Tải bản đầy đủ

Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại Thị trấn Lâm Bình - huyện Lâm Bình - tỉnh Tuyên Quang.

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o

CHẨU VĂN VĨNH


Tên đề tài:

Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường
tại Thị trấn Lâm Bình, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014



Thái Nguyên, năm 2014


2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o

CHẨU VĂN VĨNH


Tên đề tài:

Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường
tại Thị trấn Lâm Bình, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Lớp : K42 – KHMT – N04
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn :PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn



Thái Nguyên, năm 2014
3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân
tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè và
gia đình.
Tôi xin cảm ơn Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Lâm Bình –
tỉnh Tuyên Quang nơi tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng công
tác quản lý môi trường tại Thị trấn Lâm Bình, huyện Lâm Bình, tỉnh


Tuyên Quang” đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi được học tập và
thực hiện đề tài này.
Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Môi trường
- trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã có sự giúp đỡ tận tình cho
tôi học tập và kiến thức trong 4 năm học tại trường và cảm ơn tới bạn
bè và người thân đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
khi thực hiện đề tài. Đặc biệt tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Khắc Thái Sơn người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và
đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài đề tài của tôi còn nhiều
thiếu sót rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè
đồng nghiệp để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Sinh viên



Chẩu Văn Vĩnh


4
MỤC LỤC

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1. Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Cơ sở pháp lý 3
2.1.2. Cơ sở lý luận 3
2.1.3. Cơ sở thực tiễn 5
2.1.3.1. Những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường 5
2.2. Thực trạng môi trường trên Thế giới và Việt Nam 8
2.2.1. Thực trạng môi trường trên Thế giới 8
2.2.2. Hiện trạng môi trường ở Việt Nam 11
2.3. Công tác quản lý môi trường trên Thế Giới và ở Việt Nam 18
2.3.1. Công tác quản lý môi trường trên Thế Giới 18
2.3.2. Công tác quản lý môi trường ở Việt Nam 19
2.3.3. Công tác quản lỳ môi trường ở tỉnh Tuyên Quang 20
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 22
3.1. Đối tượng phương pháp nghiên cứu 22
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 22
3.2. Nội dung nghiên cứu 22
3.3. Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1. Phương pháp kế thừa 24
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 24
3.4.3. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 24
3.4.4. Phương pháp chuyên gia 25
3.4.5. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 25
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1. Tình hình cơ bản của Thị trấn Lâm Bình 26
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 26

5
4.1.1.1. Vị trí địa lý 26
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo 26
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết 27
4.1.2. Các nguồn tài nguyên 28
4.1.2.2. Tài nguyên nước 29
4.1.2.3. Tài nguyên khoáng sản 29
4.1.2.4. Tài nguyên rừng 30
4.1.3. Thực trạng môi trường 31
4.2. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi
trường 32
4.2.1. Những thuận lợi, lợi thế 32
4.2.2. Những khó khăn, hạn chế 32
4.3. Đánh giá thực trạng môi trường của Thị trấn Lâm Bình 33
4.3.1. Môi trường nước 33
4.3.1.1. Thực trạng sử dụng nguồn nước và các công trình vệ sinh 33
4.3.1.2. Nguồn gây ô nhiễm môi trường nước 34
4.3.1.3. Ô nhiễm môi trường nước 35
4.3.2. Hiện trạng nguồn rác thải 38
4.3.2.1. Nguồn phát sinh rác thải 38
4.3.2.2. Hiện trạng rác thải của Thị trấn Lâm Bình 40
4.3.4. Thực trạng môi trường đất 41
4.4. Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường 43
4.4.1. Thực trạng công tác quản lý môi trường của huyện Lâm Bình 43
4.4.2. Thực trạng công tác quản lý môi trường của Thị trấn Lâm Bình 44
4.4.2.1. Bộ máy quản lý môi trường của Thị trấn Lâm Bình 44
4.4.2.2. Công tác quản lý rác thải của Thị trấn Lâm Bình 44
4.4.3. Đánh giá chung và đề xuất giải pháp quản lý môi trường. 48
4.4.3.1. Đánh giá chung 48
4.4.3.2. Đề xuất giải pháp quản lý môi trường. 50
4.4.3.3. Giải pháp về nhân sự 50
4.4.3.4. Truyền thông nâng cao nhận thức về môi trường 51
4.4.3.5. Giải pháp khoa học-công nghệ 51
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1. Kết luận 53
5.2. Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

6
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT


BVMT : Bảo vệ môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
KCN : Khu công nghiệp
QLMT : Quản lý môi trường
UBND : Ủy ban nhân dân
VSMT : Vệ sinh môi trường
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu long






