Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải.doc

LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, quá trình CNH – HĐH và đô thị hoá
đất nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với đó là nhu cầu về nguyên vật liệu cho xây
dựng các khu đô thị, khu công nghiệp và các công trình xây dựng dân dụng nói chung
ngày càng tăng. Trong các loại nguyên vật liệu thì gạch đất sét nung là loại vật liệu
không thể thiếu trong các công trình xây dựng vì gạch là loại vật liệu tạo nên hình dáng
cấu trúc ban đầu cho các công trình đồng thời nó còn tạo nên sự bền vững cho các công
trình đó
Tiêu thụ sản phẩm là hoạt động có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh vì vậy tiêu thụ sản phẩm đã trở thành một trong những khâu quan
trọng mà các DN phải đặc biệt quan tâm. Trong tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt
như hiện nay các DN buộc phải năng động sáng tạo tìm ra các biện pháp tốt, phù hợp đẩy
mạnh TTSP của DN, như vậy mới đảm bảo cho sự tồn tại.
Trong thực tế, không ít những SP của một số DN rất tốt nhưng tiêu thụ lại rất
chậm, thậm chí không tiêu thụ được do không biết cách tổ chức TTSP. Do vậy, TTSP là
công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi các DN phải suy nghĩ và tìm ra các biện pháp phù
hợp, khoa học để đẩy mạnh việc TTSP của DN mình.
Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải có ngành nghề là SXKD các loại
gạch đất sét nung. Từ sau khi cổ phần hoá năm 2005 đến nay, công ty đã đạt được nhiều
thành tựu và cố gắng vươn lên giành vị thế trên thị trường. Tuy nhiên, công ty vẫn gặp

nhiều khó khăn đặc biệt trong công tác TTSP. Vậy những thành tựu mà công ty đã đạt
được là gì và những khó khăn trong công tác TTSP mà công ty đang gặp phải là gì?
Xuất phát từ lý luận và thực tế của công ty, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở công ty cổ phần đầu tư
và xây dựng Tiền Hải”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
iv
Tổng hợp những lý luận cơ bản về TTSP nói chung và TTSP gạch đất sét nung
nói riêng, trên cơ sở đó phân tích và đánh giá thực trạng tình hình TTSP gạch đất sét
nung của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải. Cuối cùng, đề xuất một số giải
pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động TTSP gạch đất sét nung của công ty cổ
phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động TTSP gạch đất sét nung của công ty cổ phần đầu tư và xây
dựng Tiền Hải.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề về hoạt động TTSP gạch đất sét
nung.
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng
Tiền Hải
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu từ ngày 14/4/2010 đến ngày 18/10/2010 Thông
tin dùng cho nghiên cứu thu thập qua 3 năm (2007 – 2009).
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải là một trong bốn doanh nghiệp sản
xuất gạch đất sét nung theo công nghệ lò Tuynel trên địa bàn huyện Tiền Hải. Đây cũng
là DN đi đầu trên địa bàn sản xuất loại gạch này, do đó cùng với nhiều năm kinh nghiệm
và từng bước tạo lập uy tín hiện nay công ty đang có khối lượng sản xuất và tiêu thụ
mạnh nhất trên địa bàn huyện Tiền Hải. Sản phẩm của công ty được khách hàng tin
dùng và được đánh giá là SP có chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng phù hợp với nhu cầu thị
trường. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây một vài SP của công ty đang gặp khó khăn
trong việc tiêu thụ. Từ những lý do trên tôi đã chọn công ty cổ phần đầu tư và xây dựng
Tiền Hải làm điểm nghiên cứu.
4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
v
4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Những số liệu này là những số liệu có sẵn được sử dụng trong nghiên cứu bao


gồm các sách, báo, tạp chí, nghị quyết, các công trình đã được xuất bản. Ngoài ra tôi
còn tham khảo các kết quả nghiên cứu đã được công bố của các nghiên cứu sinh.
Những tài liệu này được thu thập bằng cách sao chép, đọc, trích dẫn tài liệu tham khảo.
4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho việc tính toán các chỉ tiêu phân tích
để thực hiện nội dung nghiên cứu đề tài. Số liệu sơ cấp được thu thập từ các báo cáo
như báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tổng kết, báo cáo kế hoạch…
Những báo cáo này lấy từ các phòng ban của công ty như phòng kinh doanh, phòng kế
toán, phòng tổ chức hành chính…
Bên cạnh đó chúng tôi còn tiến hành điều tra trực tiếp một số khách hàng là
những DN đang thi công các công trình xây dựng và các khách hàng mua SP trực tiếp
của công ty trên cơ sở xác định các mẫu điều tra có tính chất đại diện.
Phương pháp điều tra
Chọn điểm điều tra: Chúng tôi tập trung điều tra tình hình TTSP gạch đất sét
nung của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải trên địa bàn huyện Tiền Hải vì
đây là thị trường tiêu thụ chính của công ty, ở đây công ty có lượng tiêu thụ lớn nhất.
Cụ thể, chúng tôi tiến hành điều tra ở 20 công trình xây dựng đang sử dụng Sản phẩm
của công ty.
4.3 Phương pháp phân tích
4.3.1 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Là phương pháp tham khảo ý kiến chuyên môn của cán bộ lãnh đạo công ty như
giám đốc, phó giám đốc; cán bộ phòng kinh doanh; cán bộ kỹ thuật của công ty để có
thêm kiến thức và kinh nghiệm bổ ích trong việc đánh giá nhìn nhận hiện tượng.
4.3.2 Phương pháp so sánh
So sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được
lượng hoá có cùng một nội dung, tính chất tương tự để xác định xu hướng mức độ biến
động của chỉ tiêu. Trên cơ sở đó đánh giá được mặt phát triển hay yếu kém, hiệu quả
hay không hiệu quả để tìm ra giải pháp trong từng trường hợp
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
vi
Thông qua việc quan sát và tìm hiểu thực tế các số liệu thứ cấp và sơ cấp của
công ty, chúng tôi tiến hành so sánh giữa các loại hình tổ chức và các chỉ tiêu qua các
năm nghiên cứu.
4.4 Phương pháp SWOT
Phân tích SWOT là phương pháp xác định các điểm mạnh (ưu điểm), các điểm
yếu (nhược điểm) và đồng thời các cơ hội và thách thức mà công ty phải đối mặt
Đây là phương pháp phân tích một hiện tượng dưới quan điểm hệ thống từ bên
trong (S, W) ra bên ngoài (O, T) hay đồng thời kết hợp cả trong và ngoài. Là công cụ sử
dụng nhiều trong phân tích các hiện tượng dưới dạng định tính
Mạnh (Strengs): Khả năng bên trong hay chúng ta có cái gì?
