến về phạm vi giám đốc thẩm theo quy định tại điều 284 BLTTHS
TS. Phan Thị Thanh Mai *
Khoa Luật Hình sự – Trường ĐH Luật HN
Các bản án và quyết định của toà án mang tính quyền lực nhà nước sâu sắc, được toà án tuyên nhân danh Nhà
nước, thể hiện trực tiếp thái độ của Nhà nước đối với vụ án, quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến
quyền lợi, nghĩa vụ của công dân và những chủ thể khác. Vì vậy, việc đảm bảo tính đúng đắn của các bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của toà án là đòi hỏi thiết yếu của nhà nước pháp quyền. Yêu cầu này đặc biệt quan
trọng trong tố tụng hình sự, khi mà toà án có quyền ra bản án hình sự, quyết định những vấn đề về trách nhiệm hình
sự, hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo, ảnh hưởng đến tự do, danh dự, tài sản, nhân thân và thậm
chí cả tính mạng của con người. Việc quy định nguyên tắc xét xử vụ án theo nhiều cấp (thông lệ chung là hai cấp xét
xử) và tổ chức toà án theo thứ bậc để toà án cấp trên có thể xem xét lại phán quyết của toà án cấp dưới là một trong
những giải pháp về mặt pháp luật để giải quyết vấn đề này. Mặc dù đã có cơ chế để đảm bảo tính hợp pháp của các
bản án hoặc quyết định trước khi có hiệu lực pháp luật nhưng những bản án hoặc quyết định này vẫn có thể không
hợp pháp và đòi hỏi phải có thủ tục giải quyết. Trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, thủ tục này được gọi là thủ tục
giám đốc thẩm. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về giám đốc thẩm cũng như nghiên cứu, đánh giá thực
tiễn giám đốc thẩm trong những năm gần đây; qua tham khảo tài liệu pháp lí và Bộ luật tố tụng hình sự của một số
nước trên thế giới và trong khu vực, chúng tôi nhận thấy quy định của pháp luật về giám đốc thẩm ở Việt Nam và
các quốc gia khác từ trước đến nay đều có đặc điểm chung là hạn chế việc giám đốc thẩm. Việc hạn chế này nhằm

tránh tình trạng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị hủy bỏ hiệu lực trong những trường hợp không
thực sự cần thiết; đảm bảo tính ổn định của các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đảm bảo các quan hệ
pháp luật đã được thiết lập bởi các phán quyết của toà án sau khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Pháp luật mỗi
nước có những quy định hạn chế riêng, phù hợp, thống nhất với các quy định khác trong một chế định pháp luật
hoàn chỉnh. Luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định hạn chế về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm; thời hạn kháng
nghị giám đốc thẩm theo hướng bất lợi cho người bị kết án; chủ thể có quyền kháng nghị giám đốc thẩm; thẩm
quyền giám đốc thẩm và quyền hạn của hội đồng giám đốc thẩm… Những quy định pháp luật có tính hạn chế thủ tục
giám đốc thẩm là phù hợp với lí luận và thực tiễn tố tụng. Tuy nhiên, riêng quy định về phạm vi giám đốc thẩm lại
không theo xu hướng hạn chế mà lại mở rộng phạm vi giám đốc thẩm.
Điều 284 BLTTHS năm 2003 quy định về phạm vi giám đốc thẩm như sau: “Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét
toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị”.
Hiện nay, chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải thích nên có những lí giải khác nhau về quy định này.
Có ý kiến cho rằng giám đốc thẩm là cấp cuối cùng xem xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Vì
vậy, toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm xem xét toàn bộ vụ án, không bị hạn chế bởi nội dung kháng nghị nhằm
bảo đảm việc xét xử vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.([i])
Ý kiến khác lại cho rằng xuất phát từ tính chất và đặc điểm của giám đốc thẩm nên việc xem xét toàn bộ vụ án vừa là
quyền vừa là trách nhiệm đối với hội đồng giám đốc thẩm. Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải xem xét lại
toàn bộ vụ án, phát hiện các vi phạm pháp luật để có biện pháp khắc phục. Nếu kháng nghị chỉ đề cập tội danh, hình
phạt của một hay một số người thì hội đồng giám đốc thẩm vẫn phải xem xét tội danh, hình phạt của tất cả những
người bị kết án để có biện pháp khắc phục. Phạm vi giám đốc thẩm không bị ràng buộc bởi nội dung của kháng nghị.
Bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị toàn bộ hay một phần cũng không có ý nghĩa đến
phạm vi xem xét của hội đồng giám đốc thẩm.([ii])
Những ý kiến trên đều đưa ra những cơ sở để giải thích cho điều luật và không bình luận về tính hợp lí của điều luật.
Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng xem xét và quyết định là hai vấn đề khác nhau, xem xét toàn bộ vụ án không có
nghĩa là được quyền quyết định đối với mọi vấn đề của vụ án. Từ cách hiểu này lại nảy sinh vấn đề: Quyền hạn của
hội đồng giám đốc thẩm khi quyết định theo hướng bất lợi và theo hướng có lợi đối với những người bị kết án có liên
quan đến kháng nghị và đối với những người bị kết án không liên quan đến kháng nghị. Vấn đề này có nhiều quan
điểm không thống nhất. Có quan điểm cho rằng hội đồng giám đốc thẩm có quyền quyết định theo hướng bất lợi cho
người bị kết án không liên quan đến kháng nghị; có quan điểm cho rằng không được quyết định theo hướng bất lợi
cho người bị kết án không liên quan đến kháng nghị…([iii])
S.K
1
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Việc giải thích điều luật theo hướng phân biệt quyền xem xét và quyền quyết định như đã nêu trên theo chúng tôi đó
là sự suy diễn có tính chủ quan. Nếu cho rằng xem xét không có nghĩa là được quyền quyết định thì rõ ràng là Điều
284 BLTTHS chưa xác định được phạm vi giám đốc thẩm là được quyết định về những vấn đề gì. Chúng tôi không
nghĩ rằng các nhà làm luật đưa ra điều luật thiếu nội dung pháp lí như vậy.
Theo chúng tôi, điều luật này gồm những nội dung sau:
- Những vấn đề mà toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải xem xét là toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong


nội dung của kháng nghị giám đốc thẩm;
- Theo Từ điển tiếng Việt, “xem xét” là “tìm hiểu, quan sát kĩ để đánh giá, rút ra những nhận xét, những kết luận cần
thiết khác”,([iv]) vì vậy, nội dung Điều 284 BLTTHS năm 2003 về phạm vi giám đốc thẩm đã bao hàm cả quyền đánh
giá và ra quyết định. Điều 241 BLTTHS về phạm vi xét xử phúc thẩm quy định: “Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội
dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị
kháng cáo, kháng nghị của bản án”. Trong quy định này, từ “xem xét” được dùng theo nghĩa này và không ai đặt vấn
đề phân biệt quyền xem xét với quyền quyết định.
- Việc BLTTHS quy định toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án là trách nhiệm có tính bắt
buộc của toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Với những nội dung như trên, chúng tôi nhận thấy Điều 246 BLTTHS có một số bất cập sau:
Thứ nhất, Điều 284 BLTTHS quy định hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án… Theo chúng tôi, “toàn
bộ vụ án” là khái niệm không rõ ràng. Thông thường, trong TTHS, những giới hạn hoặc phạm vi được phép tiến
hành hoạt động tố tụng được xác định cụ thể bởi các quyết định tố tụng cụ thể như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, quyết định đề nghị truy tố, quyết định truy tố, bản án, kháng nghị
v.v.. Trong một số trường hợp đặc biệt còn có thể xác định bởi những cơ sở khác, các cơ sở này mặc dù không phải
là các quyết định tố tụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng được luật tố tụng xác định giá trị pháp lí về
mặt tố tụng. Những cơ sở này là đơn yêu cầu khởi tố vụ án và rút yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại trong
trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại được quy định tại Điều 105 BLTTHS hay kháng cáo của bị
cáo và những người tham gia tố tụng khác. Như vậy, khái niệm toàn bộ vụ án trong Điều 284 BLTTHS phải được
hiểu như thế nào; căn cứ vào phạm vi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; vào kết luận điều tra đề nghị truy tố
của cơ quan điều tra; vào nội dung quyết định truy tố của viện kiểm sát; vào nội dung bản án sơ thẩm hay bản án
phúc thẩm? Trong quá trình tố tụng, phạm vi vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết trong từng giai
đoạn tố tụng rộng hẹp khác nhau, vì vậy, theo chúng tôi, cần phải xác định rõ văn bản tố tụng cụ thể nào là cơ sở
pháp lí để xác định phạm vi giám đốc thẩm.
Thứ hai, từ “xem xét” trong Điều 284 BLTTHS cũng không rõ ràng. Nếu hiểu xem xét không có nghĩa là có quyền
quyết định như cách giải thích của một số tác giả thì Điều 284 BLTTHS chưa xác định được phạm vi giám đốc thẩm
được quyền quyết định vấn đề gì. Còn nếu hiểu xem xét là có quyền quyết định thì phạm vi giám đốc thẩm là quá
rộng. Giả sử chúng ta xác định “toàn bộ vụ án” ở mức độ phạm vi hẹp nhất của khái niệm này là căn cứ vào nội
dung bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm thì quy định này cũng có thể dẫn
đến hậu quả bất lợi cho những người không liên quan đến kháng nghị giám đốc thẩm. Nếu toà án có thẩm quyền
giám đốc thẩm xem xét những vấn đề ngoài phạm vi kháng nghị thì toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm có thể hủy
bản án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo hướng bất lợi cho cả những người không bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm.
Để giải quyết bất cập này, có ý kiến cho rằng nên giữ nguyên điều luật và bổ sung thêm quy định không được quyết
định theo hướng không có lợi cho người bị kết án nếu không có kháng nghị theo hướng đó để đảm bảo nguyên tắc
không làm xấu đi tình trạng của bị cáo tương tự như trong thủ tục phúc thẩm.([v]) Theo chúng tôi, việc bổ sung điều
luật như trên chưa giải quyết hết những bất cập như đã phân tích ở trên.
Theo quan điểm của chúng tôi, Điều 284 BLTTHS cần phải sửa đổi theo hướng:
- Bỏ cụm từ “toàn bộ vụ án” vì như đã phân tích ở trên, chúng ta không xác định được thế nào là “toàn bộ vụ án”;
- Thay từ “xem xét” thành từ “xét lại” để xác định rõ thẩm quyền quyết định của hội đồng giám đốc thẩm.
- Thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm cần được xác định bởi kháng nghị giám đốc thẩm bởi vì kháng nghị giám
đốc thẩm chính là cơ sở phát sinh thủ tục giám đốc thẩm.
Xu hướng chung của các nước trên thế giới cũng như theo quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam thì việc xét lại
S.K
2
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chỉ tiến hành trong những trường hợp rất hạn chế để đảm bảo tính ổn
định của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Luật tố tụng hình sự của một số nước cũng giới hạn phạm
vi giám đốc thẩm theo nội dung kháng nghị giám đốc thẩm: Điều 444 BLTTHS Hàn Quốc quy định: “Toà án tối cao sẽ
chỉ điều tra những vấn đề ghi trong đơn để xem xét việc kháng án đặc biệt”.([vi]) Điều 460 BLTTHS Nhật Bản cũng
quy định: “Toà án chỉ xem xét những vấn đề được nêu trong kháng nghị giám đốc thẩm”.([vii]) Việc mở rộng phạm vi
giám đốc thẩm là không cần thiết và không đúng với tính chất của giám đốc thẩm là chỉ tiến hành khi có kháng nghị
của chủ thể có thẩm quyền. Giả sử, nếu như bản án đã có hiệu lực pháp luật tuyên phạt bị cáo về nhiều tội, kháng
nghị giám đốc thẩm chỉ đề cập việc toà án đã định tội danh sai đối với một tội thì không có lí do gì để buộc toà án có
thẩm quyền giám đốc thẩm phải xét lại phần bản án về tất cả các tội khác, nhất là khi bản án đã có hiệu lực pháp
luật. Quy định theo hướng mở rộng phạm vi giám đốc thẩm không chỉ làm tăng khối lượng công việc cho toà án có
thẩm quyền giám đốc thẩm mà còn có tính chất bao biện, làm thay toà án cấp phúc thẩm, không phát huy được trách
nhiệm của toà án cấp phúc thẩm trong việc khắc phục những sai lầm trong hoạt động xét xử của toà án cấp sơ
thẩm.
Cũng có ý kiến cho rằng, nếu giới hạn phạm vi giám đốc thẩm theo nội dung kháng nghị có thể dẫn đến tình trạng
không khắc phục hết những sai lầm trong hoạt động xét xử và việc bản án có thể bị giám đốc thẩm nhiều lần. Để
tránh tình trạng này, theo chúng tôi, khi kiểm tra tính hợp pháp của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật,
toà án và viện kiểm sát phải kiểm tra toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Khi giải quyết đơn đề nghị
giám đốc thẩm, toà án và viện kiểm sát cũng phải xem xét toàn bộ bản án, quyết định mà không phụ thuộc vào nội
dung của đơn đề nghị, trên cơ sở đó ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Để kháng nghị giám đốc thẩm đầy đủ,
không bỏ sót vi phạm pháp luật nghiêm trọng cần phải xem xét toàn bộ bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhưng khi giám đốc thẩm thì phạm vi giám đốc thẩm cần phải được giới hạn trong phạm vi của kháng nghị để đảm
bảo nguyên tắc phối hợp, chế ước trong tố tụng hình sự. Nếu trong khi giám đốc thẩm phát hiện vi phạm pháp luật
nghiêm trọng chưa có kháng nghị thì hội đồng giám đốc thẩm thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị để
kháng nghị. Tuy nhiên, vấn đề này không cần thiết phải quy định trong Điều 284 BLTTHS về phạm vi giám đốc thẩm
mà cần được quy định cụ thể hơn về quyền bổ sung kháng nghị tại Điều 277 BLTTHS về kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm.
Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 284 BLTTHS như sau: “Hội đồng giám đồng thẩm chỉ xét
lại những vấn đề được nêu trong kháng nghị giám đốc thẩm”./.
([i]).Xem: PGS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ biên) , “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự”, Nxb. Công an nhân dân,
Hà Nội, 2004, tr. 769.
([ii]).Xem: Nguyễn Văn Trượng, “Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự”, Luận văn thạc sĩ (1996), tr. 84; Đinh Văn
Quế, “Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự – Những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1997, tr. 69.
([iii]).Xem: Đinh Văn Quế, “Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự – Những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.73.
([iv]).Xem: Trung tâm từ điển học, “Từ điển tiếng Việt”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr.1107.
([v]).Xem: Hoàng Quảng Lực, “Bàn về thời điểm phát sinh hiệu lực của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị”, Tạp chí TAND số 5/1997, tr.22; Nguyễn Văn Trượng, Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự, Luận văn thạc sĩ
(1996), tr.82; Đinh Văn Quế, Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự – Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.72.
([vi]).Xem: Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC (1998), “Luật tố tụng hình sự Hàn Quốc”, (bản dịch tiếng Việt), tr.100.
([vii]).Xem: Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC (1993), “Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản”, (bản dịch tiếng Việt)., tr.
74., tr. 220, 22
Theo Tạp chí Luật học số 7/2008
S.K
3
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
TS. Phan Thị Thanh Mai
Khoa Luật hình sự – Đại học Luật Hà Nội
Thủ tục phiên tòa được tiến hành như thế nào phụ thuộc vào tính chất và nội dung của phiên tòa, thể hiện mối quan
hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức. Xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tuy cùng là hoạt động
xét xử nhưng xét xử phúc thẩm còn có những đặc trưng khác biệt so với xét xử sơ thẩm nên thủ tục phiên tòa phúc
thẩm cũng phải có những khác biệt cần thiết và phù hợp. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm theo quy định của BLTTHS
năm 2003 (và hướng dẫn thực hiện Điều này trong Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định
trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS ngày 8/12/2005 của HĐTP TANDTC) rất sơ sài và thiếu cụ thể.
Chúng tôi xin đóng góp một số ý kiến hoàn thiện quy định của BLTTHS về thủ tục phiên tòa sơ thẩm, đáp ứng yêu
cầu của cải cách tư pháp, cụ thể là những ý kiến sau:
1. Cần sửa đổi, bổ sung Điều 247 về thủ tục phiên tòa phúc thẩm.
Theo quy định tại Điều 247 BLTTHS, thủ tục phiên tòa sơ thẩm được tiến hành như sau: “Phiên tòa phúc thẩm cũng
tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt
nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị. Khi tranh luận, Kiểm sát
viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án”. Quy định này cũng đã được hướng dẫn cụ thể
tại Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định chung
trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS ngày 8/12/2005. Tuy nhiên, những quy định này còn chưa đầy
đủ, cụ thể cần sửa đổi, bổ sung cho hợp lý hơn.
- Thứ nhất, cần bổ sung một số thủ tục phiên tòa phúc thẩm mà trên thực tế được tiến hành khác với thủ tục phiên
tòa sơ thẩm và không thể áp dụng tương tự quy định pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm nhưng chưa được quy
định trong Điều 247.
- Khi bắt đầu phiên tòa, thay cho việc đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa. Thủ
tục này khác với thủ tục phiên tòa sơ thẩm nên cần đưa vào điều luật.
- Phải bổ sung quy định về thủ tục kiểm tra xem người tham gia tố tụng đã được giao thông báo về việc kháng cáo,
kháng nghị; thông báo về việc mở phiên tòa hay chưa và giải quyết yêu cầu hoãn phiên tòa nếu họ yêu cầu vì chưa
được giao những thông báo này đúng thời hạn luật định.
Cơ sở phát sinh thủ tục phúc thẩm và phạm vi xét xử phúc thẩm là căn cứ vào kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Vì
vậy, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người
tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn bảy ngày bằng công văn đối với Viện kiểm
sát và bằng giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với người tham gia tố tụng (được quy định tại Điều 236 BLTTHS và
hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết số 05 của HĐTP TANDTC ngày 8/12/2005).[1] Việc thông báo này rất cần thiết
để những chủ thể có liên quan đến kháng cáo kháng nghị có thể chuẩn bị tốt cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của họ tại phiên tòa. Họ có quyền được gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng
nghị và ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phải hỏi xem họ đã được thông báo về kháng cáo,
kháng nghị đúng thời hạn luật định hay chưa, nếu họ chưa được giao hoặc được giao không đúng thời hạn luật định
thì phải hỏi xem họ có yêu cầu hoãn phiên tòa hay không, nếu họ yêu cầu, HĐXX phải hoãn phiên tòa.
Ngoài thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị, chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày mở phiên tòa, Tòa án cấp
phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời gian,
địa điểm xét xử phúc thẩm vụ án để họ tham gia phiên tòa phúc thẩm. Tại phiên tòa, HĐXXPT cũng phải hỏi xem họ
đã được thông báo trong thời hạn luật định hay không; có yêu cầu hoãn phiên tòa nếu chưa được giao hoặc giao
không đúng thời hạn hay không. Thủ tục này phải được bổ sung vào Điều 247 BLTTHS về thủ tục phiên tòa phúc
thẩm.
Nội dung của thông báo tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm theo chúng tôi cũng chưa đầy đủ. Điều 242 BLTTHS
quy định nội dung thông báo chỉ có thông tin về thời gian, địa điểm xét xử phúc thẩm vụ án. Để Viện kiểm sát có thể
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; bị cáo, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa có thể
thực hiện tốt các quyền và nhĩa vụ tố tụng tại phiên tòa, theo chúng tôi, cần phải thông báo cho những chủ thể này
đầy đủ những nội dung tương tự như nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử ở cấp sơ thẩm. Trong nội dung của
thông báo phải nêu rõ xử công khai hay xử kín; họ tên thẩm Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, họ tên thẩm phán
dự khuyết, nếu có; họ tên kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên dự khuyết, nếu có; họ tên người bào chữa,
nếu có; họ tên người phiên dịch, nếu có; họ tên người được triệu tập để xét hỏi tại phiên tòa; vật chứng cần đưa ra
S.K
4
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

