Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh

MỞ ĐẦU
Ngày nay cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật sự phát triển
mạnh mẽ về kinh tế, TDTT ngày càng trở thành nhu cầu thiết thực đối với con
người. Hoạt động TDTT đem lại sức khỏe, hoàn thiện về thể chất con người và
trở thành nhân tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, góp phần phát
triển con người toàn diện, con người XHCN.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 đã khẳng định “con người là vốn quý
nhất của chế độ xã hội. Bảo vệ và bồi dưỡng sức khỏe của con người là mục tiêu
cao quí của ngành y tế và TDTT dưới chế độ ta”.
Nhận định được sâu sắc về vai trò của TDTT Đảng và Nhà nước ta đã quan
tâm đầu tư nhằm phát triển phong trào TDTT rộng khắp cả nước để nâng cao
sức khỏe cho nhân dân và phát triển phong trào thể thao thành tích cao. Trong
đó việc phát triển các môn thể thao truyền thống như: Võ, Vật, Đua thuyền,
Điền kinh và các môn thể thao hiện đại như: Bóng chuyền, Bóng bàn, Cầu lông,
Bóng rổ …
Bóng rổ du nhập vào Việt Nam khoảng thập niên 30 và có những thời kỳ
phát triển sôi nổi ở cả 2 miền Nam, Bắc. Cũng như các môn thể thao khác Bóng
rổ chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và phát triển con người
toàn diện. Bóng rổ là môn thi đấu đồng đội đối kháng trực tiếp và phải hoạt
động liên tục trong thời gian kéo dài, đồng thời trong quá trình thi đấu vận động
viên còn chịu rất nhiều áp lực từ các phía như đối phương, trọng tài, cổ động

viên, đồng đội, huấn luyện viên …. Dẫn đến việc phân tán sự chú ý, khả năng
quan sát làm cho vận động viên nhanh chóng suy giảm thể lực. Chính vì vậy
môn Bóng rổ đòi hỏi phải có các vận động viên được chuẩn bị một cách toàn
diện về thể lực, kỹ - chiến thuật và tâm lý.
Luật Bóng rổ hiện đại được thay đổi liên tục với các điều luật làm tăng tốc
độ, tăng tính hấp dẫn cũng như sự thể hiện của mỗi cá nhân vận động viên cũng
như của toàn đội luôn phải thi đấu với nỗ lực tối đa. Trước đây một trận đấu
được chia thành 4 hiệp, mỗi hiệp có 25 phút. Do đó tốc độ của trận đấu diễn ra
không nhanh, số đợt tấn công ít, cho nên VĐV không phải di chuyển nhiều và
1
hoạt động với cường độ thấp. Như vậy với trình độ của VĐV ngày nay có thể
đáp ứng mọi yêu cầu về ý đồ chiến thuật của huấn luyện viên cũng như yêu cầu
về sức bền chuyên môn. Nhưng ngày nay một trận đấu được chia thành 4 hiệp,
mỗi hiệp 10 phút và thời gian nghỉ giữa hiệp ít đi, đồng thời có thêm các luật về
thời gian như luật 24s phải kết thúc một lần tấn công, luật bóng không được giữ
ở sân nhà quá 8s Điều này làm tăng tốc độ của trận đấu, số đợt tấn công nhiều
hơn, VĐV phải di chuyển nhiều và hoạt động với cường độ cao hơn trước. Do
vậy VĐV thường bị mệt mỏi sau một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, muốn
đạt được hiệu quả cao trong thi đấu thì VĐV phải sử dụng tổng hợp các tố chất
như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự khéo léo. Trong đó sức bền chuyên
môn có vai trò rất quan trọng bởi vì: “Sức bền chuyên môn là khả năng duy trì
hoạt động cao trong các bài tập nhất định” nó tạo điều kiện thuận lợi cho VĐV
duy trì ổn định thể lực và kỹ - chiến thuật trong thời gian thi đấu liên tục kéo dài
và căng thẳng. Có như vậy mới đáp ứng được ý đồ chiến thuật của huấn luyện
viên, làm chủ tình huống trong những giây phút căng thẳng của trận đấu đảm
bảo tính nghệ thuật và hiệu quả thi đấu cao. Ngoài ra sức bền chuyên môn còn
chính là khả năng thể hiện năng lực sức bền một cách đặc trưng với điều kiện
tập luyện và thi đấu của từng môn thể thao chuyên sâu khác nhau.
Bóng rổ hiện đại có những yêu cầu cao về năng lực sức bền chuyên môn
đó cũng chính là tố chất của môn thể thao này được thể hiện thông qua các động
tác như: Dẫn bóng thay đổi hướng, tranh cướp bóng, dẫn bóng tấn công nhanh
từ rổ mình sang rổ đối phương ….).Nói cách cụ thể hơn, sức bền chuyên môn
trong bóng rổ đặc trưng với sức bền tốc độ (kỹ thuật dẫn bóng chắc nhanh dưới
bảng rổ chiếm vị trí thuận lợi để ghi điểm …). Sức bền tối đa (di chuyển tấn
công nhanh và kịp thời về phòng thủ) sức bền tăng giảm tốc độ (các pha cướp
bóng phản công nhanh) và sức bền (đảm bảo cho VĐV duy trì năng lực ở các
tình huống trong trận đấu).
Qua quan sát giải Bóng rổ các đội mạnh phía Bắc, tháng 12 năm 2009 tại
Trường Đại Học TDTT Bắc Ninh chúng tôi nhận thấy rằng: Thể lực chung và
thể lực chuyên môn của các đội tham gia còn rất hạn chế, càng về cuối trận đấu


2
thì thể lực của các VĐV càng giảm, dẫn đến hiệu quả trận đấu không cao. Có rất
nhiều nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm nhanh chóng thể lực của vận động
viên nữ như vậy. Dựa vào tình hình thực tế tập luyện và thi đấu của đội tuyển
Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh chúng tôi xác định nghiên cứu tìm ra hệ
thống các bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho các VĐV bóng rổ là cần
thiết.
Trên thực tế nghiên cứu khoa học, việc lựa chọn ra các bài tập nhằm phát
triển sức bền chuyên môn đã có một số tác giả nghiên cứu như: Tác giả Nguyễn
Văn Kiệt – Điền Kinh, năm 2001 với tên đề tài: “Lựa chọn một số bài tập nhằm
phát triển sức bền chuyên môn cho nam VĐV chạy cự ly 800m trường năng
khiếu TDTT Quảng Ninh giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu”; Tác giả Trần
Trung – Bóng ném, năm 2001 với tên đề tài: “Nghiên cứu các bài tập nâng cao
sức bền chuyên môn cho VĐV bóng ném trẻ quốc gia” …. Tuy nhiên việc
nghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm nâng cao khả năng sức bền chuyên môn
cho đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh thì chưa có tác giả nào đề
cập tới. Từ thực tế đó và mục tiêu nâng cao khả năng sức bền chuyên môn cho
đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh tạo tiền đề cho việc thi đấu
tốt, góp phần vào công tác giảng dạy và huấn luyện. Chúng tôi mạnh dạn đặt vấn
đề nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội
tuyển Bóng rổ nữ Trường Đại Học TDTT Bắc Ninh”.
- Mục đích nghiên cứu:
Thông qua nghiên cứu thức trạng trình độ sức bền chuyên môn của đối
tượng nữ vận động viên đội tuyển trường ĐH TDTT Bắc Ninh chúng tôi dựa
trên các cơ sở lý luận khoa học và thực tế công tác giảng dạy tại trường cũng
như của các đội bóng rổ nữ thuộc khu vực phía Bắc để đưa ra được các bài tập
hiệu quả nhất để phát triển trình độ chuẩn bị sức bền chuyên môn của đội tuyển
Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng
3
cao thành tích tập luyện và thi đấu của đội tuyển bóng rổ nữ trường ĐH TDTT
Bắc Ninh.
Mục tiêu nghiên cứu: Để tiến hành nghiên cứu đề tài chúng tôi tập trung
tiến hành giải quyết 2 mục tiêu sau:
1. Thực trạng sử dụng bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội
tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.
