Tải bản đầy đủ

Đánh giá thực trạng nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Bảo Lý - Phú Bình - Thái Nguyên.


i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM





BÙI THU TRANG



TÊN ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGHÈO THEO HƯỚNG
TIẾP CẬN NGHÈO ĐA CHIỀU VÀ GIẢI PHÁP
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI XÃ BẢO LÝ
PHÚ BÌNH - THÁI NGUYÊN




KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Mạnh Thắng





Thái Nguyên, 2014



ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & PTNT Trường
ĐH Nông Lâm Thái Nguyên. Cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy cô
là giảng viên tại trường đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm thực tế
để tôi chuẩn bị tốt tâm lý cho đợt thực tập này. Tôi đặc biệt, gửi lời cảm ơn
đến Th.s Nguyễn Mạnh Thắng - Giảng viên khoa Kinh tế và PTNT đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thiện khóa luận.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Bác Chủ tịch UBND xã Bảo Lý, các
đồng chí là cán bộ phòng văn hóa và Thương binh xã hội cùng với các hộ
nông dân trên địa bàn xã Bảo Lý đặc biệt là các hộ dân thuộc 3 xóm Dinh,
Hóa, Vạn Già đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công việc trong
thời gian thực tập tại địa phương.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các
cấp lãnh đạo đã tạo điều kiện, động viên, chia sẻ, giúp đỡ đóng góp nhiều ý
kiến quý báu để tôi hoàn thành đề tài này.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài vì nhiều lý do khách quan hoặc chủ
quan nên không thể thiếu những mặt hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2014
Sinh viên




Bùi Thu Trang



iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.1.1. Khái niệm nghèo 4
2.1.1.2. Chuẩn mực xác định nghèo đói 5
2.1.2. Nghèo đa chiều (Multidimensional poverty) 8
2.1.2.1. Khái niệm nghèo đa chiều 8
2.1.2.2. Chỉ số nghèo đa chiều 9
2.2. Cơ sở thực tiễn 12
2.2.1. Các khía cạnh của nghèo đói 12
2.2.2. Đặc điểm tình trạng nghèo đói của nước ta 14
2.2.3. Ảnh hưởng của đói nghèo đến sự phát triển xã hội và con người 16
2.3. Giảm nghèo bền vững 16
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
18
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 18

iv
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 18
3.1.2.1. Phạm vi không gian nghiên cứu 18
3.1.2.2. Thời gian nghiên cứu 18
3.2. Nội dung nghiên cứu 18
3.3. Phương pháp nghiên cứu 18
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 18
3.3.2. Thu thập số liệu sơ cấp 18
3.3.3. Phương pháp chọn mẫu 19
3.3.4. Phương pháp phân tích số liệu 20
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 21
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 21
4.1.1.1. Vị trí địa lý 21
4.1.1.2. Địa hình 21
4.1.1.3. Khí hậu thủy văn 21
4.1.1.4. Các nguồn tài nguyên 22
4.1.1.5. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của địa
bàn xã 23
4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội 24
4.1.2.1. Tình hình dân số, lao động, việc làm của xã Bảo Lý 24
4.1.2.2. Tình hình kinh tế 24
4.1.2.3. Cơ sở hạ tầng 27
4.1.2.4. Tình hình phát triển các lĩnh vực xã hội 28
4.1.3. Thuận lợi và khó khăn điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội trong
quá trình giảm nghèo của xã Bảo Lý 29
4.2. Thực trạng nghèo của xã Bảo Lý 30
4.2.1. Tình hình nghèo đói của Xã Bảo Lý 30

v
4.2.2. Thực trạng nghèo của các hộ điều tra 32
4.2.2.1. Nguồn vốn con người 32
4.2.2.2. Đặc điểm về vốn tự nhiên 37
4.2.2.3. Đặc điểm tiếp cận vốn vật chất 37
4.2.2.4. Tiếp cận vốn thông tin 42
4.2.2.5. Tiếp cận vốn tâm lý 42
4.2.2.6. Đặc điểm vốn kinh tế 43
4.2.3. Đánh giá nghèo thông qua tiếp cận đơn chiều 44
4.2.4. Đánh giá thực trạng nghèo theo cách tiếp cận đa chiều 45
4.2.5. So sánh tỷ lệ hộ nghèo của phương pháp tiếp cận đa chiều với đơn chiều
về thu nhập 46
4.2.6. Phân loại các nhóm đối tượng nghèo đa chiều và nguyên nhân
nghèo 47
4.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đơn chiều và đa chiều 48
4.4. Giảm nghèo bền vững 49
4.4.1. Giải pháp chung 49
4.4.1.1. Nguồn vốn con người 49
4.4.1.2. Nguồn vốn tài chính 50
4.4.1.3. Nguồn vốn vật chất 51
4.4.1.4. Đối với các nhóm hộ 52
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1. Kết luận 53
5.2. Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Quy định về Chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) 7
Bảng 3.1: Chỉ tiêu số lượng mẫu điều tra 19
Bảng 4.1. Cơ cấu đất đai của xã Bảo Lý (có dến 31/12/2013) 22
Bảng 4.2. Cơ cấu dân số, lao động xã Bảo Lý 24
Bảng 4.3. Tình hình phát triển một số giống cây trồng trên địa bàn xã 25
Bảng 4.4. Tình hình chăn nuôi giai đoạn 2011 - 2013 26
Bảng 4.5. Cơ sở vật chất cán bộ y tế năm 2013 29
Bảng 4.6. Tỷ lệ hộ nghèo ở xã Bảo Lý qua 3 năm 2011 - 2013 30
Bảng 4.7. Tỷ lệ hộ nghèo phân bố trên toàn xã giai đoạn 2011-2015 31
Bảng 4.8: Tình hình nhân khẩu, lao động và dân tộc của các hộ năm 2013 32
Bảng 4.9: Bằng cấp cao nhất của 1 thành viên trong hộ điều tra