xem xét tại phiên tòa. trên cơ sở nội dung được thông báo đó, các chủ thể tham gia phiên tòa có thể xem xét có cần
yêu cầu thay đổi người tiến hành và tham gia tố tụng hay không; có cần yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng
hoặc cung cấp thêm tài liệu, đồ vật có liên quan hay không…
- Cần bổ sung quy định thủ tục xem xét việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa.
Điều 238 BLTTHS quy định về quyền của chủ thể kháng cáo kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo,
kháng nghị như sau: Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền
bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị những không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc
toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Điều này đã được hướng dẫn tại Nghị quyết số 05. Tuy nhiên, thủ tục giải quyết việc
bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa cần được quy định trong Điều 247 vì thủ tục này là thủ tục
của phiên tòa phúc thẩm, không thể áp dụng thủ tục phiên tòa sơ thẩm, nếu không quy định trong điều luật sẽ không
có căn cứ pháp lý để giải quyết. Việc xem xét, giải quyết phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. HĐXX
có thể không chấp nhận việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nếu vi phạm Điều 238 BLTTHS. Nếu việc bổ
sung kháng cáo dẫn đến việc phạm vi xét xử phúc thẩm liên quan đến những người tham gia tố tụng khác chưa
được triệu tập thì cần phải hoãn phiên tòa để triệu tập thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị.[2] Trong trường hợp Viện kiểm sát, người kháng cáo rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa thì việc rút
kháng cáo, kháng nghị phải được ghi vào biên bản. Nếu rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị thì việc xét xử phúc thẩm
phải được đình chỉ. Nếu rút một phần kháng cáo, kháng nghị hoặc còn có kháng cáo, kháng nghị khác thì Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử phần kháng cáo, kháng nghị còn lại và cả những phần đã rút theo hướng giảm nhẹ về hình sự cho
bị cáo theo quy định tại Điều 241 và khoản 2 Điều 249 BLTTHS.[3]
- Thứ hai, sửa đổi nội dung Điều 247 về thủ tục trước khi tiến hành xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm.
Theo quy định tại Điều 247 BLTTHS, trước khi tiến hành xét hỏi, một thành viên của HĐXX phải tóm tắt nội dung vụ
án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo, kháng nghị (trên thực tế, ít trường hợp tất cả các thẩm
phán được phân công xét xử đều có điều kiện để nghiên cứu hồ sơ vụ án mà thường chỉ do thẩm phán được phân
công chủ tọa phiên tòa báo cáo). Quy định này có điểm giống so với quy định thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm và tái
thẩm (cơ chế thẩm phán báo cáo viên). Tuy nhiên, phiên tòa phúc thẩm là phiên tòa xét xử mà không phải là thủ tục
xét lại, vì vậy, theo chúng tôi, cần phải thể hiện rõ nét hơn vai trò của các chủ thể tham gia tranh tụng tại phiên tòa.
Cơ sở phát sinh thủ tục xét xử sơ thẩm là quyết định truy tố của Viện kiểm sát, vì vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, trước
khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) và ý kiến bổ
sung, nếu có. Theo lôgic như vậy, cơ sở phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị thì trước khi
tiến hành xét hỏi, ngoài việc một thành viên của HĐXX phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm
thì việc trình bày kháng cáo, kháng nghị phải do các chủ thể đã kháng cáo kháng nghị tự mình trình bày và bổ sung
ý kiến, nếu có. Nếu người kháng cáo vắng mặt, một thành viên của HĐXX trình bày nội dung kháng cáo của người
đó. Việc các chủ thể kháng cáo, kháng nghị tự mình trình bày kháng cáo, kháng nghị như vậy theo chúng tôi tạo cho
Viện kiểm sát và người kháng cáo (là những chủ thể của hoạt động tranh tụng) vai trò chủ động hơn, đồng thời làm
cho vai trò của HĐXX (cơ quan tài phán) trở nên vô tư, khách quan hơn.
Thứ ba, nên sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm.
Điều 247 BLTTHS không quy định cụ thể về trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm mà quy định áp
dụng tương tự như thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Trình tự đó như sau: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội; bị cáo, người
bào chữa trình bày lời bào chữa; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự , người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án; đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi của những người này trình bày ý kiến (Điều 217
BLTTHS). Quy định này là phù hợp với phiên tòa sơ thẩm, trên cơ sở buộc tội của Viện kiểm sát để tiến hành việc
xét hỏi cũng như tranh luận. Nhưng nếu áp dụng tương tự vào phiên tòa phúc thẩm là không hoàn toàn hợp lý. Cơ
sở cho việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, vì vậy, chủ thể kháng
cáo, kháng nghị phải là người trình bày ý kiến của mình bắt đầu quá trình tranh luận tại phiên tòa. Nếu Viện kiểm sát
kháng nghị, Kiểm sát viên là người phát biểu đầu tiên nhưng nếu Viện kiểm sát không kháng nghị mà bị cáo kháng
cáo thì bị cáo phải được phát biểu đầu tiên. Nếu có nhiều chủ thể cùng kháng cáo, kháng nghị thì trình tự phát biểu
do HĐXX xem xét và quyết định. Theo chúng tôi nên theo nguyên tắc Viện kiểm sát trình bày trước người tham gia tố
tụng và bên có ý kiến buộc tội trình bày trước. Trong luật tố tụng hình sự của một số nước cũng có quy định về vấn
đề này với những nội dung khác nhau nhưng đều theo nguyên tắc xác định trình tự phát biểu căn cứ vào chủ thể
kháng cáo, kháng nghị mà không phải luôn theo thủ tục Kiểm sát viên trình bày lời luận tội. Điều 206 BLTTHS Thái
Lan quy định: nếu một bên yêu cầu được trình bày trước thì bên đó sẽ nói trước; nếu cả hai bên đều xin nói trước thì
bên kháng cáo trình bày trước; nếu nếu cả hai bên đều xin nói trước và cả hai bên đều có đơn kháng cáo thì người
buộc tội được trình bày trước sau đó tới lượt bị cáo.[4] Điều 377 BLTTHS Liên bang Nga năm 2002 cũng quy định:
thẩm phán nghe ý kiến của bên kháng cáo hoặc kháng nghị về căn cứ đưa ra lý lẽ của mình và ý kiến phản đối của
phía bên kia. trong trường hợp có nhiều kháng cáo, kháng nghị thì trình tự phát biểu do Tòa án quyết định trên cơ sở
cân nhắc ý kiến của các bên.[5]
S.K
5
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, Điều 247 BLTTHS cần sửa đổi, bổ sung như sau:
1. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo quy định tại Điều này, đồng thời theo những quy định của Bộ
luật này về thủ tục phiên tòa sơ thẩm không trái với quy định của Điều này.
2. Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và tiến hành các thủ tục bắt đầu phiên tòa. Trong trường hợp người tham
gia tố tụng chưa được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 236
BLTTHS; thông báo về việc đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn quy định tại Điều 242 BLTTHS và nếu họ yêu cầu thì
HĐXX phải hoãn phiên tòa.
3. Nếu Viện kiểm sát, người kháng cáo bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa, HĐXX xem xét và
quyết định tại phòng nghị án. Trong trường hợp cần thiết, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa để triệu tập thêm những
người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Nếu rút một phần kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa thì HĐXX xét
xử phần còn lại; nếu rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ nếu không có
kháng cáo, kháng nghị khác.
4. Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, chủ thể đã kháng cáo hoặc kháng nghị có quyền phát biểu đầu tiên. Nếu
có nhiều chủ thể cùng kháng cáo, kháng nghị thì trình tự phát biểu do HĐXX xem xét và quyết định.
2. Cần quy định thủ tục phiên tòa phúc thẩm các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Điều 253 BLTTHS quy định về phúc thẩm những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có quy định “Tòa án cấp phúc
thẩm không phải mở phiên tòa những nếu xét cần thì có thể triệu tập những người tham gia tố tụng cần thiết để
nghe ý kiến của họ trước khi Tòa án ra quyết định”. Quy định này là chưa cụ thể, đầy đủ, cần phải hoàn thiện thêm.
Tòa án cấp phúc thẩm vừa là cấp xét xử thứ hai, vừa là một cấp giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm. Khi
phúc thẩm lại bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đồng thời thực hiện cả hai chức năng này,
vừa xét xử lại vụ án về nội dung vừa kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án sơ thẩm. Cả hai chức năng
này có thể thực hiện thông qua thủ tục phiên tòa xét xử công khai, trực tiếp, bằng lời nói với thủ tục tương tự như
phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX trực tiếp xem xét đánh giá chứng cứ tại phiên tòa để giải quyết
vụ án về nội dung. Đồng thời, nếu có những sai lầm trong hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp
phúc thẩm phát hiện và khắc phục. Nếu sai lầm về mặt pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét phát hiện
trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án. Nếu sai lầm trong việc xác định sự thật của vụ án, Tòa án cấp phúc bằng việc
xét xử tại phiên tòa, trên cơ sở những chứng cứ cũ và chứng cứ mới có thể xác định lại sự thật của vụ án. Bằng
quyền sửa và huỷ bản án hoặc quyết định sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa chữa sai lầm cả mặt pháp luật
cả về mặt xác định sự thật của vụ án. Nếu không đủ điều kiện, căn cứ để sửa án và hủy án, Tòa án cấp phúc thẩm y
án và đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Việc phúc thẩm những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không phải là
hoạt động xét xử, không xem xét đánh giá các tình tiết về nội dung thực chất của vụ án hình sự mà là hoạt động xét
lại, kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định sơ thẩm. Điều 230 BLTTHS về tính chất của phúc thẩm cũng quy định:
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết
định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Vì vậy, theo chúng tôi, thủ
tục phúc thẩm các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm cần được tiến hành tương tự như thủ tục xét lại: không cần
mở phiên tòa công khai, nếu xét thấy cần thiết có thể triệu tập những người tham gia tố tụng cần thiết. Cần bổ sung
thêm vào khoản 1 Điều 253 nội dung sau: Tại phiên tòa, một thành viên của HĐXX trình bày tóm tắt nội dung vụ án,
nội dung quyết định bị kháng cáo, kháng nghị, các thành viên của HĐXX phát biểu ý kiến, đại diện Viện kiểm sát phát
biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nếu đã triệu tập người tham gia tố tụng thì những người
này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu. Trong trường hợp họ vắng mặt, HĐXX vẫn tiếp
tục tiến hành việc xét xử.
3. Bổ sung quy định về việc áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt của tố tụng hình sự được áp dụng để giải quyết những vụ án hình sự đối với tội
phạm ít nghiêm trọng, có tính chất quả tang, đơn giản, chứng cứ rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội có căn
cước, lai lịch rõ ràng. Thủ tục này có sự rút ngắn về thời gian, đơn giản về thủ tục nhằm giải quyết nhanh chóng vụ
án hình sự, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm nhanh chóng, hiệu quả, là một trong những giải pháp giải
quyết tình trạng tồn đọng án kéo dài và các vi phạm các quy định của BLTTHS về thời hạn có xu hướng gia tăng;
khắc phục tình trạng quá tải trong các trại tạm giam và những khó khăn trong tổ chức tạm giữ, tạm giam. Việc giải
quyết vụ án nhanh chóng sẽ tạo điều kiện để những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhanh chóng được khắc
phục, góp phần đảm bảo lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Thủ tục này còn tạo
điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, công sức trong việc giải quyết vụ án
những vụ án đơn giản, rõ ràng, ít nghiêm trọng, tập trung vào việc giải quyết những vụ án nghiêm trọng, phức tạp
hơn; đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian và chi phí cho những người tham gia tố tụng và giúp họ nhanh chóng
S.K
6
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

