Tải bản đầy đủ

Tiểu luận chuyên viên chuyên viên chính Xử lý tình huống vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề mê tín dị đoan có ảnh hưởng, liên quan đến môi trường văn hoá, y tế

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH X
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH X
Tiểu luận
Đề tài: "Xử lý tình huống vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hành nghề mê tín dị đoan có ảnh hưởng, liên quan đến môi trường
văn hoá, y tế trên địa bàn Huyện Thuận An Tỉnh Bình Dương”.
Họ và tên:
Đơn vị:
Lớp:
A. MỞ ĐẦU:
Trong cuộc sống, khi gặp những khó khăn, phiền muộn nhưng chưa tìm ra
một lối thoát. Niềm hy vọng lúc này của nhiều người chính là sự tin tưởng vào một
thế lực siêu phàm nào đó để an ủi bản thân. Người ta gọi là sự tín ngưỡng. Vì vậy
có thể nói tín ngưỡng chính là niềm tin, sự tin tưỡng vào một đấng siêu nhiên nhất
định nào đó.
Còn tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn
năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến
đời sống chính trị, văn hoá, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập
quán của nhiều dân tộc, quốc gia.
Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí địa
lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong

mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập
các luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế giới.
Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em. Mỗi
dân tộc, kể cả người Kinh (Việt) đều lưu giữ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo
riêng của mình. Người Việt có các hình thức tín ngưỡng dân gian như thờ cúng
ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc,
thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng
bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thuỷ ( còn gọi là tín
ngưỡng sơ khai ) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.
Tín ngưỡng dân gian: Với quan niệm cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh
hồn, nên người xưa đã thờ rất nhiều thần linh, đặc biệt là những sự vật có liên quan
đến nông nghiệp như trời, trăng, đất, rừng, sông, núi… để được phù hộ. Đối với
các dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc có hình thái tín ngưỡng riêng của mình. Tuy
nhiên, đặc trưng nhất là các hình thái tín ngưỡng nguyên thủy và tín ngưỡng dân
gian ngày nay còn lưu giữ được trong các nhóm dân tộc như nhóm Tày - Thái,
nhóm Hmông - Dao; nhóm Hoa - Sán Dìu - Ngái; nhóm Chăm - Ê đê - Gia Rai;
nhóm Môn - Khơ me.
Bên cạnh đó, một phong tục, tập quán lâu đời phổ biến nhất của người Việt
và một số dân tộc thiểu số khác là việc thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ những người
đã mất. Ở các gia đình người Việt, nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên và việc cúng
giỗ, ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân rất được coi trọng. Bên cạnh việc cúng
giỗ tổ tiên ở từng gia đình, dòng họ, nhiều làng ở Việt Nam có đình thờ Thành
hoàng. Tục thờ Thành hoàng và ngôi đình làng là đặc điểm độc đáo của làng quê
Việt Nam. Thần Thành hoàng được thờ trong các đình làng có thể là các vị thần
linh hoặc là những nhân vật kiệt xuất có nhiều công lao to lớn như những ông tổ
làng nghề hoặc anh hùng dân tộc có công "khai công lập quốc", chống giặc ngoại
xâm. Ngoài ra, người Việt còn thờ các dạng thần như thần bếp, thần thổ công…
Ở Việt Nam có mặt hầu hết các tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ, chức sắc,
nhà tu hành của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo hay một số tôn giáo bản
địa như Cao Đài, Hòa Hảo.
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của công dân
cũng được đề cập trong Bộ luật Dân sự, được bảo vệ bằng pháp luật và được cụ
thể hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng ở mức độ cao hơn, hoàn
thiện hơn. Sau 5 năm thực hiện Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999 về
các hoạt động tôn giáo đã được thay thế bằng Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo do
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI thông qua ngày 18/6/2004 và Chủ tịch nước
ký Lệnh công bố ngày 29/6/2004.
Quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của công dân Việt Nam
cũng được quy định trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế. Hiến pháp năm
1992 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 70 ghi rõ: " Công dân
có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các
tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn
giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo
hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà
nước".
