Tải bản đầy đủ

Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á”

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Được sự hướng dẫn và giảng dạy nhiệt tình của thầy cô trong bốn
năm qua và được sự giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị tại ngân hàng
thương mại cố phần Đông Nam Á, em đã hoàn thành chuyên đề của mình.
Em xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô đã truyền đạt kiến thức
và kinh nghiệm quý báu giúp em có được nền tảng học vấn vững chắc phục
vụ cho quá trình nghiên cứu, thực hiện chuyên đề tốt nghiệp và quá trình
công tác sau này.
Em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Đăng Anh Tuấn đã nhiệt tình
hướng dẫn em trong suốt thời gian làm chuyên đề.
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các cô
chú,anh chị tại phòng phát triển sản phẩm và thị trường, ngân hàng thương
mại cổ phần Đông Nam Á, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn
thành chuyên đề của mình.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu lĩnh vực
huy động vốn quá ngắn,lại không có kinh nghiệm thực tiễn nên em không
tránh khỏi nhiều thiếu sót và hạn chế. Kính mong được sự hướng dẫn, đóng
góp ý kiến của thầy cô.
Hà Nội ngày tháng năm
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thuỳ Ninh
Nguyễn Thùy Ninh Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của nước ta. Nó đóng vai trò quyết
định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Để đáp ứng nhu cầu
vốn cho nền kinh tế, nước ta cần phải có các biện pháp, chính sách nhằm
huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. ở nước ta thị trường
chứng khoán chưa phát triển do vậy lượng vốn huy động được bằng con
đường tài chính trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các
giấy tờ có giá khác còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Do vậy
quá trình nhận và truyền vốn trên thị trường chủ yếu được thực hiện thông
qua các ngân hàng thương mại và thị trường tín dụng. Có thể nói ở Việt
Nam hơn 80% lượng vốn trong nền kinh tế là do hệ thống ngân hàng cung
cấp. Do đó vai trò của Ngân hàng trong hoạt động huy động vốn cho nền
kinh tế là cực kỳ quan trọng.
Như vậy công tác huy động vốn của ngân hàng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động của ngân hàng nói
riêng. Trong thời gian học tập tại trường và thời gian thực tập tại ngân
hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á em đã cố gắng nghiên cứu và tìm
hiểu kỹ về công tác huy động vốn và chọn đề tài chuyên đề tốt nghiệp:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ
phần Đông Nam Á”
Chuyên đề tập trung vào nghiên cứu các phương thức huy động vốn
của ngân hàng thương mại, các nhân tố ảnh hưởng đến các phương thức đó.
Thực trạng về công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần
Đông Nam Á (các phương thức huy động vốn mà ngân hàng áp dụng, các
nhân tố ảnh hưởng tới nó), từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị.
Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận được hình thành gồm có 3
chương.
Nguyễn Thùy Ninh 2 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương I. Họat đông huy động vốn của ngân hàng thương mại
Chương II. Thực trạng công tác huy động vốn của ngân hàng
thương mại cố phần Đông Nam Á
Chương III. Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy
động vốn tại ngân hàng thương mại cố phần Đông Nam Á



Nguyễn Thùy Ninh 3 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại
1.1.Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của NHTM là vốn tự có do ngân hàng tạo lập được
thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các chủ sở hữu
hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốncủa ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc
khi thành lập một ngân hàng. Vì đây là nguồn vốn ổn định, nên một mặt
ngân hàng chủ động sử dụng nó vào mục đích kinh doanh của mình, mặt
khác lại được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng và
duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp rủi ro tín
dụng. Vốn tự có của NHTM được hình thành bởi vốn điều lệ (vốn pháp
định), vốn tự bổ sung (quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ,quỹ dự phòng bù đắp
rủi ro, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…).
1.2. Vốn huy động
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó là
những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và
các cá nhân trong xã hội. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có
quyền sở hữu với nguồn vốn này và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn
cả gốc lẫn lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn.Vốn này luôn biến động
nên ngân hàng không được sử dụng hết mà phải có dự trữ với một tỷ lệ hợp
lý để đảm bảo khả năng thanh toán.
Vốn huy động của NHTM chủ yếu bao gồm: Nhận tiền gửi của các
tổ chức kinh tế (tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn), huy động từ
các tầng lớp dân cư (tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu) và nguồn vốn đi vay.
Nguyễn Thùy Ninh 4 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3. Vốn đi vay
Là loại vốn mà ngân hàng chủ động đi vay với mục đích, thời hạn
vay và đối tượng vay khác nhau. Nó là quan hệ vay mượn giữa NHTM và
NHNN, giữa các NHTM với nhau, giữa NHTM với các tổ chức tín dụng
khác trong nước hoặc nước ngoài nhằm bổ sung vào vốn hoạt động khi
ngân hàng sử dụng hết vốn khả dụng.
1.4. Vốn khác
Ngoài các hình thức huy động vốn trên thì ngân hàng có thể huy động
từ:
+ Vốn trong thanh toán: Là nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập được
trong quá trình làm trung gian thanh toán.
+ Vốn tiếp nhận: Là số vốn NHTM tiếp nhận từ NHNN do tài trợ, uỷ
thác đầu tư, làm đại lý, để cấp phát và cho vay các công trình tập trung
trọng điểm của Nhà nước.
2. Các hình thức huy động vốn của NHTM.
2.1. Phân loại theo thời gian huy động
* Vốn ngắn hạn: Là hình thức NHTM huy động vốn không kỳ hạn
và có kỳ hạn với thời gian ngắn. Nguồn vốn này tối đa là một năm.
* Vốn trung hạn: Có thời gian huy động từ một năm đến ba năm.