ổn định cuộc sống và tham gia vào các quan hệ pháp luật khác. Thủ tục này cũng đáp ứng yêu cầu của nhân dân về
việc xử lý kịp thời, nhanh chóng, chính xác các hành vi phạm tội và người phạm tội, qua đó nhanh chóng phát huy
tác dụng giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân thông qua hoạt động xét xử, góp phần vào việc phòng ngừa tội
phạm.
Tuy nhiên, ngoài những yếu tố tích cực như đã nêu trên, thủ tục rút gọn cũng tiềm ẩn những điều kiện dẫn đến hạn
chế việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Vì vậy, cần phải cân nhắc, thận trọng trong việc
quy định và thi hành thủ tục này cả về điều kiện và phạm vi áp dụng. Theo quy định tại Điều 318 BLTTHS năm 2003
đã xác định phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn chỉ trong việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Tuy nhiên,
việc có nên mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm hay không là vấn đề hiện nay đang
được đề cập đến với những quan điểm khác nhau.
- Quan điểm thứ nhất: Không áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
Đây là quan điểm chính thống của các nhà làm luật được thể hiện trong nội dung của Điều luật và là quan điểm của
những người cho rằng quy định của pháp luật hiện hành là hợp lý. Việc quy định không áp dụng thủ tục rút gọn đối
với việc xét xử phúc thẩm vì khi bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đã bị kháng cáo, kháng nghị là đã có sự
không thống nhất giữa Tòa án với Viện kiểm sát hoặc giữa Tòa án với những người tham gia tố tụng có quyền
kháng cáo trong việc giải quyết vụ án. Và như vậy, tính chất “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” không
còn nữa mà vụ án đã trở thành phức tạp, không đảm bảo đầy đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn.
- Quan điểm thứ hai: Nên quy định áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm đối với các vụ án trước đó đã
xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn. Tác giả quan điểm này cho rằng:
+ Việc bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị không làm cho tính chất của vụ án phức tạp thêm vì chỉ
khi có đủ điều kiện luật định cơ quan điều tra mới đề nghị áp dụng thủ tục rút gọn và Viện kiểm sát đã cân nhắc kỹ
càng trước và sau khi quyết định áp dụng thủ tục rút gọn;
+ Việc phúc thẩm trong trường hợp này không đòi hỏi nhiều thời gian do tính chất đơn giản, rõ ràng của vụ án; trong
giai đoạn sơ thẩm, nếu có những tình tiết làm phức tạp thêm tính chất của vụ án thì các cơ quan tiến hành tố tụng ở
cấp sơ thẩm đã có những quyết định cần thiết để không áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án này nữa.
+ Nếu có sai lầm ở cấp sơ thẩm thì việc làm rõ để sửa chữa những sai lầm đó cũng không mất nhiều thời gian do
những điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn cho phép nhanh chóng xác định các tình tiết thực tế của nó. Mặt khác, nếu
có sư vi phạm nghiêm trọng quy định của BLTTHS, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể hủy bản án, quyết định sơ
thẩm để điều tra, xét xử lại theo thủ tục thông thường.[6]
Về quan điểm thứ nhất, cũng là quy định của BLTTHS năm 2003, không cho phép áp dụng thủ tục rút gọn đối với
việc xét xử phúc thẩm đối với mọi vụ án là thể hiện sự thận trọng trong việc áp dụng thủ tục rút gọn, tuy nhiên theo
chúng tôi là quá hạn chế. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn xét xử đều cho phép nhận định có những trường hợp,
việc kháng cáo của bị cáo không làm cho tính chất của vụ án trở nên phức tạp. Đa số bị cáo thực hiện quyền kháng
cáo (số lượng kháng cáo, trong đó có kháng cáo của bị cáo chiếm tỉ lệ rất lớn, theo số liệu thống kê của VKSNDTC,
năm 2005, số vụ kháng cáo chiếm 93,32% số vụ tòa án cấp phúc thẩm thụ lý; năm 2006, chiếm 92,93%; năm 2007,
chiếm 93,82%)[7] và rất nhiều trường hợp họ kháng cáo chỉ xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt với tâm lý cầu
may, còn nước còn tát mà không phải vì họ phản đối việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, cũng không phải
vì bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không đảm bảo tính hợp pháp hay không có căn cứ. Có trường hợp,
người bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo chỉ vì họ có quan hệ hôn nhân, huyết thống với bị cáo hoặc vì những
lý do muốn thông cảm, tha thứ cho bị cáo, muốn “làm phúc”, không muốn gây thù oán với bị cáo mà không phải vì lý
do không đồng tình với phán quyết của Tòa án (đó là một trong những nguyên nhân của việc Tòa án cấp phúc thẩm
ra quyết định không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm chiếm tỉ lệ cao trong các quyết định của Tòa
án. Theo số liệu thống kê của TANDTC, từ năm 2002 đến năm 2007 tỉ lệ này trung bình là 70,23%)[8]. Trong những
trường hợp này, thực chất không có vấn đề cần xem xét thêm về các tình tiết thuộc nội dung vụ án, cũng không cần
xem xét lại về việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm mà chỉ xem xét có thể giảm hơn nữa mức án cho bị
cáo trong điều khoản đã định hay không trên cơ sở áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS. Vì vậy, trong trường hợp này,
nếu như trước đó vụ án đã có đủ điều kiện để xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn thì những điều kiện đó vẫn được
duy trì sau khi bản án bị kháng cáo, hoàn toàn có thể áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử phúc thẩm những vụ án này
mà không ảnh hưởng đến chất lượng xét xử và vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Việc hạn chế
không áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử phúc thẩm trong những trường hợp này là không cần thiết.
Quan điểm thứ hai theo hướng kiến nghị quy định áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm đối với những
vụ án áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà có kháng cáo, kháng nghị là nhằm khắc phục hạn
chế về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Điều 318 BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, việc tác giả cho rằng có
S.K
7
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

thể áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm đối với mọi vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn có
kháng cáo, kháng nghị theo chúng tôi là quá rộng, cần cân nhắc thận trọng hơn. Việc xét xử phúc thẩm vụ án hình
sự có thể phức tạp vì nhiều lý do:
Thứ nhất, việc bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thường làm cho tính chất của vụ án phức tạp
thêm, nhất là trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị. Viện kiểm sát kháng nghị bao giờ cũng dựa trên những lý
do mà Viện kiểm sát coi là xác đáng. Điều 32 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ
án hình sự ngày 17/9/2007 của VKSNDTC quy định: Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một
trong những căn cứ sau:
- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ;
- Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án;
- Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự;
- Thành phần HĐXX sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.[9]
Trong trường hợp có kháng nghị của Viện kiểm sát theo căn cứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba, thể hiện sự bất đồng
quan điểm giữa Viện kiểm sát với Tòa án đối với việc xem xét đánh giá chứng cứ và giải quyết vụ án về nội dung
thực chất của vụ án. Trong trường hợp này, rõ ràng vụ án không còn là “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ
ràng” nữa mà đã có sự phức tạp, khó đánh giá các tình tiết của vụ án cũng như khó lựa chọn quy phạm pháp luật
phù hợp để áp dụng nên không đủ điều kiện để xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn. Việc bất đồng giữa Tòa án
cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát có thể do diễn biến phiên tòa sơ thẩm có việc bổ sung chứng cứ mới tại phiên tòa
hoặc người tham gia tố tụng thay đổi lời khai dẫn đến việc Tòa án và Viện kiểm sát có những quan điểm khác nhau
khi đánh giá những chứng cứ này. Cũng có thể do Tòa án đã lựa chọn cách giải quyết khác với đề nghị của Viện
kiểm sát (như xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về
tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố) và Viện kiểm sát không đồng ý với cách giải quyết của
Tòa án. Việc Viện kiểm sát kháng nghị vì “thành phần HĐXX sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm
trọng khác về thủ tục tố tụng” cũng làm cho việc xét xử phúc thẩm trở nên phức tạp vì việc đánh giá việc xét xử của
Tòa án cấp dưới có vi phạm thủ tục tố tụng hay không để hủy án là việc cần tiến hành một cách thận trọng theo thủ
tục chung. Vì vậy, theo chúng tôi, những trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị cần được xét xử phúc thẩm theo thủ
tục chung.
Trong trường hợp kháng cáo, nếu đơn kháng cáo của người kháng cáo thể hiện sự không đồng ý với phán quyết
của Tòa án cũng với những căn cứ như căn cứ kháng nghị của Viện kiểm sát thì việc cũng cần phải xét xử vụ án
theo thủ tục chung vì những lý do như chúng tôi đã trình bày.
Thứ hai, nếu bản án, quyết định sơ thẩm đồng thời bị Viện kiểm sát kháng nghị và người tham gia tố tụng kháng cáo
theo nhiều nội dung và hướng kháng có khác nhau cũng làm cho việc xét xử phúc thẩm phức tạp vì có những quan
điểm trái chiều nhau về cách giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm. Trường hợp này không chỉ có sự bất đồng giữa
Viện kiểm sát, người tham gia tố tụng với Tòa án cấp sơ thẩm mà còn có sự bất đồng giữa Viện kiểm sát với người
tham gia tố tụng và giữa những người tham gia tố tụng với nhau.
Thứ ba, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn thực hiện chức năng giám đốc việc xét
xử của Tòa án cấp dưới. Việc xét xử có theo thủ tục rút gọn hay không tùy thuộc vào tính chất đơn giản, rõ ràng, ít
nghiêm trọng của sự việc phạm tội vì xét xử lại giải quyết nội dung thực chất của vụ án, nhưng việc xét lại tính hợp
pháp và có căn cứ của tòa án cấp dưới có phức tạp hay không lại không phụ thuộc vào tính chất đơn giản, rõ ràng, ít
nghiêm trọng của sự việc phạm tội. Vì vậy, dù vụ án đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm nhưng
không có nghĩa đó là điều kiện đủ để xét xử theo thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm. Theo chúng tôi, nếu đã có những
kháng cáo, kháng nghị yêu cầu xem xét lại về tính hợp pháp hay tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm thì
việc phúc thẩm phải được tiến hành theo thủ tục chung do tính chất phức tạp của hoạt động này và do yêu cầu đòi
hỏi chất lượng cao của hoạt động xét lại.
Thứ tư, việc Viện kiểm sát, người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị,
người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự bổ sung chứng cứ mới tại Tòa án cấp phúc thẩm cũng có
thể làm cho chứng cứ của vụ án trở nên phức tạp hơn, không đủ điều kiện xét xử theo thủ tục rút gọn.
Hơn nữa, nếu chúng ta tiến hành áp dụng thủ tục rút gọn đối với mọi vụ án đã áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm
có kháng cáo, kháng nghị thì có thể dẫn đến tình trạng có nhiều trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sẽ phải hủy bản
án, quyết định sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại theo thủ tục chung do tính chất phức tạp của vụ án, kéo dài và làm
phức tạp thêm trình tự tố tụng. Vì vậy cần quy định theo hướng chỉ áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn phúc
S.K
8
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

thẩm khi có đủ những điều kiện cần thiết.
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, cần mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn phúc thẩm trong
trường hợp có đầy đủ những điều kiện:
- Vụ án trước đó đã được xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn;
- Bị cáo đã nhận tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm;
- Chỉ có kháng cáo theo hướng giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo của bị cáo; của ĐDHP của bị cáo chưa thành
niên; của người bị hại;
- Những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo;
- Viện kiểm sát không kháng nghị;
- Các thẩm phán được phân công xét xử phúc thẩm qua việc nghiên cứu hồ sơ hoàn toàn nhất trí là bản án sơ thẩm
hoàn toàn đúng hoặc có thể giảm nhẹ mức hình phạt trong khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
- Bị cáo và ĐDHP của họ đồng ý xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn.[10]
Về việc áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp phúc thẩm trước đây đã được quy định trong Bản hướng dẫn về trình tự tố
tụng phúc thẩm về hình sự (kèm thông tư số 19-TATC ngày 2/10/1974). Theo quy định tại Thông tư này, không cần
gọi bị cáo mà chỉ báo cho bị cáo biết ngày giờ, địa điểm mở phiên tòa bị cáo có thể đến những không bắt buộc phải
đến, nếu họ không đến thì sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, cũng không cần có mặt những
người tham gia tố tụng khác. Phiên tòa được xét xử công khai, chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên của Hội
đồng xử án báo cáo tóm tắt nội dung vụ án, kết luận của Viện kiểm sát nếu có sẽ được trình bày hoặc đọc, Hội đồng
xử án và phòng riêng nghị án và trở lại phòng xử án tuyên án. Trường hợp có bị cáo đến thì sau khai mạc, bị cáo
được hỏi căn cước, được công bố thành phần Hội đồng xử án, xin thay đổi thành phần Hội đồng xử án và người
phiên dịch, nếu có. Tiếp theo là báo cáo tóm tắt nội dung vụ án, sau đó bị cáo được trình bày thêm những điểm cần
thiết, hội đồng xử án có thể hỏi thêm nếu xét thấy cần thiết, kết luận của Viện kiểm sát, bị cáo được nói lời sau cùng.
Hội đồng xử án vào phòng nghị án và trở lại phòng xử để tuyên án.[11]
Theo chúng tôi, quy định vẫn có những điểm hợp lý cần kế thừa và phát triển thêm. Chúng tôi nhận thấy việc không
cần triệu tập bị cáo và những người tham gia tố tụng khác là hợp lý cần kế thừa, tuy nhiên, không nên quy định
thành hai trường hợp: nếu họ không đến xử theo thủ tục khác với trường hợp nếu họ có đến phiên tòa như quy định
tại Thông tư 19 để đảm bảo thủ tục thống nhất trong mọi trường hợp. Thực chất, việc xem xét kháng cáo trong
trường hợp có đủ điều kiện để phúc thẩm theo thủ tục rút gọn như đã trình bày ở trên chỉ là xem xét có thể vận dụng
khoản 2 Điều 46 BLHS để giảm mức hình phạt cho bị cáo hay không chứ không phải là xét xử lại vụ án về nội dung
hay có vấn đề cần xét lại về tính hợp pháp của bản án, không có vấn đề cần xét hỏi hay tranh luận. Đồng thời bị cáo
(và ĐDHP của họ nếu họ là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất) đã đồng ý xét
xử theo thủ tục rút gọn nên việc xét xử vắng mặt bị cáo là không ảnh hưởng đến việc giải quyết kháng cáo. Hơn
nữa, việc xét giảm án cho bị cáo chỉ liên quan đến quyền lợi của bị cáo, không liên quan đến quyền lợi của những
người tham gia tố tụng khác nên cũng không cần triệu tập họ đến phiên tòa. Theo chúng tôi, không cần thiết phải mở
phiên tòa công khai vì thực chất không có việc xét xử về nội dung vụ án nên có thể áp dụng hình thức như phúc
thẩm quyết định sơ thẩm. Việc quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm theo chúng tôi nên
quy định do Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm quyết định trên cơ sở đề nghị của các thẩm phán được phân công xét
xử vụ án nếu xét thấy đủ điều kiện xét xử theo thủ tục rút gọn trong thời hạn 7 ngày từ ngày nhận hồ sơ vụ án.
Quyết định này phải được gửi cho Viện kiểm sát, bị cáo hoặc ĐDHP của bị cáo trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra
quyết định. Phiên tòa phúc thẩm tiến hành theo trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thông báo quyết định. Nếu không
có quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm thì việc xét xử phúc thẩm vụ án được tiến hành
theo thủ tục chung.
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi cần phải bổ sung Điều 318 BLTTHS về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn gọn
đối với việc xét xử phúc thẩm. Cần bổ sung Điều 324a quy định về việc phúc thẩm theo thủ tục rút gọn vào Chương
XXXIV của BLTTHS với các nội dung như đã trình bày.
1] TANDTC, Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm”
của BLTTHS ngày 8/12/2005 của HĐTP TANDTC, mục 1, phần II.
[2] Vấn đề này chúng tôi đã đề cập trong bài “Một số ý kiến về việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm” (Tạp chí Luật học số 6/1996)
S.K
9
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