7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng nguồn nước và công trình hợp vệ sinh trên
địa bàn Thị trấn Lâm Bình 33
Bảng 4.2: Các hoạt động sản xuất kinh doanh có tác động đến nguồn nước 34
Bảng 4.3: Tỉ lệ hộ gia đình có các loại cống thải 36
Bảng 4.4: Biện pháp xử lý nước thải trong chăn nuôi của một số hộ gia đình . 38
Bảng 4.5: Số lượng các quầy hàng kinh doanh tại chợ 39
Bảng 4.6: Thành phần rác thải thu gom 40
Bảng 4.7: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 41
Bảng 4.8: Các nguồn chính gây ô nhiễm môi trường không khí 42
Bảng 4.9: Nhân lực trong công tác thu gom rác 45
Bảng 4.10: Thu - chi cho công tác BVMT của Hợp tác xã môi trường
Thị trấn Lâm Bình 46
Bảng 4.11: Địa điểm tập kết rác tại Thị trấn Lâm Bình 47
Bảng 4.12: Công cụ thu gom, phương tiện vận chuyển rác 47




8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 4.1: Bộ máy quản lý môi trường tại Thị trấn Lâm Bình 43




1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Môi trường đang trở thành một vấn đề nan giải mà xã hội quan tâm
hiện nay. Để giải quyết những vấn đề đó cần có những công trình nghiên
cứu về xử lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm khi thải ra môi trường góp phần gìn
giữ và bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa ở nước ta trong những năm gần đây phát triển rất nhanh. Dân số đã
tăng lên nhanh chóng đặc biệt là các khu vực đô thị, các thành phố lớn. Sự
gia tăng dân số đã kéo theo việc sử dụng nước phục vụ cho sinh hoạt, sản
xuất, lượng rác thải, khói bụi và tiếng ồn ngày càng tăng. Ô nhiễm môi
trường tại các đô thị đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm.
Những vấn đề vấn đề đang tập trung sự quan tâm chú ý của nhân
dân có thể kể tới đó là sự ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt từ các
hộ dân cư, các khu nhà ở, nhà trọ sinh viên, do rác thải từ các hoạt động
sinh hoạt và thương mại dịch vụ, tiếng ồn và khói bụi do các hoạt động
giao thông, các cơ sở sản xuất…
Do đó cần phải có những biện pháp hữu hiệu, kịp thời để ngăn ngừa,
hạn chế, khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhất là khi quá trình
đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh, nhằm phát triển kinh tế - xã hội một
cách bền vững.
Đây cũng là lý do để chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá thực trạng
công tác quản lý môi trường tại Thị trấn Lâm Bình, huyện Lâm Bình,
tỉnh Tuyên Quang”.
2
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý môi trường tại Thị
trấn Lâm Bình, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.Đề xuất biện pháp
bảo vệ và quản lý môi trường trên địa bàn Thị trấn.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định rõ công tác quản lý môi trường trên địa bàn Thị trấn Lâm
Bình, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất được biện pháp bảo vệ và quản lý môi trường thích hợp
nhằm giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế
phục vụ cho công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đưa ra được các đánh giá chung nhất về công tác quản lý môi
trường tại Thị trấn Lâm Bình, từ đó rút ra những nhận xét, kết luận làm cơ
sở cho các biện pháp quản lý, bảo vệ môi trường, những định hướng xây
dựng phù hợp và đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và
bảo vệ môi trường
+ Nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường
làm cơ sở lý thuyết cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư và nghiên cứu.
+ Sử dụng hiệu quả và tối đa các tài nguyên
+ Hiểu rõ các tác động của hoạt động sản xuất, kinh doanh đến
môi trường.