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được cụ thể hóa trong nhiều
văn bản pháp quy khác. Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo có hiệu lực từ
15/11/2004, đã thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn
giáo của Nhà nước Việt Nam, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo. Mọi công dân - không phân biệt có hoặc không có tín ngưỡng,
tôn giáo - đều bình đẳng trước pháp luật; có quyền theo hoặc không theo một tôn
giáo nào; được bày tỏ đức tin tôn giáo của mình; được thực hành các nghi thức thờ
cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt phục vụ lễ nghi tôn giáo,
học tập giáo lý, đạo đức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo đều bình đẳng trước pháp
luật. Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo hộ cơ sở vật chất,
tài sản của cơ sở tín ngưỡng tôn giáo như chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất,
điện, đền, trụ sở của tổ chức tôn giáo, trường lớp tôn giáo, kinh bổn và các đồ
dùng thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 01/3/2005, Chính phủ đã ban hành
Nghị định 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn một số điều trong Pháp lệnh Tín ngưỡng,
Tôn giáo. Đối với đạo Tin lành, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 01/2005/CT-
TTg ngày 4/2/2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành nhằm tạo điều kiện
cho hoạt động của các tín đồ, chức sắc đạo Tin lành.
Tham gia vào các sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam có khoảng 20 triệu người,
gần 62.500 chức sắc, nhà tu hành và 22.354 cơ sở thờ tự tôn giáo; các cơ sở đào
tạo tôn giáo được mở rộng. Hiện nay, tại Việt Nam có 10 trường Đại học Tôn giáo,
3 Học viện Phật giáo, 6 Đại Chủng viện Thiên chúa giáo, 1 Viện Thánh kinh thần
học của Tổng liên hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, 40 trường đào tạo các giáo
chức tôn giáo ở các cấp độ khác nhau, các ấn phẩm tôn giáo, nhất là kinh sách
được xuất bản theo yêu cầu của các tôn giáo.
Tín đồ tôn giáo hoàn toàn tự do trong việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo,
bày tỏ và thực hành đức tin tôn giáo của mình. Chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo
được tự do trong việc thực hành các hoạt động tôn giáo theo giáo luật. Việc phong
chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc được thực hiện theo quy định của giáo
hội. Các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân trong những năm
qua đều có sự phát triển về số lượng cơ sở giáo hội, về tín đồ, chức sắc nhà tu
hành, về việc xây dựng mới hoặc tu bổ các cơ sở thờ tự, bảo đảm kinh sách, các
hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và giáo lý, giáo luật. Các chức sắc,
nhà tu hành được tham gia học tập, đào tạo ở trong nước và nước ngoài hoặc tham
gia các sinh hoạt tôn giáo ở nước ngoài. Nhiều tổ chức tôn giáo nước ngoài đã vào
giao lưu với các tổ chức tôn giáo Việt Nam.
Những sinh hoạt tôn giáo tập trung, các nghi lễ tập thể có tính bắt buộc của
giáo luật các tôn giáo được tôn trọng. Một số lễ hội của các tôn giáo được tổ chức
rầm rộ với quy mô lớn như Lễ hội Nô - en, Lễ Phật Đản, Lễ hội Chùa Bà…trở
thành sự kiện quan trọng không chỉ của riêng đồng bào tôn giáo mà còn là ngày
hội chung của toàn dân, lôi cuốn hàng vạn người tham gia.
Đồng thời chúng ta biết rằng ngày nay, khoa học ngày càng phát triển hướng
con người đến lối sống tiện nghi, văn minh, hiện đại. Bên cạnh những tư tưởng
tiến bộ về tôn giáo, tín ngưỡng, thì một bộ phận nhân dân vẫn còn mang tư tưởng
lạc hậu, mê tín dị đoan. Do nhận thức kém, nhiều bệnh nhân vẫn tin vào phép màu
của trò chữa bệnh đồng bóng, bằng bùa chú, lấy “vong” hay lên đồng.
Lợi dụng sự thiếu hiểu biết khoa học của một bộ phận người dân, một số
người đã thực hiện hành vi dụ dỗ trị bệnh bằng mê tín nhằm trục lợi bất chính.
Thời gian gần đây, nhiều người trên địa bàn một số phường, xã thuộc thị xã
Thủ Dầu Một đã trở thành nạn nhân của “thầy” cốt H. (tức bà Phạm Thị B.) thuộc
ấp Bình Phước A, xã Bình Chuẩn, huyện Thuận An. Hậu quả là “tiền mất tật
mang” và kèm theo nhiều hệ lụy khác!