Nguồn vốn này được các NHTM sử dụng để cho các doanh nghiệp vay
trung hạn đối với các dự án đầu tư chiều sâu mở rộng sản xuất, nâng cao
chất lượng sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho bản thân
doanh nghiệp.
* Vốn dài hạn: Nguồn vốn này có thời gian huy động trên ba năm và
được NHTM sử dụng vào nhiệm vụ đầu tư phát triển theo định hướng phát
triển kinh tế của Đảng và Nhà nước như: đầu tư vào các dự án phục vụ
Nguyễn Thùy Ninh 5 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
quốc tế dân sinh, các dự án đổi mới thiết bị công nghệ, xây mới các nhà
máy… Lãi suất mà NHTM phải trả cho chủ sở hữu nguồn vốn này thường
rất cao.
2.2. Phân loại theo đối tượng huy động
* Huy động từ các tổ chức kinh tế: Với tư cách là trung tâm thanh
toán, các NHTM thực hiện việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho các
khách hàng. Từ đó một khối lượng tiền khổng lồ được chuyển qua các
NHTM để thực hiện chức năng thanh toán của nó theo yêu cầu của chủ tài
khoản. Do đó sự đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải trả,
cho nên hệ thống tài khoản thanh toán của ngân hàng luôn hình thành một
số dư tiền gửi nhất định và nó đã trở thành nguồn vốn huy động có chi phí
thấp, nếu biết khai thác sử dụng thì nguồn vốn này sẽ mang lại hiệu quả rất
lớn cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
* Huy động từ các tầng lớp dân cư: Mỗi một gia đình và cá nhân
trong xã hội đều có những khoản tiền tiết kiệm để dự phòng cho những nhu
cầu chi dùng cho tương lai. Khi xã hội càng phát triển thì khoản dự phòng
này càng lớn. Nắm được tình hình đó, các NHTM đã tìm mọi hình thức
nhằm huy động tối đa các khoản tiết kiệm này, từ đó tạo ra một nguồn vốn
không nhỏ để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và thu được lợi nhuận
cho bản thân ngân hàng.
* Vốn vay từ NHNN và các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn vốn
mà ngân hàng có được nhờ quan hệ vay mượn giữa NHTM với NHNN,
giữa các NHTM với nhau và với các tổ chức tín dụng khác. Nguồn vốn này
ngân hàng phải chịu với chi phí cao hơn, vì vậy chỉ trong trường hợp ngân
hàng thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn thì ngân hàng mới đi vay.
2.3. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Nguyễn Thùy Ninh 6 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
* Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân
hàng mà không có sự thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Với loại tiền
gửi này ngân hàng chỉ phải trả với một mức lãi suất thấp. Bởi vì tiền gửi
loại này rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào, do đó ngân
hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số
tiền đảm bảo để có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu.
* Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng
có sự thoả thuận trước về thời hạn rút tiền. Loại tiền gửi này tương đối ổn
định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng. Do đó
ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh
trong thời gian ký kết. đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại
thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng… mục đích là tạo cho khách hàng có
được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ
có. LãI suất tiền gửi có kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
2.4. Huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá.
* Trái phiếu ngân hàng: Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ (cả
gốc và lãi) của ngân hàng phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu.
Mục đích của ngân hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn
trung và dài hạn. Việc phát hành trái phiếu, các NHTM chịu sự quản lý của
NHNN, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán và có thể bị
chi phối bởi uy tín của ngân hàng.
* Trái phiếu chuyển đổi : là một loại trỏi phiếu có khả năng chuyển
đổi thành cổ phiếu cụng ty theo một tỉ lệ công bố trước và vào một khoảng
thời gian xác định trước. Thông thường bao giờ người phát hành trái phiếu
chuyển đổi cũng dành cho người mua quyền quyết định có chuyển đổi sang
cổ phiếu hay không. Người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi có quyền không
chuyển sang cổ phiếu nếu tại thời điểm chuyển đổi, công ty làm ăn không
tốt.
Nguyễn Thùy Ninh 7 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
* Kỳ phiếu ngân hàng: Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong 1
năm). Nó có đặc điểm giống như trái phiếu nhưng có thời gian ngắn hạn
hơn trái phiếu, vì vậy nó được sử dụng cho mục đích huy động vốn ngắn
hạn của ngân hàng.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi: Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi
định kỳ ở một ngân hàng, người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi
theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu
thông trên thị trường.
3. Nội dung các biện pháp tạo vốn của NHTM
3.1. Biện pháp kinh tế
Khi sử dụng các biện pháp kinh tế để huy động vốn tức là việc ngân
hàng sử dụng đòn bẩy kinh tế để thu hút khách hàng, được thể hiện bằng lãi
suất hay phí dịch vụ. áp dụng lãi suất cạnh tranh là việc ngân hàng nâng
cao lãi suất huy động hạ phí dịch vụ so với bình quân thị trường (việc này
không có lợi cho ngân hàng vì làm tăng chi phí nhưng ngân hàng vẵn phải
sử dụng trong thị trường nhất định ). Phải sử dụng việc thâm nhập thị
trường hoặc tìm được đầu ra có thu nhập cao.
* Chính sách lãi suất huy động phù hợp:
Muốn xác định chính sách lãi suất huy động phù hợp phải dựa trên
những nguyên tắc chung của ngân hàng. Với ngân hàng thì qua nghiên cứu
nghị định 166/1999, doanh thu chính là thu nhập. Lãi suất của ngân hàng
cần được xác định trên cơ sở xem xét các yếu tố thu nhập và chi phí nhằm
tối đa hoá lợi nhuận. Như vậy lãi suất được xác định ở mức tại đó thu nhập
biên bằng chi phí biên.