3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở pháp lý
- Luật BVMT Việt Nam - Ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc Hội
Nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020
- Quyết định số 104/2000/QĐ – TTg ngày 25/08/2000 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ
sinh nông thôn đến năm 2020.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y Tế số 08/2005/QĐ – BYT ngày
11/03/2005 về việc ban hành tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu.
- Nghị định số 149/2004/NĐ – CP ngày 27/07/2004 của Chính phủ
quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả
nước thải vào nguồn nước.
- Thông tư của Bộ Y Tế số 15/2006/TT – BYT ngày 30/11/2006
hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống, nhà tiêu và hộ
gia đình.
- Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5944-1995) Chất lượng nước - Tiêu
chuẩn chất lượng nước ngầm.
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5502:2003 nước cấp sinh hoạt – yêu
cầu chất lượng.
2.1.2. Cơ sở lý luận
* Các khái niệm liên quan:
4
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát
triển của con người và sinh vật.[5]
- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như
đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình
thái vật chất khác.[1]
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường
trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường,
ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải
thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.[3]
- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế
hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế,
bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.[5]
- Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt
động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm,
suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.[5]
- Chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi
trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm.[5]
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.[5]
- Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ
cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại
khác.[5]
- Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển,
giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.[5]
5
- Sức chịu tải của môi trường là giới hạn cho phép mà môi trường có
thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm.[5]
- Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi
trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục
vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động
xấu đối với môi trường.[5]
- Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác
động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo
vệ môi trường khi triển khai dự án đó.[5]
- Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách
nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.[5]
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa
là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng
môi trường.[4]
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên,
văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng
giai đoạn.[5]
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường
có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm
khác theo quy định của pháp luật.[5]
2.1.3. Cơ sở thực tiễn
2.1.3.1. Những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
a) Ô nhiễm không khí:
Nguồn gây ra ô nhiễm bao gồm hai loại chính là nguồn tự nhiên và
nguồn nhân tạo. Đối với nguồn nhân tạo, chúng rất đa dạng nhưng chủ yếu
do các hoạt động công nghiệp, quá trình đốt cháy các nguyên liệu hóa
thạch, hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải và nông nghiệp….