2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bền
chuyên môn cho đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.
Đối tượng nghiên cứu: Phương tiện bổ trợ phát triển sức bền chuyên
chuyên môn cho đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: Các bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội
tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.

4
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm hoạt động thể lực trong môn Bóng rổ.
Bóng rổ là môn thể thao phát triển khá phổ biến và rộng rãi trên khắp thế
giới. Cũng như các môn thể thao khác Bóng rổ chiếm một vị trí quan trọng trong
sự nghiệp giáo dục và phát triển con người toàn diện vì nó là môn thể thao có
tính đồng đội và đối kháng cao, phải hoạt đông liên tục đồng thời qua thi đấu nó
còn thể hiện tính nghệ thuật, sự thông minh nhanh nhẹn, khéo léo, tâm lý vững
vàng của VĐV. Trận đấu Bóng rổ được chia thành 4 hiệp, mỗi hiệp 10 phút và
thời gian nghỉ giữa hiệp có ít phút đòi hỏi VĐV vận động tích cực trong thời
gian thi đấu và có khả năng hồi phục nhanh. Mục đích thi đấu của mỗi đội là
ném bóng vào rổ đối phương càng nhiều càng tốt, kết thúc hiệp đấu không có tỷ
số hòa, tức là không thể quyết định có tính chất thỏa hiệp về trận đấu.
Hoạt động thi đấu của VDV trên sân rất phức tạp không theo chu kỳ mà
thay đổi liên tục theo tình huống và theo các điều luật quy định chặt chẽ của
môn Bóng rổ, như thời gian quy định cho mỗi đợt tấn công là 24s, VĐV không
được giữ bóng trên tay quá 5s, không được giữ bóng ở sân nhà quá 8s. Ngoài ra
còn có khu vực 3s cho đội tấn công. Với các điều luật quy định chặt chẽ về thời
gian buộc VĐV phải có trình độ chuẩn bị cao về thể lực, sức nhanh, sức mạnh,
sức bền, sự khéo léo…có như vậy VĐV Bóng rổ mới có thể phù hợp với đặc thù
chuyên môn thi đấu luôn hoạt động với cường độ lớn, chịu áp lực về mặt tâm lý,
hoạt động với thời gian thi đấu kéo dài, khi thực hiện các động tác, kĩ thuật phức
tạp, phối hợp chiến thuật nhanh, biến hóa, tính đối kháng tập thể cao, thành tích
phụ thuộc nhiều yếu tố. Vì vậy sức bền chuyên môn đóng vai trò cực kỳ quan
trọng; bởi vì “sức bền chuyên môn là khả năng duy trì hoạt động cao trong các
bài tập nhất định”. Nó tạo điều kiện cho VĐV duy trì ổn định thể lực và kĩ thuật
trong thời gian thi đấu kéo dài và căng thẳng, đáp ứng được ý đồ, kĩ chiến thuật
của HLV, đảm bảo tính nghệ thuật và hiệu quả thi đấu cao.
Bóng rổ hiện đại là môn thể thao được thể hiện bằng cường độ vận động
cao. Đối với VĐV đẳng cấp cao trong một trận đấu phải di chuyển tổng hợp
17000-25000m, trong lúc đó phải thực hiện từ 130-140 lần bật nhảy, chạy tăng
5
tốc và dừng. Khi di chuyển với tốc độ lớn được kết hợp với chuyền bóng và ném
rổ. Với các hoạt động thi đấu căng thẳng về mọi mặt, đòi hỏi người tập phải huy
động tới cực hạn các khả năng chức phận của cơ thể, các tố chất nhanh, mạnh tối
đa. Không có thể lực tốt sẽ không thể phát huy hết trình độ kĩ – chiến thuật trong
tập luyện và thi đấu. Do vậy, với các VĐV Bóng rổ, việc nâng cao các tố chất
thể lực phải dược coi trọng tương ứng với phát triển các kĩ thuật cơ bản. Công
tác huấn luyện thể lực là rất quan trọng, xong hiện nay đa số các đội bóng nước
ta còn xem nhẹ. Một số cho rằng chỉ nên tập trung vào kĩ – chiến thuật là chính,
số khác lại cho rằng chỉ cần tập sức nhanh và độ chuẩn xác là đủ, ngoài ra đa số
các đội chỉ chú ý đến thành tích trước mắt nên đã ảnh hưởng nhiều đến kết quả.
Tập luyện vì gò ép thành tính dẫn tới sự không hệ thống, không khoa học trong
giảng dạy, huấn luyện.
Vì vậy cần phải thấy rõ tầm quan trọng của tập luyện nâng cao các tố chất
thể lực, chính thể lực là việc tiếp thu kĩ - chiến thuật, qua đó cũng bồi dưỡng ý
chí phẩm chất cho người tham gia tập luyện môn thể thao Bóng rổ.
Để đạt được thành tích cần có sự phối hợp thống nhất phát triển hoạt động
của tất cả các thành viên trong đội, nhằm thực hiện một nhiệm vụ chung. Các
hoạt động của mỗi VĐV có định hướng cụ thể, tương ứng với định hướng đó
HLV phân chia VĐV ra từng vị trí thi đấu theo khả năng và sở trường của mỗi
người như:
Trung phong cần có thể lực tốt, sức bền, sức bật tốt, kĩ thuật tranh cướp
bóng quay người nhảy ném rổ tốt, vị trí trung phong là rất quan trọng bởi trung
phong là người tranh cướp bóng dưới rổ. Nếu bên sân nhà thì lập tức phát động
tấn công, còn bên đối phương thì lập tức ném rổ ghi điểm.
Tiền phong điều trước tiên là cần có chiều cao, sức nhanh và sức bật, cảm
giác về không gian và thời gian tốt, có khả năng ném rổ tốt, biết đánh giá tình
huống và tấn công kiên quyết, dũng cảm.
Hậu vệ cần có sức mạnh, linh hoạt và bền tối đa, khôn ngoan và thận trọng.
Hậu vệ có thể ném rổ tốt ở các cự ly trung bình và xa.
6
Hiệu quả các hoạt động thi đấu gắn liền với các chỉ số phản xạ của các cơ
quan cảm thụ vận động, các VĐV chơi ở tuyến sau như hậu vệ cần định hướng
tốt trong khoảng thời gian 5-10s. Điều này liên quan đến tổ chức chơi, các trung
phong cần định hướng trong khoảng thời gian 3s theo các luật thi đấu quy định ở
khu vực ném phạt, các VĐV ở tuyến trên thì 1s đó là khoảng thời gian ném rổ
đảm bảo hơn.
Hoạt động của VĐV Bóng rổ trong thi đấu không đơn thuần là tổng hợp
các động tác tấn công và phòng thủ riêng biệt, mà là tập những hành động được
hợp nhất vào một hệ thống linh hoạt duy nhất, bởi mục đích chung là ném được
bóng vào rổ của đối phương.
Trong thi đấu, mỗi VĐV cần biết thành thạo không chỉ tấn công mà còn
phải biết phòng thủ, bảo vệ rổ của mình một cách tích cực. Để giành bóng từ tay
đối phương hay không cho đối phương cơ hội ném bóng vào rổ, cần phải phản
ứng đúng lúc và chính xác đối với các hoạt động của đối phương. Trong khi vẫn
chú ý tới vị trí của các VĐV đội đối phương, đội mình và vị trí có bóng. Các
hoạt động trong thi đấu được dựa vào sự ổn định và ứng dụng biến dạng các kĩ
năng vận động vào mức độ phát triển các tố chất thể lực, tình trạng sức khỏe và
tố chất thể lực của VĐV.
Tóm lại, hoạt động thi đấu Bóng rổ là quá trình đòi hỏi VĐV phải có sự
tiến bộ không ngừng về trình độ kĩ chiến thuật cũng như tiến bộ về thể lực
chuyên môn, trong đó sức bền chuyên môn đóng vai trò rất quan trọng nó quyết
định đến hiệu quả thi đấu của VĐV.