* Chính sách lãi suất cụ thể:
Nguyễn Thùy Ninh 8 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chính sách lãi suất phù hợp với từng nguồn tiền huy động theo
nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao
- Chính sách lãi suất thâm nhập thị trường ( lãi suất cạnh tranh)
Với mức lãi suất này ngân hàng trả mức lãi suất tiền gửi cao hơn
huặc thu phí dịch vụ thấp hơn so với các ngân hàng khác
Chính sách lãi suất này thường được các ngân hàng đang ở giai
đoạn thâm nhập thị trường áp dụng. Những ngân hàng này thuờng là những
ngân hàng còn non trẻ, mới thành lập, nguồn vốn còn thiếu. Vì thế nên việc
họ áp dụng chính sách lãi suất này nhằm tăng nhu cầu vốn lưu động để có
thể đứng trên thị trường ngân hàng cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Những
ngân hàng này thường đưa ra mức lãi suất cao hơn đáng kể so với tứ đại
ngân hàng
Khi các ngân hàng muốn tăng nhu cầu vốn, mở rộng thị trường, đặc
biệt là cần tiền cho một dự án thì họ cũng áp dụng chính sách này.Ví dụ
như khi NHNT muốn huy động ngoại tệ cho một số dự án của họ ở giai
đoạn 2001 – 2010, họ đã huy động trái phiếu thời hạn 5 năm, với lãi suất
năm đầu tiên là 4,2%, trong khi lãi suất năm tại thời điểm đó ở NHNT là
2,25%/năm.
Tuy nhiên chúng ta không thể thường xuyên áp dụng chính sách này
vì sẽ làm tăng chi phí, giảm thu nhập. Các ngân hàng cũng chỉ nên áp dụng
chính sách này trong từng thời kỳ cụ thể, đặc biệt là các NHTMCP.
- Chính sách định giá mục tiêu trọng điểm
Ngân hàng mong muốn thu hút các cá nhân và doanh nghiệp gửi tiền
thông qua các điều khoản tiền gửi hấp dẫn với hy vọng nhận được các
khoản tiền gửi quy mô lớn, nhằm tăng cường khả năng huy động vốn.
Nguyễn Thùy Ninh 9 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngân hàng áp dụng những chương trình quảng cáo công phu cũng
như lãi suất hấp dẫn để thu hút những khách hàng có địa vị trong xã hội.
Đối với khách hàng có số dư thấp, ít ổn định ngân hàng định giá cao hơn để
hạn chế. Chiến lược này thường kết hợp với chương trình nhà ngân hàng cá
nhân (personal banhker), theo đó mỗi khách hàng lớn được một cán bộ
ngân hàng chịu trách nhiệm đáp ứng tất cả các nhu cầu dịch vụ ngân hàng.
Việc áp dụng chính sách này giảm được chi phí nhờ có được nhiều
tài khoản có số dư cao và ổn định. Nhưng cũng có những bất lợi là khó áp
dụng được với những ngân hàng nằm tại những khu vực không phát triển
thịnh vượng.
- Chính sách lãi suất trên cơ sở mối quan hệ tổng thể với khách hàng:
Ngân hàng quy định mức phí thấp hơn và mức thu nhập cao hơn cho
khách hàng có quan hệ lâu dài với ngân hàng và ngân hàng định giá theo số
lượng dịch vụ khách hàng sử dụng. Cơ sở của chính sách này là quan điểm
cho rằng: khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ hơn sẽ trung thành hơn và
trong dài hạn sẽ tạo ra thu nhập lớn hơn cho ngân hàng.
3.2. Biện pháp kỹ thuật:
* Về sản phẩm:
Ngân hàng phải đảm bảo các dịch vụ huy động đa dạng, hữu ích tiện
lợi cho khách hàng. Sự đa dạng thể hiện từ các mức kỳ hạn, các dạng gửi
tiền đến những tiêu chí khác. ở Việt nam, sự đa dạng thể hiện qua kỳ hạn
chỉ chủ yếu tập trung ở tiền gửi ngắn hạn, còn đối với trung dài hạn thì
chưa nhiều. Các dạng gửi tiền cũng còn nghèo nàn. Chỉ tập chung chủ yếu
là gửi tiền kỳ hạn và không kỳ hạn. Những loại tiền gửi khác như tiết kiệm
tích luỹ theo niên kim (một dạng gửi góp) chỉ mới bước đầu phát triển.
Những loại tiết kiệm theo mục đích phát triển rất nhiều ở nước ngoài như :
Tiết kiệm cho con đi học đại học, tiết kiệm cho các kỳ nghỉ du lich… Hầu
Nguyễn Thùy Ninh 10 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
như chưa xuất hiện ở việt nam. Việc sử dụng quá nhiều tiền mặt ở việt nam
cũng hạn chế đưa ra nhiều dịch vụ huy động tiền gửi của ngân hàng. Những
dịch vụ như thanh toán lương cho nhân viên của các công ty qua tài khoản
của ngân hàng cũng phát triển rất mạnh. Nhưng ở việt nam(hầu như chỉ
phát triển với chính cán bộ của các ngân hàng).
Một vấn đề nữa là tạo thuận lợi tối đa cho khách hàng. Các ngân
hàng nước ngoài triển khai vấn đề này theo hai hướng đưa ra các dịch vụ
huy động đa năng (tài khoản ký thác vạn năng) và tiết kiệm điện tử (gửi
một nơi rút tiền nhiều nơi). ở việt nam, tiết kiệm điện tử mới chỉ là bước
đầu được triển khai ở một số NHTM lớn như ICB, VCB dịch vụ tiết kiệm đa
năng hầu như chưa được định hướng. Việc tạo ra các sản phẩm đa năng được
các ngân hàng nước ngoài triển khai rất hiệu quả: Ví dụ với một tấm thẻ mang
tên ACCESS của ANZ Bank các khách hàng có thể sử dụng một loạt dịch vụ:
Tiết kiệm, đầu tư tự động, chuyển các nguồn thu nhập vào tài khoản, chỉ trả các
hoá đơn và vay tiền.