6
- Do sản xuất công nghiệp
- Do giao thông vận tải
- Do hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Ô nhiễm không khí trong nhà
b) Ô nhiễm đất:
Nguyên nhân chủ yếu của ô nhiễm đất là nông dược và phân hóa
học chúng tích lũy dần trong đất qua các mùa vụ.
Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đang gây ô
nhiễm đất nghiêm trọng, làm vỡ kết cấu đất, xói mòn đất…
Ô nhiễm đất do nông dược và phân hóa học.Ô nhiễm đất sảy ra chủ
yếu ở nông thôn. Trước hết là do sự bành trướng của kĩ thuật canh tác hiện
đại. Nông nghiệp hiện nay phải sản xuất một lượng lớn thức ăn trong khi
đất trồng trọt tính theo đầu người ngày càng giảm vì dân số tăng và cũng vì
sự phát triển thành phố, kỹ nghệ và những sử dụng phi nông nghiệp. Người
ta cần phải thâm canh hơn, dẫn tới việc làm xáo trộn dòng năng lượng và
chu trình vật chất trong hệ sinh thái nông nghiệp.
Phân hóa học chắc chắn đã gia tăng năng suất, nhưng việc sử dụng
lặp lại, với liều rất cao gây ra sự ô nhiễm đất do các tạp chất lẫn vào. Hơn
nữa, Ntrat và photphat rải một cách dư thừa sẽ chảy theo nước mặt và làm
ô nhiễm các mực thủy cấp. Cũng thế, nông dược và vô cơ hay hưu cơ cũng
có thể làm ô nhiễm đất và sinh khối.
Thâm canh không ngừng của nông nghiệp, sử dụng ngày càng nhiều
các chất nhân tạo như phân hóa học và nông dược… làm cho đất ô nhiễm
tuy chậm nhưng chắc, không hoàn lại(irreversible), đất sẽ kém phi nhiêu di.
c) Ô nhiễm nước
* Nguồn nước mặt:
Do nhiều lý do khác nhau, các nguồn nước trên Trái đất ngày càng
cạn kiệt. Ước tính có khoảng 1/3 dân số thế giới đang sống trong tình trạng
7
thiếu nước trầm trọng. Trong khi đó, dân số gia tăng với tốc độ chóng mặt.
Quá trình đô thị hoá, hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đang
khiến cho các nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Nguồn nước bị ô nhiễm đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ con
người. Gần 5 triệu người chết hàng năm ở các nước đang phát triển có liên
quan đến vấn đề thiếu nước sạch.
Những chất gây ô nhiễm chủ yếu trong nước là các mầm bệnh sinh
ra từ chất thải của con người (vi khuẩn và vi rút), kim loại nặng và hoá chất
từ chất thải công nghiệp, nông nghiệp. Uống nước đã bị ô nhiễm hoặc ăn
thức ăn chế biến bằng nước nhiễm độc là hình thức phơi nhiễm phổ biến
nhất. Ăn cá bắt từ nguồn nước bị ô nhiễm cũng có thể nguy hiểm vì chúng
có thể mang mầm bệnh và tích luỹ các chất độc hại như kim loại nặng và
các chất hữu cơ bền thông qua quá trình tích luỹ sinh học. Ngoài ra, con
người cũng có thể bị ảnh hưởng bởi cây trồng được tưới bằng nước ô
nhiễm hoặc do đất bị nhiễm bẩn bởi các dòng
sông ô nhiễm dâng lên.
* Nước ngầm:
Nước ngầm là nguồn nước nằm ở dưới bề mặt lớp đất sỏi và trong
những tầng địa chất thấm qua được. Nước ngầm là một nguồn rất quan
trọng của nước sạch, chiếm 97% lượng nước ngọt trên Trái đất. Khoảng 2 tỉ
người, cả ở thành phố và nông thôn đang phụ thuộc vào lượng nước này
cho những nhu cầu sống hằng ngày. Nhưng nguồn nước này giờ đây cũng
đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều lý do khác nhau.
Ở đô thị, các nguồn gây ô nhiễm nước ngầm chính là các bãi chôn
lấp rác thải không hợp vệ sinh. Ngoài ra nước thải từ hoạt động sản xuất
công nghiệp, khai thác khoáng sản đều có khả năng bị rò rỉ và ngấm vào
tầng chứa nước nước ngầm. Hoạt động sản xuất nông nghiệp với việc sử
8
dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón cũng là nguồn đe doạ lớn đối với
nguồn nước ngầm.
Nước ngầm rất khó xử lý, do đó việc bảo vệ nguồn nước đó là cực kỳ
quan trọng. Một số biện pháp ngăn chặn cơ bản là tăng cường kiểm soát đối
với việc xả thải, xây dựng hệ thống thoát nước hợp vệ sinh. Tuy nhiên, cho
đến nay ở các nước đang phát triển các biện pháp này được tiến hành rất
chậm chạp, trong khi hệ thống nước ngầm đang ngày càng bị nhiễm bẩn
nghiêm trọng.
2.2. Thực trạng môi trường trên Thế giới và Việt Nam
2.2.1. Thực trạng môi trường trên Thế giới
Viện Blacksmith, một tổ chức nghiên cứu môi trường quốc tế có trụ
sở tại New York (Mỹ), vừa công bố danh sách 10 thành phố thuộc 8 nước
được coi là ô nhiễm nhất thế giới năm 2006.
Tại các thành phố này, hơn 10 triệu người có nguy cơ bị nhiễm
trùng, ung thư phổi và giảm tuổi thọ. Trẻ em bị lở loét do ảnh hưởng của
các chất gây ô nhiễm môi trường.
10 thành phố này gồm:
+ Thành phố Dzerzhinsk ở Nga, từng là khu vực sản xuất vũ khí hoá
học lớn trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
+ Thành phố Lâm Phần, Trung tâm công nghiệp than đá của Trung Quốc.
+ Thành phố Kabwe ở Zambia, khu vực khai thác mỏ và luyện kim
loại, trong đó có cả chì.
+ Thành phố Haina ở Cộng hoà Dominica, nơi tái chế và nấu chảy
pin, người dân nơi đây có nồng độ chì trong cơ thể rất cao.
+ Thành phố Ranipet ở Ấn Độ, nơi hơn ba triệu người bị ảnh hưởng
bởi chất thải từ các xưởng thuộc da.
+ Thành phố Chernobyl ở Ukraine, một khu vực nổi tiếng bởi thảm
hoạ phóng xạ 20 năm trước.
9
+ Thành phố Mayluu-Suu ở Kyrgyzstan.