Trước sự “báo động” các thực trạng hoạt động dịch vụ tín ngưỡng và mê tín
dị đoan luôn diễn biến phức tạp. Là một người làm công tác có liên quan đến nền
văn hóa, tôn giáo và tự do tín ngưỡng tôi quan tâm và chọn đề tài: “Xử lý tình
huống vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề mê tín dị đoan có ảnh
hưởng, liên quan đến môi trường văn hoá, y tế trên địa bàn Huyện Thuận An
Tỉnh Bình Dương” để làm đề tài cuối khóa “Lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà
nước ngạch chuyên viên khoá 32 năm 2009.
B. NỘI DUNG
I/- MÔ TẢ TÌNH HUỐNG:
Theo địa chỉ được cung cấp, chúng tôi tìm đến “tư dinh” thầy cốt H. Đó là
một ngôi nhà lớn được xây dựng khang trang trong một diện tích đất tương đối
rộng. Xung quanh, phía trước nhà có rất nhiều chum chậu trồng bonsai, hoa cảnh
Một khoảng sân rộng dành để xe cho bệnh nhân. 16 giờ 30 phút một ngày cuối
tháng 12 năm 2008, chúng tôi tìm đến địa chỉ theo phản ánh của người dân. Bà B.
tiếp chúng tôi bằng ánh mắt đề phòng. Khi được biết qua giới thiệu từ một số bệnh
nhân “ruột”, chúng tôi tìm đến đây chữa bệnh, “thầy” bớt vẻ hoài nghi và bảo
chúng tôi ngồi chờ đến giờ làm việc. “Thầy” cho biết cô H. chỉ chữa bệnh vào ban
đêm, sau 19 giờ vì giờ này cô H. mới chịu “nhập”.
19 giờ 5 phút, chúng tôi được mời vào một không gian có ánh sáng mờ ảo.
Phòng khám, chữa bệnh của thầy được bố trí tại phòng khách với rất nhiều trang
thờ. Tại đây, nhiều bệnh nhân bị cuốn vào thế giới tâm linh trong bầu không khí
nghi ngút khói nhang. Trên trang thờ chủ nhân trưng bày hình, tượng các vị quan
âm bồ tát, thánh thần, các bà trợ mạng Bên dưới là một bàn thờ nhỏ với các lư
đồng, bát nhang khói tỏa nghi ngút. Tại đây, thầy sắp xếp trái cây, đường sữa hay
quà biếu của bệnh nhân. Các bệnh nhân và thầy đều ngồi chung một tấm phản gỗ
mát rượi, trao đổi với nhau một cách hòa nhã trước giờ cô H. “nhập”. Khi mọi
người đã ổn định chỗ ngồi, “thầy” đến bên bàn thờ thắp hương cúng vái, châm mồi
và hít vài hơi thuốc rồi đặt ngược điếu thuốc lên đĩa. Thầy vừa lẩm bẩm vừa xốc
những đồng xu kim loại sau đó trở về phản ngồi đồng thời đưa ánh mắt đề phòng
nhìn các bệnh nhân mới. Tiếp đó, thầy nấc lên một vài tiếng thế là cô H. đã về,
giọng của thầy cũng đổi thành tiếng trẻ con trong trẻo. Ánh đèn trong phòng không
sáng nhưng cũng đủ cho mọi người quan sát gương mặt “mơ màng” của “cô H.”.
Cô hỏi tuổi tác và tình trạng bệnh tật của một bệnh nhân nữ mới khám lần đầu tiên.
Người này khai đau nhức trong người, khó thở Cô H. lấy thẻ bài cạo gió, phun
nước vào người nữ rồi phán “có một “vong” theo ám hại cô rồi. Vong này là của
một người bạn. Cô có người bạn nào ghét mình không? Khai thật đi?”. Cô gái sợ
hãi thưa “hình như có”. Cô H. bèn phun nước khắp người bệnh nhân rồi đi lấy một
ly nước kỳ lạ (không biết là nước gì) cho bệnh nhân uống. Cô đọc tên và địa chỉ
nơi bán một loại thuốc. Tại sao lại mua đúng tiệm thầy chỉ mới có?