* Phân phối:
Đối với các khách hàng cá nhân, địa điểm thuận tiện là một trong
những vấn đề quan trọng. Ngày nay, để tiếp cận một ngân hàng khách
hàng không chỉ có cách duy nhất là tới các chi nhánh, họ có thể tiếp cận với
ngân hàng một cách gián tiếp thông qua các hệ thống homebanking,
EFTPOS, máy rút tiền tự động. Nếu một ngân hàng có đầy đủ các hệ thống
trên sẽ thu hút đuợc khách hàng gửi tiền tại ngân hàng của mình. Bên cạnh
đó, không thể phủ nhận sự tồn tại của các chi nhánh, các phòng giao dịch.
Những phòng giao dịch khang trang với hệ thống máy móc hiện đại hoặc
nằm trong những cao ốc luôn tạo những cam giác an toàn với khách hàng.
Ngày nay, một số ngân hàng việt nam đã chú ý đến vấn đề này.
Nguyễn Thùy Ninh 11 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
3.3. Biện pháp tâm lý:
* Con người:
Khách hàng luôn có rất nhiều ấn tượng với phong cách phục vụ của
các nhân viên. Các ngân hàng việt nam đang quan tâm đến vấn đề này
thông qua việc đầu tư xây dựng những quyền cẩm nang phục vụ khách
hàng. Phong cách ở đây được hiểu là cả thái độ phục vụ lẫn trình độ chuyên
môn của nhân viên. Trong quyển cẩm nang đó nhân viên được dậy cách
tiếp cận sao cho hiệu quả với khách hàng mới, với khách hàng đã từng
nhiều lần đến gửi tiền. Vấn đề trình độ chuyên môn cũng như khả năng xử
lý thành thạo quy trình nghiệp vụ cũng được đề cập tới. Các nhân viên sẽ
được hướng dẫn cách xử lý các tình huống hàng ngày
* Khuyếch trương:
Hoạt động khuyếch trương của ngân hàng bao gồm từ các trương
trình quảng cáo công phu, các đợt gửi tiền có thưởng và những quà tặng
dành cho những khách hàng lớn. Tại các ngân hàng nước ngoài dựa trên
các application form của khách hàng, ngân hàng đã gửi những món quà vào
đúng ngày sinh nhật của khách hàng.
Mở rộng mạng lưới chi nhánh, hiện đại hóa công nghệ đặc biệt đa
dạng hóa kênh phân phối để tăng diện tiếp xúc với khách hàng. Đa dạng
hóa danh mục sản phẩm dịch vụ tiết kiệm đồng thời nâng cao chất lượng
dịch vụ thanh toán. Cải tiến quy trình phải đảm bảo nhanh gọn, chính xác,
phù hợp với khả năng của nhân viên đồng thời đảm bảo tiện lợi cho khách
hàng.
4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn
Hiệu quả huy động vốn được đánh giá theo nhiều khía cạnh khác nhau
tuỳ theo mục đích nghiên cứu . Vì vậy các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy
động vốn cũng có nhiều loại khác nhau . Bài viết này chỉ xin đánh giá hiệu
Nguyễn Thùy Ninh 12 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
quả huy động vốn dựới góc độ một nhà ngân hàng . Để đánh giá hiệu quả
huy động vốn dựa trên khả năng sử dụng vốn và chi phí của đồng vốn.
4.1 Nguồn vốn tăng trưởng ổn định về số lượng và thời gian :
Đánh giá qua mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động và số lượng vốn
huy động có kỳ hạn . Nguồn vốn tăng đều qua các năm ( 1
năm sau - trước
> 0 )
đạt mục tiêu về nguồn vốn đặt ra và có độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn
tăng trưởng ổn định .
Nguồn vốn có số lượng vốn kỳ hạn lớn chứng tỏ sự ổn định về thời
gian của nguồn vốn cao .
4.2 Nguồn vốn có khả năng đáp ứng cho các hoạt động kinh doanh
của ngân hàng :
Đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động được với các nhu cầu
tín dụng , thanh toán và các nhu cầu khác để thấy nguồn vốn huy động đã đáp
ứng bao nhiêu. Ngân hàng phải vay thêm bao nhiêu để thoả mãn nhu cầu đó
4.3 Chi phí huy động vốn
a, Lãi suất huy động
Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh
tế. Người gửi muốn một lãi suất cao , người vay lại muốn lãi suất thấp . Là
trung gian đóng vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên , ngân hàng phải tìm
cách điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhất đối với các bên , trong đó
điều quan trọng là phải đảm bảo lợi ích của ngân hàng . Vì vậy trong huy động
vốn , mỗi ngân hàng đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm
được những nguồn vốn sao cho chi phí huy động vốn bình quân là nhỏ nhất và
sử dụng số vốn đó để cho vay với một mức lãi suất chấp nhận được trên thị
trường . Chi phí huy động được đánh giá qua hệ thống các chỉ tiêu lãi suất huy
động bình quân (tính bằng bình quân gia quân gia quyền của lãi suất các nguồn
Nguyễn Thùy Ninh 13 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
theo khối lượng từng nguồn), lãi suất huy động của từng nguồn và đặc biệt là
lãi suất cạnh tranh NEC.