+ Thành phố La Oroya ở Peru.
+ Thành phố Norilsk ở Nga.
+ Thành phố Rudnaya ở Nga.
Theo báo cáo của Viện này, các khu vực ô nhiễm nhất thế giới là
những khu vực hẻo lánh cách xa thủ đô và các khu du lịch của các nước.
Những nước có các thành phố bị ô nhiễm môi trường, phần lớn là các nước
đang phát triển, thiếu các biện pháp kiểm soát ô nhiễm, cộng thêm sự thiếu
hiểu biết của chính quyền địa phương và sự bất lực của người dân trong
việc giải quyết các tình trạng ô nhiễm.
Cũng theo báo cáo, đa số ô nhiễm của các khu vực này xuất phát từ
chì không được kiểm soát, mỏ than hoặc các nhà máy sản xuất vũ khí hạt
nhân chưa được lọc sạch. Ô nhiễm môi trường ở những thành phố này gây
ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ người dân và gia tăng nạn nghèo đói.
Những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất của ô nhiễm môi trường là nơi con
người sinh sống có tuổi thọ thấp nhất, trẻ sơ sinh bị khuyết tật, tỉ lệ hen trẻ
em trên 90% và chậm phát triển trí tuệ.
* Ô nhiễm nước:
Các mầm bệnh trong nước ô nhiễm có thể gây ra hàng loạt các bệnh
liên quan đến đường ruột, đặc biệt nguy hiểm và có thể gây tử vong đối với
trẻ em và những người có thể trạng nhạy cảm. Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) cho biết ô nhiễm nguồn nước là một trong những nguyên nhân gây
tử vong lớn nhất trong số các vấn đề về môi trường. Những chất độc tích
luỹ trong cá và các loại thức phẩm khác ít có nguy cơ gây độc cấp tính
nhưng lại có thể để lại hậu quả lâu dài.
Vấn đề ô nhiễm nguồn nước mặt hiện đang diễn ra với hầu hết các
con sông lớn ở các nước đang phát triển, điển hình như Trung Quốc và Ấn
Độ. Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá một cách ồ ạt đã khiến cho
10
nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt hằng ngày của người dân trở nên tồi tệ.
Theo dự đoán, trong một vài thập kỷ tới, có tới 2/3 dân số thể giới sẽ phải
sống trong cảnh thiếu nước.
Trong thời gian qua, các quốc gia cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc
giải quyết vấn đề ô nhiễm nước mặt, tuy nhiên kết quả mang lại còn hạn
chế. Ấn Độ đã tốn hàng trăm triệu rupi cho kế hoạch Hành động sống Hằng
thực hiện từ những 1980 nhằm giảm ô nhiễm trên dòng sông này, nhưng
hầu như không mang lại kết quả.
Trung Quốc mặc dù đã cải thiện đáng kể chất lượng nước ở sông
Hoàng Phố chảy qua thành phố Thượng Hải bằng khoản đầu tư hàng tỉ
USD trong 20 năm cùng với việc đóng cửa các cơ sở gây ô nhiễm nhưng
hoạt động công nghiệp và sự phát triển đô thị lại đang gây ô nhiễm nghiêm
trọng nguồn nước sông Dương Tử, con sông lớn nhất quốc gia này.
Một thực tế cho thấy, các chương trình phục hồi chất lượng nước mặt
là có thể thực hiện được nhưng rất tốn kém. Và điều đó dường như đồng
nghĩa với việc những người dân nghèo sống xung quanh các lưu vực bị ô
nhiễm vẫn tiếp tục phải ăn uống và sinh hoạt bằng những nguồn nước chết
người đó.
* Ô nhiễm không khí:
Nguyên nhân chủ yếu của IAP ở các nước đang phát triển là do việc
đốt than và các chất đốt sinh học (gỗ, phân động vật và rơm rạ) để nấu ăn,
sưởi ấm và chiếu sáng. Hơn 50% dân số thế giới dùng năng lượng để đun
nấu theo cách này, hầu hết họ đều sống ở các nước nghèo.
Trong khi đa số người dân ở các nước có thu nhập cao đã chuyển
sang dùng các sản phẩm từ dầu mỏ và điện để đun nấu, thì ở các nước đang
phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Châu Phi cận Sahara, tới
80% các gia đình ở thành phố và hơn 90% các hộ dân ở nông thôn vẫn đun
nấu bằng các nguồn nhiên liệu truyền thống này.
11
Nhiên liệu sinh học được đốt chủ yếu bằng các bếp thô sơ, do đó
chúng thường không được đốt cháy hoàn toàn. Điều này vừa gây ra sự lãng
phí nguyên liệu vừa gây ô nhiễm không khí. Cùng với hệ thống thông gió
không đảm bảo đã làm cho hàm lượng bụi và khói độc trong nhà cao, rất có
hại cho sức khoẻ con người. Trong đó những người bị ảnh hưởng nhiều
nhất là phụ nữ - những người thường xuyên nấu ăn và trẻ nhỏ thường
xuyên được địu trên lưng mẹ.
Sự đốt cháy nguyên liệu sinh học tạo thành các hạt. Các hạt với
đương kính nhỏ hơn 10 micro (PM10) và đặc biệt nhỏ hơn 2.5 micro
(PM2.5) có thể xuyên sâu vào phổi. Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA)
đã khuyến cáo rằng hàm lượng trung bình 24giờ của PM10 không nên vượt
quá 150 µg/m3. Trong khi đó, nếu đun nấu với nguyên liêu sinh học truyền
thống hàm lượng PM10 trong không khí trong nhà có thể đạt từ 300 đến
3000 µg/m3, cao gấp hơn 20 lần lượng cho phép. Thậm chí vào thời điểm
đun nấu con số này có thể lên tới
30.000 µg/m3, gấp 200 lần hàm lượng cho phép.
IAP gây ra 3 triệu ca tử vong mỗi năm và là nguyên nhân cho 4%
căn bệnh trên toàn thế giới, tập trung chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp.
Hàng trăm, nhiều chương trình đã được thực hiện trên toàn thế giới
để giảm thiểu mối đe doạ bởi IAP. Phần lớn chúng đều tập trung vào việc
giới thiệu những loại bếp sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong
những năm tới những nỗ lực này cần được bổ sung bằng những cách tiếp
cận toàn diện hơn bao gồm cải thiện hệ thống lưu thông gió, thay đổi cách
sống và một loạt các giải pháp truyền thông khác.
2.2.2. Hiện trạng môi trường ở Việt Nam
Nước ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đương nhiên là
kéo theo đô thị hoá. Theo kinh nghiêm của nhiều nước, tình hình ô nhiễm
môi trường cũng gia tăng nhanh chóng. Nếu tốc độ tăng trưởng GDP trong
12
vòng 10 năm tới tăng bình quân khoảng 7%/năm, trong đó GDP công
nghiệp khoảng 8-9%/năm, mức đô thị hoá từ 23% năm lên 33% năm 2000,
thì đến năm 2010 lượng ô nhiễm do công nghiệp có thể tăng lên gấp 2,4 lần
so với bây giờ, lượng ô nhiễm do nông nghiệp và sinh hoạt cũng có thể gấp
đôi mức hiện nay.
Trong quá trình phát triển, nhất là trong thập kỷ vừa qua, các đô thị
lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, đã gặp phải nhiều vấn đề môi
trường ngày càng nghiêm trọng, do các hoạt động sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra. Tại thành phố Hồ Chí
Minh có 25 khu công nghiệp tập trung hoạt động với tổng số 611 nhà máy
trên diện tích 2298 ha đất. Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu
công nghiệp này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công
nghiệp, thì mỗi ngày thải vào hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng
1.740.000 m3 nước thải công nghiệp, trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ
lửng, 1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD
(làm giảm nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại
nặng. Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con
sông vốn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư
rộng lớn, làm ảnh hưởng đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân
thực hiện quá trình phân huỷ và làm sạch các dòng sông
Các loại ô nhiễm thường thấy tại các đô thị Việt Nam là ô nhiễm
nguồn nước mặt, ô nhiễm bụi, ô nhiễm các khí sulfure, cacbonic, nitrit, ô
nhiễm chì (Pb), chất thải rắn (trong sinh hoạt, bệnh viện). Giáo sư Lâm
Minh Triết (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) trong buổi hội thảo
“Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam” đã nhấn mạnh:
nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mặt thường rất cao như là chất rắn lờ
lững, nhu cầu ôxy sinh hoá, nhu cầu ôxy hoá học, nitơrit, nitơrat gấp từ 2-
5 lần, thậm chí tới 10-20 lần trị số tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước
13
mặt loại B, chỉ số E Côli vượt tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần. Ngoài
các chất ô nhiễm hữu cơ trên, môi trường nước mặt đô thị ở một số nơi còn
bị ô nhiễm kim loại nặng và chất độ hại như là
chì, thuỷ ngân, asen, clor, phenol
* Môi trường nước
Về ô nhiễm không khí, ngoài tác động của sản xuất công nghiệp,
hoạt động giao thông vận tải cũng là nguồn thải rất quan trọng. Chỉ tính
riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm các phương tiện vận tải trên địa
bàn thành phố tiêu thụ khoảng 210.000 tấn xăng và 190.000 tấn dầu Dizel.
Như vậy đã thải vào không khí khoảng 1100 tấn bụi, 25 tấn chì, 4200 tấn
CO2, 4500 tấn NO2, 116000 tấn CO, 1,2 triệu tấn CO2, 13200 tấn
Hydrocacbon và 156 tấn Aldehyt. Chính vì thế, tại nhiều khu vực trong các
đô thị có nồng độ các chất ô nhiễm lên khá cao. Tại Hà Nội, vào nhưng
năm 1996-1997 ô nhiễm trầm trọng đã xảy ra ở xung quanh các nhà máy
thuộc khu công nghiệp Thượng Đình với đường kính khu vực ô nhiễm
khoảng 1700 mét và nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép khoảng 2-4
lần; xung quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Minh Khai – Mai
Động, khu vực ô nhiễm có đường kính khoảng 2500 mét và nồng độ bụi
cũng cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2-3 lần. Cũng tại khu công nghiệp
Thượng Đình, kết quả đo đạc các năm 1997-1998 cho thấy nồng độ SO2
trong không khí vượt tiêu chuẩn cho phép 2-4 lần.
Năm 1990 Việt Nam mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm
2000 đã tăng tới 694 đô thị các loại, trong đó có 4 thành phố trực thuộc
Trương ương, 20 thành phố trực thuộc tỉnh, 62 thị xã và 563 Thị trấn. Dân
số đô thị Việt Nam năm 1990 là khoảng 13 triệu người (chiếm tỷ lệ 20%),
năm 1995 tỷ lệ dân số đô thị chiếm 20,75%, năm 2000 chiếm 25%, dự báo
đến năm 2010 tỷ lệ dân số đô thị ở Việt Nam chiếm 33%, năm 2020 chiếm
45%. Sự phát triển các đô thị cùng với việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị gấp
14
áp lực rất lớn đến môi trường đô thị. Bên cạnh sự phát triển mạnh ngành
công nghiệp một mặt góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế nhưng lại
gây ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng.
Vấn đề đầu tiên phải kể đến về hiện tượng môi trương sống của
người dân ở các vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là
nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn.
Nếu như chúng ta quan niện nước sạch chỉ đơn giản la nước mưa,