năm 2013 33
Bảng 4.10: Tình hình giáo dục của các hộ điều tra năm 2013 34
Bảng 4.11: Đặc điểm về tiếp cận nguồn vốn con người của 54 hộ điều tra 35
Bảng 4.12: Tình hình sức khỏe các hộ điều tra năm 2013 36
Bảng 4.13: Đặc điểm về kiểu nhà của các hộ điều tra năm 2013 38
Bảng 4.14: Đặc điểm về chỉ báo vốn vật chất

của các hộ điều tra năm 2013 39
Bảng 4.15: Đặc điểm nhu cầu sinh hoạt của các hộ điều tra 41
Bảng 4.16: Đặc điểm vốn tâm lý của các hộ điều tra 42
Bảng 4.17: Các khoản thu nhập trong năm 2013 43
Bảng 4.18: Tỷ lệ hộ nghèo tính theo thu nhập năm 2013 44
Bảng 4.19: Tỷ lệ hộ nghèo qua tiếp cận đa chiều năm 2013 46
Bảng 4.20: So sánh tỷ lệ hộ nghèo qua tiếp cận đa chiều so với đơn chiều 46
Bảng 4.21: Tỷ lệ các nhóm đối tượng nghèo đa chiều năm 2013 47


vii


DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT

ESCAP : Châu Á - Thái Bình Dương
KT – XH : Kinh tế - Xã hội
KV : Khu vực
LĐTB&XH : Lao động - Thương binh và xã hội
PTNT : Phát triển nông thôn
TV : Tivi
UBND : Ủy ban nhân dân
WB : Ngân hàng thế giới
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo
UNDP : United Nations Development Programme
(Chương trình phát triển liên hợp quốc)
TB : Trung bình
NN : Nông nghiệp


1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, một chính sách trọng điểm
mà Đảng và chính phủ ta luôn quan tâm và đặt lên làm vấn đề quan trọng
hàng đầu. Từ trước đến nay, việc đánh giá nghèo đói vẫn dựa trên mức thu
nhập của người dân, vào những năm 90 của thế kỷ 20 người nghèo là người
có mức thu nhập trung bình thấp hơn 1 USD/ngày, hiện nay người nghèo là
người có thu nhập nhỏ hơn 2 USD/ngày/người theo tiêu chuẩn của Ngân hàng
Thế giới (WB).
Với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới, sự tiến bộ của trình
độ khoa học kĩ thuật, sự đổi mới về tư duy và nhận thức. Đảng và nhà nước
đang xây dựng một chương trình Xoá đói, giảm nghèo theo hướng bền vững
và đó là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước trong thời kỳ đổi mới.
Đất nước ta đang từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế. Từ sau khi chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang cơ chế thị
trường có quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay, chúng
ta đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Trong nông nghiệp: từ một nước phải
nhập khẩu gạo, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông sản có thứ bậc
trên thế giới. Đứng thứ hai về xuất khẩu gạo, cà phê, điều; đứng thứ tư về cao
su; đứng thứ sáu về chè. Ngành công nghiệp và dịch vụ cũng đóng góp một
phần không nhỏ trong sự tăng trửởng nhanh và ổn định của nền kinh tế nước
ta. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được cũng còn nhiều vấn đề tồn tại cần
giải quyết. Một trong những vấn đề đó là tình trạng nghèo đói của một bộ
phận dân cư trong xã hội.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được một bước tiến ấn tượng
trong công tác giảm nghèo. Tỷ lệ đói nghèo trên tổng số dân giảm liên tục
trên cả nước và từng địa bàn. Tuy đạt được thành tích đáng kể trên nhưng
Việt Nam vẫn đang phải đối diện với nhiều thách thức để duy trì kết quả giảm

2
nghèo đã đạt được và đảm bảo tính bền vững của giảm nghèo, đó là: Độ bao
phủ đối tượng chưa cao, do xuất phát từ đo lường nghèo đói chủ yếu dựa vào
thu nhập mà chưa tính đến các đối tượng khác tuy thu nhập trên chuẩn nghèo
nhưng vẫn không tiếp cận được một số nhu cầu thiết yếu về y tế, giáo dục,
nước sạch Mức độ nghèo phản ánh chưa chính xác nếu chỉ đo lường nghèo
đói dựa vào thu nhập, thiếu công bằng trong thực hiện các chính sách giảm
nghèo và an sinh xã hội, còn một bộ phận người dân chưa được hưởng các
chính sách trợ giúp của Nhà nước do không phải là "hộ nghèo". Thách thức
về tính bền vững trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo, tình trạng tái nghèo
còn cao, một bộ phận nghèo kinh niên vẫn tồn tại
Vì vậy, việc nghiên cứu, chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường
nghèo đói từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều để đáp ứng các nhu
cầu cơ bản tối thiểu của người dân là một đòi hỏi mang tính khách quan để
thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tới.
Trên cơ sở đó, được sự đồng ý của nhà trường và sự giúp đỡ của Th.s
Nguyễn Mạnh Thắng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng
nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền
vững tại xã Bảo Lý - Phú Bình - Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
• Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng nghèo đói theo hướng tiếp cận đa chiều thông qua
các chỉ số nghèo đói đa chiều và chuẩn nghèo hiện nay. Từ đó đề xuất các giải
pháp để giảm nghèo bền vững, không còn tình trạng tái nghèo tại xã Bảo Lý,
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
• Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng nghèo đói của xã Bảo Lý thông qua phương
pháp tiếp cận nghèo đa chiều và đơn chiều.
- So sánh được thực trạng nghèo của phương pháp tiếp cận đa chiều so
với phương pháp tiếp cận đơn chiều theo thu nhập.
- Phân tích được những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng nghèo
đa chiều và đơn chiều.
- Đề xuất được các giải pháp nhằm thoát nghèo bền vững.

