Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế quản lý của Tổng công ty Hàng không Việt Nam theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con.pdf

Trang 1


Luận văn thạc só Kinh tế
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Mục đích và ý nghóa của đề tài ..................................................... 01
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................. 02
3. Phương pháp nghiên cứu .............................................................. 02
4. Bố cục của luận văn ..................................................................... 03
5. Một số đóng góp của luận văn ....................................................... 03
NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN:
CHƯƠNG 1 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ VAI TRÒ
CỦA TÀI CHÍNH TRONG TĐKT
1.1 Tổng quan về tập đoàn kinh tế ..................................................... 04
1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế ................................................... 04
1.1.2 Tính tất yếu của việc hình thành và phát triển các TĐKT ........ 05
1.1.3 Đặc điểm của TĐKT ............................................................. 06
1.1.4 Các hình thức hình thành TĐKT ............................................ 07
1.1.5 Vai trò của TĐKT .................................................................. 10

1.1.6 Tham khảo mô hình TĐKT ở các nước .................................... 11
1.2 Vai trò của Tài chính trong TĐKT ................................................. 12
1.2.1 Vai trò của Tài chính doanh nghiệp ........................................ 12
1.2.2 Chức năng của Tài chính ...................................................... 12
1.2.3 Vai trò của tài chính đối với hoạt động SXKD ......................... 14
1.2.4 Tài chính trong TĐKT ........................................................... 14
CHƯƠNG 2 – ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH
TĐKT – TCTY TẠI VIỆT NAM VÀ TCTY HKVN
2.1 Giới thiệu mô hình TĐKT – TCTy của Việt Nam ........................... 16
2.1.1 Sự cần thiết ra đời ................................................................. 16
2.1.2 Khái quát về mô hình TĐKT – TCTy của Việt Nam ................. 18
2.1.3 Những hạn chế của mô hình TĐKT – TCTy của Việt Nam ...... 19
2.1.4 Nguyên nhân những yếu kém trong mô hình TĐKT – TCTy ở VN 21
2.2 Giới thiệu về TCTy HKVN ........................................................... 22
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển ........................................ 22
2.2.2 Cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý .......................................... 23
2.2.3 Vai trò ngành hàng không trong nền kinh tế quốc dân ............ 25
2.2.4 Đánh giá mô hình hiện tại của TCTy HKVN ........................... 26
2.3 Đánh giá họat động sản xuất kinh doanh của TCTy HKVN ............ 26
2.3.1 Tình hình môi trường ............................................................ 27
Trang 2


Luận văn thạc só Kinh tế
2.3.2 Kết quả họat động SXKD ....................................................... 28
2.3.3 Tình hình thực hiện đầu tư .................................................... 32
2.3.4 Tình hình huy động vốn phát triển đội máy bay ...................... 32
CHƯƠNG 3 – GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TCTY HKVN THEO MÔ ... HÌNH
CÔNG TY MẸ – CÔNG TY CON
3.1 Dự báo thò trường vận tải hàng không Việt Nam đến năm 2010 .. 37
3.1.1 Phân tích tác động môi trường ............................................... 37
3.1.2 Dự báo thò trường vận tải hàng không ..................................... 38
3.2 Đònh hướng phát triển TCTy HKVN đến năm 2010 .................... 39
3.2.1 Quan điểm chỉ đạo ............................................................... 39
3.2.2 Mục tiêu phát triển ............................................................... 39
3.2.3 Các chỉ tiêu chủ yếu ............................................................. 39
3.3 Giải pháp phát triển TCTy HKVN theo mô hình Công ty Mẹ – Công ty
con ......................................................................................... 43
3.3.1 Xác lập mô hình TĐKT tại TCTy HKVN ................................. 43
3.3.2 Xây dựng mối liên kết kinh tế ................................................ 47
3.3.3 Đầu tư phát triển và huy động vốn cho hoạt động đầu tư ......... 49
3.3.4 Hình thành Công ty Tài chính hàng không ............................. 52
3.3.5 Kiến nghò với Nhà nước ........................................................ 56

KẾT LUẬN......................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................
PHỤ LỤC ..............................................................................................


Trang 3


Luận văn thạc só Kinh tế
MỞ ĐẦU

1. Mục đích và ý nghóa của đề tài:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, năm 1986 đã đánh dấu thời điểm thực
hiện đổi mới phát triển kinh tế của nước ta, chuyển từ nền kinh tế tập trung,
bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát triển theo cơ chế
thò trường, đònh hướng xã hội chủ nghóa. Sau gần 20 năm thực hiện đổi mới,
đến nay nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu nhất đònh, các thành
phần kinh tế phát triển đồng đều và đều có đóng góp tích cực vào sự phát
triển chung của đất nước.
Thực hiện Nghò quyết Trung ương 3 khóa IX (họp từ ngày 13/8 đến
22/08/2001 tại Hà Nội) và chỉ đạo của thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh
tế, đổi mới và sắp xếp lại các DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động, TCTy
HKVN đã chủ động xây dựng đề án “Hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế
quản lý của TCTy HKVN theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con”. Ngày
04/04/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết đònh số 372/QĐ-TTg về
việc thí điểm tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con
tại TCTy HKVN.
Có thể nói TCTy HKVN là một trong những TCTy đầu tiên xây dựng mô
hình Công ty mẹ – Công ty con và Quyết đònh của Thủ tường Chính phủ
chính là cơ sở pháp lý để TCTy thực hiện mục tiêu “Xây dựng TCTy HKVN
thành một tập đoàn kinh tế mạnh, tổ chức theo mô hình Công ty mẹ –
Công ty con, kinh doanh đa ngành nghề, trong đó lấy kinh doanh vận tải
hàng không làm nòng cốt, phát huy vai trò của một ngành kinh tế mũi
nhọn, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp
phần đảm bảo an ninh quốc phòng”.
Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, chủ trương
hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh, đủ sức hội nhập với nền kinh tế thế
giới của Chính phủ, cũng là chiến lược phát triển của TCTy HKVN trong tiến
trình tự do hóa điều tiết vận tải hàng không quốc tế và hội nhập nền kinh tế
thế giới trong những năm đầu của thế kỷ 21. Đây vừa là cơ hội và cũng là
thách thức mới cho nền kinh tế nói chung và ngành hàng không nói riêng.
TCTy HKVN đã và đang tích cực phát triển theo hướng trở thành một tập
đoàn kinh tế mạnh, hoạt động trên nhiều lónh vực (vận tải hàng không; cung
cứng các dòch vụ đồng bộ; bảo dưỡng sửa chữa máy bay; kinh doanh du lòch,
khách sạn; dòch vụ bảo hiểm, ngân hàng, tài chính; cung ứng lao động
Trang 4


Luận văn thạc só Kinh tế
chuyên ngành hàng không,… ), với nhiều loại hình sở hữu đan xen lẫn nhau
(Nhà nước, liên doanh, hợp tác kinh kinh doanh, công ty cổ phần,…), có phạm
vi hoạt động trải rộng trên toàn quốc và quốc tế.
Để hình thành một tập đoàn kinh tế hoạt động theo đúng nghóa của nó thì
phải có những cơ chế, chính sách phù hợp, trong đó công tác tài chính đóng
một vai trò rất quan trọng để khai thác và phát huy sức mạnh của tập đoàn
trên thò trøng tài chính: quản lý tập trung thống nhất các nguồn vốn, đa dạng
hóa nguồn vốn, huy động và điều hành vốn linh hoạt, nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn. Đó chính là lý do mà tôi, với kinh nghiệm hơn 10 năm làm công
tác tài chính trong ngành hàng không, quyết đònh chọn đề tài “Hoàn thiện
công tác tài chính theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con tại TCTy
HKVN”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Tổng kết, đúc kết một số mô hình tập đoàn kinh tế trên thế giới để hoàn
thiện cơ sở lý luận cho việc hình thành mô hình Công ty mẹ – Công ty con tại
TCTy HKVN;
- Phân tích, đánh giá hoạt động và tình hình tài chính của TCTy HKVN thời
gian qua (giai đoạn 2001-2005) và đònh hùng trong thời gian tới (2006-
2010);
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác tài chính cho mô hình tập đoàn
kinh tế hàng không.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là: Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động cũng
như tình hình tài chính của TCTy những năm vừa qua, thể hiện qua các số
liệu phân tích trong giai đoạn năm 2001 – 2005; đònh hướng phát triển TCTy
trong những năm sắp tới 2006 – 2010; cơ sở để hình thành tập đoàn kinh tế
hàng không theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con và các giải pháp tài
chính để phát huy tác dụng của mô hình này.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong luận văn là phép
biện chứng duy vật. Thông qua việc thu thập những số liệu về tình hình hoạt
động của TCTy HKVN trong từng giai đoạn và vận dụng những kiến thức về
tài chính để phân tích, đánh giá tổng thể các mặt hoạt động của TCTy
HKVN.
Trang 5