Yếu (Weaknesses): Sự thiếu khả năng bên trong hay chúng ta thiếu cái gì?
Cơ hội (Opportunities): Những điểm tích cực từ hoàn cảnh bên trong hay chúng
ta có thể nhận được cái gì?
Thách thức (Threats): Những điểm tiêu cực từ bên ngoài hay chúng ta có thể mất
cái gì?
Các đặc tính Tích cực Tiêu cực
Bên trong
Có thể
kiểm soát
S - Mạnh
Tạo ra lợi thế cạnh tranh
W - Yếu
Khả năng xuất hiện vấn đề
Bên ngoài
Ngoài tầm
kiểm soát
O – Cơ hội
Tiềm năng cho tăng trưởng
T – Thách thức
Có thể cản trở sự tiến bộ
(Phạm Văn Hùng, 2008)
5. Kết cấu của chuyên đề:
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Thực trạng TTSP gạch đất sét nung tại công ty CP đầu tư và xây lắp
Tiền Hải.
Chương 3: Một số giải pháp - Kiến nghị.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
vii
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài
1.1.1 Một số lý luận cơ bản về thị trường
1.1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là một khái niệm được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác khau, tuy
nhiên nó luôn gắn với sản xuất hàng hoá. Đã có nhiều lĩnh vực đề cập đến khái niệm thị
trường:
Theo quan điểm kinh tế vĩ mô: Thị trường là nơi chứa đựng tổng cung và tổng cầu.
Theo quan điểm kinh tế cho rằng: Thị trường gồm tất cả các người mua, người
bán có hoạt động trao đổi với nhau các hàng hoá hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu cho
nhau.
Theo Marketing phát triển định nghĩa thị trường như sau: Thị trường bao gồm tất
cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và
có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó (Nguyễn Nguyên
Cự, 2005).
1.1.1.2 Chức năng của thị trường
* Chức năng thừa nhận: Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào việc sản phẩm hay
dịch vụ của các DN có được thị trường thừa nhận hay không. Nói cách khác sản phẩm,
dịch vụ được thị trường thừa nhận là điều kiện chúng thực hiện được giá trị của mình.
Thị trường thừa nhận các nội dung sau:
Thị trường thừa nhận chủng loại và cơ cấu chủng loại hàng hoá
Thị trường thừa nhận khối lượng sản phẩm hàng hoá
Thị trường thừa nhận giá cả.
Thị trường thừa nhận phương thức trao đổi đối với một loại hàng hoá hay dịch
vụ cụ thể nào đó.
* Chức năng thực hiện: Thông qua chức năng này hàng hoá và dịch vụ sẽ hoàn
thành quá trình chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ. Quá trình trao đổi hay
mua bán là quá trình chủ yếu diễn ra trên thị trường. Thông qua quá trình này sản phẩm
hay dịch vụ bằng quan hệ cung cầu sẽ hình thành nên giá cả, cơ sở để thanh toán và điều
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
viii
kiện để thoả mãn nhu cầu. Kết thúc một quá trình mua bán, chức năng thực hiện của thị
trường đã được hoàn thành.
* Chức năng điều tiết kích thích: Lợi nhuận kinh doanh chỉ hình thành thông qua
hoạt động thị trường, vì vậy thị trường vừa là môi trường vừa là động lực để điều tiết
kích thích các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
* Chức năng thông tin: Trên thị trường sẽ hình thành nên hệ thống thông tin đa
chiều. Hệ thống thông tin Marketing là hệ thống hoạt động thường xuyên của sự tương
tác giữa con người, thiết bị và phương tiện kỹ thuật dùng để thu thập, phân tích, đánh
giá và truyền đi những thông tin chính xác kịp thời và cần thiết để người phu trách lĩnh
vực Marketing sử dụng chúng với mục tiêu lập, tổ chức thực hiện, điều chỉnh kế hoạch
Marketing và kiểm tra hiệu quả của hoạt động Marketing.
1.1.2 Cơ sở lý thuyết về tiêu thụ sản phẩm.
1.1.2.1 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường đối với bất kỳ DN nào thì TTSP cũng là quan trọng
nhất. Nó là cầu nối trung gian giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Thông qua quá
trình này SP hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
và vòng chu chuyển vốn của DN được hoàn thành đồng thời tính hữu ích của hàng hóa
được thừa nhận
Tiêu thụ SP hàng hóa dịch vụ là quá trình đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng
thông qua hình thức mua bán (Nguyễn Tấn Bình, 2000).
Tiêu thụ SP là giai đoạn cuối cùng của quá trình SXKD, là yếu tố quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của DN bởi có tiêu thụ được thì mới thực hiện được quá trình tái
sản xuất.
1.1.2.2 Vai trò của TTSP đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành qua nhiều khâu kế tiếp nhau, mỗi
khâu có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời với các khâu khác. Các khẩu của hoạt
động sản xuất kinh doanh được ví như một mắt xích trong cả một hệ thống mắt xích
nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đựơc trơn tru. Mắt xích này được gắn
liền với mắt xích kia tạo ra sự chuyển động liên tục và cái này là tiền đề, bổ trợ cho cái
kia. TTSP là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, song nó lại rất quan trọng, cũng
có khi giữ vai trò quyết định các vấn đề trong quá trình tồn tại và phát triển của DN.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
ix
TTSP là khâu quyết định sự thành bại của DN. Lợi nhuận trong sản xuất kinh
doanh thu đựơc thông qua việc bán hàng do đó tiêu thụ là khâu quan trọng chi phối các
khâu nghiệp vụ khác. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN đòi hỏi phải được diễn
ra liên tục và nhịp nhàng giữa các chu kỳ kinh doanh khác. Hiệu quả kinh doanh đựơc
đánh giá bởi nhiều nhân tố trong đó có tốc độ quay vòng vốn. Tốc độ quay vòng vốn lại
phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tiêu thụ lại là tấm gương để phản chiếu tình hình kinh
doanh của các DN.
