Tải bản đầy đủ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM, HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI MỌT BỘT ĐỎ Ở CÁC TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG CHÚNG BẰNG BIỆN PHÁP SINH HỌC

Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học nông nghiệp I
-------------------

Hà Thanh Hơng






Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học v sinh thái học
của loi mọt bột đỏ
Tribolium castaneum
Herbst
ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
v khả năng phòng chống chúng bằng biện pháp sinh học






Chuyên ngành: Bệnh cây và Bảo vệ thực vật
Mã số: 4.01.16





tóm tắt Luận án tiến sĩ nông nghiệp






Hà Nội - 2008


Công trình đợc hoàn thành tại: Trờng Đại học Nông nghiệp I


Ngời hớng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Viết Tùng


Phản biện 1: PGS. TS. Phạm Bình Quyền
Trờng Đại học khoa học tự nhiên
Đại học Quốc gia Hà Nội

Phản biện 2: PGS. TS. Khuất Đăng Long
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Phản biện 3: PGS. TS. Trần Huy Thọ
Viện Bảo vệ thực vật

Luận án đã đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc
họp tại Trờng Đại học Nông nghiệp I
Vào hồi: 8 giờ 30 ngày 01 tháng 02 năm 2008


Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện Trờng Đại học Nông nghiệp I
- Th viện Quốc gia - Hà Nội
- Th viện Cục Bảo vệ thực vật



các công trình đã công bố liên quan đến luận án

1 Huong Ha Thanh (2001), "Parasitic Wasps on Sitophilus oryzae L.
(Coleoptera: Curculionidae) and other insects in stored rice in Gia
Lam, Hanoi, Vietnam", Proceeding Biological Control, Norway
2 Hà Thanh Hơng và cộng sự (2004), "Thành phần côn trùng, nhện
trong kho và tần suất xuất hiện của quần thể mọt bột đỏ (Tribolium
castaneum Herbst) tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (2000-
2001)", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, Trờng Đại học
Nông nghiệp I, tập II, (số 1/2004), xởng in trờng Đại học Nông
nghiệp I, trang 23-29.
3 Hà Thanh Hơng, Nguyễn Viết Tùng và cộng sự (2004), "Nghiên
cứu bớc đầu về loài bọ xít bắt mồi Xylocoris (Arrostelus) flavipes
(Reuter, 1875) (Hemiptera: Anthocoridae) thiên địch của mọt bột đỏ
Tribolium castaneum Herbst", Tạp chí Bảo vệ thực vật, (số 2/2004),
Xí nghiệp in Thủy lợi, trang 24-30
4 Hà Thanh Hơng, Nguyễn Viết Tùng (2005), Nghiên cứu một số
đặc điểm hình thái, sinh vật học của quần thể mọt bột đỏ (Tribolium
castaneum Herbst) thu tại một số tỉnh ở miền Bắc Việt Nam, Báo
cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc, (lần thứ 5), 11-
12/04/2005, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà nội, trang 391-398.
5 Tu Duong Minh, Bui Thi Tuyet Nhung, Nguyen Anh Tuyet, Ha
Thanh Huong at all (2006), Detection of phosphine resistance of
some major stored product insects in Vietnam, The Final meeting
ACIAR project - Intergrating effective phosphine fumigation
practices into grain storage systems in China, Vietnam and
Australia, Vietnam Progress of ACIAR PTH 98-137, Hanoi Meeting
- 3/2006.


24
- 1 loại thức ăn tự nhiên (Trứng hay sâu non của mọt bột đỏ):
trởng thành bọ xít cái có sức sinh sản trung bình cao từ
27,530,85 đến 36,201,75;
- 2 loại thức ăn nhân tạo (Mật ong trộn sữa và hóa chất đặc hiệu):
trởng thành bọ xít cái có sức sinh sản trung bình thấp từ
0,730,29 đến 5,400,36.

Đề nghị
1. Sử dụng các dẫn liệu nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học và
sinh thái học của loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst và bọ
xít bắt mồi Xylocoris flavipes (Reuter) trong công tác giảng dạy đại
học và tập huấn cho cán bộ trong và ngoài ngành kiểm dịch thực vật,
nông dân,....
2. Phối hợp biện pháp sinh học theo quy trình nhân nuôi bọ xít bắt mồi
với một số biện pháp phòng trừ khác đối với mọt bột đỏ trong quản
lý dịch hại tổng hợp (IPM).
3. ứng dụng phần mềm tra cứu để phát hiện kịp thời và đánh giá loài
mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst trong thực tiễn sản xuất góp
phần thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm dịch nông sản.