Luận văn thạc só Kinh tế
Sử dụng phương pháp hệ thống hóa, thống kê, dự báo kinh tế, kết hợp phân
tích, tổng hợp đánh giá các số liệu để rút ra kết luận và đưa ra các giải pháp
phù hợp cho mô hình hoạt động của TCTy HKVN.
4. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo kết cấu sau:
Chương 1: Lý luận chung về Tập đoàn kinh tế và vai trò của Tài chính trong
Tập đoàn kinh tế.
Chương 2: Đánh giá thực trạng hoạt động của mô hình TĐKT – TCTy tại
Việt Nam và Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp tài chính chủ yếu để phát triển Tổng công ty
Hàng không Việt Nam theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con.
5. Một số đóng góp của luận văn:
- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc hình thành Tập đoàn kinh tế hàng không.
- Phân tích, tổng kết, đánh giá thực trạng hoạt động của TCTy HKVN.
- Đề xuất một số giải pháp tài chính cho mô hình tập đoàn kinh tế hàng không.
Trang 6


Luận văn thạc só Kinh tế
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ VAI TRÒ
CỦA TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ:
1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế:
TĐKT là một hình thức tổ chức tiên tiến, đại diện cho trình độ phát triển
cao của lực lượng sản xuất và nền kinh tế thò trường, đóng vai trò quan
trọng và chi phối nhiều lónh vực kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Tuy
nhiên, đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về TĐKT, nguyên nhân là
do có sự khác nhau về phương thức hình thành, nguyên tắc tổ chức và tư
cách pháp nhân của TĐKT.
Quan điểm thứ nhất: cho rằng TĐKT là một hình thức tập hợp của các công
ty độc lập nhau về mặt pháp lý do yêu cầu cạnh tranh và liên kết kinh tế
theo chiều ngang cũng như theo chiều dọc để kết hợp với nhau theo nguyên
tắc từ nguyện bình đẳng.
Quan điểm thứ hai: TĐKT là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp
lý, nhưng tạo thành một tập đoàn gồm một công ty mẹ và một hay nhiều
công ty hoặc chi nhánh do công ty mẹ góp trên 50% vốn cổ phần, chòu sự
kiểm soát của công ty mẹ.
Quan điểm thứ ba: TĐKT không phải là một đònh chế pháp lý tuy nó gồm
nhiều doanh nghiệp khác nhau, có mối quan hệ sở hữu và khế ước với
nhau, hoạt động trong cùng một ngành hay nhiều ngành khác nhau, tại một
nước hay nhiều nước khác nhau.
Nhìn chung, các quan điểm trên mới chỉ đề cập đến một hoặc một số mặt
đặc trưng của TĐKT, chưa bao quát hết các mặt của TĐKT như về cơ cấu
tổ chức, qui mô, phạm vi và phương thức hoạt động. Tuy vậy, chúng ta cũng
có thể khái quát những điểm chung nhất của TĐKT là: Tập đoàn kinh tế là
một cơ cấu tổ chức có qui mô lớn do nhiều công ty có tính chất sở hữu và
lónh vực kinh doanh đa dạng liên kết lại nhằm tăng cường khả năng tích tụ,
tập trung các nguồn lực như vốn, lao động, công nghệ, thò trường,… để tăng
khả năng cạnh tranh trên các thò trường trong và ngoài nước. Các công ty
thành viên trong tập đoàn có thể hoạt động độc lập nhưng phải chòu sự chi
phối của một công ty mẹ đối với nguồn lực ban đầu và chiến lược phát triển
chung; TĐKT vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh
Trang 7


Luận văn thạc só Kinh tế
tế, nhằm tăng cường tích tụ, tập trung vốn, tăng khả năng cạnh tranh và tối
đa hóa lợi nhuận.
1.1.2 Tính tất yếu của việc hình thành và phát triển TĐKT trên thế giới:
Khái niệm TĐKT đã được hình thành và phát triển từ rất lâu trong lòch sử
phát triển kinh tế thế giới. Ở Mỹ, từ những năm 1879, đã xuất hiện các
Công ty có số vốn lớn trên 1 triệu USD như Standart Oil, Rockefeller,…; còn
ở Nhật, từ năm 1885, Chính phủ đã khuyến khích thành lập những Công ty
cổ phần có qui mô lớn nhằm khắc phục nguồn vốn hạn chế của các cá
nhân.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhu cầu phát triển kinh tế để xây dựng lại
đất nước của những nước bò tàn phá trong chiến tranh đã dẫn đến quá trình
tích tụ và tập trung vốn, sản xuất phát triển mạnh mẽ, tạo ra một làn sóng
hợp nhất để hình thành các TĐKT lớn, hoạt động trong các ngành, các lónh
vực then chốt có lợi nhuận cao, bao gồm hàng trăm, hàng nghìn Công ty
vừa và nhỏ phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào Công ty mẹ về chiến lược
phát triển, tài chính, công nghệ, kỹ thuật. Qui mô và phạm vi hoạt động của
các TĐKT không chỉ giới hạn trong lãnh thổ từng quốc gia, mà đã vươn ra
toàn thế giới để chuyển thành những tổ chức kinh doanh quốc tế, các Công
ty xuyên quốc gia. Việc hình thành và phát triển có hiệu quả của các TĐKT
đã đưa chúng trở thành những trung tâm thu hút, thâu tóm hàng loạt các
Công ty xung quanh nó, dẫn đến các tập đoàn kinh tế ngày càng trở nên
hùng mạnh, có sức sống mãnh liệt và phát triển không ngừng.
Tuy nhiên, việc hình thành tập đoàn cũng có thể bằng các quyết đònh hành
chính của Chính phủ, điển hình của các trường hợp này là việc hình thành
các tập đoàn kinh tế ở châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc.
Các TĐKT được hình thành và phát triển không ngừng là do nó phù hợp với
các qui luật khách quan và xu thế của thời đại, đó là:
Qui luật tích tụ và tập trung vốn: để tồn tại và phát triển trong cơ chế thò
trường, các DN luôn phải nâng cao năng lực cạnh tranh và không ngừng mở
rộng sản xuất, đó cũng là quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất,
thông qua việc các DN tích lũy từ lợi nhuận, đi vay, liên doanh, liên kết,
phát hành cổ phiếu,…; hoặc các DN mạnh, lớn thôn tính, sát nhập, mua lại
các DN yếu và nhỏ, từ đó dẫn đến việc hình thành các TĐKT.
Qui luật cạnh tranh, liên kết và tối đa hóa lợi nhuận: đây là một trong những
qui luật cơ bản của kinh tế thò trường. Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt đó
thường dẫn đến 2 xu hướng: DN chiến thắng trong cạnh tranh sẽ thôn tính,
Trang 8