TTSP là khâu hết sức quan trọng đối với bản thân mỗi DN và đối với toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Thông qua tiêu thụ, tính hữu ích của sản phẩm mới được xác nhận một
cách hoàn toàn. Có tiêu thụ đựơc hàng hoá thì mới thu hồi được vốn có nghĩa là tăng
nhanh số lượng tiêu thụ là tăng nhanh vòng quay của vốn và lãi suất phải trả cho việc
vay vốn. Sau quá trình tiêu thụ DN không những thu tổng số tiền liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện được giá trị lao động thặng dư, thể hiện
được ở mức thu nhập thuần tuý của bản thân DN và của Nhà nước. Thông qua tiêu thụ,
lợi nhuận của DN được thực hiện đó là nguồn cơ bản nhằm bổ sung vào nguồn vốn tự
có của DN, giúp DN hình thành các quỹ của mình… Ngoài ra, TTSP tốt sẽ góp phần
thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội. Bới vì tổ chức tốt quá trình TTSP tức là
chủ động tạo ra nhu cầu, kích thích tiêu dùng từ đó có sự tác động trở lại quá trình tái
sản xuất, và cứ như thế nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của xã hội.
Đối với các DN sản xuất, tiêu thụ có vị trí quan trọng quyết định tới toàn bộ hoạt
động của DN. Bởi vì hiệu quả kinh doanh của DN được đánh giá thông qua khối lượng
hàng hoá được bán ra trên thị trường. Nếu tiêu thụ bị đình trệ thì mọi hoạt động khác
cũng bị đình trệ theo. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, nâng cao khối
lượng hàng hoá bán ra trên thị trường có nghĩa là DN đã nâng cao được khả năng cạnh
tranh trên thị trường, quyết định sự sồng còn của DN đồng thời cân đối cung cầu trên thị
trường va quyết định quá trình tái sản xuất của DN.
Hoạt động TTSP cũng thể hiện mục tiêu của DN là hướng tới khách hàng. Hoạt
động này tạo ra nhu cầu mà thực chất là nhu cầu về Sản phẩm hàng hoá một cách có hệ
thống và tìm cách làm tăng ý thức về nhu cầu đó. Chính hoạt động này đòi hỏi các DN
phải có tầm hiểu biết và nhanh nhạy với thị trường, đặc biệt là có đội ngũ kinh doanh
giỏi.
1.1.2.3 Ý nghĩa của hoạt động TTSP
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
x
TTSP hàng hoá là quá trình sản phẩm được vận động từ nơi sản xuất tới nơi tiêu
dùng. Đặc điểm lớn nhất của sản phẩm ở mỗi DN là nó được sản xuất ra và đem đi bán
nhằm thực hiện những mục tiêu hiệu quả đã định trước đó là:
* Mục tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó là chỉ tiêu quan
trọng phản ánh hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Có lợi nhuận thì mới tái sản xuất mở
rộng được mà lợi nhuận là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng (doanh thu tiêu thụ)
và tổng chi phí mà DN đã bỏ ra trong quá trình sản xuất.
Công tác TTSP tốt sẽ thu được lợi nhuận nhiều và không tiêu thụ được hoặc tiêu
thụ được ít thị lợi nhuận sẽ thấp, có thể hoà vốn hoặc lỗ. Đẩy mạnh công tác TTSP là
tăng nhanh vòng quay của vốn kinh doanh qua đó có khả năng tiết kiệm vốn tăng lợi
nhuận cho DN.
* Mục tiêu vị thế của DN
Vị thế của DN trên thị trường biểu hiện ở phần trăm doanh số hoặc số lượng
hàng hoá được bán ra so với số lượng hàng hoá của toàn bộ thị trường, con số này càng
lớn thì vị thế của DN càng lớn. Do đó TTSP có ý nghĩa quyết định đến vị thế của DN
trên thị trường. Tuy nhiên, để có được vị thế lớn trên thương trường trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt như hiện nay là rất khó khăn, nó đòi hỏi DN phải hết sức có gắng tận
dụng mọi thời cơ, cơ hội và vị thế của mình để dành lấy thị trường có như vậy mới đảm
bảo chiến thắng trong cạnh tranh.
* Mục tiêu an toàn
Hàng hoá là những vật phẩm được sản xuất ra để bán. Đối với các DN, sản phẩm
sau khi được sản xuất ra phải đem đi bán trên thị trường để thu tiền về thì DN mới có
khả năng tái sản xuất và quá trình kinh doanh mới diễn ra liên tục được. Nếu không bán
được hàng thì sẽ ứ đọng vốn và thua lỗ kéo dài sẽ dẫn tới phá sản. Vì vậy, TTSP sẽ giúp
cho quá trình kinh doanh được diễn ra liên tục và có hiệu quả nhằm đảm bảo an toàn
cho kinh doanh của DN.
* Mục tiêu đảm bảo tái sản xuất liên tục
Quá trình tái sản xuất đảm bảo gồm bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu
dùng. Quá trình này chỉ diễn ra liên tục khi các khâu của nó diễn ra trôi chảy, nhẹ nhàng.
TTSP nằm trong khâu phân phối và trao đổi do đó nó là một bộ phận hữu cơ của quá
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xi
trình tái sản xuất. Mặt khác, khi tái sản xuất diễn ra liên tục lại giúp cho các hoạt động
tiêu thụ diễn ra liên tục, tạo ưu thế trong cạnh tranh và mở rộng thị trường
1.1.2.4 Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
a. Nghiên cứu thị trường:
Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời các câu hỏi: Sản xuất những sản phẩm gì?
Sản xuất như thế nào? Sản phẩm bán cho ai?
Cụ thể hơn là hoạt động điều tra, nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường về các sản
phẩm hàng hóa kinh doanh để từ đó xác định được thị trường đang cần những sản phẩm
nào, đặc điểm dinh tế- kỹ thuật của nó ra sao, khả năng tiêu thụ về sản phẩm đó như thế
nào? Từ đó lựa chọn sản phẩm để doanh nghiệp tiến hành sản xuất.
b. Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Bằng hệ thống các chỉ tiêu, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm phải phản ánh được các
nội dung cơ bản về khối lượng tiêu thụ sản phẩm về hiện vật và giá trị có phân theo hình
thức tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu thị trường tiêu thụ và giá cả tiêu thụ... là căn
cứ để xây dựng các kế hoạch hậu cần vật tư, sản xuất - kỹ thuật - tài chính.
c. Chuẩn bị hàng hóa để xuất bán:
Thực hiện một số hoạt động liên quan đến sản phẩm, làm cho sản phẩm đó phù
hợp với quá trình vận chuyển lưu thông hàng hóa, nhu cầu tiêu dùng: tổ chức hoàn chỉnh
sản phẩm và đưa hàng về kho thành phẩm. Các nghiệp vụ về chuẩn bị hàng hóa: tiếp
nhận, phân loại, kiểm tra chất lượng sản phẩm, đính nhãn hiệu, bao gói, nhãn mác, sắp
xếp hàng hóa ở kho - phân loại và ghép đồng bộ hợp với nhu cầu tiêu dùng.
