Tải bản đầy đủ

hàng hóa công - thực trang xử lý kênh nhiêu lộc - phân tích đánh giá.doc

Kinh tế công cộng
Mục lục
trang
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................2
I. Lý Luận Chung Về Hàng Hóa Công..............................3
1.Định Nghĩa..................................................................................................3
a. Hàng hóa công thuần túy (Pure Public Goods).........................................3
b.Hàng hóa công không thuần túy (Impure Public Goods)...........................4
2. Tính không hiệu quả của việc cung cấp tư nhân hàng hóa công.............5
3.Hàng Hóa cá nhân được cung cấp công cộng............................................7
a. Khái niệm:..................................................................................................7
b. Các biện pháp định suất hàng hóa cá nhân được cung cấp công cộng....8
b.1 Định suất đồng đều................................................................................9
b.2 Xếp hàng..............................................................................................10
II. Nhiêu Lộc -Thị Nghè - Con kênh đen..........................10
1.Thực trạng..............................................................................................10
2. Nguyên nhân..........................................................................................12
3. Thất bại của thị trường..........................................................................13
a. Về phía nhà nước...................................................................................13
b. Về phía người dân..................................................................................14
4. Giải pháp...............................................................................................14

KẾT LUẬN..................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................18
Th.S Trần Thu Vân
1
Kinh tế công cộng
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua nguy cơ ô nhiễm đang có xu hướng tăng trên hệ
thống sông và kênh rạch ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hệ quả tất yếu
của quá trình đô thị hóa và tăng dân số quá nhanh trong khi cơ sở hạ tầng
còn yếu kém. Bên cạnh đó, ý thức tự giác bảo vệ môi trường của người dân
chưa cao, và cơ chế, chính sách quản lý môi trường nước của thành phố còn
lỏng lẻo.
Những ai đã từng một lần đi qua kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè chắc hẳn
không thể quên được cái mùi rất đặc trưng, bốc lên từ dòng nước đen kịt và
đặc sánh bởi đủ thứ rác rưởi.
Đã đến lúc cần phải rung lên hồi chuông cảnh tỉnh về những "dòng
sông đen" mà trước đây một số nước phát triển nền công nghiệp quá nhanh
bằng mọi giá, đã phải trả giá đắt. Vì vậy nhiệm vụ hàng đầu hiện nay là bằng
mọi cách phải bảo vệ bằng được môi trường, dòng kênh ở nội và ngoại thành
thành phố. Ngăn chặn không cho các loại nước thải: sinh hoạt, công nghiệp,
nông nghiệp chảy trực tiếp xuống các dòng kênh.
Bảo vệ nguồn nước và môi trường nước của các dòng kênh chính là
bảo vệ sự sống của con người. Ðừng để các dòng sông, kênh rạch bị ô nhiễm
quá nặng rồi mới ra tay. Bởi lẽ, cái giá phải trả cho những “dòng sông đen"
là rất đắt và sẽ khó có thể lường trước được hậu quả tai hại của sự chủ quan
này.
Nhằm tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp bảo vệ, để mang lại một
dòng kênh xanh sạch, trong lành, nhóm đã chọn đề tài “Kênh Nhiêu Lộc -
Thị Nghè - con kênh đen”.
Với sự cố gắng thực sự khi nghiên cứu một vấn đề khoa học nhưng
không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự hướng dẫn và đóng góp của
quý thầy cô và các bạn.
Th.S Trần Thu Vân
2
Kinh tế công cộng
NỘI DUNG
I. Lý Luận Chung Về Hàng Hóa Công
1.Định Nghĩa
Hàng hóa công là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xã hội
có thể sử dụng chung với nhau. Việc sử dụng của người này không ảnh


hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác.
Ví dụ: Lợi ích của quốc phòng, chương trình y tế quốc gia, chương
trình giáo dục công cộng.
Như vậy, hàng hóa công là loại hàng hóa thỏa mãn 1 hoặc 2 đặc điểm:
Một là, nó không phải được dành riêng cho ai, không ai có quyền sở
hữu cá nhân về hàng hóa ấy. thật khó để buộc mọi người phải trả tiền trực
tiếp khi sử dụng hàng hóa mà không dành riêng cho mình, bởi vì nếu không
trả tiền trực tiếp, họ cũng không thể hưởng thụ được hàng hóa ấy. ví dụ như
lợi ích quốc phòng. Giả sử như một cá nhân nào đó không chịu trả chi phí để
hưởng lợi từ các chương trình quốc phòng, nhưng rõ ràng không thể loại trừ
họ ra khỏi việc hưởng thụ lợi ích từ các chương trình này..