Sau 15 phút nhập nhằng giọng giả và thật, cô H. đi mất, trước khi đi cô còn
chào bệnh nhân “Thôi! H. đi nhé”. Cô H. đã đi rồi, thầy lại trở về giọng thật của
một phụ nữ tuổi gần sáu mươi. Trước đó, nhiều trường hợp được cô H. làm phù
phép rất rợn người. Có nạn nhân được cô cột chỉ vào chân, có người được cô lấy
các cây đinh, móc câu, chất bầy nhầy từ chỗ đau ra khỏi cơ thể. Cô bảo đây là
vật mà người ta yếm vào cơ thể của bệnh nhân. Nếu không lấy ra thì bệnh không
khỏi được. Những bệnh nhân mê muội ngoan ngoãn gật đầu và làm theo chỉ dẫn
của thầy.
Được biết, cô H. chính là con gái của bà B. Cô mất khi mới được vài tháng
tuổi. Hàng ngày cô nhập vào mẹ và thực hiện nghĩa vụ khám, chữa bệnh cho mọi
người mà không đòi hỏi gì. Thực tế là nhiều bệnh nhân tự nguyện biếu tiền và
dâng lễ cúng Chi phí cho mỗi lần cúng bái như vậy từ vài trăm ngàn đến một
triệu đồng. Thầy bảo đây là chi phí xăng xe vì phải đi xa.
Một thực tế dễ nhận thấy là phương pháp chữa bệnh của bà B. không chỉ
không có căn cứ khoa học mà còn rất nguy hiểm cho bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân
đến đều được chữa trị bằng cách thức kỳ lạ (phun nước, uống nước bùa, lấy móc
câu, đinh ) từ chỗ đau của bệnh nhân. Đáng ngại nhất là bà B. thường dùng một
vật nhọn (không rõ là thứ gì) chích lấy máu tại chỗ đau của bệnh nhân cho vào một
mớ giấy nhàu nát (bà gọi là bùa). Ai bảo đảm rằng vật nhọn này đã được bà xử lý
tiệt trùng hay thay mới đối với từng bệnh nhân? Sẽ ra sao nếu những bệnh nhân
mắc phải những căn bệnh truyền nhiễm? Bà B. tự nhận mình không biết chữ vậy
hiểu biết của bà về việc lây truyền các căn bệnh truyền nhiễm tới đâu? Hầu hết các
bệnh nhân đã không chú ý tới điều này. Thêm vào đó, các thứ nước, thuốc mà bà
B. chỉ định cho bệnh nhân uống có được kiểm nghiệm và được phép lưu hành.
Trong quá trình hoạt động mê tín dị đoan của bà B thường xãy ra tình trạng
mất an ninh trật tự, gây nhiều bức xúc cho người dân xung quanh. Ngày
15/5/2008 thuộc ấp Bình Phước A, xã Bình Chuẩn, huyện Thuận An có đơn
khiếu nại phản ảnh về những biểu hiện thiếu lành mạnh tại cơ sở này như: hoạt
động mê tín dị đoan, bói toán đồng cốt; tụ tập đông người, làm mất an ninh trật tự
ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân chung quanh và phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại khu dân cư.
Thực hiện chỉ đạo của UBND Huyện Thuận An, Đội kiểm tra liên ngành đã
triển khai kế hoạch, tiến hành khảo sát, nắm bắt địa bàn. Xác định nội dung đơn
khiếu nại, tố cáo là có cơ sở. Vào lúc 10h00, ngày ……., Đội kiểm tra liên ngành
Huyện Thuận An phối hợp Tổ kiểm tra liên ngành Xã Bình Chuẩn tiến hành tổ
chức kiểm tra tại đây. Qua kiểm tra Đội đã phát hiện nhiều sai phạm của bà Phạm
Thị B và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với cơ cở này.