d. Lựa chọn các hình thức tiêu thụ sản phẩm:
Lựa chọn hình thức tiêu thụ phù hợp, theo đó sản phẩm vận động từ các doanh
nghiệp sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Căn cứ vào đặc điểm tính chất sản
phẩm, mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng, có thể chọn kênh
tiêu thụ trực tiếp (bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng) hay kênh tiêu thụ gián
tiếp (bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng có qua trung gian).
e. Tổ chức các hoạt động xúc tiến, yểm trợ cho công tác bán hàng:
Hoạt động xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm và thúc đẩy cơ hội
bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Yểm trợ là các hoạt động nhằm hỗ trợ,
thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt hoạt động tiêu thụ ở doanh nghiệp.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xii
Những nội dung chủ yếu của hoạt đông xúc tiến, yểm trợ cho công tác bán hàng: quảng
cáo, chào hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ, triển lãm,…
f. Tổ chức hoạt động bán hàng:
Nội dung của tổ chức hoạt động bán hàng là: chuyển giao sản phẩm và các giấy
tờ liên quan đến quyền sở hữu sản phẩm cho khách hàng, và thu tiền khách hàng, chọn
hình thức tiêu thu tiền như: trả tiền ngay, mua bán chịu, trả góp,…
g. Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích, đánh giá hoạt động
tiêu thụ sản phẩm nhằm xem xét khả năng mở rộng hay thu hẹp thị trường tiêu thụ, hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến
kết quả tiêu thụ...nhằm kịp thời có các biện pháp thích hợp để thúc đẩy quá trình tiêu thụ
sản phẩm.
Đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ có thể xem xét trên các khía cạnh như: tình
hình tiêu thụ sản phẩm theo khối lượng, mặt hàng, trị giá, thị trường và giá cả các mặt
hàng tiêu thụ.
1.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến TTSP
a. Các yếu tố thuộc môi trường ngành
Khách hàng: Để đẩy mạnh được quá trình TTSP, DN cần thiết phải hiểu được
các nhu cầu khách hàng hiện có hoặc tiềm ẩn, tâm lý hay hành vi tiêu dùng của họ đều
có thể khêu gợi, đáp ứng thoả mãn, thu hút họ.
Nhà cung cấp nguyên vật liệu: Đây là các công ty chuyên cung cấp các dầu vào
cho DN và cho đối thủ cạnh tranh.
Đối thủ cạnh tranh: Để có thể tồn tại, mở rộng thị trường sản phẩm DN cần phải
nghiên cứu, phát hiện chiến lược của dối thủ cạnh tranh, đánh giá các mặt mạnh, yếu
của họ, đánh giá cách họ phản ứng với mỗi hành động xúc tiến tiêu thụ của ta để có
những quyết định cần thiết.
Mối đe doạ xâm nhập: Khi có các đối thủ cạnh tranh mới xâm nhập sẽ xuất hiện
nguy có chia rẽ thị trường, cạnh tranh trở nên ác liệt hơn. Do đó với tư cách là một DN
tồn tại lâu hơn trên thị trường, DN cần phân tích điểm mạnh yếu của đối thủ mới tham
gia thị trường từ đó có chiến lược đối phó để bảo vệ thị trường, tạo hàng rào cản trở
xâm nhập.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xiii
Sản phẩm thay thế: Công ty cần phải phân tích về sản phẩm thay thế thông
thường, thay thế hoàn toàn trên cơ sở đó thấy được nguy cơ hay cơ hội có phản ứng kịp
thời, hợp lý (Dương Thế Hữu, 2005).
b. Các yếu tố bên trong DN
Mỗi DN đều có tiềm năng riêng nhất định, nó phản ánh thế lực của DN trong quá
trình xây dựng các chiến lược, kế hoạch TTSP, cần phải đánh giá tiềm năng đó một cách
chính xác để phục vụ cho việc khai thác thời cơ. Một chiến lược không được xây dựng
trên cơ sở tiềm năng đã đánh giá thì sẽ bị thất bại và kéo theo sau đó là các chi phí phát
sinh vô ích.
Uy tín của DN: Đây là tài sản vô hình, nó không dễ gì mà có trong thời gian
ngắn. Uy tín của DN sẽ giúp cho việc TTSP tốt hơn. Vì vậy các DN phải có sự cố gắng vươn
lên trong sản xuất kinh doanh để tạo lập uy tín và củng cố uy tín của mình.
- Sản phẩm và chất lượng sản phẩm của DN: Điều quan trọng đầu tiên đối với
người tiêu dùng cũng như đối với nhà sản xuất là chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản
phẩm có thể đưa DN tới đỉnh cao của danh lợi hoặc nó có thể đưa DN đến bờ vực của
sự phá sản, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của DN. Nó có thể giúp doanh nghệip
thu hút thêm khách hàng giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Giá cả sản phẩm: Giá cả là thông số ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu trên thị
trường. Giá cả được sử dụng như một vũ khí cạnh tranh nhưng nếu lạm dụng vũ khí giá
cả nhiều khi không thúc đẩy được tiêu thụ hàng hoá mà còn thiệt hại tới lợi nhuận, bởi
theo quan niệm của người tiêu dùng giá cả thể hiện chất lượng. Vì vậy nhiều khi đặt giá
thấp không phải là thúc đẩy được tiêu thụ.
Hoạt động của người bán hàng và người đại lý chiếm vị trí quan trọng, trung tâm
trong hoạt động tiêu thụ vì họ là người trực tiếp thực hiện việc bán hàng, thu tiền về.
Doanh thu của DN cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của họ.
1.1.2.6 Sản phẩm
Theo quan điểm cổ điển, SP là tổng hợp các đặc tính vật lý, hóa học, có thể quan
sát, được tập hợp trong một hình thức đồng bộ nhất là vật mang giá trị sử dụng. Trong
nền sản xuất hàng hóa, SP chứa đựng các thuộc tính của hàng hóa. Nó là sự thống nhất
của hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. Nói cách khác, SP với tư cách là một hàng
hóa nó không chỉ là sự tổng hợp các đặc tính hóa học vật lý, các đặc tính sử dụng mà
còn là vật mang giá trị trao đổi hay giá trị (Trương Đình Chiến, 2000).
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xiv
Chu kỳ sống của SP là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể từ
khi sản phẩm được tung ra thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thị trường
(Nguyễn Nguyên Cự, 2005).
Chu kỳ sống của SP có bốn giai đoạn: Giai đoạn tung SP ra thị trường; Giai đoạn
phát triển; Giai đoạn chín ; Giai đoạn suy thoái.