3
1.3. Ý nghĩa của đề tài
 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và
những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập tại trường, đồng
thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài
thực tế.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập,
nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả
năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định
hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế.
- Có được cái nhìn tổng thể về tình trạng nghèo đói của cả nước nói
chung và riêng xã Bảo Lý trên cơ sở đánh giá các chỉ số nghèo đa chiều.
- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận
dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho
việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này.
 Ý nghĩa thực tế
Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh
giá thực trạng nghèo đói của địa phương thông qua phương pháp tiếp cận
nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững của xã Bảo Lý, huyện
Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý,
các cấp lãnh đạo địa phương đánh giá được tình trạng nghèo đói của nhân
dân trên tất cả các phương diện để từ đó đưa ra những giải pháp giảm
nghèo bền vững. Nhằm phát triển KT-XH nông thôn và đồng thời nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân xã Bảo Lý nói riêng và người dân
nông thôn nói chung.


4
Phần 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1. Khái niệm nghèo
Có nhiều quan niệm về nghèo đói của các tổ chức và quốc gia trên thế
giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như
theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu
dùng và theo những đặc trưng khác nhau của nghèo đói. Song quan niệm
thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu
nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và các nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc
thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm
nhất định”.
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế xã hộ khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào
tháng 9 năm 1993 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng “Nghèo
đói là tình trạng của bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu
cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được
xã hội thừa nhận”.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về
nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới
1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản
phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển
hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO)
Ông Abaplaen, người được giải thưỏng Nobel về kinh tế năm 1997 cho rằng:
“Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng
đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người

5
nghèo nói riêng sự khác nhau để phân biệt giữa họ chính là cơ hội lựa chọn
của mỗi người trong cuộc sống và thông thường người giàu có cơ hội lựa
chọn nhiều hơn người nghèo.
Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức
trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể và được nghiên cứu ở
mức độ cá nhân và cộng đồng. Nghèo, đói là tình trạng của một bộ phận cư
dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo
nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ thiếu ăn từ 1 đến 2
tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng
đồng. Đói là thang thấp nhất của nghèo, đói thuần túy là đói ăn, đói nằm trọn
trong phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn
hóa, thuộc phạm trù văn hóa tinh thần.
Đói cũng có 2 dạng là đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt):
- Đói kinh niên là một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do
nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi do tại thời điểm đang xét.
- Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều
nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi do khác tại thời điểm đang xét.
Qua đây có thể thấy được các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản
ánh ba khía cạnh của người nghèo:
- Không được hưởng những nhu cầu cơ bản nhất ở mức tối thiểu dành
cho con người.
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
- Thiều cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.
2.1.1.2. Chuẩn mực xác định nghèo đói
2.1.1.2.1. Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức
độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính
theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức
là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP
(purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương
và cũng tính bằng USD.

6
Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của
các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:
+ Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.
+ Từ 20.000 dến dưới 25.000 UDS/người/năm là nước giàu.
+ Từ 10.000 đến dưới 20.000 USD/người/năm là nước khá giàu.
+ Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/người/năm là nước trung bình.
+ Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo.
+ Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo.
Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang
nghèo đói như sau:
+ Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu
nhập dưới 0.5 USD/ngày.
+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày.
+ Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày.
+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày.
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.
Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình thông thường
nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng đưa ra. Ví dụ: Mỹ đưa ra chuẩn
nghèo là mức thu nhập dưới 16.000 Kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia
đình 4 người) trong một năm tương đương với 11,1 USD/ngày/người.
Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của
nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy,
để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc gia bình quân,
UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người HDI bao gồm hệ thống 3 chỉ
tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn và thu nhập bình quân đầu
người trong năm. Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự
phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận nước giàu nghèo
tương đối chính xác và khách quan.