Luận văn thạc só Kinh tế
sát nhập, mua lại các DN bò đánh bại, dẫn đến việc tập trung hóa sản xuất
và vốn được nâng cao; xu hướng thứ 2, nếu qua thời gian dài cạnh tranh
không phân thắng bại, thì các DN đó sẽ đẫn đến sự thỏa hiệp, liên kết
nhằm tăng khả năng cạnh tranh hơn nữa. Như vậy, TĐKT ra đời, phát triển
là sản phẩm tất yếu của quá trình cạnh tranh, liên kết và tối đó hóa lợi
nhuận.
Tiến bộ khoa học công nghệ: một trong những yếu tố quyết đònh giúp các
DN chiến thắng trong cạnh tranh và tạo ra được lợi nhuận cao là việc
nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động SXKD
của DN. Trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh
mẽ, chu kỳ thay đổi công nghệ ngày càng ngắn, để đổi mới công nghệ,
nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm công nghệ cao đòi hỏi các DN phải có
vốn lớn và một lực lượng cán bộ khoa học công nghệ đủ mạnh. Điều này
chỉ có thể có ở các TĐKT mạnh.
Xu thế toàn cầu hóa: trong thời đại phát triển, thò trường tiêu thụ và các
nguồn lực sản xuất trong phạm vi một quốc gia càng trở nên nhỏ bé đối với
các DN lớn, vì vậy phát sinh các hoạt động kinh tế quốc tế và xu thế toàn
cầu hóa. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng tất yếu, lôi cuốn hầu hết
các nước, bao trùm hầu hết các lónh vực, vừa thúc đẩy hợp tác phát triển,
vừa tăng sức ép cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Các
TĐKT, công ty xuyên quốc gia mở rộng hoạt động bằng việc thành lập các
chi nhánh, liên kết với các công ty khác ở nước ngoài tạo thành những
Công ty liên doanh, liên kết nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên,
nguồn nhân lực lao động dồi dào ở các nước.
1.1.3 Đặc điểm của TĐKT:
- Các TĐKT có qui mô rất lớn về vốn, doanh thu, lao động và thò trường. Vốn
trong tập đoàn được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có qui mô lớn do
quá trình tích tụ và tập trung vốn.
- TĐKT có phạm vi hoạt động không giới hạn trên phạm vi toàn cầu. Thông
qua đó các TĐKT khai thác triệt để được lợi thế so sánh ở từng khu vực để
tăng khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận, vït qua hàng rào bảo hộ
mậu dòch của mỗi quốc gia để thâm nhập, mở rộng thò trường tiêu thụ.
- TĐKT là một tổ hợp các công ty có nhiều cấp, bao gồm công ty mẹ và các
công ty con, công ty cháu,…. Công ty mẹ chi phối các công ty con, cháu thông
qua chiến lược phát triển, tài chính và khoa học công nghệ. Các công ty
thành viên có quyền độc lập kinh doanh với những mức độ khác nhau, nhưng
Trang 9


Luận văn thạc só Kinh tế
đều phải tuân thủ chiến lược phát triển của tập đoàn. Như vậy, sở hữu vốn
của TĐKT là sở hữu hỗn hợp (nhiều chủ), nhưng có một chủ (công ty mẹ)
đóng vai trò khống chế, chi phối về tài chính.
Hình 1.1 – Mô hình phổ biến về cơ cấu tổ chức của một tập đoàn kinh tế:










- TĐKT thường kinh doanh đa ngành, đa lónh vực. Mỗi TĐKT đều có đònh
hướng ngành kinh doanh chủ đạo, lónh vực hoặc sản phẩm đặc trưng. Cơ cấu
tổ chức của một TĐKT thường có các đơn vò sản xuất, thương mại, tài chính,
ngân hàng, nghiên cứu ứng dụng và các dòch vụ khác. Mô hình tổ chức phổ
biến trong TĐKT thường là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH.
- Các TĐKT thường có một ban quản trò tập đoàn và trụ sở chính nằm ở công
ty mẹ. Ban quản trò tập đoàn chỉ kiểm soát về các mặt chiến lược phát triển,
tài chính, đầu tư, nghiên cứu ứng dụng công nghệ và phát triển sản phẩm mới
thông qua sử dụng các đòn bẩy kinh tế, còn các công ty thành viên hoàn toàn
tự chủ trong các quyết đònh kinh doanh của mình.
- Trong mỗi giai đoạn phát triển, chiến lược phát triển của các TĐKT luôn gắn
chặt với các chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nhà nước đóng
vai trò rất quan trọng đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của các TĐKT
thể hiện qua việc xây dựng, duy trì và thúc đẩy môi trường kinh tế xã hội cần
thiết cho các TĐKT hoạt động.
1.1.4 Các hình thức hình thành TĐKT trên thế giới:
(a) Căn cứ vào kỹ thuật giao dòch: có các hình thức sau:
Công ty
XYZ
Công ty
con 1
Công ty
con 2
Công ty
con...
Chi nhánh 1 Chi nhánh…
Công ty
cháu 1
Công ty cháu
...
Chi nhánh…
Trang 10


Luận văn thạc só Kinh tế
Sát nhập: là hình thức một doanh nghiệp mua lại toàn bộ tài sản và các
khoản nợ của doanh nghiệp khác, doanh nghiệp bò bán không còn tồn tại tư
cách pháp nhân riêng rẽ mà sử dụng pháp nhân của doanh nghiệp mua để
hoạt động.
VD: một vụ sát nhập giữa DN A và B, trong đó DN A mua lại DN B, thì DN
B sẽ không còn tồn tại nữa, chỉ còn 1 pháp nhân là DN A



Hợp nhất: là hình thức sát nhập hai hay nhiều doanh nghiệp có sức mạnh
tương đương để hình thành một doanh nghiệp mới nhằm giảm chi phí quản lý,
tăng năng suất lao động, nhờ lợi thế qui mô lớn, xóa bỏ cạnh tranh và đa
dạng hóa sản phẩm. Các doanh nghiệp tham gia hợp nhất không còn tồn tại
tư cách pháp nhân của nó nữa, doanh nghiệp mới thành lập sẽ hoạt động với
tư cách pháp nhân mới để thực hiện những hoạt động của doanh nghiệp hợp
nhất.
VD: Công ty A và Công ty B hợp nhất với nhau sẽ hình thành 1 Công ty mới
là Công ty C



Mua lại: là hình thức một doanh nghiệp mua lại một phần hay toàn bộ quyền
sở hữu doanh nghiệp bán thông qua 2 hình thức:
+ Mua lại cổ phần trực tiếp từ cổ đông của doanh nghiệp bán, doanh nghiệp
bán vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân riêng biệt, sự kiểm soát và
quyền lợi của doanh nghiệp mua đối với doanh nghiệp bán phụ thuộc vào
tỷ lệ cổ phần mà họ khống chế, nếu tỷ lệ này đạt trên 50% thì quan hệ
giữa 2 doanh nghiệp trở thành quan hệ Công ty mẹ – Công ty con.
+ Mua lại tài sản trực tiếp từ doanh nghiệp bán, doanh nghiệp mua không
chòu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp bán. Trường hợp
không còn tài sản để hoạt động, doanh nghiệp bán phải giải tán sau khi
phân phối số tiền bán tài sản cho cổ đông của nó.
(b) Căn cứ phương thức liên kết: có các hình thức tập đoàn sau:
DN A
DN B
DN A
DN A
DN B
DN C
Trang 11


