Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt động giao tiếp

Kho¸ luËn tèt nghiÖp Trêng §HSP Hµ Néi 2
TrÇn ThÞ Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


1




TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

*********



TRẦN THỊ THOA






MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO
TRẺ MẪU GIÁO BÉ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
GIAO TIẾP



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Chuyên ngành:

Tiếng Việt


Người hướng dẫn khoa học
TH.S NGUYỄN THU TRANG










HÀ NỘI - 2011

Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


2




mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giáo
dục trẻ mầm non. Chơng trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã đợc nhà giáo
dục mầm non Liên Xô Eiti-Khêva xem là khâu chủ yếu nhất của hoạt động
giáo dục trong trờng mầm non, là tiền đề thành công của các công tác khác.
Trong công tác giáo dục mầm non cho đất nớc, chúng ta thấy ngôn
ngữ đã góp phần to lớn trong việc đào tạo trẻ trở thành những con ngời phát
triển toàn diện. Mặt khác, ngôn ngữ là một hiện tợng lịch sử - xã hội, ngôn
ngữ có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con ngời. Nó là phơng tiện quan
trọng để trẻ lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lu với những ngời xung
quanh, để bồi dỡng tâm hồn. Cho nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non mà đặc biệt là phát triển hệ thống vốn từ cho trẻ ngay từ đầu tuổi mẫu
giáo là việc làm rất cần thiết và quan trọng.
Giai đoạn 3 - 4 tuổi đợc coi là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ của trẻ mầm
non. Đây là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn
ngữ nói và các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ ban đầu của trẻ. Trẻ lên ba cả nhà
học nói- trẻ lên ba thích nói và nói rất nhiều. ở giai đoạn này trẻ đạt đợc
những kĩ năng mà ở giai đoạn trớc hoặc sau không thể có đợc. Trẻ học
nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ ngữ để diễn đạt những suy nghĩ,
nguyện vọng và cảm xúc của bản thân, để giao tiếp với mọi ngời xung
quanh. Vì vậy đây là thời điểm thích hợp để phát triển ngôn ngữ cũng nh
phát triển hệ thống vốn từ cả về số lợng và chất lợng cho trẻ.
ở trờng mầm non, trẻ đợc hoạt động, đợc tự bộc lộ mình và phát
triển tối đa thông qua các hoạt động vui chơi, giao lu và học tập, ngôn ngữ
của trẻ qua đó mà đợc phát triển, hoàn thiện dần. Việc phát triển ngôn ngữ
nói chung và phát triển vốn từ nói riêng cho trẻ không thể tách rời giữa các
môn học cũng nh các hoạt động của trẻ. Mỗi từ cung cấp cho trẻ phải dựa
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


3



trên một biểu tợng cụ thể có nghĩa, gắn liền với hoàn cảnh giao tiếp và tình
huống sử dụng chúng. Nội dung vốn từ cung cấp cho trẻ phụ thuộc vào khả
năng tiếp xúc, hoạt động và nhận thức của trẻ. Để thực hiện đợc những mục
tiêu trên đòi hỏi ngời giáo viên trong khi tổ chức cho trẻ hoạt động phải sử
dụng phối hợp, linh hoạt các phơng pháp và các hình thức dạy học để có thể
phát huy tính tích cực chủ động nhận thức và phát triển hoàn thiện bản thân
của trẻ.
Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé có nhiều phơng pháp và hình
thức khác nhau, trong đó có hình thức phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt
động giao tiếp. Kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu đã có
và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của bản thân trong việc phát triển vốn từ cho
trẻ mẫu giáo bé, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Một số biện pháp phát triển
vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt động giao tiếp.
2. Lịch sử vấn đề
Việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé không phải là vấn đề mới
đợc đặt ra mà từ lâu các nhà khoa học đã đi vào nghiên cứu và tìm hiểu vấn
đề này. Đã có một số bài nghiên cứu về nội dung và phơng pháp phát triển
vốn từ cho trẻ.
Giáo trình Phơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo
của Nguyễn Xuân Khoa (NXB ĐHSP, 2003) là giáo trình đầu tiên đề cập đến
một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề khoa học và thực tiễn của tiếng mẹ
đẻ đang đợc thực hiện trong các lớp nhà trẻ, mẫu giáo ở nớc ta bằng phơng
pháp tiếp cận hoạt động nhân cách tích hợp.
Trong cuốn Phơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
(NXB ĐHQG, 2005) của Hoàng Thị Oanh Phạm Thị Việt Nguyễn Kim
Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho
trẻ và nêu sơ lợc về nội dung, phơng pháp, biện pháp để luyện phát âm, phát
triển vốn từ dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


4



Giáo trình Phơng pháp phát triển lời nói trẻ em (NXB ĐHSP)
đợc tác giả Đinh Hồng Thái biên soạn dựa trên những thành tựu nghiên cứu
của các nhà s phạm Nga trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ trẻ em. Cuốn
sách gồm bốn phần:
- Những vấn đề chung.
- Dạy nói cho trẻ trong ba năm đầu.
- Dạy nói cho trẻ tuổi mẫu giáo.
- Chuẩn bị cho trẻ học Tiếng Việt ở trờng phổ thông.
Tạp chí GDMN số 01/2009, có bài Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến cũng đề cập tới việc tạo thói
quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ.
Còn nhiều các cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập đến vấn đề này. Cơ
sở lí luận và phơng pháp này đã đợc nhiều chuyên gia về giáo dục nghiên
cứu. Không ai có thể phủ nhận đợc mặt tích cực của các dạng hoạt động
trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Tuy nhiên cha có tác giả nào đi
sâu vào nghiên cứu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ thông qua giao tiếp. Nhận
thức đợc tầm quan trọng của vấn đề chúng tôi đã tìm hiểu về đề tài Một số
biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáobé thông qua hoạt động giao
tiếp. Chúng tôi có thể khẳng định đây là một vấn đề mới mẻ mang tính thời
sự và có khả năng khơi nguồn cho nhiều hớng nghiên cứu mới.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài là phơng pháp và hình thức để phát
triển vốn từ thông qua hoạt động giao tiếp cho trẻ mẫu giáo bé.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu phát triển vốn từ trong
phạm vi độ tuổi 3 4 ở trẻ mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Nghiên cứu thành công khoá luận này sẽ góp phần cung cấp thêm cho
các giáo viên những phơng pháp và biện pháp tốt nhất để phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo bé đạt hiệu quả cao.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