7
2.1.1.2.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam
Bảng 2.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)
Chuẩn nghèo đói
qua các giai đoạn
Phân loại
Người nghèo đói
Mức thu nhập bình
quân/người/tháng
1993 - 1995 (Mức thu
nhập quy ra gạo)
Đói (KV nông thôn) Dưới 8KG
Đói (KV thành thị) Dưới 13KG
Ngèo (KV nông thôn) Dưới 15 KG
Nghèo (KV thành thị) Dưới 20 KG
1996 - 2000 (Mức thu
nhập quy ra gạo
tương đương với số
tiền)
Đói (tính cho mọi khu vực) Dưới 13 KG (45.000 đồng)
Nghèo (KV nông thôn,
miền núi, hải đảo)
Dưới 15 KG (55.000 đồng)
Nghèo (KV nông thôn,
đồng bằng trung du)
Dưới 20 Kg (70.000 đồng)
Nghèo (KV thành thị) Dưới 25 KG (90.000 đồng)
2001 - 2005 (mức thu
nhập tính bằng tiền)
Nghèo (KV nông thôn,
miền núi hải đảo)
Dưới 80.000 đồng
Nghèo (KV nông thôn,
đông bằng trung du)
Dưới 100.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng
2006 - 2010 (Mức thu
nhập tính bằng tiền)
Nghèo (KV nông thôn) Dưới 200.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 260.000 đồng

2011 - 2015 (Mức thu
nhập tính bằng tiền)

Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 500.000 đồng
(Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN
và Quyết định số 170/2005/QĐ-TT)
Phương án chuẩn nghèo này đã được đánh giá phù hợp với mức sống
và thu nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo
nhất, đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiến
và đáp ứng được yêu cầu từng bước tiếp cận và hội nhập quốc tế.

8
* Tiêu chí xác định chuẩn xã nghèo:
Năm 2002, Bộ Thương binh và xã hội có Quyết định số: 587/2002/QĐ-
BLĐTBXH quy định xã nghèo (ngoài chương trình 135) là xã có đầy đủ tiêu
chí sau:
- Có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.
- Chưa có đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu , cụ thể như sau:
+ Dưới 30% số hộ được sử dụng nước sạch.
+ Dưới 50% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt.
+ Chưa có đường ô tô tới trung tâm xã, ô tô không đi lại được cả năm.
+ Số phòng học mới đáp ứng được 70% nhu cầu của học sinh hoặc
phòng tạm bằng tranh, tre, nứa, lá.
+ Chưa có trạm y tế, hoặc có nhưng là nhà tạm.
+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm.
2.1.2. Nghèo đa chiều (Multidimensional poverty)
2.1.2.1. Khái niệm nghèo đa chiều
Nghèo đa chiều không chỉ được đo lường bằng thu nhập, chi tiêu mà
còn bởi khả năng tiếp cận một cách đồng thời đến lương thực, nhà ở, giáo
dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sống xã hội khác, ngay cả các chỉ báo phi
vật chất. Nói cách khác, nghèo được phản ánh bằng sự thiếu hụt phúc lợi xã
hội ở các khía cạnh khác nhau và có thể được một bộ các chỉ báo đại diện.
Tổng hòa các chỉ báo này phản ánh chất lượng cuộc sống. Rõ ràng là có sự
quan hệ qua lại giữa các chỉ báo đói nghèo đa chiều chứ không chỉ đơn giản là
quan hệ nhân quả giữa tình trạng nghèo về tiền bạc và các nhân tố khác. Các
mối quan hệ qua lại này giữa các chỉ báo nghèo đa chiều làm cho việc đo
lường nghèo trở nên phức tạp hơn so với quan hệ nhân quả đơn giản thường
được áp dụng trong nghiên cứu nghèo, khi mà tình trạng nghèo đơn chiều
được coi như là kết quả của nhiều nhân tố khác.
Như vậy, nghèo đa chiều là sự thiếu hụt tổng hợp của hai hay nhiều loại
vốn khác nhau của một người hoặc nhóm người: vốn sức khoẻ, vốn tâm lý,
vốn thông tin, vốn con người, vốn xã hội, vốn văn hóa, vốn vật chất, vốn tự
nhiên và vốn kinh tế. Nghèo đa chiều đưa ra cái nhìn về tình trạng nghèo một
cách đa chiều và toàn diện hơn, chỉ cần thiếu hụt một trong các loại vốn trên

9
sẽ dẫn đến thiếu hụt những loại vốn khác. Chúng đều có quan hệ qua lại, tác
động lẫn nhau. Ví như thiếu vốn sức khỏe sẽ dẫn đến thiếu vốn tài chính.
Từ cách tiếp cận đa chiều ta sẽ có những biện pháp để giảm nghèo bền
vững. Đưa ra những chính sách và định hướng đúng đắn hợp lý, thay cho việc
cần gì đáp ứng đấy làm người nghèo ỷ nại, lười lao động và sống mãi trong
vòng luẩn quẩn của nghèo đói.
2.1.2.2. Chỉ số nghèo đa chiều
Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) được tổ
chức Sáng kiến phát triển con người và nghèo đói của Đại học Oxford (OPHI)
cùng UNDP (Chương trình phát triển Liên hợp quốc) sử dụng trong Báo cáo
Phát triển Con người (Human Development Report), công bố vào ngày
2/11/2011. Chỉ số MPI được xây dựng dựa trên phương pháp luận của Alkire
và Foster (2007) bao gồm ba chiều đo lường là giáo dục, y tế và mức sống với
mười chỉ báo với các trọng số khác nhau.
Hiện nay, các tổ chức quốc tế đã áp dụng khái niệm nghèo đa chiều và
xây dựng các chỉ số đo lường nghèo đa chiều. Các chỉ số đa chiều phổ biến
nhất là Chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index - HPI) do Anand và
Sen đề xuất (1997), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index -
HDI) được Liên Hiệp Quốc sử dụng, và Chỉ số nghèo đa chiều
(Multidimensional Poverty Index - MPI) do Đại học Oxford và UNDP áp
dụng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007).
Các nhà nghiên cứu của OPHI (Oxford Poverty and Human
Development Initiative) đã thống kê số liệu từ 104 nước với dân số khoảng
5,2 tỷ người (chiếm 78% tổng dân số toàn cầu), có khoảng 1.7 tỉ người
đang sống trong tình trạng nghèo khổ đa chiều (chiếm khoảng 1/3 tổng dân
số). Con số này vượt quá 1.3 tỷ người cùng ở các nước này nếu tính theo
ngưỡng 1.25$ /ngày - phương pháp được chấp nhận phổ biến đo lường
nghèo cùng cực.
Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ảnh tất cả phạm vi tác động của
nghèo đói. Chỉ số này được tính toán bằng việc nhân phạm vi ảnh hưởng của
đói nghèo (Incidence of Poverty) và cường độ trung bình tác động lên người
nghèo (Average Intensity Across the Poor). Một người được xác định là