II/- MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG:
Thực trạng hoạt động về tự do tín ngưỡng và mê tín dị đoan luôn diễn biến
phức tạp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương đang diễn biến hết sức phức tạp và họat
động len lõi trong các khu dân cư. Do đó cần xác định mục tiêu như sau:
1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước:
Nhằm lập lại trật tự kỹ cương trên lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị
đoan trong nhân dân. Cần đề ra những giải pháp vừa mang tính giáo dục, thuyết
phục vừa kiên quyết răn đe giúp người dân có nhận thức, hiểu biết và chấp hành
đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về tôn giáo, tín
ngưỡng, đồng thời nhận thức và hiểu biết được tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của
Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
nhân dân; đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc theo Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng ghi rõ: "Tín ngưỡng, tôn giáo là
nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn
trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín
ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân" .
2. Đối với chính quyền địa phương:
Tăng cường hơn nữa trách nhiệm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đối với Cấp ủy
Đảng, chính quyền trong công tác quản lý, kiểm tra trên địa bàn mình quản lý.
Từ nội dung đơn phản ảnh của nhân dân, cần tiếp tục tuyên truyền, vận động
quần chúng tích cực tham gia đấu tranh, tố giác bài trừ các tệ nạn mê tín dị đoan
trên địa bàn dân cư gắn liền với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa” và thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở. Đồng thời tạo điều kiện giúp bà
Phạm Thị B có nghề nghiệp ổn định, chấp hành tốt đường lối chính sách chủ
trương của Đảng, Nhà nước.
3. Đối với bà Phạm thị B:
Nâng cao ý thức của cá nhân bà Phạm Thị B trong việc chấp hành các quy
định của Đảng, nhà nước, pháp luật về tự do tín ngưỡng, cũng như chấp hành tốt
các quy định của y tế về hành nghề khám chữa bệnh. Chấp hành và thực hiện tốt
nghĩa vụ công dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xóa bỏ tư tưởng
mê tín dị đoan, đồng bóng, bói toán, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
đang sinh sống.
III/- PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN HẬU QUẢ:
1. Nguyên nhân:
1.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước:
Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, tự do tín ngưỡng của nhân dân còn
buông lõng dẫn đến hiện tượng mê tín dị đoan gây mất trật tự trên địa bàn dân cư.
Công tác kiểm tra, nhắc nhỡ, giáo dục về tự do tín ngưỡng của cơ quan chức
năng có nơi, có lúc chưa kiên quyết, triệt để, đôi lúc còn "nhẹ tay", nên các thầy
bói toán, đồng bóng “ỷ lại” vẫn ngang nhiên hoạt động và bất chấp dư luận xã hội.
1.2. Đối với chính quyền địa phương:
Công tác quản lý kiểm tra, nắm bắt địa bàn của Công an khu vực và Tổ dân
phố thiếu sâu sát, chưa hướng dẫn, giáo dục, nhắc nhỡ kịp thời để người dân nhận
thức được trách nhiệm của mình trong việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính
sách của nhà nước về tự do tín ngưỡng, từ đó làm ảnh hưởng đến đời sống sinh
hoạt của người dân chung quanh và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa” tại khu dân cư.
Tình hình mê tín dị đoan thỉnh thoảng xuất hiện tại địa phương. Khoảng năm
1998, Xã Bình Chuẩn có xử lý một vụ mê tín dị đoan. Một người tự xưng là thầy
Nước Lạnh, tổ chức khám, chữa bệnh cho người dân bằng cách tạt nước lạnh vào
họ. Tuy nhiên vẫn có nhiều bệnh nhân mù quáng tin theo. Năm 2004, Xã Bình
Phước nhận được thông tin phản ánh của một số bà con ở ấp Bình Phước A về
trường hợp bà B., xã đã phối hợp với ấp tiến hành giải quyết, lập biên bản đồng
thời buộc bà B. phải làm bản cam kết không vi phạm. Những năm gần đây, hiện
tượng mê tín dị đoan của bà B lại tiếp diễn. Nhận được thông tin phản ánh , công
an xã cần phối hợp với cán bộ ấp kiểm tra, theo dõi để xử lý. Tùy theo mức độ vi
phạm, xã sẽ xử phạt theo quy định của pháp luật. Quan điểm của xã là không đồng
tình với những hoạt động trục lợi phi pháp từ việc lợi dụng lòng tin mù quáng của
người dân. Việc chữa bệnh trên hoàn toàn phi đạo đức và phản khoa học.Xã Bình
Chuẩn cần sớm giải quyết triệt để vấn đề trên. Do đó Xã, Huyện cần đặt chính
sách thích hợp về tự do tín ngưỡng, chính sách đó được quy định trong hiến pháp
và pháp luật bao quát toàn bộ các hình thái tôn giáo, phải được điều hành chỉ đạo
bằng một tổ chức thống nhất không chỉ dưới góc độ chính trị an ninh mà cả góc độ
xã hội văn hóa đạo đức, không có sự tách biệt để tránh sự thiên lệch chồng chéo.