5





5. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn tìm ra các phơng pháp,
hình thức tốt nhất để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt đông
giao tiếp.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khoá luận này chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
thông qua hoạt động giao tiếp.
- Tìm hiểu các phơng pháp và hình thức để phát triển vốn từ cho trẻ
mẫu giáo bé.
- Thể nghiệm giáo án.
6. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu và yêu cầu của đề tài tôi đã sử dụng
một số phơng pháp nghiên cứu sau:
- Phơng pháp nghiên cứu tài liệu lí luận
- Phơng pháp tra cứu
- Phơng pháp phân tích- tổng hợp
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài hai phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung của khoá luận đợc
triển khai nh sau:
Chơng 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chơng 2: Một số hình thức và biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu
giáo bé thông qua hoạt động giao tiếp
Chơng 3: Thể nghiệm giáo án


Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


6




Nội dung
Chơng 1. Cơ sở lí luận

Trẻ mẫu giáo bé là thời kì có nhiều sự biến đổi quan trọng và rõ rệt về
mặt tâm sinh lí so với giai đoạn trớc đó. Biểu hiện cụ thể nh sau:
1.1. Tiền đề phát triển vốn từ ở trẻ mẫu giáo bé
1.1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo bé
a. Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo bé
Giai đoạn trẻ mẫu giáo bé, hoạt động vui chơi mới #ợc chuyển sang vị
trí chủ đạo nên cha đạt đợc tới hình thái chính thức mà mới chỉ ở dạng sơ
khai. Chính vì vậy hoạt động vui chơi của trẻ có những đặc điểm sau đây:
Chủ đề và nội dung chơi của trẻ còn chật hẹp, nghèo nàn do vốn sống
của trẻ còn quá ít ỏi nên việc mô phỏng lại đời sống xã hội của ngời lớn còn
bị hạn chế, chỉ dừng lại ở những sự việc gần gũi đối với trẻ nh trò chơi mẹ
con, cô giáo, khám bệnh Bên cạnh đó trẻ cha biết nhập vai và hoạt
động chơi cha theo một hớng nhất định.
Hoạt động với đồ vật vẫn tiếp tục xuất hiện và bắt đầu xuất hiện một số
hoạt động mới là hoạt động vui chơi. Đây là một bớc thay đổi mới trong hoạt
động của trẻ, từ chơi một mình đến chơi cạnh nhau và chơi cùng nhau. Trẻ lên
ba xuất hiện mâu thuẫn cơ bản giữa một bên là tính độc lập muốn đợc làm
công việc nh ngời lớn và một bên là thái độ, khả năng của trẻ còn non yếu
cha thể làm đợc nh ngời lớn.
Để giải quyết mâu thuẫn này, buộc trẻ phải tìm đến một hoạt động mới
đó là hoạt động vui chơi. Nghĩa là trẻ không làm thật đợc nh ngời lớn
nhng có thể giả vờ đợc trong trò chơi. Do đó trò chơi đóng vai theo chủ đề
đã xuất hiện. Rõ ràng trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện để thỏa mãn nhu
cầu của trẻ - muốn đợc sống và làm việc nh ngời lớn.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


7



Hoạt động vui chơi vừa xuất hiện còn non yếu nhng đây là hoạt động
chủ đạo, hoạt động này tạo ra cấu tạo tâm lí mới của trẻ. Đó chính là nhân
cách. Tuy nhiên cấu trúc của nhân cách còn sơ khai nhng nó quy định xu
hớng phát triển sau này của trẻ.
b. c im v quỏ trỡnh hỡnh thnh ý thc ca bn thõn tr
ý thức về bản thân của trẻ cuối tuổi ấu nhi còn hết sức mờ nhạt và pha
trộn tính chất mơ hồ, do đó trẻ cha phân biệt đợc một cách rõ rệt đâu là
mình và đâu là ngời khác. Tuy nhiên qua việc tiếp xúc của trẻ với thế giới
bên ngoài đợc mở rộng dần ra trẻ biết đợc nhiều điều lí thú trong thiên
nhiên và thế giới xung quanh nhng quan trọng hơn là trẻ bắt đầu tìm hiểu thế
giới của chính con ngời và dần nhận ra xung quanh nó là một mối quan hệ
chằng chịt giữa con ngời với nhau. Đến tuổi mẫu giáo, trẻ rất muốn phát hiện
ra những mối quan hệ ấy, nhập vào đó để làm ngời lớn. Nh vậy trò chơi
đóng vai theo chủ đề trở thành một hoạt động đặc biệt giúp trẻ thực hiện điều
đó một cách hiệu quả nhất. Khi nhập vào những quan hệ đó điều quan trọng là
trẻ phát hiện ra mình trong nhóm bạn bè cùng chơi, biết so sánh đối chiếu
những bạn cùng chơi với bản thân mình, trẻ thấy đợc vị trí của mình trong
nhóm chơi, khả năng của mình với các bạn ra sao và cần phải điều chỉnh hành
vi của mình nh thế nào để phục vụ cho mục đích chơi chung. Dần dần những
điều đó sẽ giúp trẻ nhận ra chính mình.
Độ tuổi mẫu giáo bé là điểm khởi đầu của sự hình thành ý thức bản ngã
nên trong đặc điểm đó còn mang đặc điểm tự kỉ (lấy mình làm trung tâm).
ở trẻ mẫu giáo bé, khả năng tự ý thức còn rất hạn chế và mang tính chủ
quan. Trẻ cha nhận rõ đâu là ý muốn chủ quan, nhu cầu chủ quan của mình
với những quy định, những luật lệ, những quy tắc trong xã hội, nhiều trẻ còn
đòi hỏi vô lí mà ngời lớn không thể đáp ứng đợc. Sở dĩ nh vậy vì kinh
nghiệm của trẻ còn quá nghèo nàn, sự hiểu biết còn bị giới hạn, đặc biệt là do
hoạt động vui chơi còn chi phối mạnh mẽ dẫn đến trẻ cha có khả năng phân
biệt ý muốn chủ quan và ý muốn khách quan.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