10
nghèo nếu anh hoặc chị ta thiếu ít nhất 30% các chỉ báo đã được gia trọng.
Ngài Jeni Klugman, tác giả chính của báo cáo phát triển con người đã từng
nói “Chỉ số nghèo khổ đa chiều cung cấp thang đo đầy đủ hơn về sự nghèo
khổ so với cách thức tính truyền thống- đô la/ ngày. Đây là một sự bổ sung
hữu ích vào hệ thống các công cụ được sử dụng để đánh giá các chiều cạnh
rộng lớn hơn sự hạnh phúc, mạnh khỏe (Well-being) của con người bao gồm
các chỉ số phát triển con người của UNDP và các thang đo khác về sự bất
bình đẳng theo dân số và giới”.
Chỉ số nghèo đa chiều bao quát được trực tiếp hơn sự túng thiếu, tổn
thất trong tác động đến sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ thiết yếu như nước
sạch, vệ sinh và năng lượng. Ở một số nước các nguồn này được cung cấp
miễn phí hoặc với một giá rất thấp trong khi một số nơi chúng trở nên vượt
quá mức so với thu nhập của người lao động.
Chỉ số sử dụng cùng ba kích thước như các chỉ số phát triển con người:
sức khỏe, giáo dục và mức sống.
Sức khỏe
• Tỷ lệ tử vong trẻ em
• Tỷ lệ người suy dinh dưỡng
Giáo dục
• Năm học
• Trẻ em đi học
Mức sống
• Nhiên liệu nấu ăn
• Nhà vệ sinh
• Nước
• Điện
• Nhà ở
• Tài sản
(Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người, 2011)
Mỗi chiều và mỗi chỉ số trong một chiều hướng là bằng nhau về
trọng số.
Tính toán chỉ số MPI: MPI = H x A
H: Tỷ lệ % những người nghèo đa chiều trong cộng đồng (tỷ lệ
nghèo đói).
A: Cường độ trung bình sự thiếu hụt các chỉ số của những người
nghèo (%).

11
Quy ước: 0% cho thấy hộ không thiếu thốn trong chỉ số
100% cho thấy hộ thiếu thốn trong chỉ số
Các chỉ số 10 sau đây được sử dụng để tính toán chỉ số MPI:
* Giáo dục (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/6):
1. Năm học: Bị tước đoạt nếu không có thành viên nào trong hộ gia
đình đã hoàn thành cấp độ tiểu học.
Nghĩa là chỉ số năm học có trọng số là 1/6, nếu hộ gia đình nào mà tất
cả các thành viên đều chưa học hết lớp 5 (bậc tiểu học) sẽ bị tướt đoạt trọng
số 1/6.
2. Con đi học: Bị tước đoạt nếu trong gia đình có độ tuổi đi học ở trẻ
em không được đi học đến lớp 9.
Nghĩa là chỉ số con đi học có trọng số 1/6, nếu hộ gia đình nào mà có
trẻ em đang ở độ tuổi đi học mà không được học đến lớp 9, (không tính trẻ
đang đi học) nghỉ học giữa chừng. Sẽ bị tước đoạt trọng số 1/6.
* Sức khỏe (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/6):
3. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em: Bị tước đoạt nếu có trẻ em đã chết trong
gia đình.
Nghĩa là chỉ số tỷ lệ tử vong ở trẻ em có trọng số là 1/6. Trong gia đình
nào nếu có trẻ em đã chết vì bất cứ nguyên nhân gì (bị ngạt khi mới sinh, thai
lưu, chết đuối, tai nạn, bị bệnh hiểm nghèo…) sẽ bị tướt đoạt trọng số 1/6.
4. Dinh dưỡng: Bị tước đoạt nếu trong gia đình có người lớn hoặc trẻ
em bị suy dinh dưỡng, mắc bệnh hiểm nghèo.
* Tiêu chuẩn sống (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/18):
5. Điện: Bị tước nếu hộ gia đình không có điện.
6. Nhà tiêu: Bị tước đoạt nếu nhà tiêu của hộ gia đình chưa được
đảm bảo.
Nhà tiêu đảm bảo là nhà tiêu cô lập được các chất thải, ngăn cho chất
thải chưa được xử lý tiếp xúc với động vật, côn trùng. Không gây mùi khó
chịu và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
7. Nước uống: Bị tước đoạt nếu hộ gia đình không được tiếp cận với
nước uống an toàn, hợp vệ sinh.
Nước uống an toàn, hợp vệ sinh là nước đã được qua sử lý loại bỏ các
tạp chất, các kim loại hóa học, vi khuẩn. Hiện nay, để sử dụng nước sạch
nhiều hộ gia đình đã phải dùng bình lọc nước.