[3] TANDTC, Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm”
của BLTTHS ngày 8/12/2005 của HĐTP TANDTC, mục 7, phần I.
[4] VKSNDTC, Viện khoa học kiểm sát, Bộ luật TTHS Thái Lan (bản dịch tiéng Việt), Hà Nội, 1995, tr.56.
[5] VKSNDTC, Viện khoa học kiểm sát, Bộ luật TTHS Liên bang Nga, (bản dịch tiéng Việt), Hà Nội, 2002, tr.157.
[6] Ths. Vũ Gia Lâm, Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục rút gọn, Kỷ yếu hội thảo “Thủ tục đặc biệt
trong tố tụng hình sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật hình sự, Hà Nội, 2008, tr.81.
[7] VKSNDTC, Thống kê kết quả hoạt động của VKSND năm 2005 và năm 2007.
[8] TANDTC, Báo cáo tổng kết công tác xét xử của TANDTC các năm từ 2002 đến năm 2007.
[9] Quy chế Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định
số 960/2007/QĐ-VKSNDTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC.
[10] Về vấn đề này chúng tôi đã trình bày trong bài Một só kiến nghị hạn chế việc phải chuyển từ thủ tục rút gọn sang
thủ tục chung để giải quyết vụ án. Kỷ yếu hội thảo “Thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự”, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Khoa Luật hình sự, Hà Nội, 2008.
[11] TANDTC, Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Hà Nội, 1976, tr. 220, 223
Theo Tạp Chí Luật học số 04/2003
Bàn về việc rút quyết định kháng nghị, quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
I. Việc rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, quyết định kháng nghị tái thẩm
1. Việc rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Theo quy định tại khoản 3 Điều 277 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) “trước khi bắt đầu phiên tòa giám đốc thẩm,
người đã kháng nghị có quyền… rút kháng nghị”. Điều luật chỉ quy định chủ thể và thời điểm rút kháng nghị giám đốc
thẩm. Theo chúng tôi, nói đến rút kháng nghị giám đốc thẩm còn phải đề cập đến nội dung, hình thức, thủ tục rút
kháng nghị và hậu quả của rút kháng nghị.
a. Chủ thể rút kháng nghị
Chủ thể rút kháng nghị giám đốc thẩm là người đã kháng nghị. Điều 275 BLTTHS quy định các chủ thể có quyền rút
kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm:
- Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao (TANDTC), Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) đã kháng
nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án các cấp1;
- Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đã kháng nghị bản án hoặc
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án quân sự cấp dưới;
- Chánh án tòa án Nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng viện kiểm sát Nhân dân cấp tỉnh, Chánh án tòa án quân sự cấp
quân khu, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu đã kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của tòa án cấp dưới.
Ngoài ra, Phó viện Trưởng viện kiểm sát, phó chánh án tòa án được uỷ nhiệm kháng nghị giám đốc thẩm (Khoản 1
Điều 36 và khoản 1 Điều 38 BLTTHS) cũng là chủ thể rút kháng nghị.
Có quan điểm cho rằng chỉ cần quy định thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm cho Viện trưởng VKSNDTC và Viện
trưởng Viện Kiểm sát quân sự Trung ương (VKSQSTW)2 Quan điểm này phù hợp với quan hệ chế ước giữa Viện
S.K
10
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

kiểm sát và tòa án, đồng thời phù hợp định hướng tổ chức lại hệ thống tòa án theo cấp xét xử được đặt ra trong
Nghị quyết 49 của Bộ chính trị3.
Chúng tôi tán thành quan điểm này, việc quy định Viện trưởng VKSNDTC, Viện trưởng VKSQSTW và những người
được họ uỷ quyền kháng nghị đồng thời là người rút kháng nghị được chúng tôi coi là tiền đề cho những đề xuất
khác.
b. Thời điểm rút kháng nghị
Theo quy định của BLTTHS hiện hành, việc rút kháng nghị giám đốc thẩm không được thực hiện tại phiên tòa mà chỉ
được thực hiện trước khi bắt đầu phiên tòa.
Chúng tôi đề nghị bổ sung quy định về việc rút kháng nghị tại phiên tòa giám đốc thẩm với lý do tại phiên tòa, sau khi
nghe trình bày bản thuyết trình về vụ án, các ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án (Khoản 2 Điều 282 BLTTHS),
người đã kháng nghị mới thấy kháng nghị không có căn cứ hoặc trái pháp luật. Trong trường hợp này không nên
tiếp tục khiên cưỡng duy trì kháng nghị. Do đó, cần quy định quyền rút kháng nghị tại phiên tòa. Nếu người đã kháng
nghị mà uỷ quyền cho người khác tham gia phiên tòa mà người được uỷ quyền thấy kháng nghị không có căn cứ
hoặc trái pháp luật thì đề nghị hoãn phiên tòa để người đã kháng nghị xem xét và quyết định. Đề xuất này cũng phù
hợp với hướng dẫn tại khoản 2 Điều 56 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án
hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC4: “…
Phó viện trưởng và kiểm sát nên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về những vấn đề đã được Viện trưởng cho
ý kiến. Nếu phải thay đổi cơ bản quan điểm đã được Viện trưởng cho ý kiến thì đề nghị hoãn phiên tòa để báo cáo
Viện trưởng xem xét và quyết định”. (Khoản 2 Điều 281 BLTTHS chỉ quy định hoãn phiên tòa trong trường hợp Hội
đồng giám đốc thẩm biểu quyết đồng ý và không đồng ý với kháng nghị mà không có loại ý kiến nào được quá nửa
tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán tán thành. Theo chúng tôi, cần quy định thêm trường
hợp hoãn phiên theo đề nghị của người được uỷ quyền tham gia phiên tòa khi thấy kháng nghị không có căn cứ
hoặc trái pháp luật để người đã kháng nghị xem xét và quyết định).
Việc hoãn phiên tòa để người đã kháng nghị xem xét, quyết định tiếp tục giữ nguyên kháng nghị (có thể bổ sung
chứng cứ, lập luận) hay rút kháng nghị tuy làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài nhưng cần thiết vì điều đó thể hiện
sự cân nhắc, thận trọng trong kháng nghị và xét xử. Với định hướng tổ chức lại hệ thống tòa án theo cấp xét xử,
không còn nhiều cấp giám đốc thẩm như hiện nay, thì sự cân nhắc, thận trọng càng được đòi hỏi mạnh mẽ hơn.
c. Nội dung, hình thức và thủ tục rút kháng nghị
BLTTHS không quy định nội dung, hình thức và thủ tục rút kháng nghị giám đốc thẩm.
Điều 54 Quy chế số 960 ngày 17/9/2007 quy định trước khi bắt đầu phiên tòa giám đốc thẩm Viện trưởng Viện kiểm
sát đã kháng nghị rút kháng nghị có quyền rút kháng nghị bằng văn bản nêu rõ lý do. Quyết định rút kháng nghị được
gửi cho Tòa án sẽ xét xử giám đốc thẩm và hồ sơ vụ án; Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định bị kháng nghị; người
bị kết án và những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị; Viện kiểm sát cấp trên để báo cáo và
Viện kiểm sát cấp dưới, Viện kiểm sát đã đề nghị kháng nghị, vụ (hoặc phòng) kiểm sát giam giữ cải tạo và vụ (hoặc
phòng) kiểm sát thi hành án để theo dõi. Trong trường hợp Viện trưởng VKSNDTC uỷ quyền cho Phó Viện trưởng
phụ trách khối ký kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án cấp tỉnh thì quyết định rút kháng nghị phải gửi cho Viện trưởng VKSNDTC để báo cáo.
Hướng dẫn của Quy chế cần được tham khảo để pháp điển hoá nội dung, hình thức và thủ tục rút kháng nghị giám
đốc thẩm.
Về hình thức, cần quy định việc rút kháng nghị giám đốc thẩm trước khi bắt đầu phiên Tòa phải làm thành văn bản;
việc rút kháng nghị giám đốc thẩm tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa; trong trường hợp hoãn phiên
Tòa giám đốc thẩm để người đã kháng nghị xem xét việc rút kháng nghị thì quyết định rút kháng nghị cũng phải làm
thành văn bản.
Về nội dung, cần quy định việc rút kháng nghị phải nêu rõ lý do.
Về thủ tục, cần quy định người rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải gửi ngay quyết định rút kháng nghị cho
Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định bị kháng nghị, Tòa án xét xử giám đốc thẩm, người bị kết án và những người
có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị (tương tự như quy định tại khoản 1 Điều 277 BLTTHS); người rút
quyết định kháng nghị giám đốc thẩm tại phiên tòa phải gửi ngay thông báo rút kháng nghị cho Tòa án đã ra bản án
hoặc quyết định bị kháng nghị và những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị không có mặt tại
phiên tòa. Việc gửi quyết định rút kháng nghị và thông báo rút kháng nghị tại phiên Tòa giám đốc thẩm cho các chủ
S.K
11
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

thể khác để báo cáo hoặc theo dõi không cần quy định trong BLTTHS mà có thể được quy định tại văn bản dưới
luật.
d. Hậu quả của việc rút kháng nghị
BLTTHS mặc dù có quy định về thời điểm và chủ thể rút kháng nghị giám đốc thẩm nhưng lại không quy định hậu
quả của việc rút kháng nghị.
Có quan điểm đề nghị bổ sung quy định về hậu quả của việc rút kháng nghị giám đốc thẩm như sau: “Trường hợp
người có quyền kháng nghị rút toàn bộ quyết định kháng nghị thì việc giám đốc thẩm phải được đình chỉ nếu không
có kháng nghị khác”5.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm trên và đề nghị quy định thêm thẩm quyền quyết định đình chỉ giám đốc thẩm và
việc gửi, thông báo quyết định đình chỉ giám đốc thẩm.
Về thẩm quyền, cần quy định quyết định đình chỉ giám đốc thẩm tại phiên tòa thuộc về Hội đồng giám đốc thẩm,
trước khi bắt đầu phiên tòa thuộc về thẩm phán được phân công chủ toạ phiên tòa. (BLTTHS hiện hành không có
quy định về thẩm phán chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm, nhưng thực tế, tất cả các quyết định giám đốc thẩm đều ghi
rõ tên thẩm phán chủ toạ phiên tòa. Vì vậy, cần có quy định chính thức về chủ toạ phiên tòa giám đốc thẩm).
Về việc gửi, thông báo quyết định đình chỉ giám đốc thẩm cần quy định tương tự khoản 2 Điều 288 BLTTHS: Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giám đốc thẩm, Tòa án xét xử giám đốc thẩm phải gửi quyết định
đình chỉ giám đốc thẩm cho người bị kết án, người kháng nghị, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan công an nơi đã xử sơ
thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ
chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.
Hội đồng thẩm phán TANDTC cũng cần ban hành mẫu quyết định đình chỉ giám đốc thẩm.
2. Việc rút quyết định kháng nghị tái thẩm
BLTTHS không quy định việc rút kháng nghị tái thẩm.
Trong thực tế có trường hợp đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa thấy kháng nghị không có căn cứ nên không thể giữ
nguyên quan điểm kháng nghị nhưng cũng không thể rút kháng nghị. Ví dụ:
Vào 13h30’ ngày 22/7/1988, Vũ Văn Dũng cùng đồng bọn hiếp dâm chị Vũ Thị M tại hang đá nhà thờ Phát Diệm.
Sau khi phạm tội, Dũng tự thú và khai báo gian dối họ tên là Trần Văn Dũng. Khi được tại ngoại, Dũng bỏ trốn khỏi
địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vắng mặt và kết án bị cáo Trần Văn Dũng 6 năm tù về tội hiếp dâm.
Dũng kháng cáo xin giảm hình phạt. Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử vắng mặt bị cáo và giữ nguyên quyết định của
bản án sơ thẩm đối với Trần Văn Dũng. Tòa án đã ra quyết định thi hành án phạt tù đối với Trần Văn Dũng. Cơ quan
công an đã ra lệnh truy nã đối với Trần Văn Dũng vào các năm 1992, 1999 và 2001. Sau khi bị bắt vào ngày
09/10/2001 theo lệnh truy nã, Dũng khai họ tên thật là Vũ Văn Dũng. Qua lời khai của Dũng và các tài liệu xác minh
theo thủ tục tái thẩm có căn cứ xác định Trần Văn Dũng có họ tên thật là Vũ Văn Dũng, con ông Vũ Đình Thi và bà
Trần Thị Hiên, là người phạm tội hiếp dâm năm 1988 và đã bị tòa án kết án 6 năm tù.
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm đề nghị huỷ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để
điều tra lại với lý do bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm xác định không đúng họ của bị cáo. Tại phiên tòa tái thẩm,
đại diện viện kiểm sát thấy tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp
luật; việc sai lầm của các Tòa án này về họ của bị cáo chỉ cần sửa lại bằng cách đính chính bản án, chứ không cần
huỷ bản án để điều tra lại như kháng nghị tái thẩm yêu cầu. Tuy nhiên, BLTTHS không quy định Việc rút kháng nghị
tái thẩm nên đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng tái thẩm giữ nguyên bản án phúc thẩm để Tòa án cấp phúc
thẩm đính chính họ của người bị kết án theo đúng kết quả xác minh. Hội đồng tái thẩm căn cứ Điều 296 và Điều 298
BLTTHS quyết định không chấp nhận kháng nghị tái thẩm và giữ nguyên bản án phúc thẩm; yêu cầu tòa án cấp
phúc thẩm đính chính bản án phúc thẩm cho đúng họ tên bị cáo và bố mẹ của bị cáo6.
Việc đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng tái thẩm giữ nguyên bản án phúc thẩm là ngược lại với
kháng nghị thực chất của việc đề nghị này là rút lại quan điểm trong kháng nghị. Nhưng do BLTTHS không quy định
việc rút kháng nghị tái thẩm, không có cơ sở pháp lý để đình chỉ tái thẩm nên Hội đồng tái thẩm buộc phải quyết định
không chấp nhận kháng nghị.
Vì vậy, BLTTHS cần quy định về rút kháng nghị tái thẩm với nội dung tương tự như quy định về rút kháng nghị giám
S.K
12
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

đốc thẩm.
II. Việc rút quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm, quyết định không kháng nghị tái thẩm
Trong trường hợp có căn cứ và còn thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì người có quyền kháng nghị
phải ra quyết định kháng nghị. Ngược lại, nếu không có căn cứ, hoặc có căn cứ nhưng đã hết thời hạn kháng nghị
thì người có quyền kháng nghị phải trả lời cho người hoặc cơ quan, tổ chức đã phát hiện bản án, quyết định cần xét
lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm biết lý do của việc không kháng nghị.
Như vậy, đa số trường hợp, việc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thể hiện dưới hình thức “thông
báo”. Duy nhất việc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thể hiện dưới hình thức “quyết định” là trường
hợp Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC khi xem xét bản án tử hình trước khi thi hành thấy không có căn
cứ kháng nghị. Đoạn 2 khoản 1 Điều 258 BLTTHS quy định trong thời hạn 2 tháng, kể từ ngày nhận được bản án và
hồ sơ vụ án tử hình, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC phải quyết định kháng nghị hoặc “quyết định không
kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”. Quyết định không kháng nghị là cơ sở (hoặc một trong các cơ sở) để thi
hành hình phạt tử hình7. Do đó, theo chúng tôi cần bổ sung từ “quyết định” vào khoản 2 Điều 258 BLTTHS như sau:
“Bản án tử hình được thi hành, nếu Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC ra quyết định không kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”.
BLTTHS hiện hành, trong khi quy định về quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo thủ tục xem xét
bản án tử hình trước khi thi hành nhưng lại không quy định việc rút quyết định này.
Thực tế cho thấy Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC sau khi ra quyết định không kháng nghị có thể rút lại
quyết định. Ví dụ: Huỳnh Văn M bị tòa án cấp sơ thẩm phạt tử hình về tội giết người, 3 năm tù về tội hiếp dâm, tổng
hợp hình phạt của cả hai tội là tử hình. tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh
và hình phạt đối với M. Hội đồng giám đốc thẩm tại Uỷ ban thẩm phán TANDTC8 cũng giữ nguyên quyết định của
bản án phúc thẩm đối với M. Ngày 31/8/2001 Chánh án TANDTC có quyết định không kháng nghị và ngày
04/10/2001 Viện trưởng VKSNDTC cũng có quyết định không kháng nghị quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban
thẩm phán TANDTC đối với M. Sau khi có các quyết định nói trên, gia đình người bị kết án có nhiều đơn khiếu nại,
một số đại biểu Quốc hội và lãnh đạo một số cơ quan chức năng cũng có văn bản đề nghị TANDTC và VKSNDTC
xem xét lại vụ án. Tại quyết định kháng nghị số 35/HS-TK ngày 18/8/2003, Chánh án TANDTC rút quyết định không
kháng nghị số 125/TK ngày 31/8/2001 của Chánh án TANDTC, đề nghị Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử giám
đốc thẩm giảm hình phạt cho M xuống tù chung thân9. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Viện trưởng VKSNDTC cũng rút
quyết định không kháng nghị số 130/KSXXHS ngày 04/10/2001 của Viện trưởng VKSNDTC10.
Vụ án trên được giải quyết trước khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực pháp luật nhưng những vấn đề pháp lý đặt ra
vẫn còn nguyên giá trị: cần bổ sung vào BLTTHS hiện hành quy định về việc rút quyết định không kháng nghị giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm theo thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành trong trường hợp quyết định không
kháng nghị không có căn cứ hoặc trái pháp luật.
1. Trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC vì đây là quyết định của cơ quan xét xử cao nhất.
2. Phan Thị Thanh Mai, “Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội, 2007, Tr.
157-163.
3. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
4. Sau đây viết tắt là Quy chế Số 960
5. Phan Thị Thanh Mai, “Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội, 2007, Tr.
165.
6. Quyết định tái thẩm số 17/HĐTP-HS ngày 29/9/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
7. Trường hợp người bị kết án không xin ân giảm thì bản án tử hình được thi hành nếu tòa án xử sơ thẩm đã nhận
được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng
VKSNDTC; hoặc đã nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm của TANDTC giữ nguyên bản án
tử hình. Trường hợp người bị kết án xin ân giảm thì bản án tử hình được thi hành nếu tòa án xử sơ thẩm đã nhận
được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC, quyết định không kháng nghị của Viện trưởng
VKSNDTC và bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình; hoặc đã nhận được
quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm của TANDTC giữ nguyên bản án tử hình và bản sao quyết định
của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.
S.K
13
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