8



Chuyển qua giai đoạn khủng hoảng, sự phát triển tự ý thức của trẻ đã
đợc hình thành nhng còn mờ nhạt. Biểu hiện ở một số đặc điểm sau:
+ Trẻ đã bắt đầu nhận ra nhiều thuộc tính của sự vật, hiện tợng, nhiều
mối quan hệ giữa ngời với ngời và đặc biệt bớc đầu nhận ra mối quan hệ
giữa mình với mọi ngời xung quanh.
+ ở trẻ đã hình thành ý thức bản ngã nhận ra cái tôi thể chất và phát
hiện vị trí của mình trong nhóm chơi, trẻ có dịp đối chiếu so sánh những bạn
cùng chơi với bản thân mình, trẻ thấy đợc vị trí của mình trong nhóm chơi,
nhận ra khả năng của mình với các bạn ra sao để điều chỉnh hành vi của mình
phục vụ cho mục đích chơi chung dần dần sẽ giúp trẻ nhận ra đợc chính
mình.
Cuối tuổi mẫu giáo bé, sù tự ý thức đã dần hoàn thiện, trẻ ít có những
câu hỏi vô lí mà hoạt động phù hợp với quy định xã hội nhiều hơn do trẻ đợc
cọ xát với thế giới đồ vật, trẻ tích cực hoạt động để nhận ra sự giống và khác
nhau, ở giai đoạn này trò chơi đóng vai theo chủ đề vẫn đóng vai trò tích cực
và chủ đạo.
c. Một vài đặc điểm t duy của trẻ MGB
Trẻ ấu nhi hầu hết đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ ,
đặc biệt là t duy phát triển khá mạnh.
Đến tuổi mẫu giáo, t duy của trẻ có một bớc ngoặt cơ bản. Đó là sự
chuyển t duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất là
việc chuyển những hành động định hớng bên ngoài thành những hành động
định hớng bên trong theo cơ chế nhập tâm. Quá trình t duy của trẻ bắt đầu
dựa vào những hình ảnh của sự vật, hiện tợng đã có trong đầu, cũng có nghĩa
là chuyển từ kiểu t duy trực quan hành động sang kiểu t duy trực quan hình
tợng.
Sự xuất hiện kiểu t duy trực quan hình tợng là sự xuất hiện cấu tạo
tâm lí mới có nghĩa là trẻ giải quyết các nhiệm vụ bắt đầu từ các biểu tợng đã
có trong đầu.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


9



Việc chuyển từ t duy trực quan hành động sang t duy trực quan hình
tợng là nhờ vào:
Thứ nhất, do trẻ tích cực hoạt động với đồ vật, hoạt động đó đợc lặp
đi lặp lại nhiều lần lâu dần đợc nhập tâm thành hình ảnh, thành biểu tợng
trong đầu. Đó là cơ sở để cho hoạt động t duy đợc diễn ra ở bình diện bên
trong.
Thứ hai, là do hoạt động vui chơi mà trọng tâm là trò chơi ĐVTCĐ.
Loại trò chơi này giúp trẻ hình thành chức năng kí hiệu, tợng trng của ý
thức. Nó thể hiện ở khả năng dùng vật này thay thế cho vật khác và hành động
với vật thay thế nh hành động với vật thật.
Tuy nhiên bớc nhảy này mới chỉ là một bớc nhảy từ bờ bên này (tức
t duy trực quan hành động) sang bờ bên kia (tức t duy trực quan hình tợng)
nên nó mới chỉ là điểm khởi đầu của kiểu t duy mới. Do đó t duy của trẻ ở
đầu tuổi MGB có mang những đặc điểm sau:
+ T duy còn gắn liền với hành động: ở trẻ MGB hoạt động vui chơi
là chủ đạo, trong hoạt động này trẻ không có vật thật mà phải dùng vật thay
thế. Vật thay thế lúc này trở thành đối tợng của t duy, trong khi hoạt động
với vật thay thế trẻ nghĩ về đồ vật thật, từ đó hình thành ở trẻ mối quan hệ giữa
vật thay thế và đồ vật thực. Vì vậy, việc giáo dục phát triển t duy cho trẻ ở
thời điểm này là cần giúp trẻ tích luỹ nhiều biểu tợng bằng cách cho trẻ quan
sát, tiếp xúc, va chạm với sự vật hiện tợng đồng thời rèn luyện các giác quan
để tăng cờng khả năng thu nhận những ấn tợng bên ngoài làm cho thế giới
biểu tợng của trẻ ngày một phong phú. Mặt khác, tổ chức cho trẻ hoạt động
tích cực với thế giới đồ vật bằng nhiều phơng thức khác nhau để trẻ nắm
vững chức năng và cách sử dụng của nó làm cho quá trình nhập tâm đợc thực
hiện dễ dàng.
+ T duy còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan. T duy của trẻ
còn bị xúc cảm chi phối mạnh, trẻ thờng suy nghĩ về những cái mà trẻ thích,
những cái thờng bị lôi cuốn vào ý thích của trẻ. Do vậy, trẻ cha nhận ra
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


10



đợc tính khách quan của đối tợng. Trẻ cha nhận ra những biểu tợng ý
muốn chủ quan trong đầu mình chỉ là hình ảnh về đối tợng bên ngoài, nghĩa
là đồng nhất cái tinh thần và cái vật chất.
Tuy vậy, trẻ cũng bắt đầu tìm hiểu nguyên nhân của sự vật hiện tợng,
nhng cha nhận ra đợc tính khách quan của đối tợng. Trẻ cho rằng tất cả
các nguyên nhân đều là do ý muốn chủ quan của ngời nào đó.
+ Là kiểu t duy theo lối trực giác thể hiện rõ nét tức là nhìn mọi vật
một cách tổng thể, bao quát nhất của sự vật. ở tuổi MGB, do trẻ cha biết
phân tích, tổng hợp, cha biết một sự vật gồm nhiều bộ phận kết hợp lại thành
một tổng thể, cha xác định quan hệ giữa các bộ phận trong một sự vật dẫn
đến cách nhìn nhận sự vật của trẻ là theo lối trực giác toàn bộ.
VD: Một em bé tuy cha biết chữ nhng vẫn nhận ra tên mình đợc mẹ
thêu trên áo. Nghĩa là em bé cha phân tích đợc trong tên mình gồm nhiều
chữ cái khác nhau ghép lại.
T duy kiểu này là chịu ảnh hởng của tính duy kỉ. Trẻ em không t
duy theo lối phân tích tổng hợp mà thờng là chộp lấy một cách rất nhanh một
sự vật nào đó trong một trực giác bao quát cả toàn bộ nhng trong đó những
chi tiết, những thuộc tính hay các mối quan hệ không tách bạch rõ ràng mà
còn hỗn hợp lại với nhau.
Nh vậy, việc chuyển từ t duy trực quan hành động sang t duy trực
quan hình tợng đánh dấu một bớc phát triển quan trọng trong phát triển trí
tuệ lứa tuổi mẫ giáo, hoạt động định hớng bên ngoài bằng đồ vật dần đợc
thay thế bằng hoạt động định hớng bên trong với hình ảnh, kinh nghiệm đợc
coi là bớc chuyển tiếp phát triển kiểu t duy ngời.
d. Đặc điểm động cơ hành vi của trẻ
Trong suốt thời kì mẫu giáo bé, ở trẻ em có một sự biến đổi căn bản
trong hành vi là: chuyển từ hành vi bột phát sang hành vi mang tính xã hội hay
là hành vi mang tính nhân cách. Đó cũng chính là quá trình hình thành động
cơ của hành vi. Tuy nhiên ở lứa tuổi mẫu giáo bé thì bớc chuyển này mới ở
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