1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst (Coleoptera:
Tenebrionidae) là một trong những dịch hại chính trên các sản phẩm
nông nghiệp bảo quản trong kho, tần suất xuất hiện của mọt bột đỏ cao
nhất chiếm 40,40% khi điều tra kho ở Indonesia (Haines C.P., 1997)[88]
và tổn thất về trọng lợng do loài này gây ra là khá lớn 29,5% và 39,2%
trong 4,5 tháng bảo quản (Adesuyi, 1980) (CABI, 1999)[67].
Khả năng hình thành các quần thể khác nhau ở nhóm côn trùng hại
kho nói chung, mọt bột đỏ nói riêng đã có một số biểu hiện cho thấy
quần thể loài mọt này ở một số địa phơng khác nhau có những dấu hiệu,
đặc điểm không hoàn toàn đồng nhất về mặt hình thái, sinh học.
Vấn đề đợc đặt ra là liệu giữa các quần thể này có sự khác biệt nào
đó về đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học. Những hiểu biết này
rất cần thiết khi phân tích nguy cơ dịch hại đối với loài mọt bột đỏ trong
bối cảnh mới, Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thơng
mại thế giới (WTO). Bên cạnh đó, phải tìm kiếm thêm khả năng phòng
chống loài mọt này bằng biện pháp sinh học
Xuất phát từ các vấn đề khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học
và sinh thái học của loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst ở
một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và khả năng phòng chống chúng
bằng biện pháp sinh học.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Trên cơ sở hiểu biết hệ thống và cập nhật về đặc điểm hình thái, sinh
học, sinh thái học của loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst ở

2
miền Bắc nớc ta, góp phần đề xuất biện pháp quản lý đối tợng dịch hại
này một cách hiệu quả và an toàn, phục vụ cho công tác kiểm dịch thực
vật ở Việt Nam.
2.2. Yêu cầu
- Xác định vị trí của loài mọt bột đỏ (Tribolium castaneum Herbst)
trong thành phần dịch hại kho ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
- Tìm hiểu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt
bột đỏ Tribolium castaneum Herbst ở một số tỉnh thuộc 3 vùng sinh
thái nông nghiệp của miền Bắc Việt Nam.
- Tìm hiểu khả năng phòng chống loài mọt bột đỏ (Tribolium
castaneum Herbst) bằng biện pháp sinh học theo định hớng an toàn
lơng thực, phục vụ công tác quản lý dịch hại trong kiểm dịch thực
vật ở Việt Nam.
3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. ý nghĩa khoa học
- Loài mọt bột đỏ (Tribolium castaneum Herbst) đợc nghiên cứu so
sánh trên diện rộng ở nhiều tỉnh thuộc 3 vùng sinh thái của miền Bắc
Việt Nam. Đã cung cấp bổ sung những dẫn liệu khá đầy đủ và cập
nhật về (i) Đặc điểm hình thái; (ii) Đặc điểm sinh học; (iii) Đặc điểm
sinh thái học loài mọt này.
- Đã ghi nhận đợc thêm 3 loài ong ký sinh vào danh mục kẻ thù tự
nhiên của sâu mọt hại kho tàng ở nớc ta.
- Lần đầu tiên ở Việt Nam, đã tiến hành nghiên cứu tơng đối hệ
thống về đặc điểm hình thái, sức sinh sản, đặc điểm săn mồi và khả
năng nhân nuôi số lợng lớn loài bọ xít bắt mồi Xylocoris flavipes
(Reuter), mở ra triển vọng lợi dụng loài côn trùng có ích này trong

23
vũ hoá thì hạn chế hơn. Cả bọ xít non và trởng thành bọ xít bắt
mồi đều có khả năng khống chế số lợng trứng của T.
castaneum. Sức ăn của bọ xít non tăng dần theo tuổi.
- Sức tiêu thụ trung bình của một đời bọ xít bắt mồi X. flavipes đối
với pha trứng của mọt bột đỏ T. castaneum ở 30
o
C (6,86
trứng/ngày; tổng số trung bình 446,20 trứng/đời) là cao hơn so
với ở 25
o
C (5,66 trứng/ngày; tổng số trung bình 368,2
trứng/đời); đối với pha sâu non của mọt bột đỏ là nh nhau ở
25
o
C và 30
o
C.
7. Hiệu quả của bọ xít bắt mồi X. flavipes trong điều kiện thí nghiệm
phòng chống mọt bột đỏ:
- ở quy mô nhỏ bọ xít bắt mồi bắt đầu thể hiện hiệu quả phòng
chống sinh học đối với mọt bột đỏ. Chúng có khả năng kìm hãm
số lợng mọt bột đỏ ngay từ đầu trên 2 loại thức ăn là lúa mì và
gạo;
- ở quy mô lớn hơn khả năng kìm hãm số lợng mọt bột đỏ của
bọ xít bắt mồi cao nhất trên lúa mì tại tất cả các thời điểm kiểm
tra sau thí nghiệm, đặc biệt thời điểm sau 8 tuần thí nghiệm, bọ
xít bắt mồi có thể làm giảm số lợng mọt bột đỏ lần lợt là
25,26% (đối với ngô vỡ); 73,64% (đối với gạo) và 90,18% (đối
với lúa mì);
- Trong điều kiện ngăn kho bảo quản, hiệu quả phòng chống sinh
học đạt 93,45% đối với gạo không tấm và chỉ đạt 65,49% đối
với gạo có 15-20% tấm.
8. Thử nghiệm quy trình nhân nuôi 05 cặp bọ xít trởng thành trong
phòng thí nghiệm trên 3 loại thức ăn, trong điều kiện nhệt độ trung
bình là 21,53
o
C và ẩm độ trung bình là 73%:

22
Loài bọ xít bắt mồi Xylocoris flavipes (Reuter) chiếm u thế lớn về
số lợng so với các loài thiên địch thu đợc. Quan hệ đối kháng giữa
vật bắt mồi Xylocoris flavipes (Reuter) và vật mồi Tribolium
castaneum Herbst là rất cao tại kho thóc Dự trữ quốc gia Đông Anh -
Hà Nội với mối quan hệ tuyến tính thuận và tơng đối chặt với
r=+0,85.
5. Lần đầu tiên ghi nhận đợc trởng thành bọ xít bắt mồi Xylocoris
flavipes (Reuter) có 4 loại hình (ở điều kiện 31,3
o
C và 76,4%): cánh
dài không che 1 đốt bụng cuối (10%), cánh dài không che 3 đốt bụng
cuối (60%), cánh dài che hết bụng (20%) và cánh ngắn (10%). Bọ xít
non có 5 tuổi.
6. Đặc điểm sinh học, khả năng tiêu thụ mọt bột đỏ của bọ xít bắt mồi
Xylocoris flavipes (Reuter) trong điều kiện phòng thí nghiệm:
- Khi nuôi bằng trứng mọt bột đỏ, thời gian vòng đời trung bình
của bọ xít bắt mồi X. flavipes Reuter là 23,780,32 ngày (ở
25
o
C); 19,800,98 ngày (ở 30
o
C) và 16,500,32 ngày (ở 35
o
C);
còn nuôi bằng sâu non tuổi 1-3 của T. castaneum Herbst thời
gian vòng đời trung bình 21,85 ngày (ở nhiệt độ trung bình
27,5
o
C ẩm độ trung bình 85,5%).
- Sức tiêu thụ trung bình của một cặp trởng thành X. flavipes
(loại hình cánh dài) đối với trứng của T. castaneum ở 30
o
C
(16,86) cao hơn so với ở 25
o
C (12,48), còn đối với pha sâu non
tuổi 6-7, nhộng và trởng thành mới vũ hoá của T. castaneum là
nh nhau ở 2 điều kiện nhiệt độ 25
o
C và 30
o
C. ở cả 2 nhiệt độ
(25
o
C và ở 30
o
C) khả năng khống chế của trởng thành bọ xít X.
flavipes đối với các pha phát dục của T. castaneum chủ yếu là ở
pha trứng và pha sâu non còn ở pha nhộng và trởng thành mới

3
biện pháp phòng chống loài mọt bột đỏ (Tribolium castaneum
Herbst) ở nớc ta.
3.2. ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các dẫn liệu làm cơ sở khoa học cho các quy trình phòng
trừ mọt bột đỏ nói riêng và côn trùng hại kho nói chung phục vụ
công tác quản lý dịch hại trong kiểm dịch thực vật ở Việt Nam theo
định hớng an toàn lơng thực quốc gia.
- Cung cấp những dẫn liệu khoa học bớc đầu về sử dụng biện pháp
sinh học bằng loài bọ xít bắt mồi Xylocoris flavipes (Reutter) trong
điều hòa số lợng quần thể mọt bột đỏ, đặc biệt là những quần thể đã
có tính kháng thuốc phosphine.
- Bớc đầu xây dựng quy trình nhân nuôi bọ xít bắt mồi trong phòng
thí nghiệm bằng thức ăn tự nhiên và thức ăn nhân tạo để phòng
chống mọt bột đỏ.
- Xây dựng phần mềm tra cứu các đặc điểm của loài mọt bột đỏ và
biện pháp phòng trừ đã nghiên cứu để phục vụ cho công tác giảng
dạy, tập huấn cho các cán bộ trong và ngoài ngành Bảo vệ thực vật.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tợng nghiên cứu
- Loài mọt bột đỏ (Tribolium castaneum Herbst) thu tại các kho nông
sản bảo quản ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.
- Loài thiên địch sử dụng trong biện pháp phòng trừ sinh học là loài bọ
xít bắt mồi Xylocoris (Arrostelus) flavipes (Reuter, 1875)
(Hemiptera: Anthocoridae).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
ở đề tài này, chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu chung trên cả tập hợp cá
thể loài mọt bột đỏ tại một số địa phơng có điều kiện ngoại cảnh hoặc

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×