8. Theo quy định tại Điều 248 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 1988, Uỷ ban thẩm phán TANDTC là một cấp giám đốc
thẩm xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAQSTW, tòa hình sự, tòa phúc thẩm TANDTC.
9. Theo quy định tại điểm 4 Điều 254 và Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, hội đồng giám đốc thẩm có
quyền sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
10. Quyết định giám đốc thẩm số 05/2004/HĐTP-HS ngày 24/02/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
Tạp chí Tạp chí số 6/2007
Một số vấn đề về chứng cứ trong tố tụng hình sự theo luật chứng cứ của úc (1)
ThS. Nguyễn Ngọc Khanh
Giảng viên khoa Luật hình sự
Trường Đại học Luật Hà Nội
Theo luật chứng cứ của úc, chứng cứ được hiểu là những gì được dùng để chứng minh sự tồn tại của một tình tiết
thực tế nào đó trong các vụ án hình sự và dân sự. Các sự kiện, tài liệu được sử dụng làm chứng cứ phải được thu
thập, kiểm tra, đánh giá theo trình tự, thủ tục và những nguyên tắc nhất định theo quy định của luật chứng cứ. Trong
bài viết này chúng tôi xin giới thiệu một số vấn đề cơ bản về chứng cứ trong tố tụng hình sự theo luật chứng cứ của
úc, bao gồm: những vấn đề cần chứng minh, các phương tiện chứng minh, phân loại chứng cứ và một số nguyên
tắc cơ bản khi thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ.
1. Những vấn đề cần chứng minh trong các vụ án hình sự
Những vấn đề cần chứng minh trong các vụ án hình sự là những vấn đề cần làm sáng tỏ để xác định sự thật khách
quan của vụ án. Theo luật chứng cứ của úc, những vấn đề cần chứng minh bao gồm những vấn đề chính và những
vấn đề bổ trợ.
Những vấn đề chính cần phải chứng minh trong các vụ án hình sự bao gồm các tình tiết được đưa ra bởi bên buộc
tội và bên gỡ tội. Là người đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo, công tố viên phải đưa
ra các chứng cứ để bảo vệ sự buộc tội của mình, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Ngược lại, là đối tượng bị
buộc tội, bị cáo (cùng với luật sư bào chữa, nếu có) có thể đưa ra các chứng cứ để bào chữa cho mình. Luật chứng
cứ không đề cập đến những vấn đề cụ thể mà công tố viên phải chứng minh và bị cáo cần đưa ra để bào chữa cho
mình mà chỉ ghi nhận chung những tình tiết do công tố viên và bị cáo (cùng với luật sư bào chữa của mình) đưa ra
để thuyết phục Toà án là những vấn đề chính mà Toà án cần phải làm sáng tỏ trong các vụ án hình sự. Đối với từng
vụ việc cụ thể, việc xác định những vấn đề chính cần chứng minh dựa vào các quy định của các ngành luật nội dung
(luật riêng biệt). Yêu cầu đặt ra với Toà án là phải xem xét các tình tiết do các bên đưa ra một cách khách quan, toàn
diện. Các tình tiết do các bên đưa ra mà không có căn cứ vững chắc để chứng minh thì không được sử dụng làm
chứng cứ.
Những vấn đề bổ trợ cần chứng minh trong các vụ án hình sự là những dữ liệu được đưa ra bởi người làm chứng
hoặc những dữ liệu khác được thừa nhận là chứng cứ, chúng đơn thuần là vấn đề được điều chỉnh bằng luật chứng
cứ chứ không liên quan đến luật nội dung và cũng không liên quan đến việc bào chữa. Ví dụ: nếu có căn cứ cho
rằng giữa người làm chứng và người đã yêu cầu họ làm chứng (bị cáo hoặc người bị hại) có mối quan hệ với nhau
mà có thể dẫn đến việc người làm chứng sẽ khai thiên vị cho người đó thì trong cuộc thẩm vấn người làm chứng sẽ
được hỏi về mối quan hệ đó. Nếu người làm chứng không thừa nhận mối quan hệ với người đã yêu cầu mình làm
chứng thì phía bên kia có thể chứng minh mối quan hệ đó, nếu có thể.
Một ví dụ về sự thừa nhận chứng cứ với tư cách là dữ liệu bổ trợ là khi bản gốc của một tài liệu có liên quan trong vụ
án bị mất, bản photo chỉ được thừa nhận là chứng cứ nếu chứng minh được là bản gốc không còn nữa. Điều đó có
thể hiểu, việc chứng minh tài liệu gốc không còn tồn tại nữa để bản photo có thể được chấp nhận là chứng cứ chỉ
đơn thuần là việc xác định tài liệu đó có thể được chấp nhận là chứng cứ hay không chứ chưa xác định về nội dung
và giá trị chứng minh của tài liệu đó. Nếu tài liệu đó được đưa ra bởi công tố viên hay bị cáo mà nội dung của nó liên
quan đến việc buộc tội hay gỡ tội thì giá trị chứng minh của tài liệu đó lại được xác định là vấn đề chính cần chứng
minh trong vụ án hình sự.
S.K
14
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Tóm lại, luật chứng cứ của úc không quy định cụ thể những vấn đề cần chứng minh mà chỉ ghi nhận những dữ liệu
công tố viên cần chứng minh để bảo vệ sự buộc tội của mình và những dữ liệu bị cáo đưa ra để bào chữa cho mình
là những dữ liệu chính; những dữ liệu được đưa ra bởi người làm chứng và những dữ liệu khác được thừa nhận là
chứng cứ với tư cách là những dữ liệu bổ trợ. Luật chứng cứ của úc không đề cập cụ thể đến những dữ kiện mà
người bị hại đưa ra được xác định là vấn đề chính hay vấn đề bổ trợ cần chứng minh trong các vụ án hình sự. Tuy
nhiên, căn cứ vào tinh thần chung, có thể hiểu những vấn đề người bị hại đưa ra thuộc nhóm những vấn đề chính
cần chứng minh vì nó liên quan trực tiếp đến việc buộc tội đối với bị cáo. Có thể nó hỗ trợ cho các chứng cứ được
đưa ra bởi công tố viên nhưng cũng không loại trừ trường hợp người bị hại đưa ra các chứng cứ có lợi cho bị cáo.
Cho dù các tình tiết họ đưa ra có lợi hay bất lợi cho bị cáo thì Toà án vẫn cần phải xem xét và nó liên quan trực tiếp
đến việc buộc tội nên cần được xác định là vấn đề chính cần chứng minh trong các vụ án hình sự. Đối với các vụ án
dân sự, luật chứng cứ xác định cụ thể những tình tiết được đưa ra bởi nguyên đơn dân sự (plaitiff or applicant or
petitioner) là một trong những vấn đề chính cần chứng minh.
2. Các phương tiện chứng minh
Theo luật chứng cứ của úc chứng cứ bao gồm: lời khai của người làm chứng; chứng cứ nghe kể lại; tài liệu; vật
chứng; và những dữ liệu mà toà án có thể chấp nhận là chứng cứ trong những trường hợp cụ thể.
2.1. Lời khai của người làm chứng
Người làm chứng có thể đưa ra chứng cứ về những tình tiết mà họ biết về vụ án. Luật chứng cứ của úc đưa ra yêu
cầu rất chặt chẽ đối với loại chứng cứ này. Lời khai của người làm chứng chỉ được coi là chứng cứ nếu họ trực tiếp
nhận biết được các tình tiết đó thông qua một trong năm giác quan của mình. Tức là những tình tiết người làm
chứng khai báo phải là do họ trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy…Nếu đó là những tình tiết không được người làm chứng
trực tiếp nhận biết thì về mặt nguyên tắc sẽ không được chấp nhận là chứng cứ. Ví dụ người làm chứng không trực
tiếp chứng kiến (nhìn, nghe…) các tình tiết của vụ án mà nghe một người khác kể lại thì lời khai của họ không được
chấp nhận là chứng cứ, trừ trường hợp đặc biệt[1].
Một vấn đề khác cần lưu ý khi xem xét lời khai của người làm chứng là lời khai của người làm chứng chỉ được chấp
nhận nếu nó là bằng chứng sơ khởi (prima facie evidence) về những gì họ biết, tức là trước đó chưa có người làm
chứng nào khác chứng minh về những tình tiết đó.
Ngoại lệ duy nhất cho nguyên tắc chung khi đánh giá lời khai của người làm chứng là khi xem xét các chứng cứ cần
xác nhận về chuyên môn. Có thể trong lời khai của người làm chứng có chuyên môn (người được yêu cầu xác nhận
một vấn đề nào đó có liên quan đến chuyên môn của mình) có những dữ liệu được trích dẫn từ sách chuyên môn
hoặc từ kiến thức họ đã được đào tạo. Có nghĩa là có thể họ là người không trực tiếp chứng kiến sự việc và trước
đó có thể đã có người khác khai báo về tình tiết đó, họ chỉ xác nhận tính khách quan, chính xác của lời khai đó hay
của một (hay một số) tài liệu nào đó dựa vào kiến thức chuyên môn của mình. Nếu thẩm phán, hội thẩm, công tố
viên hay các bên tham gia tố tụng không đồng ý với lời xác nhận chuyên môn đó thì họ có quyền chất vấn người đã
đưa ra xác nhận. Người đã đưa ra xác nhận có trách nhiệm trả lời chất vấn để chứng minh tính đúng đắn, khách
quan của chứng cứ mình đã đưa ra.
2.2. Chứng cứ nghe kể lại
Theo luật chứng cứ một số nước (trong đó có cả Việt Nam), lời khai của một người không trực tiếp chứng kiến sự
việc mà được nghe kể lại từ một người khác, nếu phù hợp với các tình tiết khác của vụ án thì có thể được chấp
nhận là chứng cứ (chứng cứ thuật lại). Luật chứng cứ của úc không thừa nhận loại chứng cứ nghe kể lại, trừ trường
hợp đặc biệt.
Thông thường các bên tham gia tố tụng cố gắng chứng minh các tình tiết có lợi cho mình bằng cách trực tiếp khai
hoặc yêu cầu người làm chứng cho mình nhưng trong nhiều trường hợp biện pháp hữu hiệu người tham gia tố tụng
sử dụng để bảo vệ quyền lợi cho mình là tự mình hoặc yêu cầu người làm chứng bác bỏ những gì mà người khác
khai là đã được nghe kể lại. Đây là nguyên tắc phản bác chứng cứ nghe kể lại. Nguyên tắc này là một nguyên tắc
được thừa nhận chứ không được quy định trong bất cứ một đạo luật nào và cũng chưa bao giờ được trình bày một
cách rõ ràng. Khi xem xét nguyên tắc này cần lưu ý:
- Nếu lời khai của người được nghe kể lại phù hợp với lời khai của người làm chứng mà trước đó đã bị xác định là
không được chấp nhận là chứng cứ thì cho dù lời khai đó được xác nhận là đúng như những gì đã được nghe kể lại
thì nó cũng đương nhiên không được chấp nhận là chứng cứ. Nếu lời khai của người được nghe kể lại không phù
hợp với lời khai của người đã kể thì họ sẽ bị chất vấn xem có phải đã tự tạo ra lời khai đó hay không. Nếu đó là lời
khai họ tự tạo ra thì chắc chắn sẽ bị bác bỏ. Trong trường hợp lời khai của người được nghe kể lại hoàn toàn phù
hợp với lời khai của người đã trực tiếp chứng kiến sự việc mà lời khai của người trực tiếp chứng kiến sự việc đã
S.K
15
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

được thừa nhận là chứng cứ thì theo nguyên tắc đánh giá lời khai của người làm chứng, những tình tiết do người
được nghe kể lại đã được chứng minh bởi một người làm chứng khác sẽ không được chấp nhận là chứng cứ.
- Nguyên tắc phản bác lời khai nghe kể lại phải được áp dụng thật nghiêm ngặt. Về nguyên tắc, lời khai của người
được nghe kể lại, không phải là người chứng kiến sự việc thì không được sử dụng làm chứng cứ (trừ trường hợp
đặc biệt). Lý do là vì người trình bày lời khai không có hiểu biết của riêng mình về tình tiết đã khai báo mà chỉ là
được nghe kể lại và thường bên phản bác lại không có cơ hội để chất vấn người đã kể tình tiết đó. Còn trong trường
hợp người đã nói ra thông tin đó cũng đã cung cấp chứng cứ thì như trên đã phân tích, lời khai của người được
nghe kể lại không có giá trị nữa.
Lời khai của người nghe kể lại chỉ có thể được chấp nhận nếu họ được nghe lại từ một bên đương sự trong vụ án,
những trường hợp khác khó được chấp nhận vì độ tin cậy không cao. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp lời khai
của người được nghe lại từ một bên đương sự đều được chấp nhận là chứng cứ mà chỉ trong những trường hợp
đặc biệt. Ví dụ: A bị truy cứu trách nhiệm hình sự vể tội giết người. Người bị hại trong vụ án này là B. Khi hấp hối B
nói với X: “Tôi biết là không còn hy vọng sống được nữa. A đã bắn tôi. Anh xem A đã bị bắt chưa”. Sau đó B chết.
Trong trường hợp này lời khai của X là người được nghe lời trăng trối của B khi hấp hối được chấp nhận là chứng
cứ nghe kể lại. Đây là một trong những trường hợp đặc biệt của nguyên tẵc xem xét chứng cứ nghe kể lại.
2.3. Các loại văn bản, tài liệu
Theo luật chứng cứ của úc, nội dung của các văn bản, tài liệu (như bản hợp đồng, giấy khai sinh, khai tử…) cũng có
thể được coi là chứng cứ trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, chúng chỉ được chấp nhận là chứng cứ khi được kết hợp
với các sự kiện khác chứ không thể được đưa ra xem xét độc lập, riêng rẽ. Ví dụ như khi xem giá trị chứng minh của
bản hợp đồng, cần kết hợp với lời khai của người làm chứng. Người làm chứng phải thề là mình là người đã ký vào
bản hợp đồng đó với tư cách là người làm chứng. Khi đó nội dung của bản hợp đồng được thừa nhận là chứng cứ.
Hoặc trong vụ án trộm cắp giấy chứng nhận động sản, nếu trên giấy chứng nhận đó có in dấu vân tay của bị cáo thì
nó được chấp nhận là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
Nội dung của các bản tường trình, biên bản ghi lời khai của những người tham gia tố tụng khi được thu thập theo
trình tự, thủ tục luật định cũng được coi là chứng cứ trong tố tụng hình sự.
2.4. Vật chứng (hay chứng cứ hiện vật)
Các đồ vật được coi là chứng cứ độc lập, chúng được đưa ra để Toà án tri giác và đưa ra kết luận chứ không phải
để người làm chứng trực tiếp hay gián tiếp mô tả. Chúng được gọi là vật chứng. Vật chứng bao gồm:
- Đối tượng vật chất:
Đối tượng vật chất có thể được sử dụng như một phương tiện chứng minh các tình tiết của vụ án (như con dao
được xác định là công cụ phạm tội theo lời khai của người làm chứng, của bị cáo…), chúng cũng có thể được sử
dụng để xây dựng các tình tiết (ví dụ kẻ giết người cầm trong tay một con dao có dính các vết máu, mẫu máu trên
con dao đó được đưa ra xem xét để xác định xem có phải kẻ phạm tội đã dùng con dao đó để thực hiện hành vi
phạm tội hay không).
- Những đặc điểm về thể chất của con người:
Những đặc điểm về thể chất của con người cũng được coi là chứng cứ hiện vật và là phương tiện chứng minh có
giá trị. Ví dụ bị cáo thuận tay trái hay tay phải, cao hay thấp, khoẻ hay yếu. Một người bị dị tật như què, cụt có thể vì
lý do đó mà được tuyên là không phạm tội hiếp dâm.
- Thái độ (vẻ mặt) của người làm chứng:
Khi lấylời khai người làm chứng cần chú ý đến thái độ khai báo, vẻ mặt của người làm chứng. Nếu người làm chứng
đưa chứng cứ một cách quả quyết, rành mạch trong cuộc thẩm vấn thì lời khai của họ có độ tin cậy cao hơn so với
lời khai của người làm chứng khai báo mập mờ, quanh co.
- Thẩm tra: thẩm tra có thể được thực hiện bằng cách xem xét một địa điểm cụ thể nào đó hay làm thí nghiệm, thực
nghiệm tại hiện trường. Chứng cứ được xác định bằng cách dựng lại sự việc thường không hữu ích nhiều như
những loại chứng cứ khác nhưng khi đã được xác lập thì chúng được thừa nhận là chứng cứ. Mọi cuộc thẩm tra
phải có người chứng kiến. Nếu không có người chứng kiến thì kết quả của cuộc thẩm tra đó không được chấp nhận
là chứng cứ. Việc tiến hành thẩm tra do Toà án quyết định, không phụ thuộc vào việc các bên tham gia tố tụng có
đồng ý hay không.
S.K
16
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