11



thời điểm khởi đầu. Phần nhiều hành động của trẻ mẫu giá bé còn giống với
hành động của trẻ ấu nhi. Trẻ hành động thờng là do những nguyên nhân trực
tiếp nh theo ý muốn chủ quan của mình hoặc do tình huống ở thời điểm đó
thúc giục và không ý thức đợc nguyên cớ nào khiến mình hành động nh
vậy.
Dần dần trong hành vi của trẻ có một sự biến đổi quan trọng. Đó là sự
nảy sinh động cơ. Lúc đầu động cơ còn đơn giản và mờ nhạt, thờng khi hành
động trẻ bị kích thích bởi những động cơ sau:
Trớc hết đó là những động cơ gắn liền với ý thích muốn đợc
nh ngời lớn. Nguyện vọng này biến thành động cơ dẫn trẻ đến
việc sắm các vai trong trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Những động cơ gắn liền với quá trình chơi có tác động khá mạnh
mẽ thúc đẩy hành vi của trẻ.
Nh chúng ta đã biết, trẻ ham chơi không phải do kết quả chơi mang lại
mà chính quá trình chơi làm cho trẻ thích thú. Do đó có thể nói rằng hành
động của trẻ đợc thúc đẩy bằng động cơ vui chơi. Động cơ này làm cho toàn
bộ hành vi của trẻ mang một sắc thái riêng mà nó cũng là một nét độc đáo của
tuổi mẫu giáo.
Chẳng hạn, khi cô giáo yêu cầu trẻ thu dọn đồ dùng gọn gàng sau khi
chơi thì hầu nh trẻ không thích làm thế nhng cô giáo lại bày ra trò chơi
chuyên chở, sắp xếp các đồ chơi về chỗ cũ thì trẻ sẽ làm việc đó một cách hào
hứng và thích thú, tích cực.
Những động cơ nhằm làm cho ngời lớn vui lòng và yêu mến
cũng bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy trẻ thực hiện những hành vi tích cực.
Đầu tuổi mẫu giáo bé, trẻ rất thích đợc bố mẹ, cô giáo và những ngời
lớn xung quanh khen ngợi, thơng yêu mình. Nhiều khi trẻ cố gắng làm những
việc tốt để đợc khen, đợc yêu mến. Tuy nhiên việc thích đợc ngời lớn yêu
mến thờng đi đôi với nhu cầu cụ thể. Trẻ cho rằng nếu đợc yêu mến thì sẽ
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


12



đợc quà hay đợc đi chơi. ở đây đặt ra một vấn đề giáo dục heét sức tế nhị,
đó là khen thởng đúng lúc, kịp thời đồng thời củng cố những hành vi tốt. Vấn
đề đặt ra là thởng nh thế nào để sự phát triển động cơ của trẻ đợc lành
mạnh.
Trên cơ sở đợc củng cố nh vậy, một loại động cơ của hành vi mang
tính đạo đức xã hội đợc hình thành, thể hiện ở sự quan tâm của trẻ đối với
những ngời xung quanh. Loại động cơ này thờng xuất hiện ở tuổi mẫu giáo
bé. Nếu đợc giáo dục đúng đắn thì loại động cơ này sẽ phát triển mạnh ở các
giai đoạn sau.
Nhóm động cơ này đợc đánh giá là có ý nghĩa tích cực trong quá trình
hòa nhập vào môi trờng xã hội của trẻ. Tuy nhiên nếu chỉ để trẻ hớng tới
nhu cầu đợc khen, đợc hởng sẽ làm phát triển những nhu cầu mang tính cá
nhân vụ lợi hoặc đa trẻ vào những động cơ mang tính vị kỉ. Vì vậy ngời lớn
cần thúc đẩy hành vi của trẻ đúng đúng chỗ và kịp thời.
Từ những vấn đề đợc trình bày trên đây, chúng ta có thể rút ra kết luận
rằng lứa tuổi mẫu giáo bé là điểm khởi đầu của cả giai đoạn đầu tiên của quá
trình hình thành nhân cách con ngời. Đồng thời đây cũng là giai đoạn diễn ra
bớc ngoặt quan trọng trong đời sống tâm lí của trẻ.
1.1.2. Cơ sở sinh lí
Với trẻ mẫu giáo bé, các chức năng sinh lí đang phát triển mạnh mẽ và
hoàn thiện dần. Biểu hiện rõ rệt là sự thay đổi về trọng lợng và kích thớc ở
trẻ. Chẳng hạn, trẻ đợc 6 tháng tuổi trọng lợng của não tăng gấp đôi so với
lúc mới sinh, khi trẻ đợc 3 tuổi trọng lợng tăng gấp 3 lần.
Cơ quan vận động của trẻ có những thay đổi cơ bản: Các cơ duỗi tăng
trơng lực và khả năng vận động linh hoạt. Trẻ 3-4 tuổi sự vận động phối hợp
chính xác hơn làm cho trẻ đi và chạy dễ dàng mà vẫn giữ đợc thăng bằng.
Hệ thần kinh của trẻ cha hoàn thiện đầy đủ: Các tế bào thần kinh cha
đợc biệt hóa hoàn toàn, các sợi thần kinh cha miêlin hóa đầy đủ, hệ thống
mao mạch của não tăng nhiều, trong não có chứa nhiều nớc. Chính vì điều
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


13



này đã làm hạn chế nhận thức và hoạt động của trẻ. Khả năng hng phấn của
vỏ não còn yếu, chóng bị mệt mỏi vì vậy những kích thích quá mức nh sợ
hãi, tức giận có thể gây ức chế hoạt động của vỏ não, giải phóng trung tâm
dới vỏ và tạo nên những cử động bình thờng của hệ thống vỏ nh: chán nản,
không trật tự, không phối hợp.
Sự hình thành phản xạ có điều kiện diễn ra nhanh chóng ở trẻ. Phản xạ
có điều kiện đối với tác nhân kích thích là thời gian, hoạt động thờng ngày
diễn ra theo một trình tự là cơ sở sinh lí của việc tuân thủ một chế đọ chặt chẽ
trong mọi sinh hoạt của trẻ. ở trẻ em có thể thành lập đợc phản xạ có điều
kiện cấp sáu.
Cơ quan phát thanh của trẻ đang dần hoàn thiện: Thanh quản gồm các
sụn phổi, sụn nhẵn và sụn thanh nhiệt. Bên trong thanh quản có lót một lớp
niêm mạc, trên bề mặt lớp niêm mạc ở mỗi bên có hai nếp gấp. Đó là các dây
thanh âm. Giữa hai bên thanh âm có một rãnh lõm xuống gọi là buồng thanh
quản. Dây thanh âm ở dới đó là dây nói, dây thanh âm giả ở trên đó là dây
chủ yếu để thở.
Trẻ 3-4 tuổi dây thanh quản ngắn nên trẻ có giọng nối cao hơn so với
ngời lớn. Các khoang cộng hởng của phần trên thanh quản, họng, khoang
miệng, mũi khá hoàn thiện, thể hiện ở liên kết giữa các âm sắc trẻ thể hiện.
Dựa trên những đặc điểm nêu trên ta có thể thấy rõ đợc mức độ của trẻ
mẫu giáo bé là rất mạnh nhng còn nhiều chỗ cha hoàn thiện. Do đó cần lựa
chọn những hình thức và biện pháp cho phù hợp để giáo dục trẻ đạt hiệu quả
tốt nhất.
1.1.3. Cơ sở ngôn ngữ
1.1.3.1. Các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ
a. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, dùng làm phơng tiện giao
tiếp và là công cụ t duy.
Ngôn ngữ có một số chức năng nh sau:
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


