Tải bản đầy đủ

Những cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp bán lẻ việt nam trong quá trình gia nhập wto.doc

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang bao trùm cả thế giới, khi toàn cầu hóa về nền kinh
tế đang trở thành một xu hướng khách quan thì yêu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế càng trở
nên cấp bách. Toàn cầu hóa đòi hỏi mỗi nước phải liên kết với các quốc gia khác để cùng
phát triển.Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó. Là một nước đang phát triển,
việc tham gia vào quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thế giới làm cho Việt Nam phải đẩy
mạnh khả năng cạnh tranh với các nước trên thế giới cũng như nó đã và đang đặt ra cho
chúng ta nhiều cơ hội và cả những thách thức mới.
Kinh tế thế giới phát triển, quốc tế hóa thương mại đòi hỏi các nước phải xóa bỏ các
rào cản, chấp nhận tự do buôn bán, vì thế mỗi nước phải mở cửa thị trường trong nước, điều
đó cũng đồng nghĩa với việc nâng cao sức cạnh tranh của nước đó phù hợp với sự phát triển
của thế giới. Đang chiếm tới hơn 90% số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước, các
doanh nghiệp bán lẻ ờ Việt Nam trở thành một nhân tố quan trọng đưa nền kinh tế nước ta
ngày càng phát triển và hội nhập. Trong xu thế này Đảng và nhà nước ta phải quan tâm hơn
nữa tới các doanh bán lẻ.Vậy hiện nay các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đang có được
những cơ hội nào? Và gặp phải những thách thức gì? Và chúng ta phải có những chiến lược
như thế nào nhằm giúp cho doanh nghiệp bán lẻ nước ta có thể đứng vững khi hội nhập.
Chúng ta hãy tìm hiểu và phân tích đề tài:
“NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO”.


CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Khái quát tình hình nước ta trước khi gia nhập WTO:
Sau 11 năm kiên trì đàm phán, chúng ta đã kết thúc đàm phán cả song phương và đa
phương để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) theo phương án đề ra. Việt Nam
chính thức gia nhập WTO vào ngày 7/11/2006 , trong quá tình hội nhập đó, Việt Nam đã có
những bước tiến rõ rệt trên các lĩnh vực, tính đến năm 2006:
- Kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả năm ước tăng 8,2% (kế hoạch là 8%).
GDP bình quân đầu người đạt trên 11,5 triệu đồng, tương đương 720 USD. Giá trị tăng thêm
của ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4 - 3,5% (kế hoạch là 3,8%), ngành công
nghiệp và xây dựng tăng 10,4 - 10,5% (kế hoạch là 10,2%), ngành dịch vụ tăng 8,2 - 8,3% (kế
hoạch là 8%).Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 20% (kế hoạch là 16,4%). Sản lượng
1
lương thực vẫn đạt khoảng 40 triệu tấn, duy trì xuất khẩu gạo năm thứ 2 liên tiếp đạt trên 5
triệu tấn và đạt trên 1 tỷ USD trong năm 2006.
- Chính trị : Tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 258 nghìn tỷ đồng (dự toán là 237,9
nghìn tỷ đồng), tăng 19%. Tổng chi ngân sách nhà nước đạt trên 315 nghìn tỷ đồng (dự toán
là 294,4 nghìn tỷ đồng), tăng 20%. Bội chi ngân sách nhà nước trong mức 5% GDP (dự toán
là 5%).
- Xã hội: Quá trình gia nhập đã góp phần tạo việc làm mới cho 1,6 triệu lao động (kế
hoạch là 1,6 triệu), tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm xuống còn 19% (kế hoạch là 20%), tỷ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm dưới 24% (kế hoạch là 24%), tỷ lệ sinh giảm
xuống 0,3% (kế hoạch là 0,4%).
- Giáo dục: Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được triển khai tích cực.
Công tác tổ chức thi tuyển ở các cấp có tiến bộ. Quy mô đào tạo bậc đại học, trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục tăng. Cơ sở vật chất nhà trường được củng cố, tăng
cường. Gần 90% địa phương đã hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường, lớp, cải thiện
điều kiện dạy và học, tạo diện mạo mới cho các cơ sở giáo dục. Các trung tâm học tập cộng
đồng tiếp tục được mở rộng. Cuộc vận động chống tiêu cực trong ngành giáo dục đã có một
số chuyển biến, được sự đồng thuận của xã hội.