Hai là, việc sử dụng hàng hóa công của người này không ảnh hưởng
đáng kể đến việc sử dụng của n gười khác.. bởi vì chi phí tăng thêm để tiêu
dùng hàng hóa tăng thêm là rất nhỏ, gần như bằng không. Chúng ta hãy xem
xét việc các tàu biển sử dụng hải đăng. Khi ngọn hải đăng được xây dựng và
đang hoạt động thì việc có bao nhiêu tàu biển sử dụng hải đăng hầu như
không làm ảnh hưởng gì đến chi phí hoạt động của hải đăng. Lợi ích sử dụng
của tàu biển nào đó từ ngọn hải đăng không vì thế mà giảm đi lợi ích tàu
khác khi sử dụng hải đăng ấy.
Tuy nhiên, không phải bất kì một hàng hóa được gọi là hàng hóa công
nào cũng đảm bảo một cách nghiêm ngặt các đặc điểm trên, mà tùy theo
mức độ bảo đảm, mà người ta có thể chia thành hai loại hàng hóa công. Đó
là hàng hóa công thuần túy và hàng hóa công không thuần túy.
a.Hàng hóa công thuần túy (Pure Public Goods)
Là loại hàng hóa công không thể định suất sử dụng và việc đinh suất
sử dụng là không cần thiết.
Có nghĩa là mọi người đều có thể sử dụng hàng hóa.. mức độ sử dụng
phụ thuộc vào nhu cầu của họ và các quy định chung. Trong nhiều trường
hợp mức độ này không thể định suất hoặc định suất sẽ không có hiệu quả.
Như vậy hàng hóa công thuần túy là loại hàng hóa công phải đảm bảo
được đặc điểm đầu tiên là hàng hóa thuộc quyền sỡ hữu công cộng, không
thể loại trừ các cá nhân sử dụng chúng, bởi vì:
● Không thể đo lường mức độ sử dụng của từng người, do đó
không thể buộc người tiêu dùng phải trả tiền trực tiếp khi sử dụng hàng
Th.S Trần Thu Vân
3
Kinh tế công cộng
hóa. Chi phí cho việc sản xuất hàng hóa công chỉ có thể bù đắp thông qua
hệ thống thuế.
Ví dụ: Chương trình quốc phòng, hệ thống đường sá, hải đăng, không
khí trong sạch… Đối với loại hàng hóa công này người ta hoàn toàn không
thể dịnh suất hoặc loại trừ một cá nhân nào đó trong việc sử dụng hàng hóa.
Điều đó là không thực hiện được. Dù có trả tiền hay không thì các cá nhân
vẫn có thể được sử dụng hàng hóa.
● Việc định suất hoặc loại trừ các cá nhân sử dụng hàng hóa có khả
năng dẫn đến tình trạng kém hiệu quả, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng.
Ví dụ: Chương trình phòng chống bệnh lây nhiễm; chương trình phòng,
chữa cháy; chương trình xóa nạn mù chữ… Đối với các loại hàng hóa công
này việc địn suất hoặc loại trừ một cá nhân nào đó trong việc sử dụng hàng
hóa sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nhân khác, hiệu quả kinh tế - xã
hội bị giảm đi. Giả sử có một cá nhân nào đó không đồng ý trả tiền cho việc
phòng - chữa cháy. Tuy nhiên, đội phòng - chữa cháy cũng không thể bỏ rơi
các cá nhân đó trong hỏa hoạn xảy ra. Bởi vì thiệt hại của cá nhân đó sẽ dẫn
đến thiệt hại cho các cá nhân khác và ngược lại.
Đối với hàng hóa công thuần túy, đặc điểm thứ hai của hàng hóa công
là việc sử dụng hàng hóa không ảnh hưởng đáng kể giữa các cá nhân sử
dụng có thể được bảo đảm hoặc không bảo đảm.
Hàng hóa công thuần túy bảo đảm đặc điểm thứ hai, bao gồm: chương
trình quốc phòng, chương trình y tế, chương trình phòng chữa cháy, hải
đăng, chương trình phổ thông giáo dục…. Việc tăng thêm một cá nhân nào
đó tiêu dùng hàng hóa trên không làm ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích của các
cá nhân khác.