14



- Chức năng chỉ nghĩa: Là quá trính dùng một từ, một câu để
chỉ một nghĩa nào đó, tức là quá trình gắn từ đó, câu đó vào một sự vật hiện
tợng cụ thể.
- Chức năng thông báo: Mỗi quá trình ngôn ngữ đều chứa đựng
một nội dung thông tin, dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, để biểu
cảm và nhờ đó thúc đẩy, điều chỉnh hoạt động của con ngời.
- Chức năng khái quát hóa: Nghĩa là từ không chỉ một sự vật
hiện tợng riêng lẻ mà nó chỉ một loại sự vật hiện tợng có chung những
thuộc tính bản chất.
b. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
Bản chất con ngời là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội (Marx). Con
ngời muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một đặc trng
quan trọng của con ngời. Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng
nhất (Lênin). Nhờ có ngôn ngữ mà con ngời có thể hiểu đợc nhau, cùng
nhau hành động vì những mục đích chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và
phát triển xã hội.
Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp đợc, thậm chí không thể tồn tại
đợc, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của
ngời lớn.
Ngôn ngữ chính là một trong những phơng tiện thúc đẩy trẻ trở thành
một thành viên của xã hội loài ngời. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để
trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để ngời lớn
có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ
tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ.
Ngôn ngữ là một công cụ để trẻ phát triển t duy, nhận thức
Quá trình trởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để
trẻ phát triển t duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực
(sự hiện hữu) của t duy. T duy của con ngời có thể hoạt động đợc (nhất là
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


15



t duy trừu tợng) cũng chính là nhờ có phơng tiện ngôn ngữ. T duy và
ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có ngôn ngữ thì quá
trình t duy của con ngời không diễn ra đợc. Ngôn ngữ làm cho các kết quả
của t duy đợc cố định lại, do đó có thể khách quan hóa nó cho ngời khác
và cho bản thân chủ thể t duy. Ngợc lại, nếu không có t duy với các sản
phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh vô nghĩa.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ có mục đích tự thân. Có ngôn
ngữ, t duy của trẻ đợc phát triển. Đây là hai mặt của một quá trình biện
chứng có tác động qua lại ảnh hởng mạn mẽ đến nhau. Ngôn ngữ phát triển
làm cho t duy phát triển. Ngợc lại, t duy phát triển càng đẩy nhanh sự phát
triển của ngôn ngữ.
T duy Ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: những hoạt động chủ yếu
của trờng mầm non. Giống nh việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác,
phát triển lời nói cho trẻ ở trờng mầm non thực hiện mục tiêu kép. Đó là,
trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó nh một công cụ để vui chơi,
học tập. Ngôn ngữ đợc tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục,
ở mọi nơi, mọi lúc. Nh vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngợc
lại, mọi hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
Ngôn ngữ là phơng tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức,
chuẩn mực về hành vi văn hóa. Điều gì tốt, điều gì xấu, cần phải ứng xử, giao
tiếp nh thế nào cho phù hợp không chỉ là sự bắt chớc máy móc. Ngôn
ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp. Điều này giúp trẻ có điều
kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh. Cô giáo bằng lời cũng sẽ dễ dàng
hơn trong việc giải thích nêu gơng, thuyết phục trẻ, giáo dục những hành vi
đạo đức cho trẻ.
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong
thơ ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên ngời lớn có
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


16



thể đem đến cho trẻ từ những ngày thơ ấu. Sự tác động của lời nói nghệ thuật
nh một phơng tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ.
c. Hoạt động giao tiếp
+ Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lí giữa con ngời và con ngời nhằm
mục đích trao đổi t tởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo
nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách bản thân. Giao tiếp là phơng thức hoạt
động của con ngời, là phơng tiện cơ bản để hình thành nhân cách trẻ.
+ Khái niệm hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con ngời trong
xã h. Xã hội tồn tại và phát triển thông qua quá trình giao tiếp của con ngời.
+ Bản chất của hoạt động giao tiếp
Hội thoại vừa là hiện tợng giao tiếp bằng ngôn ngữ vừa là hiện tợng
xã hội.
Nói hội thoại là một hiện tợng giao tiếp bằng ngôn ngữ vì chính trong
hội thoại (và độc thoại) thì ngôn ngữ mới thực hiện đợc chức năng quan
trọng - chức năng giao tiếp. Chính trong hội thoại ngôn ngữ mới phát huy
đợc đầy đủ đặc điểm, vẻ đẹp, sức mạnh của nó.
Hội thoại là một hiện tợng xã hội vì nó nảy sinh và tồn tại chỉ trong các
cộng đồng ngời, trong xã hội loài ngời. Con ngời sử dụng hội thoại nh
một công cụ đắc lực để trao đổi thông tin, giao lu tình cảm, gắn kết từng cá
thể với nhau tạo thành một cộng đồng, một xã hội. Bàn đến bản chất của hội
thoại là bàn đến chức năng, mục đích và nội dung hội thoại, là gắn hội thoại
với các hoạt động xã hội.
Hoạt động hội thoại là hoạt động giao tiếp gắn rất chặt với các quy tắc
ứng xử trong xã hội, thể hiện trình độ văn minh của con ngời. Hai bản chất
này gắn liền đôi khi khó tách bạch đâu là bản chất ngôn ngữ đâu là bản chất
xã hội.
+ Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