2. Khái quát tình hình các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trước khi gia nhập WTO:
Theo một tài liệu của bộ thương mại, Doanh nhân Việt Nam cả quốc doanh lẫn tư
nhân tổ chức được khoảng 170 siêu thị, trung tâm thương mại và 600 cửa hàng tự chọn.
2

Nguồn: CBRE (11-2008)
Nhưng các hoạt động bán buôn bán lẻ theo kiểu hiện đại của Việt Nam còn nhỏ lẻ,
siêu thị Việt Nam lớn nhất cũng chỉ có doanh số không quá 200 tỷ đồng một năm.
Rất nhiều mặt hàng, đa số là hàng nội địa, tỷ lệ hàng nhập rất thấp…hàng thực
phẩm rất dồi dào cũng như hàng tiêu dùng gia đình…nhất là các mặt hàng mà tiệm tạp hóa
có thể mua để bán lại.


Tính đến nay, mô hình phân phối hiện đại - hệ thống siêu thị đã xuất hiện tại Việt
Nam hơn 10 năm và chiếm khoảng 10% tổng phân phối cả nước. Tuy phát triển khá nhanh,
nhưng so với các nước vẫn chưa đáng kể. Các hệ thống siêu thị của chúng ta mới chỉ đáp ứng
nhu cầu mua sắm cơ bản mà chưa thỏa mãn nhu cầu shoping-hưởng thụ ngoài mua sắm thông
thường của người tiêu dùng. Trong khi các nhà phân phối chuyên nghiệp ý thức rất rõ điều
này và họ sẽ ngay lập tức chiếm lấy cơ hội khi vào Việt Nam.
Một đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở các nhà phân phối trong nước hiện nay là thiếu tính
chuyên nghiệp, quản lý kém hiệu quả. Thêm vào đó, vấn đề nhân lực và đào tạo nhânlực
trong lĩnh vực phân phối ở ta còn quá yếu.
3
Chương I : CƠ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM
SAU KHI GIA NHẬP WTO
1) Cơ hội lớn cho các doanh nghiệp nhập khẩu :
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, Việt
Nam có cơ hội được tiếp cận với nguồn hàng hóa phong phú, đa dạng từ vô vàn những nhà
cung cấp. Nhờ sự dễ dàng giao thương mà WTO đem lại, thị trường hàng hóa thế giới sẽ trở
nên cạnh trạnh hơn, và đó là thuận lợi lớn cho những nhà nhập khẩu. Các doanh nghiệp trong
nước sẽ có điều kiện được chọn lựa các sản phẩm tốt nhất ở mức giá cạnh tranh nhất. Đây là
nhân tố quan trọng đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng, góp phần thúc đẩy thị
trường phân phối hoạt động sôi động hơn. Một điểm nổi bật khác là khi tham gia WTO, hàng
hóa từ các nước thành viên sẽ được nhập khẩu vào Việt Nam với mức thuế được cắt giảm
làm cho giá các sản phẩm nhập khẩu giảm đáng kể, tăng tính hấp dẫn người tiêu dùng. Theo
cam kết của WTO, các quốc gia khi gia nhập vào tổ chức, sẽ áp dụng biểu thuế quan ưu đãi
với các nước thành viên. Vì vậy, thuế nhập khẩu đánh trên hàng hóa các doanh nghiệp bán lẻ
nhập vào nước ta cũng được cắt giảm nếu nguồn cung ứng của nó là từ các nước trong tổ
chức. Đây là một cơ hội mới cho các nhà phân phối trong nước gia tăng tính cạnh tranh về giá
cho sản phẩm của mình, tạo động lực thu hút người tiêu dùng.