- Các loại thiết bị ghi thu:
Luật chứng cứ của úc đã thừa nhận các phương tiện truyền thông như phim, băng video và máy tính là phương tiện
chứng minh. Riêng đối với giá trị chứng minh của băng ghi âm (tape-recording) vẫn còn là vấn đề đang được bàn
luận.
Đối với các dữ liệu được lưu giữ trong phim, băng video và máy tính mà được chứng minh là những dữ liệu thật,
không phải do các bên cố tạo ra, và có liên quan đến các tình tiết của vụ án thì chúng được xác định là chứng cứ
trong các vụ án hình sự.
Ví dụ: Toà án có thể để cho người làm chứng nhận dạng bị cáo qua băng hình nếu họ đã từng biết về bị cáo, đã
quan sát đặc điểm cá nhân cũng như phong cách, cách đi đứng hàng ngày của bị cáo. Việc nhận dạng của người
làm chứng sẽ chính xác hơn là bồi thẩm đoàn chỉ quan sát bị cáo tại phiên toà và quan sát băng hình.
Mặc dù giá trị chứng minh của băng ghi âm vẫn đang được tranh cãi, trong một số vụ án cụ thể, chúng cũng đã
được đưa ra xem xét để xác định giọng nói, xác định nguồn gốc băng… Ngay cả khi băng đó chỉ là bản sao, nếu
không có bản gốc, thì cũng được đưa ra để xem xét nhưng Toà án phải thật thận trọng khi đánh giá tính khách quan
của bản sao. Cho đến nay chưa có một nguyên tắc nào liên quan đến việc sử dụng băng ghi âm. Trong những tình
huống cụ thể có thể áp dụng một nguyên tắc chung nào đó về sự thừa nhận chứng cứ để thừa nhận băng ghi âm là
phương tiện chứng minh. Khi nghe lại băng ghi âm, nếu ngữ điệu giọng nói trong đó phù hợp với ngữ điệu giọng nói
của người được đưa ra đối chiếu thì sự thừa nhận chứng cứ được đặt ra là cần thiết. Cũng cần coi là chứng cứ nếu
giọng nói trong băng được thừa nhận bởi một trong các bên đương sự.
Đối với những loại thiết bị ghi thu mới lạ thì Toà án sẽ yêu cầu chuyên gia có kiến thức chuyên môn kiểm tra hoạt
động, tính năng của phương tiện đó để cân nhắc, xác định giá trị chứng minh của chúng.
- Sơ đồ, bản đồ: Sơ đồ, bản đồ có thể được dùng để minh hoạ, giải thích rõ hơn về một chứng cứ nào đó. Trong
những trường hợp cần thiết Toà án có thể yêu cầu chuyên gia đánh giá tính chíh xác, trung thực của bản sơ đồ, bản
đồ đó. Nếu sơ đồ,bản đồ được đưa ra bởi người làm chứng để củng cố lời khai của mình mà có sai sót thì chúng sẽ
không được sử dụng làm chứng cứ.
- Các văn bản, tài liệu: các văn bản, tài liệu cũng được coi là vật chứng. Loại vật chứng này đã được xem xét với tư
cách phương tiện chứng minh riêng biệt ở phần trên.
2.5. Những dữ liệu mà Toà án thừa nhận là chứng cứ
Những vấn đề được đưa ra bởi công tố viên, bị cáo, người làm chứng và những dữ liệu khác được Toà án chấp
nhận (đã được trình bày tại phần 1) cũng là những phương tiện chứng minh theo luật chứng cứ. Tuy nhiên, cần lưu
ý, nếu những dữ liệu được Toà án chấp nhận mà thoả mãn các điều kiện của một loại phương tiện chứng minh nào
đó trong số các phương tiện kể trên thì được xác định theo loại phương tiện chứng minh đó. Ví dụ: bị cáo đã khai
báo về hành vi phạm tội của mình và nộp cho Toà án một số tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội đó. Những tài
liệu đó được xác định theo phương tiện chứng minh thứ 3, đó là các loại văn bản, tài liệu. Những tình tiết trong lời
khai của bị cáo nếu phù hợp với các tình tiết của vụ án sẽ được xác định là những dữ liệu mà Toà án thừa nhận là
chứng cứ.
3. Phân loại chứng cứ
Theo luật chứng cứ của úc, chứng cứ được chia thành: Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp; chứng cứ gốc và
chứng cứ thứ cấp.
3.1. Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp:
Chứng cứ trực tiếp được xem xét dưới 2 góc độ:
- Thứ nhất, chứng cứ trực tiếp đối lập với chứng cứ nghe kể lại, nó được định nghĩa là lời khai của người làm chứng
(người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội) tại toà, xác nhận tính chính xác của các tình tiết họ đã khai báo và
khẳng định tình trạng thể chất và tinh thần của họ ở một thời điểm nhất định (thời điểm ghi nhận thông tin về tội
phạm hoặc thời điểm khai báo sự việc phạm tội mình đã chứng kiến).
- Thứ hai, chứng cứ trực tiếp được hiểu là lời khai của người làm chứng xác nhận là họ đã ghi nhận được các tình
tiết đã khai báo bằng 1 trong 5 giác quan của mình để đảm bảo độ tin cậy của lời khai. Nếu họ không chứng minh
S.K
17
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

được bằng cách nào mình đã ghi nhận thông tin về tội phạm thì lời khai của họ không được sử dụng làm chứng cứ.
Nếu họ thừa nhận những tình tiết mà họ khai báo không phải do họ trực tiếp ghi nhận được mà được nghe kể lại từ
một người khác thì lời khai của họ được xem xét theo nguyên tẵc đánh giá chứng cứ nghe kể lại.
Chứng cứ gián tiếp là những dữ kiện không trực tiếp được dùng để chứng minh các tình tiết của vụ án mà chỉ dùng
để suy luận ra sự tồn tại của những tình tiết khác. Ví dụ như tại phiên toà xét xử vụ án giết người, người làm chứng
khai đã nhìn thấy bị cáo cầm con dao có vết máu ở cửa ngôi nhà nơi nạn nhân bị giết. Trên cơ sở đó công tố viên đề
nghị bồi thẩm đoàn trước hết yêu cầu người làm chứng cam đoan mình đã khai sự thật, sau đó dựa vào đó và kết
hợp với các chứng cứ khác để suy luận bị cáo đã gây ra cái chết cho nạn nhân.
Khi sử dụng chứng cứ gián tiếp cần phải xem xét thận trọng hơn so với chứng cứ trực tiếp để đảm bảo tính khách
quan và giá trị chứng minh của loại chứng cứ này.
Theo cách phân loại trên, theo chúng tôi, chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp chưa được phân định rạch ròi,
chưa thể hiện rõ sự khác biệt giữa 2 loại chứng cứ này. Theo cách phân loại này sẽ có những chứng cứ không thể
xác định được chúng thuộc loại nào. Ví dụ khi bị cáo nhận tội thì lời khai của bị cáo dứt khoát không phải là chứng
cứ gián tiếp nhưng nó cũng không thể là chứng cứ trực tiếp theo nghĩa đã trình bày. Tuy nhiên có thể thấy sự phân
loại trên chỉ là tương đối. Theo luật chứng cứ của úc, việc so sánh giá trị chứng minh của chứng cứ trực tiếp và
chứng cứ gián tiếp không được đặt ra. Mặc dù chứng cứ gián tiếp không chứng minh được sự việc xảy ra nhưng khi
kết hợp với các chứng cứ khác thì chúng có giá trị chứng minh các tình tiết của vụ án. Ví dụ bản thân vết máu trên
lưỡi dao không có giá trị chứng minh nhưng khi kết hợp với các tình tiết khác như sự thù oán của bị cáo đối với nạn
nhân, bị cáo có gắng che giấu con dao… có thể cho phép xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Toà
án phải xem xét một cách khách quan, toàn diện các chứng cứ đã thu thập được.
3.2. Chứng cứ gốc (Primary evidence) và chứng cứ thứ cấp (Secondarry evidence)
Cách phân loại này dựa vào nguồn gốc xuất sứ của chứng cứ. Những tài liệu gốc được sử dụng để chứng minh các
tình tiết của vụ án được xác định là chứng cứ gốc. Ví dụ: giấy chứng nhận động sản bị đánh cắp trong ví dụ đã nêu
ở phần trên. Các bản sao của các loại văn bản, tài liệu khi được sử dụng để chứng minh sẽ là chứng cứ thứ cấp. Ví
dụ khi bản gốc của tài liệu được chứng minh là không còn tồn tại nữa, bản sao của tài liệu đó có thể được chấp
nhận là chứng cứ và là chứng cứ thứ cấp.
Về giá trị của chứng cứ gốc và chứng cứ thứ cấp, luật chứng cứ của úc thừa nhận chứng cứ gốc có giá trị chứng
minh cao hơn chứng cứ thứ cấp vì độ tin cậy của loại chứng cứ này cao hơn.
4. Một số nguyên tắc về chứng cứ
Luật chứng cứ của úc không quy định cụ thể về các nguyên tắc của luật chứng cứ hay nguyên tắc đánh giá, sử dụng
chứng cứ… Qua tìm hiểu các quy định chung có thể rút ra một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan của lời khai của người làm chứng. Nguyên tắc này đòi hỏi người làm chứng
phải tuyên thề là mình sẽ nói sự thật. Các tình tiết trong lời khai của người làm chứng phải do họ ghi nhận được
bằng một trong 5 giác quan. Chứng cứ nghe kể lại chỉ được chấp nhận trong những trường hợp đặc biệt. Trước khi
khai báo về các tình tiết của vụ án mà mình đã chứng kiến, bao giờ người làm chứng cũng phải thể “tôi xin thể là sẽ
không nói gì ngoài sự thật (mà mình đã chứng kiến)”.
- Nguyên tắc loại trừ sự phủ nhận các tình tiết trước đó đã khai báo. Một khi người làm chứng đã viện dẫn hay phủ
nhận một tình tiết nào đó thì sau đó không thể vì bất cứ một lý do gì mà họ có thể phủ nhận lời khai trước đó của
mình.
- Nguyên tắc về giá trị của chứng cứ gốc và chứng cứ thứ cấp. Mặc dù luật chứng cứ không đặt ra vấn đề so sánh
giá trị của chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp nhưng đối với chứng cứ gốc (Primary evidence) và chứng cứ
thứ cấp (Secondary evidence) thì lại thừa nhận chứng cứ gốc có giá trị cao hơn chứng cứ thứ cấp như đã phân tích
ở phần trên.
- Nguyên tắc về trách nhiệm chứng minh: cũng giống như pháp luật nhiều nước khác, luật chứng cứ của úc xác định
trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về công tố viên. Công tố viên phải đưa ra chứng cứ để bảo vệ sự buộc tội
đối với bị cáo. Bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội nhưng có quyền đưa ra các chứng cứ để bào
chữa cho mình. Thậm chí bị cáo có quyền giữ im lặng không khai báo. Nếu kiểm sát viên không đưa ra được chứng
cứ đủ sức thuyết phục để chứng minh bị cáo có tội thì Toà án sẽ tuyên bị cáo vô tội.
Nhiệm vụ của bồi thẩm đoàn là căn cứ vào các chứng cứ được đưa ra bởi công tố viên và những người tham gia tố
S.K
18
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

tụng để xác định xem đó có thực sự là một vụ án hình sự hay không, hay nói cách khác là hành vi của bị cáo có phải
là hành vi phạm tội hay không. Trên cơ sở đó thẩm phán xét xử cân nhắc, đánh giá chứng cứ, ra bản án đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
(1) Tài liệu tham khảo: “Cross on Evidence”, David Byrne QC & I.D Heyden, 3rd Australian Edition, Butterworths 1986
[1] Xem phần 2.2.-chứng cứ nghe kể lại.
Nâng cao vị thế của người bào chữa tại phiên toà hình sự
ThS. Nguyễn Ngọc Khanh – Trường ĐH Luật Hà Nội
1. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông
qua ngày 28/6/1988. Qua hai lần sửa đổi, bổ sung (ngày 22/12/1992 và ngày 26/11/2003) nhiều chế định của Bộ luật
được sửa đổi, bổ sung đáng kể nhưng các quy định của Bộ luật về hoạt động của người bào chữa tại phiên toà hầu
như không có sự thay đổi. Thực tế áp dụng các quy định của BLTTHS trong thời gian qua cho thấy các quy định của
BLTTHS về vai trò của người bào chữa tại phiên toà([1]) chưa thực sự hợp lí và còn nhiều bất cập khi áp dụng
những quy định này trong thực tiễn. Trong khoa học luật tố tụng hình sự gần đây đã có một số công trình đề cập
những bất cập đó.([2]) Trong bài viết này chúng tôi tiếp cận vấn đề dưới góc độ so sánh vị trí của người bào chữa tại
phiên toà theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và trong hệ thống tố tụng hình sự của Úc với mong muốn rút ra được
những bài học bổ ích và đưa ra những kiến nghị sửa đổi một số quy định của BLTTHS hiện hành về vấn đề này.
Trong BLTTHS Việt Nam hiện hành, vị trí của người bào chữa tại phiên toà hình sự sơ thẩm được quy định tại các
điều luật sau: Điều 19 (đảm bảo quyền bình đẳng trước toà án), Điều 190 (sự có mặt của người bào chữa), Điều 207
(trình tự xét hỏi), các điều từ Điều 209 đến Điều 215 (quy định về thủ tục xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại
chỗ…), Điều 217 (trình tự phát biểu khi tranh luận) và Điều 218 (đối đáp).
Theo quy định của Điều 19 BLTTHS, tại phiên toà, người bào chữa có quyền bình đẳng với kiểm sát viên, người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu,
đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước toà án. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện cho người bào chữa
thực hiện những quyền này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Tại phiên toà, vai trò của người bào
chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo được thể hiện trong thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh
luận.
2. Vai trò của người bào chữa trong thủ tục xét hỏi được quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS như sau:
“Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các hội thẩm, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa,
người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên
tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc
giám định”.
Có thể nói quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS là biểu hiện sinh động nhất của hệ thống tố tụng xét hỏi đã và
đang tồn tại ở Việt Nam và một số nước, ví dụ như Trung Quốc. Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS Việt
Nam, khi xét hỏi người có quyền đặt câu hỏi đầu tiên là thẩm phán, sau đó đến hội thẩm, rồi đến kiểm sát viên. Chỉ
sau khi những người tiến hành tố tụng kết thúc việc xét hỏi thì người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của
đương sự mới có quyền đặt câu hỏi. Trên thực tế, các câu hỏi đối với người bị xét hỏi đại đa số được đặt ra bởi
thẩm phán, hội thẩm và kiểm sát viên. Khi những người này tiến hành xét hỏi, thông thường chủ toạ phiên toà không
khống chế về mặt thời gian nhưng khi người bào chữa đặt câu hỏi với người bị xét hỏi, họ thường bị chủ toạ phiên
toà ngắt lời và hạn chế thời gian hỏi.([3]) Câu hỏi đặt ra ở đây là: Vai trò của thẩm phán (và cả hội thẩm) trong thủ
tục xét hỏi nói riêng, tại phiên toà nói chung là gì? Họ là những người “trọng tài” đứng ra phân xử giữa bên buộc tội
và bên gỡ tội hay họ là những người xét hỏi? Những người ủng hộ hệ thống tố tụng xét hỏi có thể biện hộ rằng tại
S.K
19
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