1.2 Đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV Bóng rổ
Huấn luyện thể lực là quá trình sử dụng các bài tập thể lực nhằm tác động
có chủ đích đến sự phát triển và hoàn thiện về hình thái chức năng, tố chất thể
lực và sức khỏe của VĐV. Huấn luyện thể lực còn là cơ sở huấn luyện kĩ chiến
thuật. Đây là một vấn đề cơ bản trong quá trình đào tạo nói chung, trong giảng
đạy môn Bóng rổ nói riêng và cũng được các chuyên gia, các nhà khoa học rất
quan tâm.
7
Trong bất cứ loại hình hoạt động nào thì các tố chất vận động cũng không
thể đơn độc, mà luôn phối hợp hữu cơ với nhau. Nhưng trong mỗi môn thể thao
có một hoặc nhiều tố chất được thể hiện rõ rệt, nổi trội so với các tố chất khác,
quyết định kết quả hoạt động chung, quyết định thành tích thể thao của môn thể
thao đó (chủ yếu trong các môn thể thao cá nhân hoặc hoạt động có chu kỳ).
Huấn luyện, giảng dạy thể lực chuyên môn nhằm phát triển và hoàn thiện những
năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm môn thể thao chuyên sâu và phát triển
đến mức tối đa ở người tập. Trong môn Bóng rổ các tố chất thể hiện một cách rõ
nét:
Sức nhanh: Sức nhanh trong Bóng rổ đó là khả năng xuất phát với tốc độ
nhanh, khả năng tăng tốc đạt tốc độ tối đa và tốc độ của toàn đội. Sức nhanh còn
tạo điều kiện giúp VĐV có thể nhanh chóng rút ngắn thời gian chuẩn bị và
nhanh chóng chiếm được các lợi thế trong thi đấu (trong tấn công cũng như
trong phòng thủ ).
Sức mạnh: Môn Bóng rổ có những yêu cầu cao về năng lực sức mạnh,
biểu hiện đáng kể ở những lần bật nhảy ném rổ chiếm độ cao hay nhảy tranh
cướp bóng, ngoài ra còn thể hiện ở tốc độ di chuyển khi thực hiện các bài tập,
các động tác khác nhau.
Theo các tài liệu chuyên môn Bóng rổ thì có hơn 80% các động tác mang
tính sức mạnh - tốc độ. Xong khi di chuyển, lúc đứng phòng thủ, các động tác
cướp bóng hay các động tác gọi là các động tác “rắn” thường đòi hỏi nỗ lực tĩnh
lực lớn. Bởi vậy, việc huấn luyện sức mạnh cần phải toàn diện và phát triển sức
mạnh các cơ theo chế độ khác nhau, ngoài ra sức mạnh bột phát phản ánh năng
lực biểu hiện sức manh đến mức tối đa trong một khoảng thời gian tối thiểu do
điều kiện của bài tập thể thao hay của các tình huống thi đấu chi phối, VĐV
Bóng rổ thường sử dụng dạng sức mạnh này trong các lần bật nhảy, đột phá tấn
công nhanh hay chuyền bóng xa.v.v.
Sức bền: Với lượng vận động tập luyện và thi đấu cũng như nhịp độ thi
đấu rất cao, các động tác kĩ thuật được thể hiện rất lớn trong khi co sự phản công
của đối phương, áp dụng các hệ thống phòng thủ và tấn công tích cực, đột phá
tấn công nhanh và phòng thủ kèm người toàn sân. Thời kỳ thi đấu kéo dài cùng
8
sự căng thẳng cao độ của các trận đấu giải và các cuộc thi riêng lẻ đòi hỏi trong
trận đấu VĐV luôn cố gắng sức tối đa với sự tham gia trao đổi chất không có
ôxy và các hoạt động sức mạnh luôn được gắng sức tới tối đa. Do vậy cần có
khả năng chống lại mệt mỏi do tập luyên kéo dài hay thi đấu gây ra…
Khéo léo: Sự linh hoạt trong môn Bóng rổ rất quan trọng trong thi đấu,
giúp VĐV kịp thời ứng phó với các tình huống thay đổi trong thời gian rất ngắn.
Huấn luyện thể lực (còn gọi là quá trình giáo dục các tố chất thể lực chung
và chuyên môn) là một quá trình tác động thường xuyên và theo kế hoạch sắp
xếp hợp lý bằng các bài tập thể thao nhằm phát triển các mặt chất lượng và khả
năng của con người.
Quá trình ấy tác động sâu sắc đến hệ thần kinh cơ cũng như đối với cơ
quan nội tạng của con người. Nhất là cơ quan tuần hoàn hô hấp dưới tác động
của lượng vận động ngày càng lớn. Sự lựa chọn đúng bài tập có ý nghĩa rất lớn
đối với các môn thể thao, khi lựa chọn và thực hiện không đúng các bài tập dẫn
đến các sai lầm chuyên môn trong các cơ quan chức phận ảnh hưởng đến việc
phát triển thành tích thể thao của VĐV.
Muốn có thành tích tốt trong môn Bóng rổ trước tiên cần có các tố chất thể
lực tốt phù hợp với các yêu cầu chuyên môn của môn thể thao này (thể lực
chuyên môn). Xong không có nghĩa là coi nhẹ các mặt khác như thể lực chung,
kĩ thuật, chiến thuật, tâm lý, đặc điểm cá nhân. Nguyên tắc chung trong lựa chọn
các bài tập nhằm giáo dục các tố chất thể lực chuyên môn là các bài tập phải
được thực hiện bằng cường độ thi đấu, tăng hoặc giảm khối lượng kết hợp với
các điều kiện huấn luyện nhằm thực hiện các bài tập.
1.3. Vấn đề huấn luyện sức bền chuyên môn trong thể thao.
Trong huấn luyện thể thao, sức bền là một trong 5 tố chất cần thiết để nâng
cao thành tích thể thao. Đặc biệt trong công tác huấn luyện Bóng rổ, đa số các
nhà chuyên môn cho rằng tố chất thể lực của VĐV Bóng rổ phải được phát triển
và tập luyện lâu dài trong suốt quá trình tập luyện.
Theo quan điểm của các nhà lý luận cho rằng: Sức bền là khả năng thực
hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay là năng lực duy trì khả năng vận
động trong thời gian dài nhất mà cơ thể chịu đựng được. Hay nói cách khác sức
bền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong hoạt động nào đó. Khái niệm
9
sức bền luôn liên quan đến khái niệm mêt mỏi: Mệt mỏi là sự giảm sút tạm thời
khả năng vận động hay hoạt động do sự vận động gây nên.
Chúng ta đã biết, sức bền có rất nhiều loại và đa dạng, nó tùy thuộc vào cơ
chế mệt mỏi do các hình thức vận động khác gây nên. Nhưng dựa vào khả năng
chuyển sức bền từ hoạt động này sang hoạt động khác mà có thể chia sức bền
thành hai loại: Sức bền chung và sức bền chuyên môn.
Sức bền chung: Là sức bền trong các hoạt động kéo dài, với cường độ thấp,
có sự tham gia của phần lớn hệ cơ.
Sức bền chuyên môn: Là khả năng duy trì khả năng vận động cao trong
những loại hình bài tập nhất định.
Theo Pharơphen cho rằng: Thời gian mà con người có khả năng duy trì
cường độ hoạt động định trước là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đáng
giá sức bền.
Theo tiến sĩ Dietrich hare cho rằng: Sức bền là khả năng chống lại mệt mỏi
khi vận động với tốc độ tối đa và gần tối đa. Sức bền được chia thành: Sức bền
trong thời gian ngắn: “Thời gian hoạt động từ 40s đến 2 phút”; Sức bền trong
thời gian trung bình: “Thời gian hoạt động từ 2 phút đến 11phút”; Sức bền trong
thời gian dài: “Thời gian hoạt động từ 11 phút đến nhiều giờ”.
Theo Matveev: Sức bền là cơ sở, là khả năng đối kháng lại cơ thể của vận
động viên khi thực hiện lượng vận động ở thời gian kéo dài; Sức bền là khả
năng chống lại mệt mỏi và duy trì hoạt động dài của VĐV.