Mặt khác , cũng với một mức chi phí trả lãi bình quân , sự đa dạng hoá
trong lãi suất cho phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần thiết , Sự đa
dạng hoá lãi suất làm cho tăng tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân
hàng đưa ra . Nếu có chính sách lãi suất phù hợp , hiệu quả , ngân hàng sẽ tối
thiểu hoá được chi phí trong khi vẫn hoàn thanh kế hoạch về nguồn vốn .
b , Chi phí khác
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất , trong quá trình huy động vốn còn có
các chi phí khác như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động , chi phí in ấn phát
hành , chi phí cơ sở vật chất , chi phí giao dịch quảng cáo … Tuy chi phí này
chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng nếu tiết kiệm được cũng góp phần
giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng.
5. Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn
5.1.Nhân tố chủ quan
Đứng ở góc độ bản thân ngân hàng thì những nhân tố chủ quan luôn
là những nhân tố đóng vai trò quyết định. Có thể kể ra 1 số nhõn tố chớnh
sau:
* Uy tín của ngân hàng: Với bất kỳ ai có tiền nhàn rỗi muốn gửi tiền
vào một ngân hàng nào đó thì vấn đề đầu tiên mà họ đặt câu hỏi: Liệu gửi
vào đó có an toàn không? Nếu uy tín của ngân hàng cao thì câu trả lời sẽ có
ngay; nhưng uy tín của ngân hàng còn chưa cao thì khách hàng sẽ lưỡng lự
đắn đo, lựa chọn việc gửi tiền vào ngân hàng nào có uy tín cao hơn. Hệ số
an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro, Capital Adequacy Ratio –
CAR) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính của các ngân
hàng. Chỉ tiêu này được dùng để xác định khả năng của ngân hàng trong
việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như
Nguyễn Thùy Ninh 14 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành. Chớnh vỡ võy hệ số an toàn vốn là yếu tố
quan trọng quyết định uy tín của ngân hàng.
CAR = Vốn ngõn hàng/ Tài sản cú điều chỉnh rủi ro
* Chính sách khách hàng: Khi uy tín được lựa chọn khách hàng sẽ
đánh giá xem các chính sách khách hàng có ưu ái không? Có tiện ích gì
không? Bạn sẽ gửi tiền vào một ngân hàng khi ngân hàng đã có chương
trình khuyến mại quà tặng cho bạn. Đó là sở thích và mong muốn của
khách hàng. Ngân hàng nào nhanh nhạy, thấu đáo điều này thì sẽ giành
được nhiều thị phần hơn.
* Chính sách Marketing: Đây là chính sách rất quan trọng đối với
các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là trong ngành ngân hàng hiện nay. Để
khách hàng biết đến mình, hiểu về những chính sách khách hàng … thì
ngân hàng phải quảng cáo mình trên các phương tiện thông tin đại chúng.
* Chính sách lãi suất: Cũng là một nhân tố không kém phần quan
trọng bởi vì nếu ngân hàng có chính sách lãi suất phù hợp, linh hoạt và đảm
bảo hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thì sẽ thu hút được nhiều khách
hàng.
Bên cạnh những nhân tố trên thì những nhân tố như: trình độ công
nghệ, thái độ phục vụ khách hàng của cán bộ công nhân viên hay nhu cầu
vốn của NHTM trong từng thời kỳ cũng tác động không nhỏ tới tình hình
huy động vốn của ngân hàng.
5.2. Nhân tố khách quan.
Nhân tố khách quan là những nhân tố nằm ngoài ngân hàng, nhưng
không có nghĩa là nó không quan trọng. Bất kỳ một ngân hàng nào cũng
không được xem nhẹ nhân tố này. Đó là:
Nguyễn Thùy Ninh 15 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
* Sự phát triển của nền kinh tế: Như ta đã biết mức độ tăng trưởng
của nền kinh tế quyết định đến thu nhập của các tổ chức cá nhân. Chính vì
vậymột nền kinh tế càng phát triển thì thu nhập của các tổ chức cá nhân
càng lớn. Điều đó có nghĩa là sẽ có một khoản tiền nhàn rỗi đưa vào tích
luỹ bằng cách gửi vào ngân hàng. Đây là yếu tố quyết định đến khả năng
huy động vốn của ngân hàng.
* Chính sách của Nhà nước: NHTM là tổ chức chịu sự tác động lớn
nhất bởi các chính sách của Nhà nước. Ví như khi NHNN thay đổi chính
sách lãi suất thì khả năng huy động vốn của NHTM cũng thay đổi. “Khả
năng huy động vốn luôn tỷ lệ thuận với lãi suất tiền gửi”.
* Nhu cầu về vốn của nền kinh tế: Cũng là nhân tố khách quan khá
quan trọng. Bởi lẽ NHTM là trung gian tài chính tập trung vốn của nền
kinh tế và phân phối vốn cho nền kinh tế. Khi nhu cầu về vay vốn giảm dần
thì khả năng huy động vốn của ngân hàng cũng giảm.
* Yếu tố cạnh tranh trên thị trường tài chính : Hoạt động kinh doanh
ngân hàng ngày càng có sự tham gia của nhiều loại hình ngân hàng mới và
các tổ chức tài chính phi ngân hàng . Do đó cạnh tranh có xu hướng gia
tăng mạnh, làm giảm đi sự khác biệt giữa các ngân hàng thương mại với
các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Xu hướng cạnh tranh trong ngành
ngân hàng càng gia tăng do các yếu tố như thay đổi chính sách tài chính
tiền tệ, đổi mới tài chính của doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ …
Cạnh tranh về tiền gửi diễn ra dưới nhiều hình thức. Các ngân hàng có
thể áp dụng những điều kiện giống nhau cho tất cả các khách hàng gửi tiền.
Vì lý do này, các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tiền gửi được mở rộng và
được phổ biến nhanh chóng . Thêm vào đó, nhiều tổ chức tài chính phi
ngân hàng có thể huy động tiền gửi có kỳ hạn, thậm chí còn cung cấp các
tài khoản không kỳ hạn.