12
8. Nhà: Bị tước đoạt nếu nhà của hộ gia đình không đảm bảo chất
lượng an toàn, sạch sẽ.
Nghĩa là nhà ở phải được xây dựng chắc chắn, kiên cố xây bằng gạch,
xi măng, mái đổ trần hoặc lớp ngói, lợp tôn nền nhà phải được đổ xi măng,
hoặc lát gạch hoa.
9. Nhiên liệu nấu ăn: Bị tước đoạt nếu gia đình nấu ăn bằng rác, gỗ
hoặc than.
10. Tài sản sở hữu: Bị tước đoạt nếu gia đình không sở hữu nhiều hơn
một TV, điện thoại, xe đạp, xe máy… hoặc tủ lạnh và không sở hữu một
chiếc xe hơi hoặc xe tải.
Một người được coi là nghèo đa chiều nếu họ bị tước trong ít nhất
33,33% của các chỉ số có trọng số. Cường độ của nghèo biểu thị tỷ lệ của các
chỉ số trong đó họ bị tước đoạt.
Chỉ số nghèo đa chiều bao quát được trực tiếp hơn sự túng thiếu, tổn
thất trong tác động đến sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ thiết yếu như nước
sạch, vệ sinh và năng lượng. Ở một số nước các nguồn này được cung cấp
miễn phí hoặc với một giá rất thấp trong khi một số nơi chúng trở nên vượt
quá mức so với thu nhập của người lao động.
Các nhà nghiên cứu của OPHI (Oxford Poverty and Human
Development Initiative) đã thống kê số liệu từ 104 nước với dân số khoảng 5,2
tỷ người (chiếm 78% tổng dân số toàn cầu), có khoảng 1.7 tỉ người đang sống
trong tình trạng nghèo khổ đa chiều (chiếm khoảng 1/3 tổng dân số). Con số
này vượt quá 1.3 tỷ người cùng ở các nước này nếu tính theo ngưỡng 1.25$
/ngày - phương pháp được chấp nhận phổ biến đo lường nghèo cùng cực.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Các khía cạnh của nghèo đói
* Về thu nhập: Đa số những người nghèo có cuộc sống khó khăn cực
khổ và có mức thu nhập thấp. Điều này do tính chất công việc của họ đem lại
người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều,
công việc cực nhọc nhưng thu nhập thấp. Hơn thế nữa, những công việc này
lại thường bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và
có tính rủi ro cao liên quan đến thời tiết (chẳng hạn mưa, nắng, lũ lụt, hạn

13
hán, động đất…). Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là
những ví dụ cho vấn đề này. Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu trong cuộc
sống của những người nghèo hạn chế hầu hết các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
chỉ được đáp ứng ở mức thấp thậm chí là không đủ. Điều này đã kéo theo
hàng loạt các vấn đề khác như giảm sức khỏe của người do đó giảm năng suất
lao động từ đó giảm thu nhập vô tình nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn của đói
nghèo, mà người nghèo rất khó thoát ra được.
* Y tế - giáo dục
Những người nghèo thường mắc phải các căn bệnh như cúm, sốt, ho,
đau khớp, đau lưng do ăn uống và lao động cực nhọc. Ngoài ra do điều kiện
không tốt nên người nghèo họ thường sống trong những vùng có điều kiện vệ
sinh, y tế thấp còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn, họ không được sử dụng nguồn
nước sạch, không có công trình vệ sinh khép kín, điều này cũng làm giảm sức
khỏe. Dẫn đến tăng tỷ lệ số trẻ bị suy dinh dưỡng và số bà mẹ mang thai thiếu
máu. Nguyên nhân là do bị đối xử bất bình đẳng trong xã hội người nghèo
không được quan tâm chữa trị bằng người giàu nên tỷ lệ tiếp xúc với các dịch
vụ y tế của người nghèo rất thấp. Bên cạnh đó trình độ nhận thức của người
nghèo, họ thường không quan tâm tới sức khỏe của mình chủ quan khiến
bệnh càng trở nên trầm trọng hơn.
Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng quan tâm.
Hầu hết những người nghèo họ không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn. Tỷ
lệ thất học, mù chữ ở hộ nghèo, đói rất cao. Tình trạng này là do các gia đình
không thể trang trải được các lệ phí về học tập của con cái họ như tiền học
phí, tiền sách vở hay do tâm lý của 1 số người nghèo vẫn còn cổ hủ, lạc hậu,
họ không cho con cái của họ đến trường vì như vậy sẽ mất đi một lao động
trong gia đình. Hiện nay, một số hộ nghèo họ đã nhận thức được tầm quan
trọng của việc đến trường tuy nhiên vấn đề học phí của con em họ vẫn là vấn
đề khó khăn đối với tình hình tài chính của gia đình.
Tóm lại, y tế - giáo dục là một vấn đề được nhiều người nghèo quan
tâm, họ cũng đã hiểu được tầm quan trọng của các yếu tố này tới bản thân của
họ cũng như tương lai của họ và gia đình. Nhưng do thu nhập của họ quá
thấp, không đủ trang trải học phí, viện phí, họ đành phải chấp nhận đề con cái
thôi học, người bệnh không được khám chữa chạy kịp thời.