Luận văn thạc só Kinh tế
TĐKT hàng ngang: là tập hợp của nhiều doanh nghiệp độc lập kinh doanh ở
nhiều lónh vực khác nhau, được liên kết xung quanh một ngân hàng và một
công ty thương mại. Ngân hàng này là trung tâm liên kết về vốn, là ngân
hàng giao dòch chính của các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn.
Công ty thương mại thường kinh doanh tổng hợp và hoạt động trải rộng trên
nhiều quốc gia, thay mặt tập đoàn dàn xếp các thương vụ trọn gói trên cơ sở
phối hợp khả năng của các doanh nghiệp thành viên, luôn đi tiên phong khai
phá thò trường mới.
Ví dụ: tập đoàn Mitsubishi (có 29 thành viên); tập đoàn Mitsui (có 24 thành
viên),…
TĐKT hàng dọc: gồm một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh làm trung
tâm, sản phẩm của nó là sản phẩm nòng cốt của tập đoàn, các doanh nghiệp
khác được tổ chức như là những nhà thầu phụ tham gia vào việc hoàn thiện
sản phẩm chính đó.
Doanh nghiệp trung tâm thông qua hình thức đầu tư cổ phiếu vào các doanh
nghiệp thành viên để khống chế và điều hành tập đoàn.
Ví dụ: tập đoàn Toyota gồm công ty chính là Toyota Motor Group lắp ráp xe
ô tô, cùng một tập hợp đông đảo hơn 4000 nhà thầu phụ sản xuất chi tiết phụ
tùng xe.
Một doanh nghiệp có thể vừa là thành viên của một tập đoàn hàng ngang
nhưng lại tham gia cả tập đoàn hàng dọc, điều này không có gì mâu thuẫn
mà là để giúp doanh nghiệp mở rộng liên kết và có thể tham gia vào nhiều
chương trình kinh doanh khác nhau.
Như vậy, việc hình thành các tập đoàn kinh tế phải là kết quả của quá trình
tích tụ và tập trung vốn và là sản phẩm của liên kết kinh tế phát triển đến
một trình độ nhất đònh. Tuỳ theo cách thức thành lập mà tập đoàn có thể có
tư cách pháp nhân hay không. Trường hợp được hình thành từ quá trình sát
nhập các công ty thành một thể thống nhất thì tập đoàn hoạt động như một
pháp nhân kinh tế. Ngược lại, nếu tập đoàn được hình thành do các công ty
ký thỏa thuận liên kết với nhau, đặc biệt là ở các liên kết mà trong đó các
công ty thành viên độc lập trong hoạt động kinh doanh của mình thì nó không
cần có tư cách pháp nhân, trường hợp này tập đoàn là một hình thức tổ chức
kinh tế.
Tuỳ theo mức độ liên kết mà tập đoàn có nhiều hình thức với các tên gọi
khác nhau như: Cartel, Syndicate, Consortium, Combinat, Incorporation,
Trang 12


Luận văn thạc só Kinh tế
Conglomerate. Ở Nhật các tập đoàn kinh doanh được gọi là Keiretsu, còn ở
Hàn quốc thì gọi là các Chaebol.
1.1.5 Vai trò của TĐKT:
Trong xã hội công nghiệp, các TĐKT nắm giữ phần lớn nguồn lực sản xuất
của mỗi quốc gia, có vò trí quan trọng trong hệ thống kinh tế của mỗi nước.
Sự phát triển của các TĐKT và cách ứng xử của nó có ảnh hưởng to lớn đến
hệ thống kinh tế, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trong phạm vi
quốc tế. Vai trò quan trọng của các TĐKT thể hiện qua các mặt sau:
Thứ nhất: TĐKT tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và sử dụng hợp lý
các nguồn lực trên diện rộng, qua đó thúc đẩy sự tự điều chỉnh trên phạm vi
toàn xã hội hướng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
Thứ hai: Qui mô lớn của một TĐKT giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu ngành
và sản phẩm dễ dàng bằng cách tổ chức từng doanh nghiệp theo hướng
chuyên môn hóa, góp phần nâng cao hiệu quả toàn tập đoàn.
Thứ ba: Sự phối hợp giữa các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn sẽ phát huy
được mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của từng doanh nghiệp để cùng nhau phát
triển. Tránh được sự cạnh tranh lẫn nhau, giảm thiểu các chi phí trùng lắp
(như chi phí nghiên cứu, triển khai,…), mở rộng khả năng nghiên cứu, ứng
dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất.
Thứ tư: TĐKT với hình thức là các công ty xuyên quốc gia có vai trò quan
trọng trong việc giúp các nước đang phát triển thực hiện chiến lược chuyển
giao công nghệ.
Thứ năm: Sự liên kết các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn góp phần đa
dạng hóa sản phẩm và đòa lý, nhanh chóng mở rộng thò trường tiêu thụ sản
phẩm.
Thứ sáu: Thuận tiện trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà quản lý có
năng lực, kinh nghiệm, đứng vững trước những thử thách thời đại.
Bên cạnh những vai trò quan trọng nói trên, TĐKT cũng tồn tại những hạn chế
nhất đònh như sau:
Việc hình thành và phát triển các TĐKT dễ dẫn đến xu hướng độc quyền
trong kinh doanh, tác động tiêu cực đến quá trình cạnh tranh, gây thiệt hại
cho người tiêu dùng.
Mâu thuẫn giữa qui mô và hiệu quả: kinh nghiệm của các nước phát triển cho
thấy sức mạnh của một tập đoàn không phải chỉ phụ thuộc vào qui mô của
Trang 13


Luận văn thạc só Kinh tế
nó, mà còn phụ thuộc vào năng lực quản lý và trình độ công nghệ. Khi qui
mô của một tập đoàn quá lớn, quá tập trung có thể dẫn tới vượt khỏi tầm
kiểm soát, từ đó tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ, phá sản, gây những tác hại nghiêm
trọng cho nền kinh tế. Thực tế đã xảy ra những vụ đổ bể của những tập đoàn
lớn như: vụ phá sản của tập đoàn sản xuất thép Hanbo của Hàn quốc năm
1997; vụ phá sản của tập đoàn năng lượng đa quốc gia Enron cuối năm
2001,…
1.1.6 Tham khảo mô hình TĐKT ở các nước:
Thực ra mô hình TĐKT đã ra đời và tồn tại từ lâu ở nhiều nước, tùy theo mức
độ liên kết mà TĐKT có những tên gọi khác nhau và đặc trưng riêng phù hợp
với điều kiện kinh tế của quốc gia đó:
Ở Mỹ: các tập đoàn được gọi là “Holding Companies” hay còn gọi là “Bank
Holding Companies”, đó là các Công ty cổ phần mẹ, được hình thành để nắm
giữ cổ phiếu của các Công ty khác mà nó điều khiển. Đây là một pháp nhân
mà pháp nhân này kiểm soát ít nhất một ngân hàng.
Ở Anh: có các “Group of Companies”, còn gọi là “Holding Company”. Đây
là một TĐKT gồm Công ty mẹ cùng với các Công ty con. Một Công ty được
xem là Công ty con của một Công ty khác nếu Công ty mẹ nắm giữ trên 50%
vốn cổ phần của nó, hoặc nắm được một số cổ phần của nó và điều khiển
được ban Giám đốc.
Ở Pháp: TĐKT có tên là “Groupe”. Đây là một tập hợp những Công ty được
liên kết với nhau bởi những quan hệ tài chính và đặt dưới một sự điều hành
kinh tế. Tập đoàn được hình thành bởi một Công ty mẹ hoặc một Công ty
khống chế về cổ phần. Trong tập đoàn này giữ vai trò nòng cốt là Công ty
mẹ. Đây là một Công ty tài chính sở hữu một phần quan trọng vốn của những
Công ty khác nhau về mặt pháp lý của nó. Nó kiểm soát và đònh hướng hoạt
động của Công ty con này.
Ở Trung Quốc: có các tập đoàn xí nghiệp. Đây là một hình thức của quần thể
xí nghiệp do yêu cầu cạnh tranh của một số xí nghiệp trong việc liên hệ kinh
tế ngang và trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, liên hợp lại với nhau thành một
thực thể kinh tế.
Ở Nhật Bản: các TĐKT có tên gọi riêng là Keiretsu. Nó cũng có những đặc
điểm chung như các TĐKT nhưng có điểm khác nhau là hầu hết các Keiretsu
đều hoạt động trong lónh vực chuyên ngành.
Trang 14