2) Cơ hội tiếp cận công nghệ mới về quản lý và phân phối. Xuất hiện những hình
thức bán lẻ mới với quy mô và hiệu quả cao:
WTO có nhiều thành viên là các quốc gia có nền kinh tế hàng đầu thế giới với khoa học
công nghệ, năng lực quản lý ở trình độ cao, hệ thống tài chính, tiền tệ phát triển. Gia nhập vào
WTO, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận với những công nghệ tiên tiến trên
thế giới bằng các học bổng, chương trình đào tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao mà các
nước phát triển cung cấp. Nhất là khi nước ta mở cửa thị trường bán lẻ thì những công nghệ
mới về quản lý và phân phối sẽ được đưa vào nước ta qua các công ty liên doanh hay 100%
vốn nước ngoài. Một khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thị trường bán lẻ Việt Nam
với trình độ công nghệ, cơ chế quản lí và phân phối khoa học hiệu quả sẽ đem đến cho các
4
doanh nghiệp bán lẻ ở trong nước góc nhìn mới về quản lý, phân phối. Đó sẽ là những công
nghệ quý báu cho các doanh nghiệp trong nước vận dụng để thu được thị phần và lợi nhuận
lớn hơn.Vì vậy đẩy mạnh mức đầu tư cho yếu tố công nghệ, tận dụng yếu tố nhanh chóng,
chính xác và thuận tiện của công nghệ không những sẽ làm giảm tối đa chi phí mà còn đem
lại hiệu quả cao trong công tác quản lý lưu chuyển hàng hóa, tồn kho, bán hàng, hạch toán thu
chi.
Bên cạnh đó, theo xu thế đa dạng hóa kinh doanh, Việt Nam sẽ có nhiều tập đoàn, công
ty lớn kinh doanh dưới nhiều hình thức, sẽ có những cuộc cạnh tranh ngoạn mục giữa các
thương hiệu bán lẻ và thương hiệu sản phẩm. Vì thế, các hình thức bán lẻ hiện đại, chuyên
nghiệp như siêu thị, trung tâm mua sắm, cửa hàng đặc chủng... sẽ không có sự phân biệt rõ
ràng, ranh giới giữa bán lẻ và bán buôn ngày càng thu hẹp lại. Đặc biệt, do tác động của khoa
học công nghệ - thương mại các phương thức bán lẻ mới sẽ bùng nổ, như bán hàng qua mạng
Internet, TV shopping, qua mạng điện thoại di động, qua catalogue, bán hàng đa cấp.
3) Tăng vốn đầu tư cho doanh nghiệp qua thực hiện liên doanh, liên kết với các
chủ thể nước ngoài, và tiếp cận với nguồn lực tài chính của thế giới:
Tư cách thành viên WTO sẽ làm Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.
Hơn nữa thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường tiềm năng
nhất thế giới nên nguồn vốn đầu tư vào thị trường phân phối hàng hóa Việt Nam sẽ gia tăng
đáng kể khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới. Sẽ có nhiều
doanh nghiệp nước ngoài thực hiện liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp bán lẻ Việt
Nam, góp phần làm tăng vốn đầu tư cho nhiều doanh nghiệp bán lẻ trong nước trên thị trường
nội địa. Đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ta có điều kiện mở rộng quy mô
kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính, đáp ứng được yêu cầu của các hình thức phân phối
hiện đại trên thế giới như trung tâm thương mại, chuỗi cung ứng, hệ thống siêu thị. Và trong
tương lai, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có thể sẽ hoạt động trên toàn thế giới.
Là thành viên WTO, Việt Nam còn tranh thủ được sự hỗ trợ của các định chế tài chính
quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc Tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển
Châu Á (ADB). Khi quy mô của các doanh nghiệp bán lẻ ngày càng mở rộng thì tất yếu nhu
5
cầu về vốn sẽ rất cao cho cả nhu cầu đầu tư và khắc phục rủi ro ngày càng gia tăng. Việc tiếp
cận được với các nguồn hỗ trợ toàn cầu sẽ là một động lực to lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ
trong nước phát triển mạnh mẽ hoạt động của mình.
4) So với doanh nghiệp nước ngoài các doanh nghiệp trong nước có cơ hội khai thác
thị trường tốt hơn nhờ am hiểu tập quán và sở thích thị trường:
Mỗi quốc gia có những tập quán trong phân phối hàng hóa khác nhau. Đi chợ là một thói
quen lâu đời của người Việt. Người dân vẫn chưa quen với hình thức mua sắm qua siêu thị,
trung tâm thương mại. Thói quen đi chợ, mua sắm qua các cửa hàng dọc đường vẫn là chủ
yếu. Đây là thuận lợi cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước xây dựng hệ thống phân phối
gần với tập quán của người Việt Nam. Mặt khác người Việt có sở thích là phải được thấy tận
mắt sờ tận tay hàng hóa rồi mới quyết định mua. Trong khi đó, hàng hóa bán lẻ của các doanh
nghiệp nước ngoài thường được đóng gói rất cẩn thận và kiểu cách nên nhiều khách hàng tỏ
ra e ngại khi muốn xem xét trực tiếp sản phẩm. Đó là một lợi thế cho các doanh nghiệp bán lẻ
trong nước đã hiểu rõ tập quán thị trường. Bên cạnh đó những sở thích đối với các loại hàng
hóa nhất là thực phẩm của người dân mỗi quốc gia, mỗi vùng miền đều có sự khác biệt rõ rệt.