Hàng hóa công thuần túy không bảo đảm đặc điểm thứ hai bao gồm:
không khí trong sạch, sông ngòi ao hồ, đường sá có mật độ lưu thông cao.
Những chất xả thải của một hãng có thể có tác động đến chất lượng không
khí trong sạch; việc quá nhiều người đánh bắt cá trên sông ngòi ao hồ có thể
làm ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng đánh bắt lẫn nhau; trên một đoạn
đường có mật độ lưu thông quá cao, việc tăng thêm một người đi trên đường
sẽ có những cản trở lưu thông nào đó đối với những người dang lưu thông
khác….
b. Hàng hóa công không thuần túy (Impure Public Goods)
Là hàng hóa công có thể định suất sử dụng, có thể loại trừ các cá nhân
sử dụng nhưng phải chấp nhận một khoản tốn kém chi phí nhất định.
Như vậy hàng hóa công không thuần túy là loại hàng hóa công không
đảm bảo được điều kiện đầu tiên nhưng bảo đảm được điều kiện thứ hai. Có
nghĩa là hàng hóa công không thuần túy hoàn toàn có thể thuộc quyền sở
hữu của một cá nhân nào đó và do đó nó có thể được đinh suất và loại trừ
Th.S Trần Thu Vân
4
Kinh tế công cộng
các cá nhân khác trong việc sử dụng. Tuy nhiên, việc tiêu dùng hàng hóa của
người này cũng không làm ảnh hưởng đáng kể đến việc tiêu dùng của người
khác.
Ví dụ: Đường cáp vô tuyến truyền hình, mạng lưới điện thoại, đường
cao tốc, lớp học… bằng việc sử dụng con người hoặc những phương tiện kĩ
thuật thiết bị, người ta hoàn toàn có thể kiểm soát, định suất hoặc loại trừ
việc sử dụng các hàng hóa này. Việc tính xem có bao nhiêu thời gian cho
việc xem một kênh truyền hình, có bao nhiêu cuộc gọi điện thoại trong
tháng, có bao nhiêu lần đi trên đường cao tốc…của một cá nhân nào đó hoàn
toàn có thể thực hiện. Điều đó lý giải vì sao trong lĩnh vực này có sự xuất
hiện của các nhà sản xuất tư nhân và vì lẽ dĩ nhiên họ có quyền sỡ hữu cá
nhân về hàng hóa mà họ sản xuất ra. Trong giới hạn nhất định, việc tiêu
dùng hàng hóa của cá nhân này hầu như không ảnh hưởng đáng kể đến việc
tiêu dùng của người khác. Việc một cá nhân sử dụng nhiều hay ít thời gian
cho một kênh truyền hình nào đó hầu như không ảnh hưởng đáng kể đến cá
nhân khác đang sử dụng kênh truyền hình đó; việc một cá nhân đi nhiều lần
hay ít lần trên một đoạn đường cao tốc có mật độ giao thông thấp cũng
chẳng ảnh hưởng gì đến một cá nhân khác cũng đang đi trên đường đó.
Chúng ta có thể phân biệt các loại hàng hóa công qua bảng 1.
2. Tính không hiệu quả của việc cung cấp tư nhân hàng hóa công:
Giả sử một hàng hóa công mà chi phí biên duyên của người tiêu thụ chúng
tăng thêm là 0 (gần bằng 0) được cung cấp tư nhân, thì việc sử dụng hàng
hóa đó sẽ buộc phải nộp tiền bởi một tư nhân nào đó. Tất nhiên, mọi trường
hợp buộc phải nộp tiền khi sử dụng đều không khuyến khích các cá nhân sử
dung. Như vậy, khi hàng hóa công được cung cấp tư nhân sẽ dẫn đến tình
trạng sử dụng dưới mức cho phép của hàng hóa, một phần phúc lợi bị mất đi.
Việc buộc phải nộp tiền sử dụng hàng hóa công là hoàn toàn có thể
thực hiện được trong nhiều trường hợp, nhưng điều đó là không cần thiết.
Tổn thất phúc lợi do phải nộp tiền càng lớn khi khoản tiền nộp càng lớn.
Lượng hàng hóa sẽ được sử dụng ít trong khi khả năng cung cấp vẫn còn rất
lớn.
Giả sử trong trường hợp không thu tiền, số lượt qua cầu được sử dụng
là Q
B
= 5 (tương ứng với MU = 0) (Hình 2-1).