Luận văn thạc só Kinh tế
Ở Hàn Quốc: mô hình TĐKT được gọi dưới tên là Chaebol. Đây là các tập
đoàn lớn, là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế Hàn Quốc. Đặc điểm
nổi bật của các Chaebol là mức độ đa dạng hóa kinh doanh. Đây cũng là
điểm khác biệt so với các Keiretsu của Nhật Bản. Tính chất quốc tế hóa của
các Chaebol rất cao. Một Chaebol có cơ cấu chặt chẽ hơn sẽ dễ dàng quốc tế
hóa khi liên kết với các công ty thành viên.
Ở Đài Loan: TĐKT có tên là Jituanque, đó là các tổ chức công nghiệp lớn, về
đặc điểm không khác gì so với các TĐKT của Nhật Bản và Hàn Quốc.
Ở miền Nam Việt Nam, giai đoạn trước năm 1975: với chính sách can thiệp và
nguồn viện trợ kinh tế của Mỹ, cũng đã hình thành và tồn tại nhiều TĐKT có
qui mô lớn mà khởi điểm từ năm 1954. Những TĐKT điển hình ở miền Nam
Việt Nam giai đoạn 1954-1975 là:
+ Tập đoàn Lý Long Thân: phát triển mạnh với việc thành lập Vinatexco,
Vinatefinco vào những năm 1960;
+ Tập đoàn Châu Đạo Sanh, Vương Ngọc Anh với các nhà máy Vimitex,
Saky bộ mì;
+ Tập đoàn Lân Như Tòng: với các nhà máy Visyfaso, mì ăn liền, Tole tráng
kẽm;…
Như vậy, có thể nói TĐKT đã ra đời và tồn tại từ lâu ở nhiều nước trên thế
giới, đặc biệt là ở những nước có nền kinh tế phát triển. Xu hướng “Tập đoàn
hóa” là một tất yếu khách quan khi nền kinh tế phát triển đến một trình độ
nhất đònh, đòi hỏi phải có sự tập trung sức mạnh kinh tế vào những doanh
nghiệp lớn, đủ sức tạo ra sự phát triển đột biến ở từng ngành, từng lónh vực,
đồng thời tận dụng được tối đa những lợi thế kinh tế chỉ có được ở những
doanh nghiệp có qui mô đủ lớn.
1.2 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH TRONG TĐKT:
1.2.1 Vai trò của tài chính doanh nghiệp:
Hoạt động SXKD của bất kỳ một thực thể nào cũng đều phải có các nguồn
lực, bao gồm:
+ Nhân lực: đó là con người, trình độ quản lý.
+ Vật lực: là trang thiết bò, công nghệ.
+ Tài lực: là nguồn tài chính tiền tệ.
Trong các nguồn lực đầu vào của sản xuất thì nguồn lực tài chính luôn được
đánh giá là đặc biệt quan trọng. Trên thực tế các nguồn lực đầu vào khác đều
Trang 15


Luận văn thạc só Kinh tế
có thể lượng hóa được bằng tiền và bổ sung cho nguồn lực tài chính của
doanh nghiệp.
Chúng ta sẽ xem xét các chức năng của tài chính doanh nghiệp để thấy được
vài trò của nó đối với hoạt động SXKD của một doanh nghiệp.
1.2.2 Chức năng của tài chính:
(a) Chức năng của Tài chính theo quan niệm truyền thống: có 3 chức năng:
Chức năng tạo vốn: đó là xác đònh nhu cầu về các loại vốn cố đònh, vốn lưu
động cần thiết để đầu tư cho nhà xưởng, trang thiết bò, dự trữ nguyên vật liệu
và chi trả các chi phí phục vụ quá trình sản xuất sản phẩm hay cung ứng dòch
vụ.
Đây là bước khởi đầu nhưng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến việc thực
hiện các chức năng tiếp theo, việc xác đònh sai có thể dẫn tới gia tăng chi phí
sữ dụng vốn, hoặc không có đủ vốn để đáp ứng cho nhu cầu thực tế phát sinh.
Khi đã xác đònh được nhu cầu vốn thì bước tiếp theo là việc lựa chọn các
kênh phân phối vốn thích hợp. Tiêu chí để xác đònh là sử dụng được nguồn
vốn với chi phí thấp nhất và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khác như: tính kòp
thời, thời hạn sử dụng, khả năng co dãn theo thực tế,… Hiện nay các kênh
phân phối vốn chủ yếu có thể sử dụng là: vay ngân hàng, phát hành cổ phiếu,
trái phiếu thông qua thò trường chứng khoán,…
Kỹ thuật điều phối sử dụng vốn được xem là khâu quan trọng của chức năng
này, đây là sự phối hợp nhòp nhàng đồng bộ với các khâu khác của quá trình
sản xuất nhằm đảm bảo phân phối hợp lý, kòp thời mang lại hiệu sử dụng cao
nhất.
Chức năng phân phối thu nhập bằng tiền: sau quá trình sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm hay cung ứng dòch vụ, tài chính doanh nghiệp tiếp tục phân phối
các khoản thu bán hàng để thực hiện quá trình tái sản xuất và tăng tích lũy
cho doanh nghiệp, cũng như thực hiện nghóa vụ với Nhà nước.
Các đối tượng tham gia vào quá trình phân phối là:
+ Nhà nước: doanh nghiệp thực hiện nghóa vụ thuế theo luật đònh.
+ Nhà cung cấp: thanh toán cho các yếu tố đầu vào (như nguyên vật liệu,
điện, nước,…), trả nợ vay,…
+ Nội bộ doanh nghiệp: phân phối tiền lương, tiền thưởng,… mở rộng năng lực
sản xuất thông qua việc hình thành các q tái đầu tư của doanh nghiệp.
Trang 16


Luận văn thạc só Kinh tế
Chức năng giám đốc bằng đồng tiền đối với các hoạt động SXKD: tài chính
thực hiện việc kiểm tra giám sát đối với sự vận động của các q tiền tệ trong
doanh nghiệp, nhằm đảm bảo tuân thủ đúng qui đònh tài chính và đònh hướng
phát triển của doanh nghiệp.
Thông qua chức năng này, tài chính doanh nghiệp sẽ phân tích đánh giá trình
độ sử dụng vốn, đồng thời đề ra các biện pháp khắc phục những mặt còn tồn
tại để nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp.
(b) Chức năng Tài chính theo quan niệm tài chính hiện đại:
Chức năng của tài chính là làm gia tăng giá trò của doanh nghiệp, gia tăng lợi
ích cho những người góp vốn thông quan việc thức hiện các quyết đònh:
Quyết đònh đầu tư (hay còn gọi là quyết đònh ngân sách vốn): tài chính phải
phân tích, đánh giá để lựa chọn cơ hội đầu tư trong những cơ hội có sẵn.
Quyết đònh tài trợ: lựa chọn nguồn tài trợ nào (huy động vốn góp hay đi vay)
để tài trợ cho như cầu vốn đầu tư đã được quyết đònh.
Quyết đònh phân phối: chính là sự kết hợp của 2 quyết đònh trên.
1.2.3 Vai trò của Tài chính đối với hiệu quả hoạt động SXKD của doanh
nghiệp:
Thông qua việc phân tích các chức năng của tài chính cho chúng ta thấy tài
chính có vai trò hết sức quan trọng đối với những nỗ lực nâng cao hiệu quả
SXKD của doanh nghiệp. Trên thực tế, hệ thống tài chính và môi trường kinh
doanh có mối quan hệ rất nhạy cảm và mật thiết với nhau, việc điều chỉnh
dòng chu chuyển của các luồng vốn sẽ tác động trực tiếp đến sự vận động
của các yếu tố vật chất khác và qua đó ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của
doanh nghiệp.
Như vậy, nếu tài chính thực hiện tốt các chức năng của mình sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì việc hình
thành và sử dụng các q tiền tệ luôn gắn liền với sự vận động của các yếu tố
sản xuất, thông qua các quyết đònh quản trò tài chính, doanh nghiệp sẽ tác
động vào dòng chu chuyển vốn, để điều chỉnh các yếu tố sản xuất sao cho có
lợi nhất.
Trang 17