Theo quan điểm của Nguyễn Toán và Phạm Văn Tốn: Sức bền là khả năng
thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay năng lực duy trì khả năng
vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể chịu đựng được.
Như vậy, sức bền là khả năng vận động của cơ thể trong khoảng thời gian
dài khắc phục và quá mệt mỏi do hoạt động gây ra. Để hoạt động sức bền tốt
hơn cơ thể phải hoạt động mạnh trong điều kiện ưa khí và nguồn năng lực phải
được cung cấp đầy đủ cho hoạt động, để có được sức bền tốt phải tích cực rèn
luyện, cộng với sự kiên trì, nỗ lực ý chí cao…Hoạt động vừa nâng cao phẩm
chất ý chí của VĐV.
10
Người ta gọi sức bền trong các hoạt động kéo dài, với cường độ thấp, có sự
tham gia của phần lớn hệ cơ là sức bền chung. Sức bền chung có khả năng
chuyển từ dạng hoạt động này sang hướng hoạt động khác, là từ khi được nâng
cao trong một loại bài tập nào đó, có khả năng biểu hiện trong các bài tập khác
cũng có tính chất. Điều này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng để nâng cao sức bền
chung của VĐV cũng như sinh viên ở một môn nào đó có thể sử dụng nhiều
hình thức, bài tập khác nhau.
Huấn luyện sức bền chung cần phải tạo nên các tiền đề quan trọng cho việc
hình thành và thể hiện sức bền thi đấu chuyên môn. Nhiệm vụ chính của huấn
luyện sức bền chung là phát triển khả năng ưa khí và sử dụng khả năng này một
cách “kinh tế”. Việc này đòi hỏi phải nâng cao khả năng hấp thụ ôxy tối đa và
khả năng truyền, phải mở rộng khả năng ôxy hóa các tế bào của các cơ chịu
lượng vận động chính trong điều kiện tập luyện, thi đấu cũng như phải biết tiết
kiệm tối đa các quá trình tuần hoàn, trao đổi chất và hô hấp.
Ngoài ra, trong huấn luyện sức bền chung phải hoàn thiện và nâng cao kĩ
thuật thể thao để cùng với kết quả của toàn bộ sự thích nghi này VĐV có khả
năng vận động với tốc độ cao trong một tình trạng còn trao đổi chất ưa khí. Hơn
nữa huấn luyện sức bền chung cũng cần phải phát triển các phẩm chất cá nhân
như khả năng chịu đựng, ý chí nghị lực tự chủ, tự tin, cứng rắn… Các phẩm chất
cá nhân này cũng có ảnh hưởng quan trọng trong quá trình huấn luyện sức bền
chung cũng tạo ra khả năng chịu đựng lượng vận động và tâm lý phát triển lên
của VĐV. Do đó một nhiệm vụ quan trọng nữa của huấn luyện sức bền chung là
đảm bảo cho VĐV, có khả năng hoàn thành, có kết quả một khối lượng vận
động ngày càng lớn hơn khi tăng tốc độ qua đó có thể thường xuyên xảy ra
những sự dự trữ mới để nâng cao thành tích. Hình thức thể hiện điển hình của
huấn luyện sức bền chung là một khối lượng vận động lớn và tăng lên có hệ
thống trong từng buổi tập. Tốc độ các lượng vận động này chỉ cao tới mức sự
sẵn sàng sử dụng năng lượng cơ thể xảy ra một cách rộng rãi nhất theo con
đường ôxy hóa (ưa khí). Các phương pháp chính của huấn luyện sức bền chung
là các phương pháp liên tục giãn cách thời gian dài.
11
Khả năng ưa khí của cơ thể là khả năng tạo ra nguồn năng lực do hoạt động
cơ bắp thông qua quá trình ôxy hóa các hợp chất giàu năng lượng của cơ thể. Để
nâng cao khả năng ưa khí cần phải giải quyết ba nhiệm vụ: Nâng cao khả năng
hấp thụ ôxy tối đa; Nâng cao khả năng kéo dài thời gian duy trì mức hấp thụ thể
tích O
2
lớn nhất; Làm cho hệ tuần hoàn và hô hấp nhanh chóng đạt được mức
hiệu quả với hiệu suất cao.
Để giải quyết những nhiệm vụ trên, nguyên tắc chung của các phương
pháp tập luyện nâng cao khả năng ưa khí là sử dụng các bài tập. Trong đó có
hiệu suất hô hấp và tuần hoàn có thể đạt mức tối đa và duy trì được mức ôxy cao
trong thời gian dài. Tuy nhiên, đó phải là những bài tập có sự tham gia của nhiều
nhóm cơ có tốc độ gần tới hạn. Các phương pháp chủ yếu để nâng cao khả năng
ưa khí của cơ thể là: Phương pháp đồng đều liên tục, phương pháp biến đổi và
phương pháp lặp lại. Các phương pháp này có cấu trúc và thành phần của lượng
vận động như sau:
- Cường độ hoạt động (tốc độ di chuyển ). Cần phải cao hơn tốc độ tới hạn
và vào khoảng 75-80% cường độ tối đa: Cường độ này cần sao cho vào khoảng
cuối lực hoạt động, tần số mạch đập phải xấp xỉ 180 lần/phút.
- Độ dài cự li tập luyện phải được lựa chọn sao cho thời gian thực hiện
không quá 40-60 phút, chỉ trong điều kiện này hoạt động mới diễn ra trong điều
kiện nợ ôxy và hấp thụ ôxy đạt mức tối đa vào lúc nghỉ ngơi.
- Khoảng cách nghỉ ngơi cần phải làm sao để hoạt động sau được tiến hành
trên cơ sở thuận lợi của hoạt động trước đó, nếu xác định theo thể tích tâm thu
thì khoảng cách nghỉ ngơi đó đối với VĐV có luyên tập tốt tần số tim vào
khoảng 140-180 lần /phút. Trong mọi trường hợp thời gian nghỉ không nên vượt
quá 5-6 phút khi mà hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp giảm nhiều.
- Số lần lặp lại cần tính toán sao cho đảm bảo duy trì được trạng thái ổn
định trong sự phối hợp hoạt động của các hệ thống cơ thể. Số lần lặp lại có thể
tùy thuộc vào tần số mạch đập để tránh mức lượng vận động.
Nâng cao khả năng yếm khí cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao khả
năng yếm khí tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện yếm khí. Bởi vì quá
12
trình trả nợ ôxy được diễn ra một phần trong lúc vận động và có khả năng ưa khí
cao thì phần trả nợ ôxy trong vận động đó sẽ lớn hơn và hiệu quả hoạt động của
cơ thể sẽ tăng lên.
Để nâng cao khả năng yếm khí thì phải giải quyết hai nhiệm vụ phân hủy
của hai phản ứng: Hoàn thiện cơ chế phôtspho crêatin và glucôza.
+ Các bài tập nhằm hoàn thiện cơ chế phôtspho crêatin.
Là khả năng vận động của cơ thể trong điều kiện dựa vào nguồn cung cấp
năng lượng yếm khí.
+ Cường độ bài tập (tốc độ bài tập) gồm tốc độ tối đa hoặc thấp hơn một
chút (90% VO
2
max) tốc độ này không ảnh hưởng đến trao đổi chất tạo điều
kiện để kiểm tra kỹ thuật bài tập và để tránh hiện tượng hàng rào tốc độ.
+ Thời gian bài tập (mỗi lần lặp lại chỉ giới hạn từ 3-8s). Bởi vì dự trữ cơ
chế CP trong cơ thể rất ít, sự phân hủy hợp chất này chỉ diễn ra trong thời gian
vài giây (3-8s) sau khi bắt đầu hoạt động.