phiên toà, thẩm phán đóng vai trò là trọng tài nhưng việc họ có quyền xét hỏi không mâu thuẫn với việc họ thực hiện
vai trò của người trọng tài. Không những thế, việc xét hỏi còn có thể giúp họ đưa ra được quyết định đúng đắn về
việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, quy định này chưa thực sự hợp lí.
Tham khảo quy định của pháp luật các nước có hệ thống tố tụng tranh tụng nói chung, của pháp luật Úc nói riêng có
thể thấy rằng vai trò của thẩm phán tại phiên toà ở những nước này hoàn toàn khác với vai trò của thẩm phán tại
phiên toà ở Việt Nam. Trong hệ thống tố tụng tranh tụng, tại phiên toà, thẩm phán thực sự là người “trọng tài”
(umpire), lắng nghe ý kiến các bên để đưa ra quyết định cuối cùng.([4]) Họ không trực tiếp tiến hành việc xét hỏi như
ở Việt Nam. Theo Koppen và Penrod,([5]) trong hệ thống tố tụng tranh tụng, thủ tục tố tụng là cuộc đấu tranh giữa
bên buộc tội và bên gỡ tội. Hệ thống này coi trọng sự trình bày của các bên và sự cung cấp chứng cứ của các bên
tại phiên toà hơn là những chứng cứ có sẵn trong hồ sơ. Tại phiên toà, công tố viên và luật sư bào chữa bình đẳng
trong việc đưa ra chứng cứ và kiểm tra người làm chứng của bên kia. Vì là hệ thống tố tụng hình sự tranh tụng nên
thủ tục xét hỏi không được đặt ra như ở Việt Nam. Tuy nhiên, luật cho phép công tố viên và người bào chữa được
đặt câu hỏi đối với bị cáo và người làm chứng được yêu cầu triệu tập bởi bất cứ bên nào. Xét dưới góc độ nhất định
việc xét hỏi vẫn được tiến hành nhưng chủ thể của việc xét hỏi là công tố viên và luật sư chứ không phải là thẩm
phán và bồi thẩm đoàn. Trong hệ thống này, thẩm phán được xác định là “trọng tài” thực thụ, là người kiểm tra các
chứng cứ (gatekeeper for evidence), xác định những chứng cứ nào có giá trị sử dụng và hướng dẫn bồi thẩm đoàn
trong việc đánh giá chứng cứ.
Có thể sẽ là khập khiễng khi so sánh vai trò của luật sư trong thủ tục xét hỏi theo quy định của pháp luật Việt Nam
với vai trò của luật sư tại phiên toà theo quy định của pháp luật Úc vì hai nước này có hai hệ thống tố tụng hình sự
khác nhau. Cũng không thể mang các quy định của pháp luật của một nước theo hệ thống common law như Úc để
áp dụng vào thực tiễn một nước theo hệ thống civil law như Việt Nam. Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu hệ thống tố
tụng tranh tụng của Úc, chúng ta có thể nhận thấy những điểm ưu việt của hệ thống tố tụng này và rút ra bài học,
cân nhắc những điểm ưu việt đó khi tiến hành sửa đổi các quy định tương ứng trong BLTTHS. Chúng tôi cho rằng
điểm ưu việt lớn nhất của hệ thống tố tụng tranh tụng là vai trò của thẩm phán được xác định rõ ràng, bởi họ là
người trọng tài công minh, đứng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Với tư cách là người trọng tài, họ không tham gia
vào việc xét hỏi mà chỉ kiểm tra, đánh giá chứng cứ các bên đưa ra. Ở Việt Nam, thẩm phán vừa là người tiến hành
xét hỏi vừa là người phân xử. Khi tiến hành xét hỏi, thẩm phán phải xét hỏi một cách khách quan, toàn diện và đầy
đủ nhưng trên thực tế thì khi xét hỏi thẩm phán cũng như kiểm sát viên thường chỉ tập trung vào các chứng cứ buộc
tội đối với bị cáo. Khi nghiên cứu hệ thống tố tụng xét hỏi, các học giả phương Tây cho rằng hệ thống tố tụng này
được xem như một cuộc điều tra (an inquest);([6]) nhà nước chỉ quan tâm đến kết quả của quá trình tố tụng và muốn
những người làm công tác điều tra tìm ra càng nhiều sự thật càng tốt([7]) và hệ thống này quan tâm đến chứng cứ
trong hồ sơ hơn là chứng cứ được đưa ra tại phiên toà.([8]) Hơn thế nữa, họ cho rằng vì truớc khi xét xử thẩm phán
đã nghiên cứu hồ sơ nên dễ có cái nhìn định kiến đối với bị cáo. McEwan cho rằng trong hệ thống tố tụng xét hỏi, sự
xét hỏi được định hướng bởi niềm tin rằng tội phạm (được đem ra xét xử) chắc chắn đã được thực hiện.([9]) Dường
như những nhận định trên rất đúng với thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam.
Một sự khác biệt nữa giữa hệ thống tố tụng xét hỏi và hệ thống tố tụng tranh tụng mà sự khác biệt này dẫn đến các
quy định của pháp luật về thủ tục xét hỏi tại phiên toà khác nhau, đó là sự khác nhau trong việc phân định các chức
năng truy tố, xét xử và bào chữa. Trong hệ thống tố tụng tranh tụng, sự phân định này rất rõ ràng: Công tố viên giữ
quyền công tố, luật sư có chức năng bào chữa và thẩm phán đóng vai trò của người “trọng tài”. Trong hệ thống tố
tụng tranh tụng, thẩm phán không tham gia vào việc xét hỏi như ở Việt Nam. Sự chuyên biệt hoá vai trò của thẩm
phán với tư cách là người trọng tài giúp họ thực hiện chức năng của mình tốt hơn và đánh giá chứng cứ một cách
khách quan hơn. Ngược lại, trong hệ thống tố tụng xét hỏi, chức năng của thẩm phán và chức năng của kiểm sát
viên dường như bị chồng chéo. Theo quy định tại Điều 10 BLTTHS Việt Nam, trách nhiệm chứng minh tội phạm
thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng (bao gồm cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án). Tại phiên toà, thẩm
phán ngoài trách nhiệm của người “trọng tài” còn mang trách nhiệm chung là chứng minh tội phạm, giống như kiểm
sát viên. Việc BLTTHS quy định thẩm phán là người đặt câu hỏi đầu tiên đối với người bị xét hỏi cũng phần nào thể
hiện trách nhiệm của thẩm phán trong việc chứng minh tội phạm.
Gần đây, trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam, một số tác giả đã đề xuất sửa đổi các quy định của BLTTHS
về thủ tục xét xử theo hướng quy định chủ thể của việc xét hỏi chỉ là kiểm sát viên và người bào chữa, người bảo vệ
quyền lợi của đương sự.([10]) Thẩm phán và hội thẩm không tham gia xét hỏi mà chỉ đặt câu hỏi khi thấy cần thiết
làm sáng tỏ các câu trả lời của người bị xét hỏi. Chúng tôi đồng ý với đề xuất này. Cụ thể, chúng tôi kiến nghị sửa
đổi trình tự xét hỏi tại phiên toà (khoản 2 Điều 207 BLTTHS) theo hướng quy định khi xét hỏi kiểm sát viên hỏi trước
rồi đến người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Thẩm phán và hội thẩm chỉ đặt câu hỏi khi thấy
cần làm rõ các tình tiết trong lời khai của người bị xét hỏi.
3. Có thể nói, vai trò của người bào chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo tại phiên toà được
thể hiện rõ nét nhất trong thủ tục tranh luận tại phiên toà. Theo quy định tại Điều 217 BLTTHS, sau khi kiểm sát viên
trình bày lời luận tội, nếu bị cáo có người bào chữa thì người bào chữa trình bày bản bào chữa của mình cho bị cáo.
S.K
20
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa. Theo quy định của Điều 218 BLTTHS, người bào chữa có quyền trình bày
ý kiến của mình về bản luận tội của kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình. Họ có quyền đáp lại ý kiến của kiểm
sát viên và của những người tham gia tranh luận khác. Khi kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia
tranh luận khác tranh luận, chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện để người tham
gia tranh luận trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án. Để đảm bảo việc
tranh luận tại phiên toà, Điều 218 BLTTHS quy định chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị kiểm sát viên phải đáp lại
những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó
chưa được kiểm sát viên tranh luận.
Thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam những năm qua cho thấy, kể từ khi Nghị quyết của Bộ chính trị số 08/NQ-TW
ngày 02/01/2001 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết của Bộ chính trị
số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được ban hành, thủ tục tranh tụng tại
phiên toà hình sự được coi trọng hơn rất nhiều so với trước đây và người bào chữa được tạo điều kiện tốt hơn để
tham gia tranh tụng với kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà. Tuy nhiên, thực tiễn cũng
cho thấy việc áp dụng các quy định của BLTTHS về thủ tục tranh tụng tại phiên toà còn tồn tại một số bất cập. Cụ
thể là:
Thứ nhất, khi người bào chữa trình bày bản bào chữa của mình, họ có thể bị chủ toạ phiên toà hạn chế về mặt thời
gian. Ví dụ, trong phiên xử Bùi Tiến Dũng ngày 03/8/2007, chủ toạ phiên toà hạn chế mỗi người bào chữa chỉ được
nói trong 10 phút. Luật sư Phạm Hồng Hải đứng dậy phát biểu: “Theo quy định, chủ toạ không được hạn chế thời
gian tranh luận của các luật sư”([11]).
Thứ hai, có những trường hợp, khi người bào chữa trình bày, hội đồng xét xử tạo điều kiện cho họ trình bày nhưng
sau đó tuyên bố “không chấp nhận ý kiến của người bào chữa” mà không nêu lí do không chấp nhận. Theo kết quả
khảo sát năm 2006,([12]) kể từ khi Nghị quyết số 08/NQ-TW được ban hành, tình trạng này không còn nhiều song
thỉnh thoảng vẫn xảy ra trong thực tế.
Thứ ba, khi người bào chữa đưa ra vấn đề yêu cầu tranh luận với kiểm sát viên, trong nhiều trường hợp kiểm sát
viên không đáp lại ý kiến của người bào chữa và chủ toạ phiên toà cũng không yêu cầu kiểm sát viên đối đáp với
người bào chữa.([13]) Theo quy định tại Điều 218 BLTTHS, chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị kiểm sát viên phải
đáp lại ý kiến của người bào chữa nếu ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận. Tuy nhiên, vì đây là quyền của
chủ toạ phiên toà nên chủ toạ phiên toà có thể thực hiện, có thể không. Theo chúng tôi luật nên quy định đây vừa là
quyền vừa là nghĩa vụ của chủ toạ phiên toà, có nghĩa là khi người bào chữa hoặc người tham gia tranh luận khác
đưa ra vấn đề yêu cầu tranh luận với kiểm sát viên, nếu vấn đề đó chưa được tranh luận mà kiểm sát viên không tự
nguyện tham gia tranh luận, chủ toạ phiên toà phải yêu cầu kiểm sát viên đáp lại ý kiến của người bào chữa hoặc
người tham gia tranh luận khác, có như vậy mới đảm bảo việc tranh luận công khai tại phiên toà theo tinh thần cải
cách tư pháp.
Ở Úc nói riêng và ở các nước theo hệ thống tố tụng tranh tụng nói chung, việc tranh luận tại phiên toà được thực
hiện rất nghiêm túc, công khai. Bản chất của hệ thống tố tụng tranh tụng là “sự tranh cãi giữa các bên”([14]) và như
đã nói ở phần trên, hệ thống tố tụng này coi trọng việc trực tiếp trình bày của các bên tại phiên toà hơn là những
chứng cứ có trong hồ sơ. Bởi vậy, tất cả các tình tiết được đưa ra bởi bên buộc tội và bên gỡ tội tại phiên toà đều
phải được tranh luận công khai.
Ở Việt Nam, có thể thấy các quy định của pháp luật về chủ thể tham gia và trình tự tranh luận tại phiên toà tương đối
hợp lí. Tuy nhiên, luật chưa có được quy định đủ chặt để đảm bảo những quy định này được thực thi trên thực tế.
Chúng tôi kiến nghị: Điều 218 BLTTHS cần sửa đổi theo hướng quy định khi người bào chữa và những người tham
gia tố tụng khác đưa ra các tình tiết yêu cầu kiểm sát viên tranh luận, kiểm sát viên có nghĩa vụ phải đáp lại ý kiến đó
nếu những ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận. Chủ toạ phiên toà phải có trách nhiệm đảm bảo việc đối
đáp giữa kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
4. Kể từ khi Nghị quyết của Bộ chính trị số 08/NQ-TW được ban hành năm 2001, có thể nói rằng mặc dù các quy
định của BLTTHS (2003) về thủ tục tố tụng tại phiên toà không có sự thay đổi so với trước đây song trên thực tế, vai
trò của luật sư bào chữa tại phiên toà dần dần được đánh giá cao hơn. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy do nhiều
nguyên nhân (như các quy định về thủ tục xét hỏi chưa hợp lí; quy định về trách nhiệm của chủ toạ phiên toà trong
thủ tục tranh luận chưa chặt chẽ và do những người tiến hành tố tụng chưa thực sự triệt để tuân thủ các quy định
của pháp luật…), người bào chữa chưa thực sự phát huy hết được vai trò của mình trong việc bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của bị cáo. Chúng tôi đề xuất sửa đổi các quy định của Điều 207 (trình tự xét hỏi) và Điều 218 (đối
đáp) nhằm đề cao hơn nữa vai trò của người bào chữa tại phiên toà và tạo điều kiện cho họ thực hiện chức năng
cao cả của mình là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Với sự thay đổi này, hệ thống tố tụng hình sự
Việt Nam sẽ dần dần chuyển từ hệ thống tố tụng xét hỏi sang hệ thống tố tụng hỗn hợp. Hệ thống này, theo chúng
tôi, về cơ bản vẫn giữ bản chất của hệ thống tố tụng xét hỏi nhưng bên cạnh đó đúc rút những điểm ưu việt của hệ
S.K
21
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

thống tố tụng tranh tụng; việc tranh tụng tại phiên toà được đặt ra thành một nguyên tắc trong tố tụng hình sự. Việc
thay đổi này hoàn toàn phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp. Đối với người bào chữa, hệ thống tố tụng hỗn hợp sẽ
mang lại cho họ cơ hội tốt hơn để tham gia vào thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại phiên toà để bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo./.
([1]). Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập vị trí của người bào chữa tại phiên toà hình sự sơ thẩm.
([2].Xem: Hoàng Thị Sơn, “Thực tiễn thực hiện quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa”, Tạp chí luật học
số 4/2002; Hoàng Thị Sơn, “Thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình
sự”, Luận án tiến sĩ, 2003; Nguyễn Huy Thiệp, Một vài ý kiến về cải cách tư pháp với hoạt động của luật sư tại phiên
toà, Nguồn: http://www.luatsuhanoi.org.vn/traodoi/caicach_hoatdong.asp; Lê Phú Thịnh, Cải cách tư pháp – Góc nhìn
từ một phiên toà hình sự sơ thẩm – ý kiến của luật sư vẫn chưa được tôn trọng, Nguồn: http://www.luatsu
hanoi.org.vn/traodoi/caicach_tuphap.asp#top; Nguyễn Văn Chiến, Nâng cao kĩ năng tranh tụng của luật sư Việt Nam
bên thềm hội nhập, Nguồn: http://www.luatsu hanoi.org.vn/vande/nangcaokynangtranhtung.asp#top.
([3]).Xem: Hoàng Thị Sơn, Thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự,
Luận án tiến sĩ, 2003.
([4]).Xem: Peter J. Van Koppen và Steven D. Penrod, So sánh hệ thống tố tụng tranh tụng và hệ thống tố tụng xét hỏi
trong cuốn “Hệ thống tụng tranh tụng và hệ thống tố tụng xét hỏi – Viễn cảnh của các hệ thống tố tụng hình sự”, Nxb.
Kluwer Academic/Plenum Pubishers, 2003 và Jenny McEwan, Chứng cứ và thủ tục tố tụng tranh tụng – Luật hiện
đại, Nxb. Hart Publishing, 1998.
([5]).Xem: Koppen and Penrod, Sđd.
([6]).Xem: Koppen and Penrod, Sđd.
([7]).Xem: McEwan, Sđd.
([8]).Xem: Koppen and Penrod, Sđd.
([9]).Xem: Mc Ewan, Sđd.
([10]).Xem: Nguyễn Huy Thiệp, Tlđd
([11]).Xem: http://ngoisao.net/News/Hinhsu/2007/08/ 3B9C0156/
([12]). Khảo sát được tiến hành bởi tác giả để phục vụ cho việc viết luận án tiến sĩ với đề tài: “Vai trò của luật sư bào
chữa ở Việt Nam”.
([13]).Xem: Lê Phú Thịnh, Tlđd.
([14]).Xem: Koppen and Penrod, Sđd.
Theo Tạp chí Luật học số 7/2008
Tư pháp hình sự và yêu cầu tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự
TS Trần Ngọc Tuệ – Bộ Quốc phòng
1. Quan niệm về hoạt động tư pháp hình sự
Cho đến nay, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống chính trị – pháp luật ở Việt Nam về cơ bản đã đạt
S.K
22
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