Luận văn thạc só Kinh tế

1.2.4 Tài chính trong TĐKT:
Hoạt động của Tài chính trong doanh nghiệp nói chung cũng như trong mô
hình TĐKT đều là nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp, mỗi khi ra
các quyết đònh tài chính, nhà quản lý đều phải cân nhắc tính toán. Vậy mục
tiêu của doanh nghiệp là gì? Quan niệm trước kia cho rằng doanh nghiệp có
một mục tiêu duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, điều này đạt được khi chi phí
cận biên (MC) ngang bằng với doanh thu cận biên (MR). Ngày nay, cùng với
sự phát triển của lý luận và các học thuyết kinh tế, quan niệm trên đã có sự
thay đổi, lợi nhuận của doanh nghiệp đã được nhìn nhận dài hạn hơn, có tính
đến sự biến động của thò trường và rủi ro trong kinh doanh. Chính vì thế mục
tiêu của doanh nghiệp cũng là tối đa hóa lợi nhuận, nhưng tổng quát hơn đó
là tối đa hóa giá trò của doanh nghiệp. Đây là sự đánh giá tổng hợp của thò
trường về doanh nghiệp như khả năng sinh lợi, mức độ rủi ro.
Đặc điểm chung của tài chính trong TĐKT là thể hiện mối liên kết kinh tế tài
chính giữa các đơn vò thành viên trong tập đoàn. Trong mô hình TĐKT trên
thế giới thường có một Công ty tài chính đóng vai trò là trung tâm tài chính
của tập đoàn, để điều phối vốn giữa các công ty thành viên trong tập đoàn; là
đầu mối để huy động vốn từ các tổ chức tín dụng; tư vấn và làm đại lý phát
hành chứng khoán cho tập đoàn và các công ty thành viên; tư vấn và thực
hiện đầu tư vốn tạm thời nhàn rỗi trong tập đoàn.
Hạn chế của mô hình TĐKT tại Việt Nam (mô hình TCTy 90, 91) là quan hệ
giữa các đơn vò thành viên trong tập đoàn còn mang nặng tính hành chính,
không phải mối quan hệ kinh tế tài chính. Điểm yếu nhất của mô hình này là
TCTy chưa tập trung huy động, điều chuyển được các nguồn vốn trong nội bộ
TCTy. Tuy TCTy nhận vốn và tài sản của Nhà nước để giao xuống các đơn
Trang 18


Luận văn thạc só Kinh tế
vò thành viên, nhưng về thực chất thì phần vốn ấy đang do chính các đơn vò
thành viên quản lý và sử dụng. Nguồn vốn tại TCTy chỉ có ý nghóa trên giấy
tờ sổ sách, không mang ý nghóa của một ông chủ đầu tư vốn và có toàn
quyền quyết đònh với nguồn vốn đầu tư của mình. Việc các TCTy giao vốn
xuống cho các đơn vò thành viên theo phương thức không thanh toán, còn tạo
ra tính ỷ lại cho các đơn vò thành viên.
Như vậy, việc chuyển các TCTy sang mô hình Công ty mẹ – Công ty con có
gì khác? Trước tiên đó phải là chuyển quan hệ “giao vốn” sang quan hệ “đầu
tư vốn”, tùy thuộc vào mức độ góp vốn của Công ty mẹ vào Công ty con mà
Công ty mẹ thực hiện quyền chi phối đến từng Công ty con. Công ty mẹ sẽ
thực hiện quan hệ đầu tư vốn thông qua công ty tài chính của tập đoàn, toàn
bộ vốn của công ty mẹ và các công ty thành viên đều được quản lý thống
nhất qua Công ty tài chính của tập đoàn.
Kết luận chương 1: Từ những nghiên cứu trên có thể khẳng đònh vai trò quan
trọng cũng như những mặt trái của quá trình hình thành, phát triển của các
TĐKT là tính hai mặt của một vấn đề. Quá trình hình thành và phát triển của
các TĐKT là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của lòch sử;
đóng vai trò quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là ở các
nước đang phát triển; đồng thời cũng cần nhận thức rõ ràng những hạn chế cơ
bản của TĐKT, để từ đó có những giải pháp điều tiết đúng đắn nhằm hạn
chế những tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tế.





Trang 19


Luận văn thạc só Kinh tế

CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH
TĐKT – TCTY TẠI VIỆT NAM VÀ TCTY HKVN

2.1 GIỚI THIỆU MÔ HÌNH TĐKT – TCTY TẠI VIỆT NAM
2.1.1 Sự cần thiết ra đời:
Năm 1994, sau gần 8 năm thực hiện mở cửa để hội nhập với nền kinh tế thế
giới, tiếp nhận luồng vốn đầu tư từ bên ngoài, trong đó có một lượng lớn vốn
từ các tập đoàn sản xuất đa quốc gia, các doanh nghiệp Việt Nam bên cạnh
những thuận lợi về tranh thủ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, phong cách quản
lý mới,… đang phải nỗ lực chuẩn bò cho một cuộc cạnh tranh đầy khó khăn
thử thách. Với thực trạng là các doanh nghiệp nhỏ bé, phân tán, manh mún
thì các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn không phải đối thủ tương xứng của
các công ty nước ngoài. Trước thách thức đó, Chính phủ đã xác đònh phải tổ
chức lại các DNNN theo hướng nâng cao khả năng cạnh tranh, để không
những có thể tự đứng vững, mà còn phải giữ được vai trò chủ đạo, giúp Chính
phủ điều tiết nền kinh tế phát triển theo đònh hướng xã hội chủ nghóa.
Trong bối cảnh đó, ngày 07/03/1994 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 02
quyết đònh: QĐ số 90/TTg nhằm tổ chức lại các liên hiệp Xí nghiệp; và QĐ
số 91/TTg thí điểm thành lập một số Tổng công ty theo mô hình tập đoàn
(thường được gọi là TCTy 90, 91). Đây là nỗ lực nhằm đẩy mạnh quá trình
tích tụ và tập trung vốn, nhanh chóng hình thành các thực thể kinh tế có tiềm
lực mạnh, khả năng chuyên môn hóa sâu, góp phần thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Đồng thời thực hiện chủ
trương xóa bỏ dần chế độ Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản.
Tính đến tháng 2/2002, sau gần 10 năm thực hiện đã có 17 TCTy 91 trực
thuộc Chính phủ và 79 TCTy 90 trực thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố được
thành lập theo mô hình tập đoàn kinh doanh. Các TCTy Nhà nước có 1.392
doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp
trong cả nước, nắm giữ hơn 66% về vốn, 61% về lao động, tạo ra gần 50%
doanh thu và khoảng 80% lợi nhuận trước thuế trong toàn bộ khối DNNN.
Hàng năm các TCTy đóng góp gần 30% GDP vào ngân sách Nhà nước
(1)
.