nước giếng khoan qua sư lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước
sạch như đã được xử lý ở các thành phố lớn thì tỉ lệ ngươi dân nông thôn,
nhất là khu vực miền núi còn rất thấp.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khỏe,
là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán… các
bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu máu, kém phát triển gây tử vong nhất ở
trẻ em. Có đến 80% trường hơp bị tiêu chảy la do thiếu nước sạch, VSMT
kém. Có thể thấy, nguyên nhân gây ra tinh trạng ô nhiễm môi trường và
nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau :
Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp
nhu phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn nan mà không có
kiêm soát.
Nhìn chung lượng phân bón hóa học ở nước ta sử dụng còn ở mức
trung bình cho 1(ha) gieo trồng, bình quan 80-90 kg/ha (cho lúa la 150-180
kg/ha), so với Hà Lan 758 kg/ha, Nhật 430 kg/ha, Hàn Quốc 467 kg/ha,
Trung Quốc 390 kg/ha.tuy nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến môi
trường nông nghiệp và nông thôn với 3 lý do: sử dụng không đúng kỹ thuật
nên hiệu lực phân bón thấp; bón phân không cân đối; nặng về sử dụng phân
đạm; chất lượng phân không đảm bảo, các loại phân bón N-P-K, hữu cơ
vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị
trường không đảm bảo chất lượng đăng ký, nhãn mác bao bì nhái, đóng
15
gói không đúng khối lượng đang là áp lực chính cho ngươi nông dân và
môi trường đất.
Ngoài ra, ở miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tâp quán sử dụng phân
bác, phân chuồng tươi vào canh tác. Ở ĐBSCL, phân tươi được coi là
nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng đến
sức khỏe con người.
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm;
thuốc trừ chuột; thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ. Các loại này có đặc điểm là
rất độc với mọi sinh vật; Tồn dư lâu dài trong môi trương đất – nước gây
ra ô nhiễm; Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa gây chết tất cả các
sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất, nước.
Hiên nay, nước ta chua sản xuất đươc thuốc BVTV mà phải nhập
khẩu để gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang
chai đóng gói nhỏ tại các nhà máy trong nước.
Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc BVTV còn
nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn. Hàng năm khoảng 10% thuốc được
nhập lậu theo đường tuyển ngạch. Số này rất đa dạng và chủng loại, chất
lượng không đảm bảo ma vẫn lưu hành trên thị trường. Thứ 2 là việc sử
dụng còn tùy tiện, không tuân thủ các yêu càu kĩ thuật theo nhãn mác,
không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc. Thứ ba là do một
lượng lớn thuốc BVTV tồn đọng tại các kho thuốc cũ, hết liên hạn sử dụng
còn nằm rải rác tại các tỉnh thành trên cả nước. Theo trung tâm công nghệ
xử lý môi trường, cán bộ tư lệnh hóa học (2004), trong khoảng hơn 300 tấn
thuốc BVTV có nhiều chất nằm trong 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân
hủy. Và cuối cùng là viêc bảo quản thuốc BVTV trong nhà, trong bếp và
trong chuồng nuôi gia súc.
Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất
thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện cả nước có
16
khoảng 1.450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và đông đúc nhất là khu
vực đồng bằng Sông Hồng, vốn là cái nôi của làng nghề gia truyền của
Thái Bình và Bắc Ninh… trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ
sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%).
Do đó, đã và đang nảy sinh nhiều vấn dề nông thôn, tác động xấu đến
lượng môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe của người dân làng
nghề. Kết quả phân tích chất lượng nước thải của làng nghề dệt nhuộm tại
Thái Bình cho thấy, đa số các chỉ tiêu phân tích đều vượt tiêu chuẩn cho
phép, đặc biệt la BOD
5
, COD đều vượt tiêu chuẩn từ 2-5 lần.
Môi trường không khí:
Ở hầu hết các đô thị đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm ở mức
độ trầm trọng. Các nơi bị ô nhiễm nặng nhất là khu dân cư gần nhà máy xi
mặng Hải Phòng, nhà máy Vicasa Biên Hoà, KCN Tân Bình, nhà máy
tuyển than Hòn Gai Ở một số khu dân cư gần các KCN nồng độ khí
sulffure vượt chỉ số tiêu chuẩn cho phép nhiều lần (khu dân cư gần nhà
máy xi măng Hải Phòng nồng độ khí sulfure trung bình ngày là 0,407
mg/m3 gấp 1,4 lần tiêu chuẩn cho phép, cụm công nghiệp Tân Bình nồng
độ sulfure trung bình là 0,338 mg/m3 (gấp 1,1 lần tiêu chuẩn cho phép).
“Tính trung bình lượng chất thải rắn sinh hoạt thải ra ở các thành phố lớn
(Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh) từ 0,6 – 0,8
kg/người/ngày, chất thải rắn trong bệnh viện (cơ sở y tế) được thải ra ước
tính từ 50-70 tấn/ngày. Chất thải rắn này ảnh hưởng rất lớn đến môi trường
đô thị
Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than. Do đó, lượng
bụi và các khí CO, CO
2
,