Điều này gây khó khăn cho tư bản nước ngoài khi muốn đầu tư vào thị trường bán lẻ Việt
Nam. Hiểu rõ những sở thích, tập quán này là một lợi thế lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ
trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh khi nhà đầu tư nước ngoài đổ vào nước ta.
5) Hưởng lợi từ cơ chế chính sách mới trong nước.
Cơ hội mới đối với Việt Nam khi gia nhập WTO chính là việc cải cách hành chính, thể
chế pháp luật. Theo cam kết với WTO, các cơ chế chính sách của Việt Nam sẽ được cải cách
theo hướng thông thoáng và thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư. Luật pháp về hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp cũng được hoàn chỉnh chặt chẽ và rõ ràng hơn giúp các doanh
nghiệp dễ dàng hoạt động theo đúng chủ trương của nhà nước. Khi thị trường bán lẻ trong
nước được mở cửa thì hàng loạt các hình thức phân phối mới sẽ đến với Việt Nam và những
cơ chế chính sách mới sẽ là cần thiết để tạo điều kiện cho các hình thức này phát triển. Hơn
nữa, thủ tục hành chính đơn giản, tiện lợi sẽ giúp các doanh nghiệp giảm chi phí thời gian và
6
tiền bạc khi tiến hành hoạt động phân phối mới hay mở rộng hệ thống phân phối của mình.
Bên cạnh đó cơ chế hành chính minh bạch và pháp luật chặt chẽ sẽ làm cho các doanh nghiệp
cạnh tranh bình đẳng hơn, thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trong nước phát triển.
Những thay đổi này có tác động tích cực đến các doanh nghiệp, môi trường thương mại
thuận lợi, thông thoáng và bình đẳng. Bởi các quy định trong WTO về cơ bản đều hướng tới
việc tự do hóa thương mại bằng việc giảm thuế quan và thủ tục, bãi bỏ hạn ngạch, đơn giản
hóa thủ tục hành chính… sẽ mang lại nhiều tiện ích hơn cho tất cả các doanh nghiệp. Có
chính sách, thủ tục thương mại minh bạch. Nguyên tắc minh bạch của WTO đòi hỏi các cơ
quan nhà nước phải công khai các thông tin về chính sách, luật lệ, thủ tục… có liên quan đến
hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp.
6) Thị trường bán lẻ trong nước sẽ trở nên sôi động hơn.
Mở cửa thị trường phân phối hàng hóa là bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, đưa kinh tế Việt Nam theo kịp trình độ phát triển của thế giới. Các hình thức
bán lẻ mới với hiệu quả cao sẽ được đưa vào khai thác thị trường Việt Nam, thúc đẩy thị
trường phát triển tự do. Người dân trong nước được tiếp cận với nhiều kênh phân phối, hình
thức bán lẻ. Đó là nhân tố quan trọng tạo lập tư duy và tập quán mới cho người tiêu dùng
trong nước, giúp các doanh nghiệp dễ dàng áp dụng những hình thức mới, đột phá trong các
kênh phân phối bán lẻ của mình. Bên cạnh đó, thị trường trong nước đang trở nên sôi động
hơn là nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới, phát triển, nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình. WTO thực sự đem lại những cơ hội to lớn cho các doanh
nghiệp bán lẻ Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước cần tận dụng cơ hội này để phát triển
mạnh mẽ, nâng cao tiềm lực của mình.
Thứ nhất, gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội tiếp cận rất nhiều nguồn hàng hóa từ các
nhà cung cấp trên toàn thế giới. Trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu ngày càng gia tăng, các
doanh nghiệp bán lẻ hàng nhập khẩu cần tích cực tìm kiếm nguồn hàng chất lượng tốt, giá cả
cạnh tranh cho mình, nâng cao lợi thế và sức hấp dẫn của doanh nghiệp đối với người tiêu
7

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×