(1)
Nguồn: Ban chỉ đạo và đổi mới doanh nghiệp Trung ương.
Trang 20


Luận văn thạc só Kinh tế
Nhìn chung, sau khi thành lập nhiều TCTy đã thể hiện được vai trò đầu tàu
của mình. Các TCTy đã trở thành lực lượng quan trọng cung cấp các loại
hàng hóa thiết yếu như: điện, than, dầu khí, xi măng, sắt thép,… đảm bảo cân
đối các hàng hóa, vật tư chiến lược, cân đối ngoại tệ và trở thành công cụ
điều tiết vó mô quan trọng và hiệu quả của Nhà nước trong việc bình ổn giá
cả và điều tiết thò trường. Ngoài ra, các TCTy còn ổn đònh việc làm cho hàng
triệu lao động, nâng cao đời sống người lao động và tích cực tham gia các
hoạt động xã hội. Có thể nói với 17 TCTy 91 và 79 TCTy 90, đã đóng góp
vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế xã hội của Việt Nam theo
đònh hướng xã hội chủ nghóa.
Bảng 2.1 – Hiệu quả hoạt động của các TCTy 91

Stt
Tổng công ty
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh
thu (%)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn
(%)
1997 1998 1999 1997 1998 1999
1 Hàng hải 0,08 0,08 0,06 0,10 0,07 0,05
2 Thép - - 0,01 - 0,01 0,02
3 Điện lực 0,16 0,11 0,14 0,09 0,08 0,08
4 Công nghệ tàu thủy 0,01 0,01 0,01 0,03 0,04 0,02
5 Giấy 0,03 0,03 0,02 0,03 0,04 0,02
6 Cao su 0,15 0,05 0,07 0,07 0,02 0,04
7 Cà phê 0,03 0,03 - 0,08 0,04 -
8 Than 0,03 0,01 - 0,07 0,01 -
9 Lương thực MN 0,02 0,02 0,01 0,17 0,35 0,09
10 Xi măng 0,08 0,09 0,10 0,09 0,08 0,08
11 Dầu khí 0,52 0,16 0,18 0,25 0,24 0,40
12 Lương thực MB 0,02 0,02 0,02 0,11 0,11 0,05
13 Hàng không 0,01 - 0,05 0,02 - 0,21
14 Thuốc lá 0,02 0,02 0,01 0,16 0,11 0,07
15 Hóa chất 0,04 0,04 0,03 0,05 0,14 0,08
16 Dệt may 0,01 0,01 0,01 0,03 0,01 0,02
17 Bưu chính viễn
thông
0,27 0,30 0,22 0,31 0,24 0,20
Nguồn: Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, tháng 04/2000.

Trang 21


Luận văn thạc só Kinh tế


2.1.2 Khái quát về mô hình TĐKT – TCTy của Việt Nam:
So với các mô hình TĐKT trên thế giới, bên cạnh những điểm chung giống
nhau và đều là kết quả của quá trình tích tụ, tập trung vốn, mô hình TĐKT ở
nước ta có những đặc trưng riêng biệt như sau:
(a) Sự hình thành:
Tập đoàn kinh tế của Việt Nam ra đời bằng quyết đònh hành chính của Chính
phủ, đó là:
Quyết đònh 90/TTg thành lập các TCTy trực thuộc UBND cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, theo đó phải có 2 điều kiện sau:
+ Có tối thiểu 5 đơn vò thành viên;
+ Có tổng vốn pháp đònh trên 500 tỷ đồng, trong trường hợp đặc thù thì không
ít hơn 100 tỷ đồng.
Quyết đònh 91/TTg thành lập các TCTy trực thuộc Chính phủ, theo đó cũng
phải có 2 điều kiện là:
+ Có tối thiểu 7 đơn vò thành viên;
+ Có tổng vốn pháp đònh trên 1000 tỷ đồng.
(b) Về tổ chức và quản lý:
TĐKT ở nước ta không thuộc hẳn dạng nào như sát nhập, hợp nhất hay mua
lại, mà đó là sự liên kết tự nguyện giữa các đơn vò thành viên đặt dưới sự
quản lý của Chính phủ. Sau khi hình thành nên một TCTy, các cấu trúc cũ
vẫn tồn tại, các Công ty có pháp nhân riêng biệt và hình thành thêm một
pháp nhân mới là TCTy.
Minh họa việc hình thành TĐKT ở Việt Nam:







Công ty A
Công ty B
Công ty C
TCông ty
XYZ
Công ty A
Công ty B
Công ty C
Pháp nhân cũ
Pháp nhân mới
Trang 22


Luận văn thạc só Kinh tế

Việc hình thành nên TCTy ban đầu chỉ là sự tập hợp lại của các doanh
nghiệp cùng ngành, hầu như chỉ là sự liên kết hàng ngang và cùng thuộc một
chủ sở hữu là Nhà nước. Trong khi đó việc hình thành các TĐKT trên thế
giới rất đa dạng: vừa liên kết ngang, liên kết dọc và hỗn hợp, đồng thời cũng
đa dạng hóa chủ sở hữu trên cơ sở sở hữu tư nhân là cơ bản.
Về cơ cấu tổ chức: các TCTy của ta thường có 2 cấp: cấp TCTy và cấp DN
thành viên, các DN thành viên có thể là đơn vò hạch toán độc lập hoặc đơn vò
hạch toán phụ thuộc, trong khi các TĐKT ở các nước có thể có nhiều cấp hơn
nữa và ở mỗi cấp đều có thể có những DN hạch toán độc lập hoặc DN hạch
toán phụ thuộc.
Về qui mô hoạt động: các TCTy ở nước ta đa số là hoạt động đơn ngành và
giới hạn trong nước, trong khi TĐKT trên thế giới lại hoạt động đa ngành và
hầu như không có giới hạn về mặt đòa lý.
Về mối quan hệ giữa TCTy và DN thành viên: xuất phát từ việc các TCTy
được hình thành bởi các qui đònh hành chính, nên mối quan hệ giữa các đơn
vò thành viên này không xuất phát từ lợi ích chung, không có các mối quan
hệ kinh tế – tài chính ràng buộc. Từ đó làm cho mối quan hệ trong TCTy trở
nên rời rạc, không phát huy được sức mạnh tổng hợp.
(c) Chế độ sở hữu và quản lý tài chính:
Chế độ sỡ hữu: Nhà nước quản lý TCTy thông qua đại diện là Hội dồng quản
trò, Chủ tòch HĐQT do Thủ tướng Chính phủ ký quyết đònh bổ nhiệm và là
người chòu trách nhiệm pháp lý cao nhất về quyền sở hữu. Tổng giám đốc là
người trực tiếp điều hành hoạt động của TCTy và cũng do Chính phủ bộ
nhiệm. Việc chồng chéo trong vai trò đại diện sở hữu và điều hành giữa chủ
tòch HĐQT và Tổng giám đốc cũng đang là vấn đề cần xem xét.
Quản lý tài chính: Vốn Nhà nước tại TCTy là sự cộng dồn vốn của các doanh
nghiệp thành viên. Nhà nước giao vốn cho TCTy nhưng sau đó vốn lại được
giao xuống cho các đơn vò thành viên. Mặc dù đã được qui đònh trong Điều lệ
và qui chế tài chính, nhưng hầu như các TCTy chưa thực hiện được việc điều
phối vốn giữa các đơn vò thành viên một cách hợp lý.
2.1.3 Những hạn chế của mô hình TĐKT – TCTy tại Việt Nam:
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về việc chuyển đổi và hình thành các
TCTy là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và phù hợp với xu thế phát triển của
DN trong cơ chế thò trường và hội nhập quốc tế. Các TCTy ra đời đã góp
Trang 23