14
* Không có tiếng nói và quyền
Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm
với sự khó khăn về vật chất lẫn con người. Nguy cơ đó là họ phải đối mặt với
nhiều loại rủi do, bị đánh đập, thiên tai, bị thôi học, bị thôi việc… Nói cách
khác, những rủi do mà người nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của
họ chính là nguyên nhân khiến họ dễ bị tổn thương. Khi có rủi do như mất
mùa, gia đình có người ốm đau, phải chạy chữa một khoản tiền lớn, hay bị
thất nghiệp… họ dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn cuộc sống
gia đình một thời gian sau mới có thể khắc phục được. Nguy cơ dễ bị tổn
thương đã tạo nên 1 tâm lý chung của người nghèo là sự đối mặt với rủi do, vì
vậy họ luôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi ro cao, kể cả khi những
người nghèo họ thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề của xã
hội vì thế họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung
của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ.
2.2.2. Đặc điểm tình trạng nghèo đói của nước ta
* Giảm nghèo bấp bênh
Bộ trưởng Bộ LĐTB & XH thừa nhận: "Việt Nam đang đứng trước
những thách thức lớn, đó là tốc độ giảm đói, nghèo không đồng đều, chưa bền
vững và thiếu tính tập chung cao. Tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện
nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, nhưng nhiều nơi tỷ lệ
nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên 60 - 70%; tỷ trọng hộ nghèo dân tộc
thiểu số chiếm 47% tổng số hộ nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân của
hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước; khoảng
cách chênh lệch giàu nghèo tăng 9,2 lần (năm 2010) lên khoảng 9,4 - 9,5 lần
(năm 2012).
Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) từ cuối năm 2012 cũng phản
ánh một thực tế là tình trạng phân hóa giàu - nghèo tại Việt Nam đang chuyển
dần từ mức tương đối bình đẳng (năm 2002) sang mức chênh lệch thu nhập
ngày càng tăng giữa các nhóm dân cư. Cho thấy sự bình đẳng đang giảm đi
còn sự bất bình đẳng đang lớn lên và đạt mức độ nguy hiểm. Trên thực tế việc
nhìn ra khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam không khó, nó có thể ước đoán
qua những quan sát về chênh lệch giữa người có tiền lương cao nhất so với

15
trung bình hoặc cách thức chi trả lương khá chênh lệch giữa người lao động
và người quản lý ở các doanh nghiệp. Ngoài ra, một số doanh nghiệp có "tính
đặc thù” còn chi trả những khoản "lương khủng” cho tầng lớp quản lý, rồi xu
thế đô thị hóa ồ ạt làm nhiều người giàu lên nhanh chóng nhờ đất đai, đó là
chưa kể tình trạng lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng, làm giàu bất
hợp pháp. Tất cả những vấn đề đó sẽ góp phần nới rộng khoảng cách giàu -
nghèo là điều dẫn đến bất bình đẳng xã hội. Người giàu có rất nhiều cơ hội
tiếp cận các dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo
nghề, và họ lại có điều kiện để giàu thêm. Số liệu thống kê cho thấy, 20%
nhóm giàu được hưởng phúc lợi xã hội nhiều hơn so với 20% nhóm nghèo.
Điều đó chứng tỏ rằng người càng giàu thì càng được hưởng lợi nhiều hơn so
với người nghèo.
* Nghèo không chỉ nghèo về tiền bạc
Đánh giá công tác giảm nghèo, Bộ LĐTB & XH cho biết, trên thực tế
Việt Nam đã thực hiện giảm nghèo đa chiều với nhiều chính sách hỗ trợ đồng
bộ như các hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, vay vốn…Tuy nhiên có điểm khác
biệt là Việt Nam vẫn dùng thu nhập làm thước đo để xác định đối tượng
nghèo. Từ chuẩn đó mới xem xét, tìm ra nguyên nhân nghèo là vì cái gì và
đưa ra các chính sách hỗ trợ.
Lâu nay công tác giảm nghèo ở Việt Nam tiến hành theo kiểu "thiếu thứ
gì thì hỗ trợ cái đó” là rất sai lầm. Nó đã vô tình tạo ra tâm lý ỷ nại không
muốn thoát nghèo. Ngoài ra, có không ít người nghèo cho rằng mình phải
được nhận tất cả mọi chính sách hỗ trợ. Thực tế không phải vậy, ví dụ để
được vay vốn sản xuất đối tượng nghèo phải có sức lao động; được học nghề
thì đối tượng nghèo cũng phải đáp ứng về độ tuổi. Từ trước tới nay, nhiều địa
phương áp dụng phương pháp đo lường nghèo đơn chiều vì thế đã dẫn tới hạn
chế không làm rõ được từng đối tượng thì nên áp dụng chính sách gì và họ
thiếu hụt gì thì hỗ trợ. Chúng ta cứ nghĩ thay cho người nghèo. Họ thiếu gì thì
chúng ta hỗ trợ dẫn tới chính sách không minh bạch, tham vọng quá lớn nên
hiệu quả không cao.
"Nghèo đa chiều” đang được xem là "chìa khóa” tháo gỡ cho thực
trạng "nghèo -tái nghèo - nghèo” ở Việt Nam. Trong công tác xóa đói giảm