17



Nhân tố của hoạt động giao tiếp bao gồm nhân vật giao tiếp và hoàn cảnh giao
tiếp.
- Nhân vật giao tiếp: Là những ngời tham gia giao tiếp.
Có hai yếu tố của nhân vật giao tiếp ảnh hởng đến cuộc hội thoại là:
Vai giao tiếp (ngời nói, ngời nghe) và quan hệ liên cá nhân (vị thế xã hội, vị
thế giao tiếp, quan hệ thân cận)
Vai giao tiếp là vị trí của nhân vật trong cuộc giao tiếp.
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật tham gia hội thoại biểu hiện ở
các phạm vi:
+ Vị thế xã hội của những ngời tham giao tiếp phụ thuộc vào chức
quyền, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, địa vị gia đình. Các yếu tố này
thờng tác động trực tiếp đến cuộc giao tiếp. Ví dụ khi giao tiếp với ngời lớn
sẽ khác với khi giao tiếp với những ngời cùng trang lứa.
+ Vị thế giao tiếp: Những ngời tha gia hội thoại còn bị chi phối bởi
vị thế giao tiếp. Trong một cuộc giao tiếp bao giờ cũng có ngời ở vịt hé
mạnh, có ngời ở vị thế yếu. Ngời ở vị thế giao tiếp mạnh sẽ chi phối một
cách tự giác hoặc ngẫu nhiên, có chủ đích hoặc không có chủ đích cuọoc giao
tiếp. Ngợc lại, ngời ở vị thế giao tiếp sẽ bị chi phối, bị lôi theo các nội dung
giao tiếp do ngời ở vị thế giao tiếp mạnh nêu ra.
+ Quan hệ thân cận là quan hệ thiên về tình cảm giữa những ngời
tham gia giao tiếp thể hiện ở các mức độ thân hay sơ, nồng nàn, thắm thiết
hay lạnh nhạt, quý mến hay xa lạ. Mối quan hệ này có thể đợc biến đổi trong
hoặc sau cuộc giao tiếp.
- Hoàn cảnh giao tiếp: gồm nhiều yếu tố tác động lẫn nhau nh môi
trờng giao tiếp, tình huống giao tiếp.
+ Môi trờng giao tiếp
Bất kì cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một không gian và thời gian xác
định cụ thể. Ngời ta gọi các không gian, thời gian ấy là môi trờng giao tiếp.
Trong mỗi môi trờng giao tiếp sẽ quy định một cách thức sử dụng ngôn ngữ
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


18



phù hợp với nó. Những ngời tham gia giao tiếp phải hiểu và tuân theo các
quy định đặc thù đó mới có thể thành công trong giao tiếp.
+ Tình huống giao tiếp là tình huống cụ thể, xác định đợc các nhân
vật tham gia giao tiếp ý thức và làm nảy sinh cuộc giao tiếp.
1.1.3.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo
a. Số lợng từ của trẻ
Trẻ 3-4 tuổi tuy cha nhiều nhng số lợng từ tăng hơn hẳn so với tuổi
nhà trẻ. Cụ thể:
+ Trẻ từ một năm đến 17 tháng, trẻ có thể bắt chớc đợc ngời lớn, lặp
lại những từ nghe đợc nh: Ông, bà, bố, mẹ Số lợng từ có thể đạt 30-40
từ.
Trẻ từ tháng thứ 6 của năm thứ 2 vốn từ tăng nhanh. Cuối năm thứ 2 trẻ có
khoảng 500- 600 từ.
+ Trẻ năm thứ 3 đã sử dụng đợc 1300 từ, phần lớn là danh từ, động từ,
thờng là những từ chỉ tên gọi, đồ chơi, đồ dùng, con vật
+ Trẻ 4 tuổi vốn từ có khoảng 1900-2000 từ, trong đó danh từ và động
từ vẫn chiếm u thế, còn tính từ và các từ loại khác ít sử dụng.
+ Trẻ 5 tuổi vốn từ có khoảng 2500-2600 từ.
+ Trẻ 6 tuổi vốn từ có khoảng 3000-4000 từ.
+ Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm đợc những từ mang ý nghĩa cụ thể
nh tên gọi các đồ vật trong gia đình, tên động vật, thực vật.
Số lợng từ của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau, trong
đó quan trọng nhất là các tác động của môi trờng nh: Sự tiếp xúc ngôn ngữ
thờng xuyên của những ngời xung quanh, trình độ giao tiếp và sự quan tâm
của bố mẹ.
b. Về từ loại
Theo Xtecnơ, ngôn ngữ của trẻ em xuất hiện trớc hết là danh từ, sau là
động từ rồi mới đến các từ loại khác:
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


19



Theo Lu Thị Lan, trẻ em mẫu giáo có tỉ lệ các từ loại nh tính từ, trạng
từ, quan hệ từ đợc tăng lên, động từ giảm đi so với tuổi nhà trẻ:
Trẻ 3 tuổi:
Danh từ chiếm 40.2%.
Tính từ chiếm 7.8%.
Trạng từ chiếm 2.4%.
Trẻ 5 tuổi:
Danh từ chiếm 35.52%.
Tính từ chiếm 8,64%.
Trạng từ chiếm 3.73%.
Trẻ 6 tuổi:
Danh từ giảm từ 34.47% còn 30.97%.
Tính từ tăng: 9.94% đến 11.64%.
Trẻ mẫu giáo nói nhiều nhng cha phải là nói hay, vì vậy cần phải mở
rộng các loại từ đẻ trẻ nói hay, biết sử dụng từ gợi cảm, từ văn học. Trẻ mẫu
giáo cũng bắt đầu bộc lộ những nét riêng. Có trẻ dùng tính từ, trạng từ nhiều
hơn các trẻ khác.
- Về danh từ: Nội dung ý nghĩa từ của trẻ dần đợc mở rộng, phong phú hơn ở
những từ có ý nghã rộng.
Ví dụ: Từ hoa có nhiều loại hoa khác nhau, từ cây có rất nhiều loại cây
khác nhau, từ bánh có khoảng hơn 20 loại bánh khác nhau
Những từ chỉ nghề nghiệp của ngời lớn tăng. ở trẻ còn có những danh từ
mang tính văn học.
Ví dụ: Cây cối, đoá hoa, áng mây, mặt trời
Trẻ cũng đã biết sử dụng một số từ chỉ những khái niệm trừu tợng nhng
cha đợc sử dụng nhiều (VD: kiến trúc, tài năng), mặc dù trẻ cha hiểu hết
nghĩa của những từ đó.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