1.1.2.7 Giá cả sản phẩm
Trong nghiên cứu kinh tế, giá được hiểu là “sự biểu hiện bằng tiền của giá trị
hàng hóa”. Trong kinh doanh và quản trị giá, giá cả được mô tả đơn giản và cụ thể hơn
“giá là khoản tiền phải trả cho một thứ gì đó” (Nguyễn Xuân Giang,2005).
Giá là số tiền biểu hiện giá trị của một sự chuyển đổi nào đó: giá mua thể hiện sự
chuyển đổi lúc đầu vào, giá bán thê hiện sự chuyển đổi lúc đầu ra (Nguyễn Phú Giang, 2005).
Đối với người bán, giá cả là khoản tiền trù tính có thể nhận được từ phía người
mua sau khi chuyển cho họ quyền sở hữu hay sử dụng hàng hóa và dịch vụ đó. Còn đối
với người mua thì giá cả luôn là chỉ số đầu tiên để đánh giá phần được với chi phí mà
họ bỏ ra để có được quyền sở hữu hay sử dụng hàng hóa đó. (Nguyễn Nguyên Cự,
2005).
Phương pháp định giá:
- Phương pháp định giá theo giá thành
Giá bán = Chi phí bình quân 1 đơn vị SP + Lãi dự kiến
Lãi dự kiến: có thể xác định theo giá thành SP hoặc theo doanh số bán
Phương pháp này rất thích hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Phương pháp định giá theo lợi nhuận mục tiêu
Giá bán theo lợi
nhuận mục tiêu
=
chi phí một đơn vị
sản phẩm
+
Lợi nhuận mong muốn
tính trên vốn đầu tư
Số sản phẩm
Phương pháp này sử dụng có hiệu quả khi doanh nghiệp dự đoán chính xác khối
lượng tiêu thụ.
- Định giá theo cạnh tranh
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xv
Khi định giá cho sản phẩm của mình các doanh nghiệp phải dựa vào giá của đối
thủ cạnh tranh để quyết định, ít quan tâm đến chi phí và nhu cầu.
1.1.2.8 Kênh phân phối sản phẩm
Có thể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động
nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất. Tất
cả những người tham gia vào trong kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh,
các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác
nhau:
- Nhà bán buôn.
- Nhà bán lẻ
- Đại lý và môi giới
- Nhà phân phối
Các loại kênh phân phối:
Sơ đồ 2.1. Mô hình kênh phân phối
- Kênh không cấp còn gọi là kênh trực tiếp: Ở kênh này, nhà sản xuất bán hang
trực tiếp cho người tiêu dùng, không qua trung gian.
- Kênh 1 cấp: có một trung gian là các nhà bán lẻ.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xvi
Khách hàng tiêu dùng
Nhà bán lẻ
Đại lý
Nhà bán buôn
Nhà SXNhà SX
Nhà SX
Nhà SX
- Kênh 2 cấp: Có hai trung gian là nhà bán buôn và nhà bán lẻ.
- Kênh 3 cấp: Có ba cấp trung gian là đại lý đến nhà phân phối và nhà bán lẻ.
1.1.2.9 Chiến lược chiêu thị
Chiêu thị là những nỗ lực của doanh nghiệp để thông tin, thuyết phục, nhắc nhở và
khuyến khích khách hàng mua sản phẩm, cũng như hiểu rõ về doanh nghiệp
Chiến lược chiêu thị bao gồm:
-Hỗn hợp Chiêu thị ( promotional - mix)
-Quảng cáo (Advertising): là việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để
truyền tin tức về chất lượng hay ưu điểm của sản phẩm đến khách hàng.
Các phương tiện quảng cáo: Báo chí, tạp chí, radio, TV, quảng cáo ngoài trời,
internet, thư trực tiếp.
-Khuyến mãi (Sales Promotion): Khuyến mãi là những khích lệ ngắn hạn để
khuyến khích việc mua một sản phẩm hay dịch vụ.
Các công cụ khuyến mãi dành cho người tiêu dung: Tặng hàng mẫu, cuống phiếu,
giá trọn gói, quà tặng, các giải thưởng, xổ số, rút thăm, phần dành riêng cho khách hàng
quen thuộc,….
-Quan hệ công chúng (Public Relations): là những hoạt động truyền thông để xây
dựng và bảo vệ danh tiếng của công ty, của sản phẩm trước các giới công chúng.
Công cụ chủ yếu của quan hệ công chúng: Tổ chức sự kiện, tài trợ, tin tức, bài nói
chuyện, hoạt động công ích,….
- Bán hàng cá nhân (Personal selling): Là sự giao tiếp mặt đối mặt của nhân viên
bán hàng với khách hàng tiềm năng để trình bày, giới thiệu và bán sản phẩm
Các bước trong quá trình bán hàng cá nhân: Tiếp cận, truyền đạt thông tin, thuyết
phục, nhắc nhở, bán hàng, sau khi bán hàng.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xvii
- Marketing trực tiếp (Direct marketing): Là việc sử dụng điện thoại, thư, email và
những công cụ tiếp xúc khác( không phải là người) để giao tiếp và dẫn dụ một đáp ứng từ
khách hàng riêng biệt hoặc tiềm năng
Công cụ của marketing trực tiếp: Catalog, thư, email, điện thoại, TV, radio.
1.2 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu đề tài
1.2.1 Giới thiệu về thị trường gạch đất sét nung ở Việt Nam
Theo thống kê của Hội vật liệu xây dựng Việt Nam, tại Việt Nam, VLXD chủ
yếu là gạch đất sét nung, chiếm tới 91,5% tổng lượng gạch xây được sử dụng. Trong số
này, gạch sản xuất bằng công nghệ lò nung Tuynel mới chiếm khoảng 40%, số còn lại
được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công. Cũng theo thống kê của hội này,
nhu cầu TTSP gạch đất sét nung của nước ta tăng lên rất nhanh: năm 2000 là khoảng 19
tỷ viên, năm 2005 khoảng 31 tỷ viên (Nguyễn Thành Luân, 2006), và năm 2008 là 42 tỷ
viên (TTXVN,2008). Hiện có nhiều công ty sản xuất và kinh doanh sản phẩm gạch đất
sét nung công nghệ Tuynel với số lượng sản xuất ngày càng nhiều. Tính trên cả nước đã
có khoảng gần 200 công ty, nhà máy, xí nghiệp sản xuất gạch đất sét nung công nghệ
Tuynel đã và đang hình thành như: Hạ Long 1 – Viglacera, Thạch Bàn, Giếng Đáy,
Bình Định, Bình Dương, Long Thành Đồng Nai, An Lộc, Kiên Giang, Côn Sơn,
Dacom,… với tổng công suất trên 24 tỷ viên/năm.