16
nghèo, bên cạnh việc kế thừa những kinh nghiệm, cách làm hay, việc cần
có một chiến lược giảm nghèo mới là một yêu cầu cấp bách. Song việc
chuyển đổi phương pháp tiếp cận sang nghèo đa chiều để thực sự đem lại
hiệu quả thì còn rất nhiều việc phải làm. Nhất là khi sự bình đẳng tuyệt đối
giữa giàu - nghèo là rất khó, đặc biệt việc kéo gần khoảng cách giữa người
giàu và người nghèo không hề đơn giản. Chính vì vậy, cùng với việc thực
hiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội thì Nhà nước cũng cần
thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ khác như cải thiện chất lượng khám
chữa bệnh, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học và dạy
nghề, chăm lo tốt đời sống người có công…
2.2.3. Ảnh hưởng của đói nghèo đến sự phát triển xã hội và con người
Người nghèo, quốc gia nghèo luôn phải sống trong tình trạng lo âu, day
dứt, mong muốn tìm ra lối thoát. Báo cáo chương trình tổng kết giảm nghèo ở
Châu Á - Thái Bình Dương đã đánh giá rằng: sống một cuộc sống nghèo khổ
hiển nhiên sẽ gây ra những thất vọng mà sự thất vọng này lại là nguồn gốc
của những hành động phá phách, gây phiền hà cho cuộc sống và trật tự xã hội.
Tình trạng nghèo ấp ủ các xung đột về chính trị xã hội, phá hoại những giá trị
cơ bản của con người và làm xói mòn hạnh phúc gia đình.
Sự nghèo khó không chỉ gây nhức nhối cho người nghèo ở khía cạnh
vật chất mà còn kể đến nghèo khổ cả về mặt tinh thần. Nó làm giảm khả năng
tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, thiếu niềm tin và hoài bão. Các hộ
nghèo thường là đông con, thu nhập thấp, thiếu việc làm, họ muốn đi làm thuê
nhưng lại sợ: sợ không có người nào thuê, sợ không có bảo hiểm, sợ mang
tiếng là đi làm thuê, sợ không được trả công thỏa đáng… hoặc có những
người lười lao động, sống ỷ nại hoặc có những người do trình độ hiểu biết
thấp nên không dám làm ăn, không tham gia vào các hoạt động giáo dục và
đào tạo của cộng đồng để nâng cao trình độ.
2.3. Giảm nghèo bền vững
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà
nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp
phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành
thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư đồng thời thể hiện quyết

17
tâm trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt
Nam đã cam kết.
Những năm qua, việc tập trung thực hiện thành công Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để
người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng của
các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải
thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống
còn 11,76% (2011) và 9,6% (năm 2012), bình quân giảm 2,3%/năm. Tỷ lệ
hộ nghèo tại 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a đã giảm từ 58,33%
(2010) xuống còn 50,97 (năm 2011) và 43,89% (2012), bình quân giảm
trên 7%/năm. Những thành công trong công tác giảm nghèo đã được cộng
đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá.
Giảm nghèo phải đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trường để giảm nghèo
bền vững. Tuy nhiên, trên thực tế kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững,
số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ
hộ tái nghèo hàng năm còn cao; chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm
dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó
khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mục tiêu giảm nghèo bền vững của ta đến năm 2020 không chỉ tiếp tục
ưu tiên nguồn lực cho các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, khu vực đồng bào dân
tộc thiểu số, mà quan trọng là chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo đói từ
đơn chiều sang đa chiều, tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng. Xóa
nghèo không chỉ tăng thu nhập cho các hộ nghèo mà còn tăng mức độ thụ
hưởng của các thành viên trong các dịch vụ xã hội khác. "Việc khuyến khích
người nghèo bày tỏ tiếng nói, trao quyền để họ tự tìm ra cách thức giảm
nghèo, lôi cuốn sự tham gia của người nghèo vào quá trình lập kế hoạch và
giám sát thực hiện là những yếu tố để giảm nghèo bền vững”- bà Pratibha
Mehta, Điều phối viên Thường trú của Liên Hợp quốc lưu ý.
Giảm nghèo bền vững phải được thực hiện một cách đồng bộ trên tất cả
các lĩnh vực (chính sách, y tế, giáo dục và điều kiện sống) đảm bảo không có
hiện tượng tái nghèo xảy ra.

18
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ dân trong cộng đồng xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
3.1.2.1. Phạm vi không gian nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu là xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên,
gồm 3 xóm Hóa, xóm Dinh, xóm Vạn Già.
3.1.2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài sử dụng nguồn thông tin, số liệu thứ cấp trong thời gian 3 năm
2011- 2012 - 2013. Nguồn thông tin, số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2013.
Đề tài thực hiện từ ngày 07/01/2014 đến 13/05/2014.
3.2. Nội dung nghiên cứu
• Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại địa phương.
• Đánh giá thực trạng nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều.
• Nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đơn chiều và
nghèo đa chiều.
• Đưa ra các giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Bảo Lý.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Số liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn, đó chính là các số liệu đã
qua xử lý, tổng hợp. Thu thập các số liệu thứ cấp từ nguồn thông tin công bố
chính thức của các cơ quan nhà nước, các số liệu và báo cáo đánh giá tổng kết
của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông huyện
Phú Bình, của UBND xã Bảo Lý. Các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về tình
hình sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, kinh tế hộ nông dân và các tổ
chức kinh tế- xã hội, tình hình nghèo đói của xã trong những năm 2011-2013,
mạng internet,
3.3.2. Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu. Cụ thể, số liệu
sơ cấp được thu thập từ các hộ gia đình trên địa bàn xã Bảo Lý. Để thu thập

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×