+ Thời gian nghỉ giữa quãng từ 2-3 phút, đó cũng là thời gian đủ để hồi
phục cơ chế phôtspho crêatin và tạo ra axit lactic, nên tốc độ trả nợ ôxy diễn ra
khá nhanh. Nhưng do dự trữ cơ chế phôtspho crêatin trong cơ thể rất ít, nên sau
3-4 lần lặp lại thì hoạt động của cơ chế glucôphân sẽ tăng lên, còn cơ chế
phôtspho crêatin sẽ giảm đi. Để khắc phục hiện tượng này, người ta chia bài tập
từ 2-3 nhóm, mỗi nhóm gồm 3-5 lần lặp lại, thời gian nghỉ giữa các nhóm kéo
dài từ 8-10 phút (đủ để ôxy hóa phần lớn axit lactic và đảm bảo được trạng thái
hưng phấn cao của các trung tâm thần kinh) .
+ Số lần lặp lại: Dựa vào trình độ tập luyện của VĐV sao cho tốc độ không
bị giảm đi.
Để hoàn thiện tối ưu cơ chế này cần yêu cầu cường độ của bài tập phải đạt
từ 85-100% vận tốc tối đa cuối các lần lặp lại vận tốc có giảm nhưng phải đảm
bảo vận tốc tối đa.
Theo kết quả thí nghiệm thì nồng độ axit lactic đạt được ở mức cao không
phải là sau khi kết thúc bài tập mà là sau khi nghỉ 1 phút. Quá trình lặp lại với
quá trình nghỉ giảm dần thì nồng độ axit lactic lại gần tới thời điểm kết thúc buổi
13
tập, mục đích là làm cho cơ thể thích nghi với trạng thái nợ ôxy cao, thể hiện ở
nồng độ axit lactic nhằm nâng cao khả năng yếm khí .
Trong công tác huấn luyện sức bền chuyên môn phải dựa vào phương pháp
giáo dục sức bền kết hợp giữa 5 yếu tố cơ bản của luật vận động: Tốc độ bài tập,
thời gian bài tập, thời gian nghỉ giữa quãng, tính chất nghỉ ngơi, số lần lặp lại.
Tốc độ bài tập: Tốc độ dưới tới hạn là tốc độ di chuyển đòi hỏi sự cung
cấp ôxy dưới mức cơ thể có thể đáp ứng được tức là nhu cầu ôxy thấp hơn khả
năng hấp thụ ôxy trong cơ thể. Trong thực tế lượng ôxy đáp ứng đủ nhu cầu oxy
cho VĐV đòi hỏi thì hoạt động điễn ra trong điều kiện ổn định thật, trong vùng
tốc độ dưới tới hạn thì nhu cầu ôxy tỷ lệ thuận vối tốc dộ di chuyển.
- Nếu VĐV di chuyển với tốc độ nhanh thì dẫn đến sẽ đạt đến mức độ tới
hạn, khi đó nhu cầu ôxy sẽ đạt tới mức độ bằng khả năng ưa khí (khả năng hấp
thụ ôxy tối đa trong cơ thể).
- Tốc độ trên tới hạn: Là tốc độ di chuyển có nhu cầu oxy cao hơn năng
lượng hấp thụ ôxy tối đa. Lúc này hoạt động sẽ diễn ra trong điều kiện nợ ôxy
do các nguồn yếm khí, do hiệu suất của cơ thể cung cấp năng lượng yếm khí gây
ra ở vùng tốc độ tới hạn nhu cầu ôxy phát triển nhanh hơn nhiều so với mức tăng
của tốc độ di chuyển.
Thời gian bài tập: Thời gian bài tập có liên quan đến tốc độ di chuyển tức
là thời gian giới hạn của một bài tập luôn luôn tương ứng với tốc độ di chuyển
náo đó. Như vậy, thời gian của bài tập kéo dài tới mức độ tới hạn và tới hạn đòi
hỏi sự hoạt động căng thẳng của những hệ thống đảm bảo cung cấp và sử dụng
ôxy trước hết là sự tuần hoàn và hô hấp. Còn thời gian bài tập với tốc độ trên tới
hạn đã đòi hỏi khả năng nợ ôxy cơ thể.
Thời gian nghỉ giữa quãng: Trong các bài tập, lặp lại có vai trò quan
trọng đối với tính chất và phương hướng hoạt động của bài tập đối với cơ thể.
Những bài tập có tốc độ tới hạn và dưới tới hạn nếu thời gian nghỉ giữa quãng
đủ dài cho các hoạt động sinh lý trở lại ở mức tương đối bình thường, ở mỗi lần
lặp lại các bài tập tiếp theo, các phản ứng của cơ thể sẽ diễn ra gần giống như
lần thực hiện bài tập trước đó.
14
Các bài tập lại với tốc độ tới hạn và tới hạn khi thời gian bài tập ngắn (dưới
2 phút). Các quá trình hô hấp chưa kịp phát huy ở mức độ đầy đủ và hoạt động
diễn ra trong điều kiện thiếu ôxy. Trong trường hợp này nếu thời gian nghỉ giữa
quãng ngắn thì lần thực hiện bài tập tiếp theo sẽ diễn ra trên nền tảng của hô hấp
chưa giảm và tăng lượng cho hoạt động dần được đảm bảo bằng cơ chế ưa khí.
Trong các bài tập lặp lại với tốc độ trên tới hạn và quãng nghỉ không đầy
đủ, để thanh toán nợ ôxy thì cần lặp lại bài tập tiếp theo sẽ diễn ra trên nền nợ
ôxy chưa được thanh toán, lượng ôxy sẽ tích lũy và tăng lên nhanh chóng sau
mỗi lần lặp lại bài tập, hoạt động ngày càng mang tính chất yếm khí. Các bài tập
này tuy số lần lặp lại không lớn nhưng thuộc loại những bài tập nặng tác động
mạnh đến với cơ thể.
Tính chất nghỉ ngơi: Nghỉ ngơi giữa quãng có thể là thụ động bởi tiếp tục
bài tập dưới hình thức nào khác, có thể là nghỉ ngơi tích cực tức là bài tập vẫn
tiếp tục với cường độ thấp hơn (chạy nhẹ nhàng, thả lỏng…). Các hình thức nghỉ
ngơi tích cực khác nhau được coi là biện pháp tốt để tránh hiện tượng chuyển
đột ngột từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động và ngược lại, để duy trì trạng thái
cơ thể ở mức hoạt động cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện bài
tập ở mỗi lần lặp lại bài tập tiếp theo, cũng như để thúc đẩy quá trình hồi phục.
Số lần lặp lại: Trong huấn luyện để phát triển sức bền chuyên môn, các
bài tập thường lặp lại nhiều kiểu cách và cấu trúc khác nhau. Trong các bài tập
ưa khí thì thời gian mỗi lần thực hiện bài tập (mỗi lần lặp lại) tương đối ngắn thì
số lần lặp lại tương đối lớn. Ngược lại trong các bài tập yếm khí, việc tăng số lần
lặp lại phải thận trọng và chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định. Như vậy số
lần lặp lại là một trong những yếu tố quy định luật vận động, tạo nên kết quả
phối hợp của cả bài tập. Việc xác định số lần lặp lại tùy thuộc vào mức độ tập
luyện của VĐV. Trong rất nhiều bài tập, hiệu quả chính của bài tập phụ thuộc
vào số lần lặp lại cuối cùng. Vì vậy nếu quy định số lần lặp lại không đúng, thì
hiệu quả bài tập sẽ giảm đi rất nhiều. Một trong những căn cứ để xác định số lần
lặp lại là đảm bảo cho tốc độ thực hiện bài tập trong những lần lặp lại cuối cùng
không bị giảm đi đáng kể.
15
Như vậy, việc thay đổi một trong năm thành phần trên của luật vận động
có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ làm thay đổi cơ chế diễn biến sinh lý trong cơ thể.
Nó có tác dụng trực tiếp tới việc thay đổi thành tích.
1.4. Đặc điểm huấn luyện sức bền chuyên môn trong Bóng rổ.
Mỗi môn thể thao có đặc thù riêng, sự vận động đặc thù đó tạo nên sự phát
triển không đều nhau ở các nhóm cơ khác nhau, ở các VĐV các môn thể thao
khác nhau. Sức bền là một trong những nhân tố quan trọng nhất của VĐV Bóng
rổ, đồng thời còn là một trong những yếu tố dẫn tới sự thành công của VĐV
trong tập luyện và thi đấu.