Th.S Trần Thu Vân
5
Kinh tế công cộng
Thặng dư tiêu dùng của người sử dụng (Cosumer’s Surplus) là S
C
= dt
(ODB) = ½ OD
x
O = 1/2
x
5
x
5 = 12,5.
Trong trường hợp có thu tiền, nếu lệ phí thu tiền cho mỗi lượt qua cầu
cố định MC = AC = 2, lập tức số lượt qua cầu sẽ giảm tương ứng Q
E
= 3.
Thặng dư tiêu dùng trong trường hợp này là S’
C
= dt (P
E
DE) = 1/2 P
E
D
x
OQ
E
= 1/2
x
3
x
3 = 4,5.
So sánh hai trường hợp, thặng dư tiêu dùng trong trường hợp cung cấp
tư nhân hàng hóa đã giảm đi một lượng là S
C
– S’
C
= dt (ODB) – dt (P
E
DE) =
dt (OP
E
EB) = 12,5 – 4,5 = 8.
Th.S Trần Thu Vân
5
5
63
2
D≡ MU
S
c
C
A
L
W
C
P
0
Q
P
Q
E
E
Hình 2.1
6
Kinh tế công cộng
Bảng 1: BẢNG PHÂN LOẠI HÀNG HÓA CÔNG
Việc sử dụng hàng hóa
không ảnh hưởng đáng kể
đến người khác
Việc sử dụng
hàng hóa có ảnh
hưởng đáng kể
đến cá nhân khác
-
(Quyền sỡ hữu công
cộng về hàng hóa)
không thể định suất
hoặc loại trừ việc sử
dụng hàng hóa.
(Hành hóa công thuần túy)
- Chương trình quốc phòng.
- Hoạt động của chính phủ.
- Chương trình y tế quốc gia.
- Chương trình phổ cập tiểu
học…..
(Hàng hóa công
thuần túy)
- Sông ngòi, ao hồ.
- Không khí sạch.
- Đường sá có mật
độ giao thông cao.
- (Quyền sỡ hữu cá
nhân về hàng hóa) có
thể định suất hoặc loại
trừ việc sử dụng hàng
hóa.
(Hàng hóa công không thuần
túy)
- Mạng lưới điện thoại.
- Cáp truyền hình.
- Đường cao tốc.
- Cầu, phà.…
(Hàng hóa cá nhân)
bánh mì.
- Quần áo.
- Thực phẩm.
- Rượu.…
Nếu chính phủ cung cấp công cộng hàng hóa thì mức độ tiêu dùng
hàng hóa có khả năng tăng lên cho đến khi nào mà lợi ích biên từ việc tiêu
dùng hàng hóa bằng không (MU = 0). Sản lượng hàng hóa tiêu dùng tương
ứng là Q
m
. Lúc bấy giờ toàn bộ chi phí kiểm soát C
t
= dt (P
E
P
A
AB) = 3 được
tiết kiệm, đồng thời thặng dư tiêu dùng (Added Surplus – S
A
) cũng tăng lên,
biểu thị bằng dt (BAE) = 1/2 Q
A
Q
E x
P
A
P
E
= 1/2
x
3
x
3 = 4,5 khi sản lượng
hàng hóa tiêu dùng lên từ Q
A
đến Q
E
. Tuy nhiên lượng hàng hóa tiêu dùng
không dừng lại ở Q
E
mà tăng đến Q
m
do không phải trả tiền. Trong mức tiêu
dùng này, sự tự nguyện trả tiền của mỗi người tiêu dùng tăng lên nhỏ hơn
chi phí sản xuất hàng hóa. Mức tiêu dùng này được gọi là mức tiêu dùng
hiệu quả, gây ra tổn thất phúc lợi do tiêu dùng quá mức (Welfare loss form
excesive consumption - L
E
), được thể hiện bằng dt (EFQ
m
) = 1/2
x
OP
E

x
Q
E
Q
m
= 1/2
x
2
x
2 = 2. Cũng cần phải lưu ý rằng đối với hàng hóa công,
không phải lúc nào cũng xảy ra trường hợp sản lượng hàng hóa tiêu dùng
cho đến khi lợi ích biên bằng 0 khi cung cấp công cộng. Do đó tổn thất do
tiêu dùng quá mức không phải lúc nào cũng xảy ra tương ứng.
Th.S Trần Thu Vân
7

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×