Khi mà thu nhập và trình độ dân trí không ngừng tăng lên thì đòi hỏi về chất
lượng SP cũng tăng lên rất nhanh. Không giống trước đây, các công trình chủ yếu sử
dụng sản phẩm của các lò gạch thủ công thì hiện nay thị trường đòi hỏi những SP đảm
bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn khi sử dụng, cùng với nó là kiểu dáng, kích
thước, mẫu mã đa dạng để đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ của công trình. Do đó, các DN
luôn chú trọng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng SP của đơn vị mình. Cuộc cạnh
tranh giành giật thị trường giữa các hãng hiện nay đang diễn ra rất gay gắt mạnh mẽ.
Chính vì thế việc tạo ra lợi thế cạnh tranh với các đối thủ là điều mà các nhà sản xuất
kinh doanh gạch đất sét nung luôn quan tâm.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xviii
1.2.2 Một số nghiên cứu trước đây về hoạt động tiêu thụ sản phẩm gạch
1. Nghiên cứu “Phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung tại Công
ty Cổ phần Hạ Long 1 – Viglacera”, (Nguyễn Thành Luân, 2006), nghiên cứu tập trung
đi vào tìm hiểu tình hình tiêu thụ của một số sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty
sản xuất theo công nghệ lò đứng và lò Tuynel về số lượng sản xuất, sản lượng tiêu thụ,
thị trường tiêu thụ, giá bán sản phẩm, hệ số tiêu thụ,…
Nghiên cứu cũng tập trung phân tích các nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
như hoạt động nghiên cứu dự báo thị trường, tổ chức thực hiện chiến lược sản phẩm,
chiến lược giá cả, chiến lược chiêu thị,…
2. Nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu
thụ sản phẩm ở Công ty gạch ốp lát Thái Bình”, (Dương Thế Hữu, 2005) đã tập trung
vào thực trạng hệ thống kênh phân phối sản phẩm của Công ty như số đại lý ở các khu
vực thị trường, doanh thu từ các khu vực thị trường, sản lượng tiêu thụ qua các kênh
phân phối,…
Nghiên cứu cũng đã làm rõ các hoạt động tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm của
Công ty như thực trạng về giá cả, phân phối, các hoạt động hỗ trợ bán hàng…
Hai nghiên cứu trên đã đánh giá được kết quả trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm,
những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại hạn chế. Tuy nhiên, lại chưa đánh giá
được hiệu quả trong tiêu thụ sản phẩm, cũng như chưa phân tích để thấy những điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong hoạt động TTSP của Công ty trong thời gian
qua cũng như trong tương lai. Đây chính là những vấn đề mà nghiên cứu của tôi bổ
sung.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xix
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG –KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
TÌNH HÌNH TTSP GẠCH ĐẤT SÉT NUNG TẠI CÔNG TY
CP ĐẦU TƯ & XÂY DỰNG TIỀN HẢI
2.1. Tổng quan về công ty
2.1.1 Vị trí địa lý của công ty
Nằm trên quốc lộ 39B, km 0 + 700 từ Thị trấn Tiền Hải đi khu nghỉ mát Đồng
Châu, công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải thuộc địa bàn quản lý của thị trấn
Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Với vị trí nằm trên khu trung tâm của thị trấn,
gần với khu công nghiệp Tiền Hải nên công ty có điều kiện thuận lợi để phát triển sản
xuất, trao đổi buôn bán với các huyện và tỉnh khác. Lợi thế này tạo ra sức mạnh cạnh
tranh lớn cho công ty. Đây là một điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc TTSP, thúc
đẩy sản xuất phát triển.
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải tiền thân là công ty xây lắp Tiền
Hải được thành lập theo quyết định số 444 ngày 18/09/1985 của UBND tỉnh Thái Bình
thực hiện nghị định số 388 ngày 20/11/1991 của Chính phủ nhằm sắp xếp ổn định lại
các DN Nhà nước. Công ty xây lắp Tiền Hải được thành lập lại DN Nhà nước theo
thông báo của Bộ xây dựng số 364 ngày 7/01/1992, được UBND tỉnh ra Quyết định số
08 ngày 7/01/1993 và được trọng tài kinh tế cấp giấy phép kinh doanh số 106763 ngày
04/03/1993. Ngày 04/05/2005 UBND tỉnh Thái Bình ra quyết định số 979 chuyển công
ty xây lắp Tiền Hải là DN Nhà nước thành công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền
Hải, được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Bình cấp giấy phép đăng ký kinh doanh số
0803000249 ngày 29/11/2005. Công ty có tên giao dịch là “Tien Hai construction and
investment join stock company”.
Ngành nghề kinh doanh chính của công ty là sản xuất các sản phẩm gốm sứ, vật
liệu chịu lửa; mua bán vật liệu xây dựng; xây dựng các công trình dân dụng, công
nghiệp, giao thông thuỷ lợi; lắp đặt trang thiết bị cho các công trình xây dựng tư vấn đấu
thầu, tư vấn thẩm định thiết kế công trình, theo dõi giám sát thi công. Từ tháng 04/2000
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xx
được sự cho phép của UBND và Sở xây dựng tỉnh Thái Bình, công ty xây lắp Tiền Hải
đã mạnh dạn đầu tư xây dựng hai nhà máy sản xuất gạch đất sét nung với công suất thiết
kế là 30.000.000 viên/năm. Tổng số vốn đầu tư cho xây dựng công trình ban đầu là 20
tỷ đồng. Toàn bộ dây chuyền công nghệ sản xuất gạch đất sét nung được nhập từ Nga.
Ngày 08/04/2001 dây chuyền được xây dựng xong và chính thức đi vào chạy thử thành
công. Có thể nói công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải là một DN được hình
thành trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên sau 8 năm sản xuất
kinh doanh cho thấy rằng công ty đã phát triển và đứng vững trên thị trường, sản phẩm
của công ty có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh Thái Bình góp phần tạo việc làm
cho nhiều lao động tại địa phương.