Nguyên tắc tập luyện để phát triển sức bền.
Nâng cao sức bền phải toàn diện cho nên không được tập luyện một cách
cục bộ vì các tố chất của thể lực cơ thể có liên quan mật thiết với nhau. Phải tập
luyện thường xuyên, liên tục và phải kiên trì mới có được hiệu quả mong muốn.
Khối lượng và cường độ phải nâng cao dần phụ thuộc vào cùng thời kỳ và giáo
dục huấn luyện.
Sức bền chuyên môn trong Bóng rổ thể hiện ở sức bền ý chí và sức bền cơ
bắp. Sức bền trong thi đấu Bóng rổ có liên quan mật thiết tới các tố chất khác,
đặc biệt là tố chất sức nhanh và sức mạnh… Các mối tương quan đó chúng tôi
thể hiện trên sơ đồ sau:
SB tốc độ Sức mạnh bền

SB trong thời gian dài SB trong thời gian trung bình SB trong thời gian ngắn


Trong đó sức bền tốc độ là khả năng của VĐV chống lại mệt mỏi trong các
hoạt động phải dùng sức tối đa với sự tham gia trao đổi chất không có ôxy
thường là các hoạt động dưới 50s.
16
Sức bền chung
Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới sức mạnh và sức bền hay cụ thể hơn là sức
bền tốc độ và sức mạnh bền.
Sức bền tốc độ.
Huấn luyện chuyên môn cho VĐV Bóng rổ trước hết là nhằm cải thiện các
khả năng sức mạnh, tốc độ tạo nền tảng để phát triển tốt các hoạt động, xuất
phát, dừng đột ngột, nhảy và ném trong trận đấu đó cũng chính là thành phần
chính công tác huấn luyện sức mạnh cho VĐV Bóng rổ.Việc thực hiện tay ném
Bóng rổ và bật nhảy có thể kết hợp đồng thời. Ở đây đòi hỏi lượng vận động
luôn luôn chuyển đổi từ các hoạt động tay ném sang chân giậm bật, quãng nghỉ
giữa hai lần bật nhảy cũng phải đủ dài để phát huy hết sức mạnh cho những lần
thực hiện ở các bài tập sau.
Sức bền tốc độ trong Bóng rổ vừa giúp tăng cường sự ổn định của viêc sử
dụng các động tác kĩ thuật, chiến thuật, vừa là những nhân tố chuyên môn để
duy trì sức nhanh và sức mạnh (sức bền tốc độ). Cơ sở cơ bản để đạt được điều
đó là phát triển vững chắc sức bền tốc độ ở từng thời kỳ, ở từng giai đoạn huấn
luyện. Luật vận động để phát triển sức bền ở các thời kỳ chuẩn bị: Số lần lặp lại
cao trong các nhóm tập 15-20 lần với quãng chạy vừa phải từ 100m- 200m.
Cường độ vận động trung bình khoảng 70% sức, tốt nhất là sử dụng các bài tập
chạy với phương pháp kéo dài, và các động tác nhảy, ném với phương pháp ngắt
quãng. Việc chuyển đổi thường xuyên liên tục giữa hao khả năng hoạt động của
cơ thể trong điều kiện nợ dưỡng và đủ dưỡng sẽ nâng cao khả năng chịu dựng
của cơ thể, tăng nhanh khả năng cung cấp năng lượng trong lúc vận động, phát
triển nhanh được khả năng hồi phục và như vậy sẽ nâng cao được hiệu quả trong
thi đấu.
Sức mạnh bền.
Sức mạnh bền phụ thuộc vào nhiều nhân tố, xong ở đây ta chỉ tập chung
vào các nhân tố có thể điều khiển được bằng các biện pháp sư phạm. Trong đó
điều khiển phát triển và hoàn thiện nhân tố ngoại biên (thiết diện cơ) và nhân tố
điều hòa thần kinh (trong một cơ và giữa các nhóm cơ) có ý nghĩa chủ đạo. Ở
đây vừa phải nâng cao nhân tố trên, vừa phải cho cơ quan vận động thích nghi
các hoạt động nằm trong chuyên môn Bóng rổ. Chủ yếu phát triển sức mạnh bột
17
phát để bật nhảy chiếm độ cao hay điều chỉnh cơ thể trong tư thế không chân
trụ, các động tác ném bóng xa tay hay ném bóng cầu môn…Thông thường sử
dụng lặp lại các bài tập cực hạn với lượng đối kháng chưa tới tối đa và sử dụng
các bài tập với trọng lượng chưa tới tối đa với tốc độ tối đa.
Nâng cao sức mạnh bền trong Bóng rổ là đồng thời cùng lúc phát triển cả
hai tố chất sức mạnh và sức bền chuyên môn. Trước hết ta phát triển sức mạnh
cho các nhóm cơ đặc thù chuyên môn bằng các phương pháp, phương tiện (các
bài tập thể lực), đồng thời nâng cao khả năng chịu đựng của các nhóm cơ trong
thời gian kéo dài.
Đặc điểm trong hoạt động Bóng rổ rất đa dạng thể hiện ở các lần tăng tốc
đột ngột, luôn luôn nỗ lực nhanh, mạnh tới mức tối đa khi thực hiện nhảy ném
cầu môn hay chuyền bóng xa, cản người trong phòng thủ… cùng với các áp lực
về tâm lý gây cho VĐV sự mệt mỏi nhanh chóng mà nguyên nhân chính là do
VĐV không có khả năng hồi phục nhanh trong thời gian ngắn do sức bền của
các nhóm cơ vận động chính nhanh chóng mệt mỏi do chưa có trình độ cao về
sức mạnh bền.
Để phát triển sức mạnh bền thì phải kết hợp đồng thời hai yếu tố là phát
triển sức mạnh và sức bền, tức là nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể khi
vận động với cường độ lớn trong thời gian kéo dài. Chính vì vậy để nâng cao
sức mạnh bền trong Bóng rổ cần phải giải quyết 3 nhiệm vụ sau:
- Nâng cao sức mạnh và sức mạnh tốc độ chuyên môn.
- Kéo dài khả năng hoạt động của cơ thể trong điều kiện thực hiện lượng
vận động chuyên môn lớn.
- Tăng nhanh khả năng hồi phục khi cơ thể hoạt động với cường độ lớn,
thời gian kéo dài, quãng nghỉ ngắn.
Để giải quyết các nhiêm vụ này, phương pháp cơ bản được sử dụng đó là
tập luyện với bài tập sức manh, sức mạnh tốc độ với tần số lần lặp lại nhiều lần,
thời gian kéo dài và quãng nghỉ ngắn.
Như vậy dựa trên nghiên cứu và đặc điểm, phương pháp giảng dạy sức bền
chuyên môn trong Bóng rổ, đặc điểm lứa tuổi 18-22 chúng tôi đã có những cơ sở
18
xác thực để đi sâu vào vấn đề nâng cao sức bền chuyên môn cho đội tuyển Bóng
rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.
1.5. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 18-22.
Trong tâm lý học lứa tuổi người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn
phát triển lúc đầu từ lúc dậy thì và kết thúc bước vào tuổi người lớn.
- Lứa tuổi từ 14-18 là giai đoạn của tuổi thanh niên
- Lứa tuổi từ 18-22 là giai đoạn 2 của tuổi thanh niên.
Chúng ta xem xét đặc điểm tâm lý của giai đoạn hai từ 18-22 tuổi.