Nguyễn Thùy Ninh 16 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trên đại b àn sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động của ngân hàng, Để có thể tồn tại và phát triển, ngân
hàng cần phải định ra chiến lược kinh doanh phù hợp để có thể thắng trong
cạnh tranh với ngân hàng khác. Trong quá trình cạnh tranh với đối thủ,
ngân hàng buộc phải cải tiến và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, thực
hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trường và làm t ốt công tác
marketing. Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố thúc
đẩy sự phát triển chất lượng các hoạt động ngân hàng trong đó có hoạt
động huy động vốn.
Ngoài những nhân tố trên đây thì những nhân tố như thói quen sử
dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng hay cơ cấu dân cư, vị trí địa lý
cũng phần nào tác động đến khả năng huy động vốn của NHTM.
Như vậy qua những vấn đề trên cho thấy, công tác huy động vốn có
vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với các nhà quản lý kinh doanh
ngân hàng thì việc mở rộng, tăng cưòng nguồn vốn huy động là vấn đề cần
quan tâm hàng đầu vì mức vốn tự có của ngân hàng so với tổng vốn huy
động là rất nhỏ. Để cân đối được vốn trong kinh doanh đảm bảo được cho
sự tồn tại và phát triển đòi hỏi các nhà quản trị kinh doanh ngân hàng luôn
phải nghiên cứu nhu cầu thị trường, những nhân tố ảnh hưởng đến nghiệp
vụ huy động vốn để đưa ra các biện pháp, các hình thức huy động vốn phù
hợp vừa phát triển vừa đảm bảo mục đích kinh doanh có lợi nhuận.
Nguyễn Thùy Ninh 17 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐÔNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
TMCP ĐÔNG NAM Á
1. Tổng quan về ngân hàng TMCP Đông Nam Á
1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Đông Nam Á tên giao dịch quốc tế là Southeast Asia Bank
(SeABank) được thành lập từ năm 1994, Hội sở chính đặt tại 16 Láng Hạ,
Ba Đình, Hà Nội.
Là một trong những Ngân hàng TMCP có mặt sớm nhất tại Việt Nam,
SeABank đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, hoàn thiện và đã đạt được
những thành công hết sức khả quan.
Đặc biệt trong những năm gần đây, SeABank liên tục có sự tăng
trưởng về vốn và quy mô hoạt động.
Tính đến ngày 31/12/08, vốn điều lệ của SeABank là hơn 4.068 tỷ
đồng, bằng 136% so với năm 2007. Tổng tài sản của ngân hàng là gần
22.729 tỷ đồng, tổng huy động 16.726 tỷ đồng và gần 51.000 khách hàng
tại khắp các tỉnh thành trên cả nước, tăng 20% so với năm 2007. Tổng dư
nợ thị trường 1 của SeABank trong năm 2008 là gần 7.586 tỷ đồng. Doanh
thu phí dịch vụ đạt 37,343 tỷ đồng, tăng 246% so với năm 2007. Lợi nhuận
trước thuế của SeABank là 457 tỷ đồng, tăng 12% so với lợi nhuận trước
thuế năm 2007.
Hết năm 2008 SeABank đã có gần 70 điểm giao dịch tại các khu vực
kinh tế trọng điểm trên cả nước, trong đó năm 2008 ngân hàng đã mở thêm
29 điểm giao dịch tại nhiều địa bàn mới cũng như các địa phương đã có
điểm giao dịch của SeABank như: Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Cần Thơ,
Nguyễn Thùy Ninh 18 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
Bình Dương, Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ninh, Bắc Ninh...
Đặc biệt, trong năm 2008 hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng đã
thu dược những kết quả rất khả quan với doanh thu phí dịch vụ thanh toán
quốc tế đạt gần 16 tỷ đồng, bằng 232% so với năm 2007.
Từ giữa năm 2008 SeABank đã chính thức phát hành thẻ ghi nợ nội
địa S24+ và đã thu được những kết quả rất tốt. Tính đến cuối tháng
12/2008 SeABank đã phát hành được 15.359 thẻ cho các khách hàng tại tất
cả những địa phương có điểm giao dịch của ngân hàng và triển khai lắp đặt
hơn 30 máy ATM SeABank trên toàn quốc. Trong thời gian tới SeABank
sẽ tiếp tục nghiên cứu để cho ra đời nhiều sản phẩm thẻ mới tiện dụng hơn,
có thể kể đến như: thẻ tín dụng quốc tế dành cho đối tượng doanh nhân, cấp
quản lý điều hành, thẻ trả trước dành cho giới trẻ… Đồng thời SeABank sẽ
gia tăng thêm nhiều dịch vụ tiện ích khác cho thẻ S24+ như: giao dịch trực
tuyến, các dịch vụ thấu chi, tiết kiệm đồng thời tích lũy điểm thưởng áp
dụng trên mỗi lần thanh toán hóa đơn hay mua hàng hóa dịch vụ… để
mang đến cho các khách hàng sản phẩm thẻ đa năng, an toàn và tiện ích
nhất.
Tháng 12/2008 SeABank đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
chấp thuận cho phép thành lập Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản
SeABank – SeABank AMC, nhằm phục vụ nhu cầu quản lý nợ và khai thác
tài sản của ngân hàng, đảm bảo kinh doanh an toàn và bền vững, đồng thời
phục vụ nhu cầu xử lý nợ và tài sản tồn đọng của các doanh nghiệp khác,
giúp nguồn vốn trong nền kinh tế lưu chuyển minh bạch và thông thoáng
hơn.