Luận văn thạc só Kinh tế
phần đáng kể vào việc sắp xếp và phát triển các ngành nghề kinh doanh;
thúc đẩy được quá trình tích tụ và tập trung vốn, tạo ra những DN có qui mô
lớn về vốn, chiếm lónh được thò trường; đặc biệt các TCTy còn là công cụ chủ
yếu để Nhà nước điều tiết thò trường và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã
hội của Nhà nước.
Tuy nhiên, kết quả hoạt động của các TCTy chưa tương xứng với tiềm năng
và nguồn lực đầu tư của Nhà nước. Mô hình TCTy còn bộc lộ những hạn chế
nhất đònh như sau:
Về qui mô: tuy đã được liên kết lại, nhưng các TCTy, đặc biệt là các TCTy 90
vẫn còn là những doanh nghiệp có qui mô còn quá khiêm tốn so với qui mô
của các tập đoàn kinh tế của các nước trong khu vực Đông Nam Á, chứ chưa
so sánh với tập đoàn của các nước như Mỹ, Nhật, EU, Hàn Quốc. Các TCTy
90 có vốn trên 500 tỷ đồng chỉ có 13%; các TCTy có vốn dưới 100 tỷ đồng
chiếm đến 35%, thậm chí trong đó có nhiều TCTy còn có mức vốn dưới 50 tỷ
đồng. Các TCTy 91 tuy có khá hơn nhưng vẫn còn khiêm tốn. Hiệu quả hoạt
động SXKD của các TCTy tuy có cao hơn so với khu vực doanh nghiệp Nhà
nước, song vẫn chưa tương xứng với mức đầu tư và những ưu đãi mà Nhà
nước dành cho loại hình doanh nghiệp này.
Về cách thức tổ chức: các TCTy vẫn còn rất gần với mô hình liên hiệp các xí
nghiệp, dựa vào mối quan hệ hàng ngang, TCTy thường là bộ máy trung
gian, quản lý hành chính và mang nặng tính chất quản lý ngành, mà chưa dựa
vào quan hệ đầu tư lẫn nhau. Cơ cấu tổ chức quản lý trong các TCTy có
nhiều chồng chéo, không phân đònh rõ ràng ai là đại diện chủ sở hữu quản lý
vốn, ai là người sử dụng vốn. Việc tổ chức HĐQT và Ban Tổng giám đốc như
hiện nay, đều do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, gây ra sự rối loạn chức
năng vì nó áp dụng mô hình quản lý theo dạng Công ty cổ phần một cách nửa
vời.
Về mối quan hệ liên kết: trong các TCTy quan hệ về vốn, tài sản, công nghệ
giữa các doanh nghiệp thành viên chưa thật chặt chẽ, không gắn bó, chưa
phân đònh rõ quyền lợi và nghóa vụ của các bên, chưa đảm bảo quyền pháp
nhân TCTy và pháp nhân doanh nghiệp thành viên. Vì vậy, phần lớn các
TCTy chưa phải là một thực thể kinh tế thống nhất để phát huy sức mạnh của
toàn TCTy, mặc dù nhìn từ bên ngoài, các TCTy đều như một tổ chức khép
kín.
Mô hình 2 cấp hạch toán độc lập là cấp TCTy và cấp Công ty thành viên làm
cho cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp không phát triển được theo chiều sâu,
Trang 24


Luận văn thạc só Kinh tế
mà có xu hướng phát triển theo chiều rộng, làm cho tầm quản lý bò hạn chế.
Từ đó, hoặc công tác quản lý sẽ bò buông lỏng, hoặc qui mô và phạm vi hoạt
động của doanh nghiệp bò bó hẹp vì yêu cầu quản lý.
Do được sát nhập theo “phương pháp cộng” đơn thuần, không phải là quá
trình tái cấu trúc lại doanh nghiệp một cách hợp lý trên cơ sở chuỗi giá trò
của doanh nghiệp, dẫn đến ở một số TCTy, các Công ty thành viên lại cạnh
tranh gay gắt với nhau. Hậu quả là thay vì hợp lực, các TCTy lại bò phân lực.
2.1.4 Nguyên nhân những yếu kém trong mô hình TĐKT – TCTy ở Việt
Nam:
Theo Quyết đònh số 91 ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ thì tập
đoàn kinh tế là một pháp nhân kinh tế, có qui mô tương đối lớn, gồm nhiều
doanh nghiệp thành viên, có quan hệ với nhau về tài chính và dòch vụ có liên
quan. Nếu xuất phát từ khái niệm này thì các TCTy Nhà nước (TCTy 91), và
rất nhiều TCTy chuyên ngành (TCTy 90) đã là tập đoàn kinh tế. Nhưng tại
sao các TCTy 91, 90 đã không thể hoạt động như những tập đoàn ở các nước,
đó là do:
Thứ nhất: về lý thuyết tổ chức đã chỉ ra rằng, cơ cấu tổ chức phải đi theo
chiến lược, nhưng khi hoạch đònh sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, Nhà
nước chưa có chiến lược phát triển doanh nghiệp, chưa có mục tiêu rõ ràng
trong việc sắp xếp. Từ đó, cách thức tiến hành rất nóng vội, chạy theo kế
hoạch là chủ yếu và việc sắp xếp chỉ hướng đến mục tiêu giảm số lượng
doanh nghiệp Nhà nước, chưa hướng đến mục tiêu tạo ra một mô hình kinh tế
hiệu quả hơn.
Thứ hai: điều quan trọng là chúng ta chưa tìm ra được những mô hình tổ chức
các doanh nghiệp phù hợp; chưa chú ý đến những điều kiện môi trường hoạt
động cụ thể, chưa quan tâm đến tình trạng của từng doanh nghiệp như: qui
mô, lónh vực hoạt động, vòng đời của tổ chức,… tức là chúng ta đã không quan
tâm đến cái riêng trong cái chung, mà lại tiến hành tổ chức theo mô hình rập
khuôn.
Thứ ba: vào thời điểm sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước theo quyết đònh 90,
91, khung pháp lý lúc đó chưa cho phép chúng ta thực hiện mô hình Công ty
mẹ – công ty con theo dạng dự phần, chưa có cơ sở để chuyển các doanh
nghiệp Nhà nước sang dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, những chủ trương
và qui đònh về cổ phần hóa DNNN chưa được cụ thể hóa,…
Có thể nói việc hình thành nên các TCTy mới chỉ là bước khởi điểm ban đầu
cho việc hình thành các TĐKT, giai đoạn tiếp theo hiện nay là chuyển đổi
Trang 25


Luận văn thạc só Kinh tế
các TCTy này sang mô hình Công ty mẹ – Công ty con, để thực sự trở thành
những TĐKT theo đúng nghóa như các nước trên thế giới.
2.2 GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY HKVN:
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Ngành hàng không dân dụng Việt Nam được hình thành từ các đơn vò vận tải
quân đội. Quá trình hình thành và phát triển của ngành HKDD Việt Nam có
thể khái quát thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn từ năm 1956 đến năm 1975:
Ngành hàng không dân dụng Việt Nam được hình thành trong cuộc chiến
tranh chống Mỹ giải phóng đất nước (năm 1956), chủ yếu tập trung thực hiện
nhiệm vụ phục vụ quốc phòng. Cục HKDD Việt Nam khi đó được thành lập
trực thuộc Chính phủ và được giao cho Bộ quốc phòng, thực hiện đồng thời 3
chức năng: quản lý Nhà nước, quốc phòng và kinh doanh vận tải hàng không.
Giai đoạn từ năm 1976 đến 1989:
Năm 1976, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đã đánh dấu mốc quan
trọng trong sự phát triển của ngành HKDD Việt Nam đó là việc thành lập
Tổng Cục HKDD Việt Nam. Trong giai đoạn này, Tổng Cục HKDD Việt
Nam vẫn tiếp tục thực hiện 3 chức năng là quản lý Nhà nước, quốc phòng và
kinh doanh vận tải hàng không. Về phương diện kinh doanh và đối ngoại thì
trực thuộc Chính phủ, còn về tổ chức thì trực thuộc Bộ quốc phòng. Tổng cục
HKDD là một binh đoàn làm kinh tế.
Giai đoạn từ năm 1989 đến nay:
Đây là giai đoạn quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của ngành HKDD
Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của Đảng. TCTy HKVN được thành lập
(lần thứ nhất) theo Quyết đònh số 225/CT ngày 22/08/1989 của Chủ tòch
HĐBT (nay là Chính phủ), là một đơn vò kinh tế quốc doanh được tổ chức
theo điều lệ Liên hiệp xí nghiệp, trực thuộc Tổng cục HKDD Việt Nam. Mô
hình này đã tách bạch tương đối rõ chức năng quản lý Nhà nước và chức
năng SXKD của một doanh nghiệp vận tải.
Từ đó đến nay, ngành HKDD Việt Nam đã trải qua nhiều lần thay đổi về tổ
chức và cơ chế quản lý.
Ngày 20/04/1993 Chính phủ đã thành lập Hãng hàng không quốc gia Việt
Nam (Vietnam Airlines) và các doanh nghiệp khác trực thuộc Cục HKDD
Việt Nam.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×