được sự thống nhất chung khi quan niệm hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền tư pháp. Tuy
nhiên, khi quan niệm về phạm vi quyền tư pháp và hoạt động tư pháp hình sự, chủ thể tiến hành hoạt động tư pháp
hình sự, lại đang tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Khái quát lại có 4 loại ý kiến sau đây:
Loại ý kiến thứ nhất quan niệm về quyền tư pháp theo nghĩa hẹp. Những người ủng hộ ý kiến này lập luận rằng
quyền tư pháp là lĩnh vực quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng
đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các
chủ thể pháp luật. Do vậy, chủ thể thực hiện quyền tư pháp chỉ là Tòa án và hoạt động tư pháp hình sự chỉ là hoạt
động xét xử.
Loại ý kiến thứ hai quan niệm về quyền tư pháp và hoạt động tư pháp hình sự theo một nghĩa rộng rãi nhất. Những
người ủng hộ ý kiến này cho rằng, tư pháp là xét xử. Để giải quyết các tranh chấp pháp luật, các vi phạm pháp luật
thì ngoài Tòa án là cơ quan được giao chức năng thay mặt Nhà nước ra phán quyết, còn có sự tham gia của nhiều
cơ quan, tổ chức khác. Các cơ quan, tổ chức này có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho phán quyết của Tòa
án được chính xác, khách quan. Vì vậy, việc thực hiện quyền tư pháp, tức là quyền thay mặt Nhà nước phán quyết
về xung đột pháp lý, vi phạm pháp luật là của Tòa án, nhưng để đi đến phán quyết đó lại không chỉ là nhiệm vụ của
riêng Tòa án. Do vậy, hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào
việc giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án, cơ quan thi hành án, các cơ quan được giao thực hiện một số nhiệm vụ tố tụng, các cơ quan bổ trợ tư pháp
(giám định tư pháp, công chứng tư pháp, luật sư).
Loại ý kiến thứ ba cho rằng, hoạt động tư pháp hình sự là hình thức thực hiện những thẩm quyền tương ứng do luật
định của hệ thống Tòa án mà thông qua đó, các chức năng của nhánh quyền lực thứ ba trong Nhà nước pháp quyền
biến thành hiện thực. Có bốn hình thức hoạt động tư pháp hình sự tương ứng với bốn chức năng của quyền tư
pháp. Hình thức hoạt động tư pháp thứ nhất là thực hiện thẩm quyền giải thích các quy phạm pháp luật (mà trước
hết là giải thích Hiến pháp). Hình thức hoạt động tư pháp thứ hai là thực hiện thẩm quyền xét xử bằng hoạt động tố
tụng tư pháp (tài phán). Hình thức hoạt động tư pháp thứ ba là thực hiện thẩm quyền giám sát của Tòa án đối với
tính hợp pháp và có căn cứ của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước có tính chất tố tụng, tức là thực
hiện sự kiểm tra của Tòa án trong việc áp dụng các chế tài về tố tụng hình sự và hình sự của các cơ quan bảo vệ
pháp luật. Hình thức hoạt động tư pháp thứ tư là thực hiện thẩm quyền xác nhận chính thức các sự kiện (hành vi) có
ý nghĩa pháp lý trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc hạn chế quyền chủ thể tương ứng của các công dân
trong quá trình giải quyết các mối quan hệ xã hội.
Loại ý kiến thứ tư cho rằng, hoạt động tư pháp hình sự là tập hợp những việc làm cụ thể do cơ quan tư pháp thực
hiện trong tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến việc giải quyết các vụ án và hướng tới mục đích giải quyết các vụ
án một cách đúng đắn, khách quan. Do vậy, hoạt động tư pháp hình sự bao gồm hoạt động điều tra của cơ quan
điều tra, hoạt động công tố của Viện kiểm sát, hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động thi hành án của cơ quan thi
hành án.
Chúng tôi cho rằng, mỗi loại ý kiến nêu trên đều chứa đựng những nội dung hợp lý khi quan niệm về phạm vi quyền
tư pháp và hoạt động tư pháp hình sự, chủ thể tiến hành hoạt động tư pháp hình sự. Tuy nhiên, xuất phát từ thực
tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, thực tiễn giải quyết
các vụ án hình sự thời gian qua, có thể thấy loại ý kiến thứ tư có nhiều yếu tố hợp lý hơn cả. Vấn đề mấu chốt được
thừa nhận chung về hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động gắn với việc giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động tư
pháp hình sự là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước (ở đây là quyền tư pháp), do vậy, hoạt động tư
pháp hình sự phải được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố
tụng tư pháp. Xét xử là khâu trung tâm của hoạt động tư pháp. Kết quả của hoạt động xét xử là việc Tòa án ra bản
án kết luận về bản chất pháp lý của vụ việc và các biện pháp chế tài áp dụng. Tuy nhiên, Tòa án cũng không thể tự
mình làm phát sinh chức năng tố tụng của Tòa án – chức năng xét xử. Để chức năng xét xử vận hành được và các
thủ tục tố tụng tư pháp tại Tòa án được tiến hành thì phải có các hoạt động tố tụng tư pháp được tiến hành trước đó,
ví dụ hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động truy tố của Viện kiểm sát… Hoạt động của các cơ quan
công chứng, giám định, bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án không thuộc phạm vi của hoạt động tư pháp hình
sự mà thực chất chỉ là hoạt động bổ trợ cho hoạt động tư pháp, góp phần giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự
được đúng đắn, khách quan.
Trên cơ sở những phân tích nêu trên có thể thấy hoạt động tư pháp hình sự có một số đặc điểm sau:
- Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền tư pháp. Do vậy, hoạt động tư pháp hình sự mang tính
quyền lực nhà nước.
- Hoạt động tư pháp hình sự phải được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp, là những việc làm cụ thể của các cơ
quan tư pháp gắn với quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
S.K
23
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

- Hoạt động tư pháp hình sự phải tuân thủ các nguyên tắc đặc thù và quy trình, thủ tục tố tụng chặt chẽ quy định
trong các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự.
- Hoạt động tư pháp hình sự phải hướng đến mục tiêu giải quyết vụ án chính xác, khách quan, bảo vệ công lý, công
bằng xã hội.
Tham khảo kinh nghiệm các nước cho thấy, mỗi quốc gia cũng có cũng quan niệm không giống nhau về quyền tư
pháp, hoạt động tư pháp và chủ thể thực thi quyền tư pháp. Sự khác nhau này được lý giải từ sự khác nhau về bản
chất, mục đích, đặc điểm quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia, sự khác nhau của các yếu tố lịch sử, kinh tế, văn hoá,
xã hội của mỗi nước… Theo quy định tại khoản 1 Điều III của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thì “Quyền lực tư
pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án nhân dân tối cao và những Tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập
trong một số trường hợp”. Điều 76 của Hiến pháp Nhật Bản quy định “Toàn bộ quyền tư pháp được trao cho Toà án
tối cao và các Tòa án cấp dưới được thành lập theo pháp luật…”. Trong khi đó, thể chế hiện hành của Trung Quốc
quy định quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử và quyền kiểm sát, cơ quan tư pháp gồm Tòa án và Viện kiểm sát
(1).
Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ đầu thành lập Nhà nước cách mạng, quan niệm về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp
hình sự, chủ thể tiến hành hoạt động tư pháp hình sự đã được thể hiện theo nghĩa rộng. Điều 63 của Hiến pháp năm
1946 quy định “Cơ quan tư pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có Tòa án tối cao, các Toà phúc thẩm, các
Toà đệ nhị cấp và sơ cấp”. Tuy nhiên, xét từ góc độ cơ cấu tổ chức và hoạt động thì hoạt động của Tòa án không chỉ
bao gồm hoạt động xét xử của “thẩm phán ngồi” mà còn bao gồm hoạt động điều tra của tư pháp công an và hoạt
động công tố của thẩm phán buộc tội (2).
Ở nước ta hiện nay, quyền tư pháp, hoạt động tư pháp hình sự, cơ quan tiến hành hoạt động tư pháp hình sự tiếp
tục được hiểu theo nghĩa rộng; theo đó, các cơ quan tiến hành hoạt động tư pháp hình sự ở nước ta bao gồm Tòa
án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra và thi hành án (3). Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
(VKSND) năm 2002 quy định Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp. Đối tượng kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự của Viện kiểm sát được quy định bao gồm: hoạt động điều
tra của cơ quan điều tra; hoạt động xét xử của Tòa án; hoạt động thi hành án của cơ quan được giao thẩm quyền thi
hành án; hoạt động tạm giữ, tạm giam của cơ quan được giao thẩm quyền tạm giữ, tạm giam; hoạt động giải quyết
khiếu nại, tố cáo về tư pháp hình sự của các cơ quan tư pháp.
2. Yêu cầu và nội dung kiểm sát đối với các hoạt động tư pháp hình sự
Quyền lực nhà nước dù được tổ chức theo nguyên tắc nào, phân công hay phân quyền, đều luôn phải chịu sự giám
sát chặt chẽ và toàn diện, nhằm bảo đảm không xảy ra sự lạm quyền.
Quyền lực là hiện tượng khách quan trong quan hệ xã hội và nó có xu hướng dễ bị lạm dụng. Vì vậy, cùng với sự
thừa nhận quyền lực nhà nước thì phải thiết lập sự giám sát đối với quyền lực nhà nước. Giám sát việc thực hiện
quyền lực nhà nước là vấn đề có tính tất yếu khách quan. ở đâu có quyền lực nhà nước thì ở đó cần có giám sát (4).
Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước (quyền tư pháp), do vậy, hoạt động này cũng
phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhiều cơ chế khác nhau (trong đó có cơ chế tự kiểm tra từ bên trong của mỗi hệ
thống và cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống).
Ở một khía cạnh khác, xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của hoạt động tư pháp hình sự là xem xét, đưa ra các
phán quyết chính xác, khách quan, công bằng về tính đúng đắn, hợp pháp trong các hành vi của con người, nên
pháp luật trao cho các cơ quan tư pháp thực thi những thẩm quyền tố tụng mạnh mẽ, thậm chí có những thẩm quyền
có khả năng gây ảnh hưởng đến các quyền cơ bản nhất của con người như thẩm quyền áp dụng các biện pháp
cưỡng chế tố tụng (biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam…). Kết quả của hoạt động tư pháp (phán quyết của Tòa án) có
ảnh hưởng trực tiếp đến những quyền quan trọng nhất của con người như quyền sống, quyền tự do… Từ những
đặc điểm đó, hoạt động tư pháp hình sự cần và phải chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của nhiều cơ chế kiểm tra,
giám sát khác nhau.
Cơ chế giám sát việc thực hiện quyền tư pháp ở nước ta hiện nay được tổ chức rất đa dạng, song – tiếp cận từ
quan điểm hệ thống – có thể chia thành hai nhóm: cơ chế tự kiểm tra từ bên trong của mỗi hệ thống cơ quan tư
pháp và cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống cơ quan tư pháp.
Cơ chế tự kiểm tra từ bên trong của mỗi hệ thống là các hệ thống kiểm tra, giám sát do chủ thể thực thi quyền tư
pháp đặt ra để kiểm tra, giám sát các bộ phận thuộc hệ thống mình trong quá trình thực thi thẩm quyền tư pháp. Đó
là hoạt động thanh tra, kiểm tra của bộ phận thanh tra công vụ, hoạt động kiểm tra của cơ quan tiến hành tố tụng cấp
trung ương với cơ quan tiến hành tố tụng địa phương, hoạt động kiểm tra của cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên với
S.K
24
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới… Hoạt động tự kiểm tra từ bên trong của mỗi hệ thống có mục đích bảo đảm
cho các chủ thể thuộc hệ thống của mình thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật.
Cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống bao gồm hoạt động giám sát của các cơ quan nhà nước đối với cơ quan
thực thi quyền tư pháp, còn gọi là giám sát nhà nước (ở nước ta là hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân
dân và giám sát của Viện kiểm sát) và giám sát do các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và
công dân trực tiếp thực hiện, còn gọi là giám sát xã hội.
Như đã phân tích ở trên, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước là vấn đề có tính tất yếu, ở đâu có quyền lực
nhà nước thì ở đó xuất hiện giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Trong điều kiện cụ thể của nước ta, xuất
phát từ mục tiêu, nhiệm vụ, đặc điểm cụ thể của các hoạt động tư pháp hình sự, cần tăng cường sự kiểm tra, giám
sát đối với các hoạt động tư pháp hình sự thông qua các cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ khác nhau, đặc biệt là
cần thiết lập cho được cơ chế giám sát trực tiếp, thường xuyên và có hiệu quả. Trong điều kiện cụ thể của Nhà
nước ta hiện nay, cơ chế đó là hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát.
Giám sát hoạt động tư pháp hình sự có mục tiêu bảo đảm cho các cơ quan tư pháp thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ của mình; bảo đảm việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan; bảo đảm sự tuân thủ pháp luật
của cơ quan tư pháp và cá nhân được giao thực hiện thẩm quyền tư pháp; bảo đảm các quyền con người trong các
thủ tục tố tụng tư pháp do pháp luật quy định được triệt để tôn trọng. Kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự là một
hình thức của hoạt động giám sát nhà nước – theo dõi, kiểm tra việc tuân thủ hiến pháp và pháp luật của các chủ thể
được giao thực hiện thẩm quyền tư pháp. Hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát thực chất là việc sử dụng
tổ chức nhà nước để hạn chế sự lạm quyền từ chính Nhà nước. Mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp là nhằm
bảo đảm cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án. Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền áp dụng những biện pháp do pháp luật quy
định để phát hiện, loại trừ những hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp, bất kỳ cán bộ tư pháp nào.
Ở nước ta, chức năng giám sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là vấn đề có tính lịch sử. Trước khi Viện kiểm
sát nhân dân được thành lập với tư cách là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy Nhà nước, có chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thì chức năng giám sát hoạt động tư pháp (giám sát
hoạt động xét xử; hoạt động thi hành các bản án; hoạt động giam, giữ, cải tạo) đã được giao cho Viện Công tố đảm
nhiệm, đặc biệt là từ năm 1959, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg về việc thành lập hệ thống cơ quan
công tố độc lập, tách khỏi hệ thống Tòa án và Bộ Tư pháp. Thẩm quyền giám sát tư pháp của cơ quan công tố trong
thời kỳ này được lý giải bởi tầm quan trọng của hoạt động tư pháp – hoạt động quyền lực nhà nước, hoạt động có
khả năng ảnh hưởng trực tiếp tới những quyền cơ bản của con người như quyền tự do, quyền sống…
Trải qua quá trình hoạt động, kiểm sát hoạt động tư pháp được chứng minh là cơ chế giám sát tư pháp hữu hiệu. Có
thể chứng minh tính hữu hiệu, hiệu quả của cơ chế giám sát tư pháp thông qua kết quả kiểm sát tư pháp hình sự
trong thời gian từ năm 2002 – 2007 như sau:
- Số vụ hình sự Viện kiểm sát các cấp đã kiểm sát điều tra là 376.892 vụ /558.759 bị can. Viện kiểm sát các cấp yêu
cầu Cơ quan điều tra khởi tố điều tra 1.337 vụ án, trực tiếp khởi tố yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra 202 vụ án, huỷ
bỏ 551 quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra. Các trường hợp bắt, tạm giữ chuyển khởi tố hình sự đạt tỷ lệ
ngày càng cao qua các năm: năm 2002 đạt tỷ lệ 87%; năm 2003 là 89,2 %; năm 2006 là 95,3%; năm 2007 là 95,2%.
Các trường hợp khởi tố điều tra sau phải đình chỉ do bị can không phạm tội giảm đáng kể qua các năm: năm 2002,
đình chỉ điều tra đối với 543 bị can (tỷ lệ 0,6%); năm 2005 là 138 bị can (tỷ lệ 0,16%); năm 2006 là 163 bị can (tỷ lệ
0,17%); năm 2007 là 135 bị can (tỷ lệ 0,13%). Truy tố tội phạm đạt tỷ lệ cao qua các năm: Năm 2002, số vụ truy tố
đạt tỷ lệ 96% so với số vụ đã thụ lý; năm 2003 đạt 98,3%; năm 2004 đạt 98,5%; năm 2005 đạt 98,85; năm 2006-
2007 đạt 99,1%.
- Viện kiểm sát các cấp thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo thủ tục sơ thẩm là 297.965 vụ án; theo thủ
tục phúc thẩm là 70.594 vụ án; theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là 1.573 vụ án. Tòa án đã xét xử 4.546 vụ án
hình sự do Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chấp nhận kháng nghị 3.130 vụ, đạt tỷ lệ 68,8%; Tòa
án xét xử 729 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, chấp nhận kháng nghị 653 vụ,
đạt tỷ lệ 89,6%.
- Qua kiểm sát hoạt động tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành hình phạt tù, Viện kiểm sát các
cấp đã quyết định trả tự do cho 239 người bị giam giữ không có căn cứ và trái pháp luật; ban hành 12.420 kiến nghị,
kháng nghị yêu cầu cơ quan quản lý việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù khắc
phục vi phạm pháp luật và sơ hở trong việc quản lý các đối tượng.
- Viện kiểm sát các cấp đã tiến hành kiểm sát trực tiếp 6.138 lượt tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc
thi hành án treo, thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Qua hoạt động kiểm sát, đã ban hành 3.633 kiến nghị,
S.K
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×