Xét về nội dung tính chất hoạt động của lứa tuổi này phức tạp hơn nhiều so
với lứa tuổi trước đó, lứa tuổi này không những đòi hỏi về mặt học tập mà còn
đòi hỏi về tính năng động, sáng tạo ở mức độ cao hơn nhiều. Đồng thời cũng đòi
hỏi muốn nắm được chương trình học tập một cách sâu sắc thì cần phát triển
một cách tư duy về mặt lý luận. Khi tuổi càng trưởng thành kinh nghiệm càng
phong phú thì càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của
cuộc đời. Do đó, thái độ ý thức của lứa tuổi này phát triển cao, có hứng thú học
tập gần với hứng thú nghề nghiệp, các em được thúc đẩy bằng động cơ học tập
và đã nhận thức được ý nghĩa xây dựng của môn học của nghề nghiệp, của mình
lựa chọn đó cũng là điều kiện cho việc giảng dạy và huấn luyện.
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ tri giác có mục đích đã đạt ở mức độ cao,
quan sát trước nên có mục đích có hệ thống và toàn diện hơn, ghi nhớ có chủ
định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ đồng thời vai trò của ghi nhớ
logic trừu tượng ngày một tăng rõ rệt, đặc biệt các em đã tạo được tâm thế trong
ghi nhớ.
Hệ thần kinh, mức phát triển thể hình đã tương đối hoàn thiện, kích thước
não và hành tủy đã đạt đến mức người trưởng thành. Hoạt động phân tích phức
hợp của vỏ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình thành tốt. Tư duy, suy nghĩ
của các sinh viên đã đạt mức độ cao như của người lớn, có khả năng suy nghĩ
độc lập, có sáng tạo trong học tập.
Hệ tuần hoàn: Tần số co bóp của tim khoảng 60-80 lần/ phút/ yên tĩnh khi
vận động sẽ thay đổi nhiều. Mạch đạt 160-180 lần / phút. Tim hoạt động tinh tế
19
hơn và đạt mức gần ổn định. Hệ tuần hoàn cũng thích nghi với sự tăng công suất
hoạt động thể lực ở mức độ cao. Sự hồi phục sau vận động nhanh. Thể tích phút
đạt 24-28 lần/ phút. Thể tích tâm thu đạt 120-140ml. Huyết áp tối đa tăng 180-
200mm Hg, huyết áp tổi thiểu không ổn định.
Hệ hô hấp: Các chỉ số hô hấp đạt ổn định tần số hô hấp đạt 12-18 lần/ phút
lúc yên tĩnh, độ hô hấp sâu (400-500ml) hấp thụ ôxy thấp hơn người lớn một
chút.
Bộ máy vận động: Xương, cơ, khớp đã phát triển ở mức độ cao, cơ thể chịu
đựng được lượng vận động lớn: Tuy nhiên ở nữ vì xương xốp hơn, lỗ tủy rỗng,
bắp thịt còn yếu và nhỏ, xương chân to và yếu nên khi bị chấn động mạnh rễ bị
ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong khung chậu như buồng trứng, dạ con…
Ở lứa tuổi này các sinh viên có thể đạt được thành tích cao trong môn thể
thao chuyên sâu, có khả năng thi đấu ở trình độ tương đối cao nên được đào tạo
một cách toàn diện và có trình độ kĩ thuật cũng như thể lực đạt ở mức độ cao, sự
chuẩn bị tốt.
Sự phát triển các tố chất thể lức không đều và chưa đạt đến mức độ cao,
thậm chí còn ở mức thấp. Sức mạnh các nhóm cơ phát triển không đồng đều nếu
không có sự tập luyện đặc biệt thì sức mạnh phát triển chậm. Sức nhanh: thời
gian phản ứng vận động đơn giản ở mức độ người trưởng thành (0,11-0,25). Tốc
độ động tác đơn lẻ hơn giảm so với lứa tuổi 13-14. Sức bền: Thể tích O
2
lớn
nhất đạt 3,5 lít/ phút, sức bền biểu hiện rõ rệt dưới tác động của tập luyện, đồng
thời sức bền chung của các nhóm cơ chung tăng lên. Khả năng phối hợp vận
động: Khả năng định hướng trong không gian đạt mức độ cao như người lớn,
Khả năng định hướng thời gian đạt độ hoàn chỉnh, tuy nhiên cũng có độ dao
động rất lớn trong cùng một độ tuổi. Khả năng điều chỉnh về lực gần hoàn
chỉnh.
1.6 Đặc điểm trình độ thể lực của đội tuyển nữ.
Thành tích các môn thể thao nói chung và môn Bóng rổ nói riêng bị chi
phối bởi tuyển chọn khoa học đúng phương pháp, nhờ đó giúp cho các công tác
huấn luyện nâng cao các mặt cấu thành của tài năng thi đấu, hạn chế tối đa ảnh
20
hưởng không tốt, đó là lãng phí thời gian, kéo dài tuổi thọ của VĐV. Yêu cầu
đầu tiên trong huấn luyện VĐV Bóng rổ là không được đuổi theo thành tích quá
sớm và phải chú ý về đạo đức, ý chí, kỹ năng chiến thuật và thể lực của VĐV
những nhân tố quyết định tới thành tích thể thao. Trong đó khả năng hoạt động
thể lực và đặc biệt là thể lực chung và thể lực chuyên môn giữ vai trò nền tảng.
Với mục đích tìm hiểu thực trạng công tác huấn luyện trình độ thể lực của
đội tuyển nữ nói chung và thực trạng công tác huấn luyện tố chất sức bền
chuyên môn nói riêng, chúng tôi tiến hành tìm hiểu về vai trò của sức bền
chuyên môn trong công tác huấn luyện cho VĐV đội tuyển nữ Bóng rổ trường
ĐH TDTT Bắc Ninh dưới hình thức phỏng vấn các HLV trực tiếp tham gia công
tác huấn luyện đội tuyển và các giảng viên, HLV Bóng rổ của trường ĐH TDTT
Bắc Ninh kết quả thu được như trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Đánh giá vai trò huấn luyện các tố chất thể lực trong huấn luyện
vận động viên nữ (n=30)
TT Tố chất thể lực
Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng
SP % SP % SP %
1 Sức nhanh 17 56.67 10 33.33 3 10.00
2 Sức mạnh 15 50.00 11 36.67 4 13.33
3 Sức bền 23 76.67 7 23.22 0 0
4 Khéo léo 14 46.67 11 36.67 5 16.66
5 Mềm dẻo 11 36.67 10 33,33 9 30.00

Từ kết quả thu được ở bảng trên cho thấy, các HLV đều cho rằng tố chất
sức bền luôn chiếm một vị trí quan trọng hơn cả so với tố chất sức nhanh, sức
mạnh, mềm dẻo và khéo léo, 23 ý kiến chiếm 76,67% cho rằng tố chất sức bền
là rất quan trọng. Tuy nhiên trong công tác huấn luyện VĐV đội tuyển nữ Bóng
rổ hiện nay, ở rất nhiều trường đại học, cao đẳng trên toàn quốc nói chung và
trên địa bàn trường ĐH TDTT Bắc Ninh nói riêng, việc chuẩn bị về tâm lý, thể
lực, kỹ chiến thuật cho VĐV đội tuyển nữ chưa được thực hiện đầy đủ. Thực tế
cho thấy trong quá trình huấn luyện chuẩn bị thi đấu do áp lực học tập kết hợp
với việc tập luyện gấp rút, mà các HLV đưa VĐV của mình đi thi đấu quá sớm
khi mà VĐV chưa chuẩn bị kỹ về tâm lý, thể lực, kỹ chiến thuật. Việc này có
21
ảnh hưởng xấu tới việc đào tạo lâu dài và phát triển thành tích thể thao cao ở các
lớp VĐV đội tuyển sau.
Mặt khác trong công tác huấn luyện VĐV, các HLV chỉ chú trọng huấn
luyện kỹ chiến thuật thi đấu của VĐV mà không chú ý đến huấn luyện thể lực
và tâm lý cho VĐV. Điều này cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của
VĐV. Khi thi đấu, VĐV sẽ không đủ tự tin để thực hiện kỹ chiến thuật của mình
một cách trọn vẹn có hiệu quả cao, cũng như giảm thể lực ở thời gian cuối trận
đấu và khi thi đấu các trận tiếp theo.
