Tải bản đầy đủ

Tài liệu Tài liệu nuôi tôm chính thống (Cẩm nang câu hỏi dành cho người nuôi tôm) - phan 1.pdf

Tài liệu nuôi tôm chính thống
Hỏi: Trong quá trình xây dựng ao đầm nuôi, vì sao không nên đào ao
quá sâu hay quá cạn?
Đáp: Việc xây dựng ao nuôi đúng qui cách tùy theo hình thức nuôi là một
trong những yêu cầu kỹ thuật rất quan trọng. Qui cách ao sẽ ảnh hưởng trực
tiếp hay gián tiếp đến môi trường nước và sự biến động của chất lượng nước
trong ao.

Ao quá cạn thường gặp phổ biến ở các dạng nuôi tôm trên ruộng hay trên đất
rừng, mức nước thường dưới 0.3m, đặc biệt là ở các trảng. Điều này sẽ làm
nước rất nóng vào ban ngày nhất là vào mùa nóng, trái lại, sẽ rất lạnh vào
ban đêm hay vào những ngày mưa nhiều. Nước cạn và nóng vào ban ngày sẽ
làm cho tôm rất đễ bị yếu và sốc, tôm thường tập trung nơi sâu hơn, làm mật
độ tôm nơi đây tăng lên cục bộ, không tốt. Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột sẽ
làm tôm dễ bị sốc, giảm ăn và dễ bệnh. Mức nước quá cạn còn làm cho độ
mặn, độ phèn... dễ thay đổi đột ngột, nhất là sau thời gian nắng kéo dài được
tiếp nối bằng những cơn mưa to. Điều này làm rất nguy hiểm đối với tôm
nuôi. Ngoài ra, nước cạn sẽ là nguyên nhân chủ yếu làm rong nhớt, ván mền
phát sinh và phát triển dày đặc, gây trở ngại lớn cho tôm.

Ao sâu trên 1.5m thường gặp ở các đầm tôm rừng, đầm được xây dựng bằng

cơ giới. Mặc dù điều này giúp đỡ tốn công sên vét thường xuyên mỗi năm,
tuy nhiên, có nhiều bất lợi khi ao quá sâu như thế. Trước hết đó là khả năng
nhiễm phèn. Nếu đào ao quá sâu có thể gặp tầng đất phèn tiềm tàng, làm cho
ao bị nhiễm phèn nặng và rất khó khăn để khắc phục hay cải tạo. Ao quá sâu
làm khó khăn trong việc gây màu nước cho tốt. Nhiệt độ lạnh và oxy thấp
dưới đáy ao làm bất lợi cho sinh sống và phát triển của tôm. Đặc biệt, mùn
bã, chất hữu cơ, xác cây cối và thức ăn dư thừa tích tụ dưới nền đáy do nhiệt
độ thấp và thiếu oxy sẽ chậm phân hủy, nhưng khi phân hủy sẽ thải ra nhiều
chất độc, nhất là H2S, gây nguy hiểm hay gây bệnh cho tôm. Vì thế, ao cần
có độ sâu thích hợp 1-1.2m. Nếu tôm rừng hay tôm ruộng thì mương nên có
mức nước 1-1.5m và trảng 0.4-0.6m
Tôi có một đầm nuôi tôm với diện tích 15 ha. Một số người có thể lên
đến 30-50 ha. Các đầm này có cần chia thành nhiều đầm nhỏ không? Vì
sao?Requested and Answered by Truong Quoc Phu [administrator] on 28-
Apr-2006 01:33 (265 reads)
Ao quá nhỏ không hẳn là dễ quản lý vì sẽ tốn nhiều công sức chăm sóc, chi
phí xây dựng. Môi trường nước dễ bị biến động bất thường nhất là các yếu
tố như nhiệt độ, độ mặn, độ phèn, Oxy, các chất độc, rong tảo....

Tuy nhiên, nếu ao quá lớn cũng sẽ gặp nhiều bất lợi. Ao lớn quá có thể làm
cho quá trình cải tạo chuẩn bị ao không được chu đáo trước khi nuôi, và điều
này sẽ ảnh hưởng lớn đến tôm nuôi. Nhiều trường hợp, do không chuẩn bị
ao kỹ và kịp lúc trước khi thả tôm, đã phải thường xuyên dọn ao, múc bùn
đáy trong khi đang nuôi tôm! điều đó có thể làm khuấy động môi trường rất
lớn, ảnh hưởng đến tôm đang nuôi. Ngoài ra, ao đầm quá lớn sẽ rất khó quản
lý nước như cấp và thay nước hoàn chỉnh. Nhiều nơi nước bị tù động, mùn
bã tích lũy, ô nhiễm, không tốt cho tôm. Nhiều trường hợp do không đủ vốn
để thả tôm giống đủ số lượng một lần đã phải thả nhiều lần cho ao đầm, làm
cho tôm bị phân cỡ, dễ hao hụt và cũng dễ lây lan bệnh từ đợt này sang đợt
tôm khác. Ao đầm quá lớn, sóng gió quá mạnh có thể gây hại nghiêm trọng
đến công trình bờ, cống.