2.1.3 Tình hình lao động của công ty
Tổng số lao động của công ty qua 3 năm (2007 – 2009) không có sự biến động
lớn, năm 2007 là 364 người, năm 2008 giảm xuống chỉ còn 350 người, đến năm 2009 số
lượng lao động của công ty là 366 người, tốc độ tăng bình quân qua 3năm là 0,27%. Cụ
thể, xét theo tính chất lao động, công nhân sản xuất chiếm tỷ lệ cao nhất do đặc thù của
công ty đòi hỏi nhiều lao động chân tay như công nhân bốc xếp, công nhân vận chuyển
nhưng lao động sản xuất của công ty những năm qua lại có xu hướng giảm, bình quân
qua 3 năm giảm 0,5%. Nguyên nhân do trên địa bàn có nhiều công ty mới thành lập, đây
là lý do nhiều công nhân có kinh nghiệm và tay nghề bỏ công ty qua các công ty khác
làm ( họ bị hấp dẫn về thu nhập). Số lượng nhân viên phục vụ của công ty đựơc duy trì
ở mức ổn định với 12 người nên không có sự biến động gì. Đồng thời, cán bộ quản lý
cũng có sự biến động, trung bình qua 3 năm cán bộ quản lý của công ty tăng 4,53%, lý
do của sự biến động này là những năm gần đây sản xuất của Công ty đã đi vào ổn định,
sản lượng sản xuất ngày càng tăng do đó đòi hỏi những cán bộ có trình độ để quản lý,
giám sát công việc. Cùng với sự biến động về số lượng lao động thì chất lượng lao động
cũng có sự thay đổi. Cụ thể ở 2 nhóm đại học, cao đẳng và công nhân kỹ thuật và lao
động phổ thông số lượng lao động có trình độ đại học và cao đẳng tăng lên do nhu cầu
số lượng cán bộ quản lý của Công ty tăng, còn số lượng lao động phổ thông và công
nhân kỹ thuật giảm đi đã được phân tích ở trên.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xxi
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng lao động của công ty qua 3 năm 2007 – 2009
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 Tốc độ phát triển (%)
SL
(người)
CC
(%)
SL
(người)
CC
(%)
SL
(người)
CC
(%)
07/06 08/07 BQ
Tổng số LĐ 364 100,0
0
350 100,0
0
366 100,0
0
96,15 104,5
7
100,27
I. Phân theo tính chất LĐ
1. CN sản xuất 298 81,87 288 82,29 295 80,60 96,64 102,4
3
99,50
2. Nhân viên phục vụ 12 3,30 12 3,43 12 3,28 100,0
0
100,0
0
100,00
3. CB quản lý 54 14,83 50 14,28 59 16,12 92,59 118,0
0
104,53
II. Theo trình độ chuyên môn
1. Đại học 12 3,30 12 3,43 14 3,83 100,0
0
116,6
7
108,01
2. Cao đẳng 0 0 2 0,55 _ _ _
3. Trung cấp 22 6,04 22 6,29 22 6,01 100,0
0
100,0
0
100,00
4. CNKT và LĐ phổ thông 330 90,66 316 90,29 328 89,62 95,76 103,8
0
9970
III. Theo thời gian ký kết hợp
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
22
đồng
1. Ngắn hạn ( HĐ) 153 42,03 130 37,14 140 38,25 84,97 107,6
9
95,66
2. Dài hạn (Biên chế) 211 57,97 220 62,86 226 61,75 104,2
7
102,7
3
103,49
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
23
2.1.4 Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty
Là một DN có quy mô nhỏ nên tổng nguồn vốn của công ty cũng không lớn, cụ
thể: năm 2007 là 42.522,74 triệu đồng, năm 2008 là 42.154,33 triệu đồng và năm 2009 là
54.211,88 triệu đồng, trung bình qua 3 năm nguồn vốn của công ty tăng 12.91%. Nguyên
nhân là do công ty mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nên nhu cầu về vốn
của công ty tăng do đó công ty vay thêm từ các DN khác và từ ngân hàng.
Về mặt tài sản của công ty, tài sản cố định và đầu tư dài hạn luôn chiếm tỷ lệ cao
và luôn duy trì ở mức trên 60% tổng số tài sản. Tài sản cố định của công ty tập trung chủ
yếu vào các dây chuyền sản xuất. Qua 3 năm nghiên cứu tài sản cố định và đầu tư dài hạn
tăng bình quân 11,16%. Với một cơ cấu tài sản như vậy sẽ đảm bảo cho DN phát triển
một cách vững chắc về sau. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm khoảng trên 30%
tổng số tài sản, trong đó hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng cao nhất. Năm 2007, hàng
tồn kho chiếm tới 74,46%, năm 2008 chiếm 66,53% và năm 2009 là 70,87%. Bình quân
qua 3 năm giá trị hàng tồn kho tăng 13,83%, đây là khó khăn trong tiêu thụ công ty cần
tìm giải pháp khắc phục. Trong tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, biến động lớn nhất
là các khoản phải thu, đó là các khoản hàng bán chịu chưa đòi được hoặc các công trình
xây dựng chưa thanh toán được. Bình quân qua 3 năm nghiên cứu số phải thu tăng
37,24%, điều này cho thấy công ty chưa khắc phục được tình trạng bị các đơn vị khác
chiếm dụng vốn trong khi vốn vẫn phải đi vay từ ngân hàng và các đơn vị khác và chịu lãi
suất.Về nguồn hình thành tài sản, vốn chủ sở hữu của công ty chiếm tỷ lệ cao trên dưới
60% và trong 3 năm qua không ngừng tăng lên, bình quân qua 3 năm tăng 13,45%. Với
nguồn vốn chủ sở hữu này giúp công ty ít chịu ảnh hưởng bởi các tác động tài chính, đảm
bảo cho quá trình SXKD phát triển tốt. Trong nguồn hình thành tài sản thì nợ phải trả của
công ty cũng có xu hướng tăng lên, bình quân qua 3 năm nợ phải trả của công ty tăng bình
quân 12,04%. Trong đó nợ dài hạn tăng mạnh nhất, bình quân tăng 32,71% nguyên nhân
năm 2008 công ty vay của Ngân hàng để đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất gạch Nem
tách. Nợ ngắn hạn cũng có xu hướng tăng nguyên nhân do công ty chưa thanh toán cho các
nhà cung cấp.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
24
Bảng 2.2 Tình hình tài sản và vốn của Công ty qua 3 năm 2007 – 2009
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 So sánh (%)
SL
(Tr.đ)
CC
(%)
SL
(Tr.đ)
CC
(%)
SL
(Tr.đ)
CC
(%)
07/06 08/07 BQ
I. Tài sản 42.522,2
7
100,0
0
42.154,3
3
100,0
0
54.211,8
8
100,0
0
99,13 128,6
0
112,91
1. TSLĐ và ĐTNH 13.248,8
4
31,16 12.853,3
5
30,49 18.037,8
1
33,27 97,01 140,3
4
116,68
- Tiền 1.806,52 13,64 1.751,70 13,63 2.284,23 12,66 96,97 130,4
0
112,45
- Phải thu 1.577,09 11,90 2.550,01 19,84 2.970,37 16,47 161,6
9
116,4
8
137,24
- Hàng tồn kho 9.865,23 74,46 8.551,64 66,53 12.783,2
1
70,87 86,68 149,4
8
113,83
2. TSCĐ và ĐTDH 29.273,4
3
68,84 29.300,9
8
69,51 36.174,0
7
66,73 100,0
9
123,4
6
111,16
II. Nguồn vốn 42.522,2
7
100,0
0
42.154,3
3
100,0
0
54.211,8
8
100,0
0
99,13 128,6
0
112,91
1. Nợ phải trả 16.242,9
8
38,20 18.134,2
5
43,02 20.389,9
8
3761 111,6
4
112,4
4
112,04
- Nợ ngắn hạn 10.834,9
8
66,71 9.255,14 51,04 10.865,1
7
53,29 85,42 117,4
0
100,14
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
25
- Nợ dài hạn 5.408,00 33,29 8.879,11 48,96 9.524,81 46,71 164,1
8
107,2
7
132,71
2. Vốn chủ sở hữu 26.279,2
9
61,80 24.020,0
8
56,98 33.821,9
0
62,39 91,40 140,8
1
113,45
Nguồn: Phòng tài chính - kế toán
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
26
2.1.5 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty
Nắm bắt được nhu cầu thị trường, công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
mạnh dạn đầu tư công nghệ sản xuất gạch đất sét nung lò Tuynel được coi là tiên tiến nhất
ở Việt Nam hiện nay. Tính đến ngày 31/12/2008 tổng giá trị hai dây chuyền của công ty
là 31.250 triệu đồng trong đó máy móc thiết bị là 24.450 triệu đồng với công suất hiện tại
là 45.000.000 viên/năm, nhà xưởng trị
giá 6.800 triệu đồng, hệ thống nhà xưởng được thiết kế một cách hợp lý và khoa học phục
vụ sản xuất một cách tốt nhất.