SeABank cũng liên tục đưa ra các sản phẩm mới như: Đồng Hành
cùng Honda; Nguồn năng lượng vàng của SeABank; Tiêu dùng cùng doanh
nhân; Chương trình ưu đãi đặc biệt: Doanh nghiệp vàng; An Phú cư; Bao
Thanh toán; … Triển khai thành công các dịch vụ ngân hàng hiện đại như
Nguyễn Thùy Ninh 19 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
SMS Banking, Email Banking và Internet Banking... Việc triển khai các
sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại này đã khẳng định những sáng tạo
mang tính đột phá trong mô hình liên kết cung ứng sản phẩm dịch vụ nhằm
đem lại những tiện ích tối đa cho khách hàng.
Không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển mạng lưới và sản phẩm – dịch
vụ, SeABank không ngừng nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công nghệ
thông tin. Hệ thống quản trị Ngân hàng T24 đã được triển khai hoàn thiện
trong quý I năm 2007. Đây thực sự là một bước tiến quan trọng trong quá
trình hiện đại hóa cơ sở hạ tầng công nghệ của SeABank. Hệ thống này sẽ
là nền tảng công nghệ để SeABank nhanh chóng phát triển sản phẩm mới,
kịp thời cải tiến các quy trình hiện đại để đáp ứng nhanh hơn các nhu cầu
đa dạng và phong phú của thị trường thực hiện cam két không ngừng phát
triển, nâng cao uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế.
Hình ảnh về một ngân hàng hiện đại, tăng trưởng bền vững, luôn vì lợi
ích của khách hàng đang được SeABank nỗ lực xây dựng và từng bước
được công nhận từ phía khách hàng.
1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP Đông Nam Á
Chức năng và nhiệm vụ của từng phòng ban như sau:
- Phòng kinh doanh:
• Tổ chức thực hiện tại Hội sở các thể lệ, chế độ, quy định về đầu tư
tín dụng của SeABank.
• Lập và tổ chức thực hiện các kế hoạch đầu tư tín dụng đã được
duyệt tại Hội sở.
• Tiếp xúc, tìm hiểu khách hàng; thẩm định và lập thủ tục cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tại Hội sở SeABank theo quy định hiện
hành.
Nguyễn Thùy Ninh 20 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
• Nhận và chuyển giao giấy tờ liên quan đến tài sản đảm bảo cho bộ
phận lưu giữ hồ sơ theo quy định của SeABank; định kỳ kiểm tra tình trạng
an toàn của tài sản đảm bảo.
• Phụ trách công tác xử lý nợ.
• Làm đầu mối giao dịch với khách hàng về hoạt động thanh toán quốc tế.
• Thực hiện trao đổi, đàm phán với khách hàng về các hợp động
mua bán ngoại tệ; thông báo với phòng nguồn vốn và kinh doanh ngoại tệ
để lập hợp đồng và trình lãnh đạo ký kết sau khi đạt được thỏa thuận với
khách hàng.
• Trên cơ sở thực tế kinh doanh, thực hiện báo cáo định kỳ và đột
xuất về thị trường và hoạt động tín dụng; kiến nghị các chính sách khách
hàng nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng; xây
dựng kế hoạch kinh doanh hàng quý, năm trình với Ban Tổng Giám Đốc.
• Phối hợp với phòng Marketing thực hiện việc thăm dò ý kiến
khách hàng về chất lượng sản phẩm hiện hành của SeABank, tổng hợp thông
tin gửi về các phòng chức năng và Ban Tổng Giám Đốc để có những điều
chỉnh hợp lý.
• Tham gia ý kiến bổ sung, hoàn thiện chế độ, thể lệ tín dụng
SeABank.
• Đề xuất về bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên tín dụng tại
Hội sở.
• Thực hiện các công việc khác do Tổng Giám Đốc giao.
- Phòng nguồn vốn và kinh doanh ngoại tệ:
• Lập, xác nhận giao dịch các Hợp đồng mua bán ngoại tệ, nhận, gửi
vốn...trên thị trường liên ngân hàng.
Nguyễn Thùy Ninh 21 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
• Theo dõi, quản lý và điều hành nguồn vốn trên toàn hệ thống nhằm
đảm bảo nguồn vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh của SeABank. Yêu cầu
các phòng chức năng, các chi nhánh cung cấp các kế hoạch sử dụng vốn
của mình để tổng hợp và xây dựng kế hoạch nguồn vốn, sử dụng vốn trên
toàn hệ thống.
• Theo dõi, tổng hợp các hoạt động về huy động vốn và sử dụng vốn
để từ đó thực hiện việc cân đối nguồn vốn trong toàn hệ thống và thực hiện
các giao dịch cần thiết để đáp ứng nguồn vốn kinh doanh hàng ngày cho
ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản, kiểm soát các rủi ro.
• Nhận và chuyển giao giấy tờ liên quan đến tài sản đảm bảo cho bộ
phận lưu giữ hồ sơ theo quy định của SeABank; định kỳ kiểm tra tình trạng
an toàn của tài sản đảm bảo.
• Phụ trách công tác xử lý nợ.
• Làm đầu mối giao dịch với khách hàng về hoạt động thanh toán
quốc tế.
• Trên cơ sở thực tế kinh doanh, thực hiện báo cáo định kỳ và đột
xuất về thị trường và hoạt động tín dụng; kiến nghị các chính sách khách
hàng nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng; xây
dựng kế hoạch kinh doanh hàng quý, năm trình Ban Tổng Giám Đốc.
- Phòng thanh toán quốc tế:
• Thiết lập, quản lý và xúc tiến các quan hệ đại lý giữa SeABank với
các ngân hàng trên thế giới. Quản lý mã khóa giao dịch giữa SeABank và
các ngân hàng bạn.
• Thực hiện tổng hợp, phân tích, đánh giá đối với hoạt động thanh
toán đối ngoại.