20



- Về động từ: Phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm
những nhóm từ mới nh: nhảy nhót, leng keng, ào ào, lộp bộp những động
từ chỉ sắc thái khác nhau nh: chạy vèo vèo, chạy lung tung, chạy lăng xăng
- Về tính từ: Phát triển về số lợng cũng nh chất lợng, trẻ sử dụng nhiều
những từ có tính chất gợi cảm.
Ví dụ: chua loét, ngọt lịm, tròn xoe, tròn vo
Từ tợng thanh, tợng hình.
Ví dụ: Rì rào, róc rách, lom khom, ung dung
Trẻ cũng sử dụng đợc một số từ trái nghĩa.
Ví dụ: dày mỏng, cao thấp, đẹp xấu, ngoan h
- Về trạng từ: Trẻ sử dụng nhng cha thật chính xác các trạng từ: Ngày xa,
hôm qua, hôm kia, lúc nãy
- Về quan hệ từ: Trẻ biết sử dụng các từ: nếu, thì, nhng mà, xong là
- Về các loại từ: Trẻ sử dụng nhiều từ đơn hơn từ ghép.
Tóm lại, trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo bé nói riêng, cùng với
thời gian, vốn từ của trẻ sẽ tăng lên cả về số lợng và chất lợng. Việc nắm
đợc nghĩa của từ phụ thuộc vào sự phát triển khả năng nhận thức và t duy
của trẻ. Tốc độ phát triển vốn từ của trẻ không đều nhau, càng ở lứa tuổi lớn,
sự chênh lệch về số lợng từ không rõ rệt nh trẻ còn nhỏ.
Trẻ tiếp thu đợc hết những từ biểu thị tên gọi của các sự vật, hiện
tợng gần gũi với trẻ. Còn những từ biểu thị khái niệm trừu tợng thì ở trẻ
không có hoặc trẻ có sử dụng nhng không hiểu hết ý nghĩa của chúng.
Vốn từ của trẻ mang tính chất cá nhân rõ rệt, cùng một lứa tuổi, có trẻ
vốn từ rất phong phú về thể loại, nhiều về số lợng, nhng có trẻ vốn từ lại rất
nghèo nàn. Điều đó phụ thuộc vào sự tiếp xúc ngôn ngữ thờng xuyên của
những ngời xung quanh, đặc biệt là trình độ và sự quan tâm, giáo dục của bố
mẹ và phụ thuộc vào những yếu tố khác.


Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


21



1.2. Nhiệm vụ và nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
1.2.1. Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
a. Một số vấn đề cần lu ý
ở tuổi mẫu giáo, trẻ phải nắm đợc một vốn từ cần thiết đủ để cho
chúng giao tiếp với bạn bè, ngời lớn, tiếp thu tri thức ban đầu trong trờng
mầm non, chuẩn bị vào trờng phổ thông, xem các chơng trình truyền hình
truyền thanh Vì thế, giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ là
một nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ.
Phát triển vốn từ đợc hiểu nh một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội
vốn từ mà con ngời đã lĩnh hội đợc trong lịch sử. Nó bao gồm hai mặt: tích
luỹ số lợng (tăng dần số từ tích cực) và nâng cao chất lợng (lĩnh hội dần nội
dung xã hội tích luỹ trong từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức).
Việc lĩnh hội vốn từ của trẻ mẫu giáo bao gồm các đặc trng sau:
Thứ nhất, nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quan hình
tợng của t duy nên trớc hết trẻ nắm đợc các tên gọi của sự vật, hiện
tợng, thuộc tính, quan hệ mang tính chất biểu tợng trực quan và phù hợp với
hoạt động của chúng.
Thứ hai, sự lĩnh hội nghĩa của từ diễn ra dần dần. Thoạt đầu trẻ chỉ đối
chiếu từ với sự vật cụ thể (không có phía khái quát), sự thâm nhập dần của trẻ
vào hiện thực (khám phá ra những thuộc tính, dấu hiệu bản chất, khái quát
theo dấu hiệu nào đó). Dần dần cùng với sự phát triển t duy, trẻ mới nắm
đợc nội dung khái niệm trong từ vì việc nắm nghĩa từ còn biến đa,đổi trong
suốt tuổi mẫu giáo.
Thứ ba, vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lợng nhỏ hơn rất nhiều so với
số lợng vốn từ của ngời lớn. Vì khối lợng tri thức của chúng còn quá chật
hẹp. Vì thế mở rộng vốn từ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ.
b. Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ
- Làm giàu vốn từ và tích luỹ số lợng từ cần thiết cho giao tiếp ngôn ngữ của
trẻ. Mặc dù chức năng cơ bản của từ không phải là giao tiếp nhng thiếu từ thì
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


22



giao tiếp trở nên khó khăn. Vì vậy, phải cung cấp cho trẻ vốn từ cần thiết, đó
là những từ về những gì có ở xung quanh trẻ (gia đình, trờng mầm non),
những từ có liên quan đến cuộc sống cá nhân và quan hệ của trẻ, những từ cần
cho cuộc sống sinh hoạt, học tập, vui chơi của trẻ.
Mặt khác, dựa vào đặc điểm t duy của trẻ mẫu giáo, việc làm giàu vốn
từ cần tiến hành theo nguyên tắc mở rộng từ cụ thể đến khái quát. Nghĩa là, ở
giai đoạn đầu cần cung cấp cho trẻ những từ ngữ mang ý nghĩa cụ thể nh các
đồ vật trong gia đình, các con vật, cây cối, hoa quả gần gũi, quen thuộc, tên
gọi ngời thân trong gia đình.
VD:
- Các động từ biểu thị hoạt động cơ bản của ngời: đi, đứng, bò, chạy, nhảy
- Các tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật: to, nhỏ, dài, ngắn, rộng,
hẹp
Giai đoạn sau, cung cấp cho trẻ những từ mang ý nghĩa khái quát hơn nh các
từ láy âm (lúng túng, vội vã, náo nức), từ tợng thanh (rì rào, róc rách, ào
ào, lộp độp), tợng hình (lom khom, ung dung), các từ ghép
Để làm phong phú vốn từ, có thể cho trẻ tìm từ trái nghĩa nh đẹp/xấu,
nhanh/chậm, buồn/vui, hiền/dữ
Cần dạy trẻ mẫu giáo biết ghi nhớ và sử dụng các thành ngữ, tục ngữ
với nội dung phù hợp với trẻ nh: dầm sơng dãi nắng, một lòng một dạ
Nhạc điệu của âm thanh, tính hình tợng của câu nói làm cho thành ngữ, tục
ngữ thêm phần gợi cảm, dễ nhớ.
- Cần phải chú ý đến cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ sao cho có đủ các từ
loại trong Tiếng Việt với tỉ lệ thích hợp. Số lợng từ lớn mà cơ cấu từ loại
không hợp lí hoặc thiếu một số từ loại nào đó thì trẻ sẽ khó khăn khi diễn đạt.
Thờng vốn từ của trẻ có số lợng danh từ lớn nhất, sau đó là động từ và tính
từ. Các từ loại khác xuất hiện muộn hơn với một tỉ lệ thấp. Đến 4 tuổi thì cần
có đủ các loại từ trong vốn từ của trẻ.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