Ao nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh nên có diện tích khoảng 0.5-1ha,
đầm nuôi tôm- rừng nên giới hạn 3-5ha/vuông. Nếu đầm có diện tích quá lớn
như trường hợp bạn đã nêu thì nên cắt thành nhiều vuông có diện tích thích
hợp. Điều quan trọng là ao nên có chiều dọc xuôi với hướng gió để tăng
cường sóng, tăng khả năng hòa tan của Oxy từ không khí vào nước, đảm bảo
dưỡng khí cho tôm.
Các biện pháp quản lý thích hợp có thể khắc phục được mầm bệnh
virus cơ hội trong ao tôm


Posted by administrator on 15/06/2006 (610 reads)

Nguồn tin: Alphonse Rodrigues, M. Rufus Kitto và C. Regunathan. 2000.
Judicious management practices can overcome the opportunistic viral
pathogens in shrimp ponds. World Aquaculture, vol. 32, no. 1.

Các loại virut giết tôm đáng sợ hiện gây thiệt hại cho khắp các ao tôm ở Ấn
độ và kết quả là hang loạt các báo cáo mô tả hiện tượng và báo cáo khoa học
chính thức cũng đã xuất hiện. 50% thất bại do bệnh năm 1997 đã vượt quá tỉ
lệ 30% năm 1996. Sự thua lỗ gia tăng đối với bệnh virút đã làm cho các
cộng động nuôi tôm bất lực và học được một bài học thấm thía.

Khi những diễn biến của lịch sử 2 năm nuôi tôm vừa qua được xem xét lại
thì những thành công vẫn còn rất hạn chế đối với những trại nuôi quảng
canh. Những thay đổi được kiến nghị trong việc quản lý và thực hiện những
biện pháp có lợi cụ thể để phòng bệnh virút phải được ưu tiên. Việc quản lý
có chọn lọc chất lượng đàn tôm mẹ, tổ chức lại những biện pháp ương nuôi,
phân loại thức ăn... cần được xem xét để cố gắng đạt được mức độ thành
công nhất định. Mặc dù hầu hết các đàn tôm thành thục tự nhiên nhiễm đốm
trắng nhưng chúng vẫn khỏe mạnh bởi vì chúng tồn tại trong sự hoà hợp với
tự nhiên. Trong sinh sản nhân tạo đòi hỏi cũng phải có điều kiện tượng tự
như vậy. Đối với sự lây nhiễm virút thì sự lây nhiễm theo chiều ngang đã
được xác định rõ ràng và thậm chí theo chiều dọc cũng được nghi ngờ ở một
số thể virút nào đó.

Lựa chọn tôm bố mẹ

Hầu hết khuynh hướng hiện nay ở các trại giống qui mô nhỏ là mua cả
những tôm từ ngư dân đánh bắt được ở những thủy vực nông cạn. Không
may, những đàn tôm ở những thủy vực này hiện ngày càng phải chịu ảnh
hưởng của lượng nước thải có chứa virus từ các vuông nuôi tôm. Tôm sú từ
những vùng không bị ô nhiễm, ngoài khơi sâu (ở 100 sải = 182m) có màu
hơi đỏ với vằn hơi nâu. Các cá thể tôm bố mẹ như thế thường không nhiễm
virus và rất thích hợp cho sinh sản nhân tạo, tuy nhiên chúng rất hiếm thấy.
Tôm giống được sản xuất từ những đàn tôm này đã được ghi nhận là nuôi
thành công. Tôm ngoài tự nhiên duy trì một sự cân bằng vi khuẩn trong ống
tiêu hóa của chúng. Virus nếu có hiện diện sẽ bị làm yếu đi hoàn toàn và
không gây hại do một cơ chế bảo vệ vật chủ hữu hiệu so với những cá thể
trong thủy vực nông cạn. Những đàn tôm sú không nhiễm bệnh từ các vùng
ven bờ như thềm lục địa biển Arabian (khu vực của Ấn độ) có thể được kiểm
tra qua máy dò ADN (Lightner ctv, 1992) để phát hiện virus bằng cách lấy
mẫu ở chân bơi mà không gây chết. Một vài quần thể con đực không nhiễm
virus đã qua kiểm định được sử dụng cho việc đa thụ tinh đồng loạt (bằng
cách chuyển tinh) của những bầy tôm đánh bắt ở vùng biển sâu của vịnh
Bengal. Thêm vào đó, những bầy tôm cái mới thành thục của vùng
Andamans có thể được khai thác một cách thận trọng. Một chính sách có
tính quốc gia về việc kiểm soát nguồn tạo giống và nguồn di truyền nên
được thiết lập. Những cá thể đực/cái đã sinh sản trong đàn với nhau nên
tránh sử dung do sự bổ sung những gen mới vào trong quần thể bị giới hạn.
Kết quả là con cháu cuối cùng sẽ mất đi sức đề kháng với bệnh. Các trung
tâm phân phối ở Andamans cần được tổ chức để phân phối tôm mẹ/ấu trùng
đã qua kiểm dịch bằng đường không. Phân tích mô hình tuổi những tôm già
hơn chủ yếu tương quan với chiều dài giáp đầu ngực, tổng chiều dài thân và
trọng lượng và giúp theo dõi phần trăm tỉ lệ gia tăng cơ thể trên lần lột xác
và số lần đẻ có thể xảy ra trong tự nhiên.