Nguyễn Thùy Ninh 22 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
• Thực hiện việc hạch toán và quản lý tài khoản liên quan đến hoạt
động thanh toán quốc tế và Ngân hàng đại lý trên toàn hệ thống SeABank.
• Thực hiện vai trò trung tâm phát và nhận điện từ SeABank đi nước
ngoài và từ nước ngoài về SeABank trong hoạt động thanh toán quốc tế
trên cơ sở các giao dịch với khách hàng do các bộ phận giao dịch khách
hàng tại Hội sở và chi nhánh đảm nhiệm.
• Thực hiện kiểm tra, kiểm soát sau đối với các giao dịch thanh toán
quốc tế đã được thực hiện. Chỉ đạo các chi nhánh trong việc thực hiện quy
chế, quy trình nghiệp vụ trong hoạt động kinh doanh đối ngoại.
• Hướng dẫn và chỉ đạo về mặt nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho các
đơn vị trực thuộc Hội sở.
- Phòng kế toán tài chính:
• Quản lý, thực hiện các công việc liên quan đến công tác tài chính.
• Quản lý, thực hiện các công việc liên quan đến công tác hạch toán kế
toán.
• Giám sát việc thực hiện kế toán tài chính.
• Tham mưu chi Tổng Giám Đốc trong hoạt động kế toán, tài chính.
• Thực hiện chức năng của một trung tâm thanh toán trong nước cho
toàn hệ thống SeABank thông qua các tài khoản tiền gửi của SeABank mở
tại các ngân hàng, TCTD trong nước.
• Quản lý tài khoản thanh toán liên chi nhánh trong toàn hệ thống.
• Quản lý tài khoản tiền gửi, tiền vay của các TCTD tại SeABank.
• Quản lý tài khoản tiền gửi của SeABank tại các TCTD khác.
Nguyễn Thùy Ninh 23 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
• Kiểm tra, kiểm soát các giao dịch vốn và giao dịch tiền tệ ngoại hối
trên thị trường liên ngân hàng.
• Cập nhật các giao dịch và báo cáo.
- Phòng ngân quỹ:
• Tổ chức thực hiện các nghiệp vụ kho quỹ tại Hội sở SeABank.
• Thực hiện kiểm ngân, thu – chi tiền mặt nội, ngoại tệ, vàng bạc, đá
quý và chứng từ có giá khác theo chứng từ kế toán hợp pháp tại Hội sở
SeABank.
• Cập nhật sổ quỹ và tổ chức kiểm quỹ hàng ngày theo chế độ quy định.
• Quản lý kho quỹ tại Hội sở, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp cụ
Ngân quỹ cho phòng Kế toán giao dịch, các Chi nhánh và đơn vị phụ
thuộc.
• Tiếp nhận, mở sổ sách nhật ký theo dõi, cất giữ và đảm bảo an toàn
tuyệt đối các tài sản đảm bảo, tài sản quý hiếm do khách hàng ký gửi bảo
quản hộ.
• Định kỳ 6 tháng, 1 năm tiến hành sơ kết, tổng kết công tác kho quỹ,
đảm bảo an toàn kho quỹ.
- Phòng pháp chế:
• Tham mưu cho Ban Tổng Giám Đốc và các đơn vị trên toàn hệ
thống SeABank trong việc chỉ đạo và thực hiện hoạt động quản lý, điều
hành, kinh doanh theo đúng pháp luật.
• Giúp Ban Tổng Giám Đốc trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của Ngân hàng cũng như của cán bộ, nhân viên Ngân hàng.
• Chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các văn bản, quy chế, quy định,
quy trình nghiệp vụ, biểu mẫu theo sự phân công của Ban Tổng Giám Đốc.
Nguyễn Thùy Ninh 24 Lớp: Ngân hàng 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
• Thẩm định hoặc tham gia ý kiến về mặt pháp lý đối với những dự
thảo văn bản do các phòng, ban, bộ phận khác soạn thảo trước khi trình
Ban Tổng Giám Đốc.
• Thẩm định hoặc tham gia ý kiến về mặt pháp lý đối với các hợp
đồng ký kết nhân danh ngân hàng của các phòng, ban nhằm đảm bảo tính
hợp pháp của hợp đồng cũng như lợi ích hợp pháp của ngân hàng.
• Tổ chức rà soát và hệ thống hóa văn bản do SeABank ban hành và
đề xuất phương án xử lý kết quả rà soát.
• Cập nhật thường xuyên văn bản pháp luật mới ban hành về lĩnh
vực ngân hàng; nghiên cứu và đề xuất kiến nghị Ban Tổng Giám Đốc về
việc ban hành các văn bản, quy trình quy chế của SeABank theo yêu cầu
văn bản pháp luật mới.
• Thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nội
quy, quy chế của Ngân hàng cho cán bộ, nhân viên; phối hợp với phòng
kiểm tra kiểm soát nội bộ và các đơn vị liên quan kiểm tra, giám sát việc
thực hiện nội quy, quy chế, quy định, quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng
và kiến nghị những biện pháp xử lý vi phạm.
- Phòng phát triển sản phẩm và thị trường:
• Theo dõi, phân tích, nắm bắt hiện trạng, xu thế phát triển của
ngành ngân hàng, các nhu cầu luôn thay đổi và phát triển của khách hàng
đối với các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, khả năng tiềm lực của
SeABank và các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài ngành ngân hàng. Tiến
hành công tác phân đoạn thị trường và kiến nghị với Ban Tổng Giám Đốc
về việc lựa chọn các phân đoạn khách hàng/ thị trường mục tiêu phù hợp
nhất với SeABank.
Nguyễn Thùy Ninh 25 Lớp: Ngân hàng 47C

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×