23



- Giúp trẻ lĩnh hội ý nghĩa của từ: Hiểu nghĩa của từ là một nội dung quan
trọng của phát triển lời nói. ở trờng mầm non, nhiệm vụ này bao gồm:
+ Giúp trẻ nắm đợc ý nghĩa của từ trên cơ sở đối chiếu chính xác chúng
với các đồ vật ở xung quanh.
+ Giúp trẻ nắm đợc ý nghĩa khái quát của từ trên cơ sở phân biệt đợc
những dấu hiệu đặc trng của sự vật và hiện tợng.
+ Thâm nhập vào thế giới hình tợngcủa lời nói và biết cách sử dụng chúng
(thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với thơ, truyện).
+ Tích cực hoá vốn từ có nghĩa là giúp trẻ không những hiểu biết mà còn sử
dụng đợc chúng trong giao tiếp. Đây là quá trình đúng mỗi từ và sử dụng
chính xác trong các ngữ cảnh khác nhau. Tích cực hoá vốn từ giúp trẻ vận
dụng từ vào lời nói làm cho vốn từ ngữ thụ động chuyển sanh từ ngữ tích cực.
những biện pháp tu từ đặc biệt là so sánh và nhân cách hoá, trẻ có thể tiếp thu
và sử dụng một cách hồn nhiên.
Ví dụ:
Một đoàn máy bay Mỹ
Nh một bầy quạ đen.
(Hoan hô chú bộ đội)
Hay: Trăng ơi từ đâu đến
Hay biển xanh diệu kì
Trăng tròn nh mắt cá
Không bao giờ chớp mi.
(Trăng ơi từ đâu đến - Trần Đăng Khoa)
Tác giả đã ví hình ảnh trăng tròn với một hình ảnh rất gần gũi mắt cá.
Điều đó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và suy nghĩ của trẻ. Nhờ việc sử
dụng biện pháp so sánh đã làm cho ngôn ngữ của bài thơ trở nên sinh động và
có phần ngây thơ, ngộ nghĩnh, giúp trẻ tiếp thu và cảm nhận dễ dàng hơn.


Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


24



1.2.2. Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ đợc tác giả Đinh Hồng Thái biên
soạn và phân chia theo đề tài nh sau:
a. Những từ ngữ nói về cuộc sống riêng
- Gọi đúng tên nơi ở (số nhà, phố, phờng xã), gọi đúng tên ngời thân
trong gia đình , gọi đúng tên trờng mầm non, tên cô giáo, tên các bạn.
- Gọi đúng tên vị trí các phần trong nhà, trờng lớp: phòng ăn, phòng ngủ, sân
chơi, phòng khách
- Làm quen với các đồ dùng trong gia đình: bàn, ghế, giờng, tủ gọi tên các
bộ phận: chân bàn, mặt ghế gọi đúng tên nơi để đồ dùng: chạn (bát), quần
áo (trong tủ ), giầy dép ( trên giá)
- Biết và gọi tên công việc của ngời lớn trong gia đình, trờng mầm non: Bố
đi làm cơ quan, mẹ đi dạy học, chị đi học
b. Những từ ngữ về cuộc sống xã hội
- Cho trẻ làm quen với cuộc sống của đất nớc: những ngày lễ hội: Tết
Nguyên đán (đợc đi chơi, đợc nghỉ, chúc tết, mừng tuổi), Tết trung thu
(múa s tử, rớc đèn phá cỗ)
- Dạy trẻ nói đợc một số từ ngữ về chú bộ đội, công an(đồng phục, súng đạn,
mũ sao vàng, canh gác, bảo vệ Tổ Quốc.), về bác công nhân(làm đờng,
xây nhà, quét dọn), bác nông dân(trồng lúa, trồng rau, chăn nuôi)
- Dạy trẻ gọi đúng tên và lợi ích của một số phơng tiện giao thông phổ biến ở
địa phơng nh xe đạp, xe máy, ô tô, thuyền tàu
c. Những từ ngữ nói về cuộc sống tự nhiên
- Cho trẻ nhận biết và gọi tên một số loại rau thông thờng (rau muống, rau
cải), một số loại quả (cam, táo, bởi), một số loại hoa (hoa hồng, hoa
cúc, hoa đào).
- Dạy trẻ nhận biết và gọi đúng tên một số con vật nuôi phổ biến trong gia
đình (chó, mèo, gà, vịt)
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thoa K33 GDMN Khoa GDTH


25



- Dạy trẻ nói đúng những từ chỉ hiện tợng thiên nhiên: nắng, mây, ma, sấm
chớp
1.3 Hoạt động giao tiếp ở trờng mầm non
a. Hình thức hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp xoay quanh một hoặcmột vài chủ đề
nhằm một mục đích nhất định nào đó.
Hội thoại có thể xảy ra trong một số hoạt động sau ở trờng Mầm Non:
Thông qua hoạt động đón, trả trẻ
Ngoài thời gian học tập, tiếp xúc giữa trẻ với nhau trên lớp học thì thời
gian đón trả trẻ là lúc diễn ra sự trao đổi giữa giáo viên với phụ huynh và giữa
phụ huynh với trẻ. Tuy khoảng thời gian này không nhiều và hầu nh chỉ xoay
quanh một vấn đề nhỏ nào đó của trẻ ở trên lớp nhng chính thời gian này lại
đem lại hiệu quả rất to lớn góp phần củng cố vốn ngôn ngữ cho trẻ.
Ví dụ: Cuộc hội thoại của phụ huynh bé Phơng Linh với bé và cô giáo trong
giờ đến đón bé đợc ghi lại nh sau:
- Mẹ: Mẹ chào con. Hôm nay ở lớp con có ngoan không?
- Phơng Linh: Con ngoan lắm mẹ ạ.
- Mẹ: Kể cho mẹ nghe xem hôm nay con đợc học gì nào?
- Phơng Linh: Hôm nay ở lớp con đợc học bài thơ Bé làm bao nhiêu
nghề. Con đợc biết thêm nhiều nghề lắm mẹ ạ. Con kể cho cô và các bạn ở
lớp nghe về nghề của bố và mẹ nữa đấy.
- Mẹ: Con của mẹ giỏi quá.
- Cô giáo: Phơng Linh kể cho mẹ nghe ở lớp, con thấy có chuyện gì vui nhỉ?
- Phơng Linh: Mẹ ơi, hôm nay bạn Minh Đức không khóc nhè nữa, bạn ấy
còn cho con chơi đồ chơi cùng nữa mẹ ạ.
- Mẹ: Phơng Linh của mẹ rất ngoan Con chào cô rồi mẹ con mình về nhà
nhé.
Thông qua đoạn hội thoại nhỏ diễn ra ở trên chúng ta thấy nếu phụ
huynh quan tâm chỉ cần bỏ ra một chút thời gian mỗi ngày để trao đổi và trò

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×