Thống nhất tổ chức lãnh đạo đời sống tôn giáo, tín ngưỡng đang là yêu cầu cấp
bách, do sự đa dạng hiện nay của hoạt động tôn giáo quyết định.
1.3. Đối với bà Phạm thị B.,:
Trao đổi về trường hợp bà B., ông Nguyễn Văn Hòa, ấp trưởng ấp Bình
Phước A cho biết thêm: “Trường hợp này cách đây 4 năm đã được giải quyết.
Trong thời gian qua, không thấy người dân phản ánh. Có lẽ vì đối tượng khám
chữa bệnh là nạn nhân từ nơi khác đến, hoạt động lén lút nên không ai để ý. Mặt
khác, do căn hộ của bà B. nằm trên đoạn cuối của ấp Bình Phước A, giáp ranh với
thị trấn Tân Phước Khánh, khu vực lại vắng, tối, nên cán bộ đi tuần không chú ý
lắm. Nếu bà B. thật sự hoạt động lại nghề cũ, chúng tôi sẽ phối hợp với công an
xã, lực lượng dân phòng bắt quả tang, xử lý ”.
2. Hậu quả:
2.1. Về phương diện đời sống tinh thần xã hội:
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của công dân
cũng được đề cập trong Bộ luật Dân sự, được bảo vệ bằng pháp luật và được cụ
thể hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng ở mức độ cao hơn, hoàn
thiện hơn. Sau 5 năm thực hiện Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999 về
các hoạt động tôn giáo đã được thay thế bằng Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo do
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI thông qua ngày 18/6/2004 và Chủ tịch nước
ký Lệnh công bố ngày 29/6/2004.
Đối với Bà Phạm Thị B, do mù chữ nên nhận thức về tự do tín ngưỡng còn
nhiều hạn chế. Việc chữa bệnh bằng hình thức đồng bóng của bà B. rất nguy hiểm
như đã đề cập ở trên. Do vậy, chính quyền địa phương hơn ai hết cần theo dõi và
nắm chắc tình hình hoạt động để kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc của bà
B trong việc chấp hành Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, làm ảnh hưởng đến sức
khỏe, an ninh trật tự và tự do tín ngưỡng của người dân.
2.2. Về y tế và sức khoẻ:
Một thực tế dễ nhận thấy là việc chấp hành sai các quy định của ngành y tế về
hành nghề khám chữa bệnh như không có xin phép hành nghề khám, chữa bệnh,
về kỹ thuật y tế gây thiệt hại sức khỏe người bệnh, phương pháp chữa bệnh của bà
B. không chỉ không có căn cứ khoa học mà còn rất nguy hiểm cho bệnh nhân. Mỗi
bệnh nhân đến đều được chữa trị bằng cách thức kỳ lạ ( phun nước, uống nước
bùa, lấy móc câu, đinh ) từ chỗ đau của bệnh nhân. Đáng ngại nhất là bà B.
thường dùng một vật nhọn (không rõ là thứ gì) chích lấy máu tại chỗ đau của bệnh
nhân cho vào một mớ giấy nhàu nát (bà gọi là bùa). Ai bảo đảm rằng vật nhọn này
đã được bà xử lý tiệt trùng hay thay mới đối với từng bệnh nhân? Sẽ ra sao nếu
những bệnh nhân mắc phải những căn bệnh truyền nhiễm, ma túy HIV/AIDS ? .
Bà B. tự nhận mình không biết chữ vậy hiểu biết của bà về việc lây truyền các căn
bệnh truyền nhiễm tới đâu ? Hầu hết các bệnh nhân đã không chú ý tới điều này.
Thêm vào đó, các thứ nước, thuốc mà bà B. chỉ định cho bệnh nhân uống có được
kiểm nghiệm và được phép lưu hành?