Các phương tiện vận chuyển hàng hoá được công ty trang bị khá đầy đủ với 8 xe
chở hàng có công suất 6 tấn/xe. Ngoài số xe vận chuyển tự mua sắm công ty còn hợp
đồng vận chuyển với tư nhân nhằm đảm bảo cung cấp sản
phẩm kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, công ty còn mua sắm các trang
thiết bị, các đồ dùng văn phòng cho các phòng ban nhu máy vi tính, máy in, máy fax, điện
thoại… tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý của các phòng ban và công ty.
2.1.6 Bộ máy tổ chức quản lý
Sơ đồ 3.1 sẽ cho ta thấy toàn bộ bộ máy tổ chức quản lý của công ty.
Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức quản lý của công ty
2.2 Thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần đầu tư và xây
dựng Tiền Hải
2.2.1 Quy trình sản xuất gạch đất sét nung của công ty
Từ tháng 4 năm 2001 công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải mạnh dạn đầu
tư 2 dây truyền sản xuất gạch Tuynel hiện đại với công suất thiết kế 30.000.000 viên/năm.
Để có một sản phẩm cuối cùng công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải đi theo một
quy trình chặt chẽ như sau:
Đất sét sau khi mua về được đưa vào ủ với thời gian từ 3 đến 6 tháng để đảm bảo
cho đất đã được phong hoá và trở thành nguyên liệu. Nguyên liệu được đưa vào máy nạp
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
GIÁM ĐỐC
Phó GĐ phụ trách
KD
Phó GĐ phụ trách
sản xuất
Phòng
kinh
doanh
Phòng
tổ chức
hành
chính
Phòng
kỹ
thuật
Đội 1 Đội 2
Đội 3
Nhà máy 2Nhà máy 1
Phòng
tài chính
kế toán
27
liệu và chuyển lên máy cán thô để loại bỏ những tạp chất trong nguyên liệu như gạch, sỏi
to. Tiếp đó, nguyên liệu được đưa đến máy nhào hai trục, tại đây nguyên liệu được trộn
thêm than đá với tỷ lệ 135kg than đá với 1,8 khối đất sét. Nguyên liệu mới được đưa tới
máy cán mịn, máy nhào một trục, qua buồng hút chân không để viên gạch mộc sau khi ra
ngoài đã được hút bớt nước.
Tiếp theo giai đoạn tạo hình sản phẩm, viên gạch mộc được chuyển ra phơi trong
nhà kính từ 3 – 5 ngày, sau khi phơi viên gạch mộc đảm bảo độ ẩm từ 10 – 14%. Sau đó
viên gạch mộc được xếp lên xe goòng và đưa vào lò sấy, sau khi sấy độ ẩm trong viên
mộc chỉ còn 6 – 8%. Viên mộc sau khi sấy được chuyển vào lò nung. Đây là giai đoạn
quan trọng nhất trong quy trình sản xuất vì nó quyết định rất nhiều đến chất lượng gạch.
Lò Tuynel có dạng đường hầm thẳng, có chế độ làm việc liên tục, sử dụng các
dạng nhiên liệu khác nhau, hiện nay công ty đang sử dụng than để nung Sản phẩm. Sản
phẩm nung được đặt trên các toa xe goòng chuyển động ngược chiều với chiều chuyển
động của khí nóng. Lò có kích cỡ rất khác nhau, dài từ 94-150 m, lò sấy dài 58 – 62m,
ống khói cao 25m. Lò có những bộ phận hồi lưu và trộn khí, tránh sự phân lớp khí làm
nhiệt độ lò không đồng đều. Lò được chia làm 3 vùng: vùng đốt nóng, vùng nung và vùng
làm nguội. Không khí lạnh dần được đốt nóng lên sau khi làm nguội sản phẩm và được
chuyển sang vùng nung tham gia quá trình cháy. Lượng khói thải từ lò nung được tận
dụng đưa sang lò Tuynel sấy mộc nhằm tiết kiệm than. Điều này khiến cho lượng bụi thải
ra rất ít và nhiệt thải ra ở mức tối thiểu. Nhiệt độ của khí thải khi ra khỏi lò sấy chỉ còn 40
– 50
0
C không ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động. Khói lò được thải ra ngoài qua ống
khói nhờ quạt hút. Sự tuần hoàn của khí thải cho phép tạo ra chế độ nhiệt và chế độ ẩm
dịu hơn, làm cho nhiệt độ đồng đều trên tiết diện lò, giảm tác động có hại của không khí
lạnh lọt vào. Trong quá trình nung, nhiệt độ trong lò luôn đảm bảo từ 850 – 1050
0
C và
thời gian nung từ 4 – 5h (La Thu, 2008).
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
28

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×