Do chưa từng bị tấn cống bởi virus, tất cả các cá thể tôm bố mẹ đánh bắt
ngoài tự nhiên nên được cách ly khỏi các khu vực trại giống như một phần
của qui trình kiểm dịch. Tôm bố mẹ được giữ trong các ao 400m2, thích hợp
hơn là được giữ trong các nhà kính làm bằng nhựa trong LDPE 92% nơi
đảm bảo nhiệt độ luôn cao hơn bên ngoài 4oC. Trong 1 tuần tôm bố mẹ
được cách ly trong các giai trong ao nuôi vỗ và được cho ăn chế phẩm vắc
xin Vibrio anguillarum qua tiêm vào thức ăn tươi sống như mực. Vắc xin
Vibrio anguillarum tiêm vào thức ăn tươi sống có thể cải thiện đường ruột và
ngăn chặn sự lây truyền của virút theo chiều dọc trong các bể nuôi vỗ thành
thục. Tất cả các tác nhân có thể mang virus như nhuyễn thể, cua và thịt tôm
đều cấm sử dụng làm thức ăn tươi sống cho tôm bố mẹ. Giun nhiều tơ nuôi
trong khay, mực tươi và những loại thức ăn chứa caroten được khuyến khích
sử dụng (Wasilieski và Skatrud 1995). Sau đó, tôm bố mẹ được thả ra khỏi
giai vào trong ao nuôi vỗ. Vì nhiệt độ thấp có thể làm giảm khả năng ăn và
tiêu hóa vi sinh và ngay cả phá hủy những yếu tố kháng nguyên bảo vệ, nhà
kính với mái nhựa sẽ giúp tránh được những tác động trên. Hơn nữa việc sử
dụng các loại vắc xin mà tính năng hoạt động của virus được làm giảm đi
hơn là virus đã chết đòi hỏi liều lượng cấy vào ít hơn, đây là một yếu tố hấp
dẫn trong việc xử lý số lượng lớn tôm bố mẹ. Hầu hết mầm bệnh (virus) là
những vi sinh vật cơ hội và chỉ tấn công khi cơ chế bảo vệ của vật chủ đã
yếu đi. Xét nghiệm với ấu trùng Artemia trong môi trường phân của tôm bố
mẹ trong bể thành thục và phân tích độ nhạy cảm trên Artemia cho sự hình
thành dấu vết có thể sử dụng như là một chỉ thị sinh học. Sinh khối tảo thạch
được thay thế thường xuyên như những túi hình trụ bên trong các ống dẫn
nước (đục lỗ) của bể thành thục có thể giúp hấp thụ các dịch nhày, dễ dàng
phòng chống bất cứ sự xuất hiện quá mức của mầm bệnh trong bể.