Ở một số giải đấu, trong quá trình huấn luyện đội tuyển nữ không ít HLV
đã không chú ý đến sự biến đổi tâm sinh lý lứa tuổi cũng như thời kỳ nhạy cảm
của các tố chất thể lực của VĐV dẫn tới không có những biện pháp điều chỉnh
hợp lý trước những thay đổi này. Đó cũng chính là một số lý do ảnh hưởng
không tốt tới tâm sinh lý cũng như quá trình tập luyện của VĐV. Ngoài ra việc
sử dụng bài tập phát triển các tố chất thể lực, trong đó có tố chất sức bền chuyên
môn trong huấn luyện đội tuyển nữ chưa được thống nhất một cách có hệ thống
mà chỉ sử dụng theo kinh nghiệm của HLV ở tất cả các giải đấu. Đặc biệt huấn
luyện tố chất sức bền chuyên môn cho đội tuyển nữ (một trong những tố chất
quan trọng nhất cần được phát triển trong những năm đầu của quá trình tập
luyện cũng như được quan tâm thích đáng). Để nhanh chóng xóa bỏ khoảng
cách về trình độ, thể lực đó thì đòi hỏi các cán bộ giảng dạy, HLV phải có kế
hoạch huấn luyện, đào tạo VĐV một cách khoa học. Đặc biệt chú trọng đến các
bài tập phát triển sức bền chuyên môn.
Hiện nay trình độ của đội tuyển nữ Bóng rổ trường ĐH TDTT Bắc Ninh
vẫn còn hạn chế, đặc biệt là về mặt thể lực chuyên môn. Điều này thể hiện qua
kết quả thi đấu Bóng rổ của giải Bóng rổ sinh viên toàn quốc 2009. Chúng tôi đã
thống kê được số liệu qua các trận đấu, kết quả thu được trình bày ở bảng 1.2
22
Bảng 1.2. Thống kê số điểm ghi được trong các trận đấu của đội ĐH TDTT
Bắc Ninh tại giải Sinh viên toàn quốc 2009
TT Trận đấu Điểm
Hiệp 1 Hiệp2 Hiệp3 Hiệp 4
1
ĐH TDTT Bắc Ninh
21 18 16 14 69
ĐH Bách Khoa Hà Nội 20 18 16 10 64
2
ĐH TDTT Bắc Ninh
22 17 13 8 60
ĐH Kiến Trúc
18 15 12 9 54
3
ĐH TDTT Bắc Ninh
19 18 12 11 60
ĐH Ngoại Thương 20 17 15 10 62
4
ĐH TDTT Bắc Ninh 21 20 18 12 71
ĐH Mỏ Địa Chất 18 24 16 10 68
Qua bảng 1.2 cho thấy số điểm các đội ghi được đã giảm sút về cuối trận
đấu. Nguyên nhân chính là do giảm sút về mặt thể lực chuyên môn khiến các
VĐV không duy trì được nhịp độ trận đấu và không thực hiện được ý đồ chiến
thuật của HLV đề ra. Tuy đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh
thắng toàn trận. Song nhìn chung hiệp 3, 4 giảm sút rõ rệt. Đặc biệt ở các đội
khác trình độ thể lực chuyên môn còn rất yếu.
Tóm lại, qua nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề
huấn luyện thể lực cho vận động viên nữ Bóng rổ. Đề tài nhận thấy thực trạng
vấn đề sức bền chuyên môn nói riêng và thể lực nói chung của vận động viên
Bóng rổ nữ được đặc biệt quan tâm, tuy nhiên vấn đề huấn luyện nâng cao sức
bền chuyên môn cho vận động viên nữ, đặc biệt các vận động viên nữ thuộc đội
tuyển trường ĐH TDTT Bắc ninh đang gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó đề
tài cũng xác định các vấn đề huấn luyện sức bền chung cho vận động viên nữ
được cụ thể trong từng nội dung huấn luyện, thành phần lượng vận động
23
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TÔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu nêu trên, trong quá trình nghiên cứu
đề tài dự kiến sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
Thông qua phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu như: Sách giáo khoa
bóng rổ, lý luận và phương pháp TDTT, Sinh lý TDTT, Tâm lý TDTT, Huấn
luyện các tố chất thể lực như: Một số vấn đề đào tạo VĐV trẻ, một số nghiên
cứu về sức bền cho các VĐV thành tích cao cho chúng tôi thấy được cơ sở lý
luận về phương pháp thể lực chuyên môn sao cho phù hợp với đối tượng nghiên
cứu.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn.
Để tiến hành phương pháp này, chúng tôi đã phỏng vấn bằng phiếu, thư
tay trao đổi trực tiếp với các giáo viên môn Bóng rổ, Huấn luyện viên các đội
Bóng rổ đang tham gia thi đấu ở các hạng vô địch quốc gia, giải trẻ quốc gia,
giải các tỉnh phía Bắc, các chuyên gia và cán bộ làm công tác chuyên môn tại
Ủy ban TDTT.
Các vấn đề chính mà chúng tôi phỏng vấn: Phát triển sức bền chuyên
môn, các bài tập đang sử dụng hiện nay và hiệu quả. Mẫu phiếu phỏng vấn
chúng tôi trình bày ở phần phụ lục 2.
2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
Chúng tôi tiến hành quan sát các trận thi đấu của giải: Câu lạc bộ các đội
mạnh, giải Bóng rổ sinh viên toàn quốc tháng 12/2009, 2010; các buổi tập luyện
của các VĐV Bóng rổ Câu lạc bộ Hà Nội, các đội Bóng rổ trẻ quốc gia, các đội
bóng ở các tỉnh phía Bắc như Hà Nội, Cao Bằng, Yên Bái, Quảng Ninh, từ đó
đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của các VĐV Bóng rổ nữ trường ĐH
TDTT Bắc Ninh. Trên cơ sở đó chúng tôi biên soạn hệ thống các bài tập nhằm
nâng cao sức bền chuyên môn cho VĐV đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH
TDTT Bắc Ninh.
24
2.1.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Là phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài để
đánh giá hiệu quả của hệ thống các bài tập đã lựa chọn ứng dụng nhằm phát
triển tố chất sức bền chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu. Đối tượng thực
nghiệm sư phạm của đề tài được chia thàn 2 nhóm:
- Nhóm thực nghiệm: Bao gồm 10 nữ VĐV đội tuyển Bóng rổ trường
ĐH TDTT Bắc Ninh. Nhóm này được áp dụng hệ thống các bài tập chuyên môn
đã lựa chọn và hệ thống các bài tập này được coi là những bài tập chính, sắp xếp
khoa học trong từng giai đoạn, từng thời kỳ được áp dụng vào nhóm thực
nghiệm.
- Nhóm đối chứng: Bao gồm 10 nữ VĐV đội tuyển Bóng rổ trường ĐH
TDTT Bắc Ninh. Nhóm này được áp dụng hệ thống các bài tập chuyên môn đã
được xây dựng theo chương trình huấn luyện năm của trường ĐH TDTT Bắc
Ninh. Hệ thống các bài tập này được áp dụng trong các chương trình, giáo án tập
luyện theo từng giai đoạn huấn luyện có sẵn từ trước đến nay.
Trước khi tiến hành thực nghiệm sư phạm, trình độ phát triển tố chất sức
bền chuyên môn của hai nhóm không có sự khác biệt rõ ràng.
2.1.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm.
Phương pháp này được sử dụng nhằm đánh giá thực trạng của VĐV đối
tượng nghiên cứu đồng thời kiểm tra kết quả của hệ thống bài tập mà đề tài tiến
hành kiểm tra 2 giai đoạn thực nghiệm. Để kiểm tra và đánh giá hiệu quả các bài
tập chúng tôi lựa chọn một số test để đánh giá như:
1. Chạy con thoi (s).
2. Dẫn bóng số 8 ném rổ 5 lần (s)
3. Bật nhảy liên tục với cao 40 cm trong 60” (lần).
2.1.6. Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp này sử dụng để phân tích và xử lý số liệu thu thập được. Sau
đây là những công thức được sử dụng trong đề tài.
1. Giá trị trung bình cộng:
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×