SO
2
và NO
x
thải ra trong quá trình sản xuất trong
nhiều làng nghề khá cao. Theo kết quả điều tra tại các làng nghề sản xuất
gạch đỏ (Khai Thái – Hà Tây); vôi (Xuân Quan – Hưng Yên) hàng năm sử
dụng khoảng 6.000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò; 250 tấn bùn; 10m
3
đá
17
sinh ra nhiều loại bụi , SO
2
, CO
2
, CO, NO
x
, và nhiều loại chất thải nguy hại
khác, gây ảnh hưởng tới sức khỏe ngươi dân trong khu vực và làm ảnh
hưởng tới hoa mầu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận. Đây cũng
là một trong các nguyên nhân gây ra các vụ xung đột, khiếu kiên như ở
Thái Bình, Bác Ninh và Hưng Yên .
* Ô nhiễm đất
Hiện trạng ô nhiễm đất ở Việt Nam
Sản xuất nông nghiệp: áp lực tăng dân số đòi hỏi nhu cầu tăng
lương thực, thực phẩm ngày càng tăng và phải tăng cường khai thác độ phì
nhiêu của đất bằng nhiều biện pháp cụ thể: tăng cường sử dụng hóa chất
như phân vô cơ, thuốc trừ sâu, diệt cỏ:sử dụng chất kích thích sinh
trưởng làm giảm thất thoát và tạo nguồn lợi cho thu hoạch; mơ rộng các
hệ tưới tiêu.
Sản xuất nông nghiệp: thải ra nhiều chất gây ô nhiễm như kim loại
nặng, các loại dầu mỡ, hóa chất độc hại… Ví dụ: nước thải nhà máy pin
Văn Điều chứa Zn, Hg, Cd gây ô nhiễm đấtvvà trồng rau khu vực xung
quanh nhà máy; Làng ung thư ở Nông Thao (Phú Thọ).
Ô nhiễm rác thải của các khu vực đô thị: rác thải được thu gom và
chôn lấp ở vùng ngoại thành, gây ô nhiễm đất đai. Ví dụ: Việc ô nhiễm đất
đai khu vực xung quanh bãi chon lấp rác của Hà Nội như: Mễ Trì, Tây Mỗ,
Văn Điển.
Việc nhập khẩu rác từ nước phát triển: Theo báo cáo hiện trạng môi
trường Quốc gia 2005 cho thấy:
Ô nhiễm do sử dụng phân hóa học: Sử dụng phân bón không đúng kĩ
thuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50%
lượng đạm, 50% lượng kali và sấp xỉ 80% lượng phân dư thừa trực tiếp hay
gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm
chưa xủ lý như K
2
SO
4
, KCl, superphotphat còn tồn dư axit, đã làm chua

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×