Ương ấu trùng

Để có được nguồn nước ương nuôi không bị nhiễm, nước biển đã qua lọc cát
phải để lắng và chảy nhỏ giọt qua các lớp than hoạt tính. Nước ngầm thường
cho kết quả thành công trong sản xuất giống. Các bể ương ngoài trời hoặc
những bể chứa không được sử dụng có thể phục vụ mục đích này. Trứng đẻ
non không chứa tất cả các thành phần cơ bản của noãn hoàng. Vì vậy sự biến
thái không bình thường xảy ra do sự sử dụng đều đặn noãn hoàng đang hình
thành bởi ấu trùng nauplii bị kiềm hãm và xảy ra sự khủng hoảng về enzym
vào giai đoạn mysis 3. Ấu trùng nauplii (N3) phải được tắm formalin và
iodine để loại bỏ ký sinh trùng, có thể là vật mang mầm bệnh thụ động. Áp
dụng nước dừa non giàu hóa cytokinin (nồng độ 0.5%) vào bể ương ấu trùng
ở giai đoạn zoea 1, kết hợp với cấy chế phẩm sinh học Lactobacillus subtilis
giúp ổn định môi trường nước ương. Những mẻ ở những bể mà biến thái với
tốc độ nhanh không bình thường phải tách riêng để theo dõi kỹ hơn. Một
môi trường vi mô tốt được duy trì qua việc cho ăn tảo được nuôi ở nồng độ
muối thấp và có một tỉ lệ cao số lượng tảo sợi. Tảo kháng khuẩn Isochrysis
galbana (Bruce ctv 1967) được cho ấu trùng zoea 1&2 ăn, tảo khuê chuỗi
cho zoea 3 và hỗn hợp tảo khuê kích thước nhỏ cho mysis 1, 2 và 3 cộng với
chlorophyte sau giai đoạn PL1. Nuôi tảo Skeletonema đòi hỏi vitamin B cần
nước biển tự nhiên bởi vì trong môi trường không có vi khuẩn tảo phát triển
rất yếu. Rất nhiều vitamin B được phóng thích từ quần thể vi sinh vật tự
nhiên được hấp thu bởi chuỗi tảo khuê này, sau đó được ấu trùng tôm tiêu
thụ. Vitamin góp phần vào quá trình xúc tác enzyme cho các giai đoạn đầu
của ấu trùng, biểu hiện bởi các sợi phân kéo dài ở phần đuôi. Chaetoceros
phát triển rất kém khi trong môi trường ương có kháng sinh. Nước biển
không xử lý bằng chlorine là tốt nhất. Sử dụng các hóa chất xử lý có nguồn
gốc từ hợp chất furan trong bể ấu trùng sẽ tác hại đến sự nhân đôi của
nguyên sinh chất và tế bào của Chaetoceros. Sự biến dạng của các cá thể còi
và giảm sức đề kháng tự nhiên có thể xảy ra. Tỉ lệ ARN:ADN của ấu trùng
vào lúc bắt đầu dinh dưỡng ngoài có thể dùng như là một chỉ số (index) để
ước đoán khả năng sống sót của ấu trùng vào những tháng tiếp sau đó. Sự
chuyển động của các lông tơ ở ấu trùng nauplii có thể dùng làm index tốt
hơn bởi vì sự rung động hiếu động thái quá của các lông tơ chứng tỏ một
quá trình sinh lý sinh trưởng bất thường. Nồng độ muối và nhiệt độ phải
được duy trì ổn định. Các loại thuốc có tác dụng ngăn chặn miễn dịch phải
được tránh sử dụng. Tôm bột được thả vào trong các ao gần như là hệ thống
kín với thay nước ít và phân hủy chất thải trong ao. Vì thế ương trong trại
giống cũng đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa tương tự để đảm bảo sự thâm
nhập tối thiểu của mầm bệnh và chuẩn bị cho con giống có những phản xạ
sinh hóa nội trong hệ thống kín. Hóa tính của nước về mặt số lượng phải
được kiểm soát hiệu quả trong hệ thống nửa kín. Những nỗ lực để đảm bảo tỉ
lệ sống cao có thể phản tác dụng với sự có được thật sự khả năng miễn dịch
tự nhiên. Việc chuyển sang các loại thức ăn thương mại có vi khuẩn trong
suốt giai đoạn mysis có thể làm giảm sự lan truyền của virus theo chiều
ngang bởi các dạng ấu trùng biến thái. Nước ương ấu trùng có chứa nhiều
Skeletonema hơn sẽ cho ấu trùng khỏe và chuyển hóa sắc tố tốt hơn tương
ứng với thành phần caroten và glucan ß 1, 3 của tảo (Myklestad 1974).
Ương trong môi trường nước xanh hậu ấu trùng sẽ được chuẩn bị để thích
nghi với hệ thống ít thay nước trong ao nuôi thịt sau này. Có điều lạ là cho
ăn đơn điệu số lượng lớn ấu trùng Artemia nhằm tăng tỉ lệ sống của PL đã
tạo ra hậu quả tai hại trong ao. Luân trùng được làm giàu hóa bằng dầu cá
mòi có thể được bổ sung để đáp ứng nhu cầu ADN cho quá trình lột xác
đồng loạt và sự hình thành màng tế bào. Cho ăn luân trùng đông lạnh cho kết
quả khích lệ hơn. Sự nở hoa của tảo Tetraselmis có chứa hàm lượng cao
arginine giúp cung cấp một loại giá thể tuyệt vời cho sự phát triển của vi

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×