2.3. Về lĩnh vực tín ngưỡng, mê tín:
Sau lần đi thực tế tại đây trở về, trong lòng chúng tôi luôn đau đáu một nỗi
băn khoăn. Sẽ ra sao nếu những bệnh nhân này tiếp tục đến và chữa bệnh theo
phương pháp ma quái, kỳ lạ này. Bên cạnh vấn đề tiền bạc, sức khỏe thì mối quan
hệ trong gia đình, làng xóm đang đứng trước nguy cơ tan vỡ. Nhiều gia đình đã từ
mặt nhau vì cho rằng người này ám hại người kia. Điều này vô hình gây hậu quả
rất nghiêm trọng trong việc bảo vệ, vun đắp tình đoàn kết anh em, làng xóm. Bà B.
đang chữa bệnh cứu người hay chỉ làm trò mê tín dị đoan nhằm mụ mị những
người thiếu hiểu biết để trục lợi?
2.4. Về lĩnh vực an ninh trật tự:
Rõ ràng hoạt động mê tín dị đoan của bà B đã gây ra tình trạng mất an ninh
trật tự, gây nhiều bức xúc và làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân
chung quanh và phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ” tại
khu dân cư.
IV/- PHÂN TÍCH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT:
Sau khi kiểm tra và ghi nhận lỗi vi phạm tại nhà bà Phạm Thị B, căn cứ theo
các văn bản quy phạm pháp luật được quy định từng lĩnh vực ngành nghề. Đội
kiểm tra liên ngành xây dựng 3 phương án như sau:
Phương án 1: (Phương án lựa chọn trong xử lý tình huống)
Ngày ……., Đội kiểm tra đã mời bà Phạm Thị B. làm việc. Xét thấy Bà Phạm
Thị B. vi phạm hành chính đây là lần thứ hai, gây ra tình trạng mất an ninh trật tự
và ảnh hưởng về sức khoẻ của dân cư trên địa bàn. Đội kiểm tra xử lý hình thức
chế tài theo mức bình quân ( Lấy mức phạt cao nhất cộng mức thấp nhất chia đôi )
Phương án 2: (Hình thức xử phạt tăng nặng)
Cá nhân tái phạm nhiều lần, có hành vi trốn tránh hoặc không hợp tác với cơ
quan chức năng. Lỗi vi phạm liên quan đến tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống
tinh thần và sức khoẻ, thì phương án lựa chọn sẽ xử phạt theo mức phạt cao nhất
và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây chết người.
Phương án 3: (Hình thức xử phạt giảm nhẹ)
Nếu xét thấy cơ sở vi phạm lần đầu, ít lỗi vi phạm không liên quan đến tệ nạn
xã hội nghiêm trọng, không để hậu quả về sức khoẻ. Sẽ xử lý bằng hình thức chế
tài mức phạt thấp nhất.
V/- TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN:
1. Các buớc thực hiện:
Bước 1: Lập biên bản vi phạm hành chính đối với Bà Phạm Thị B
Bước 2: Mời Bà Phạm Thị B. đến văn phòng Đội kiểm tra liên ngành làm việc
để xác định lỗi vi phạm, lắng nghe bà Phạm Thị B. trình bày ý kiến và bổ sung
giấy tờ liên quan (nếu có).
Buớc 3: Lập báo cáo đề xuất UBND Thuận An ra quyết định xử phạt.
Bước 4: Căn cứ vào đề xuất của Đội kiểm tra liên ngành, Huyện Thuận An
ban hành quyết định xử phạt hành chính.
Bước 5: Triển khai quyết định xử phạt hành chính, phối hợp với Chính quyền
địa phương theo dõi quá trình chấp hành quyết định của đương sự.
2. Kết quả giải quyết:
UBND Huyện Thuận An ra quyết định xử phạt Bà Phạm Thị B. như sau:
- Phạt tiền 750.000đ đối với hành vi vi phạm các quy định về phòng chống
các bệnh truyền nhiễm gây dịch, vi phạm vào điều 9 khoản 3 điểm a,b,c,d,c Nghị
định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 7.500.000đ đối với hành vi vi phạm các quy định về phòng chống
HIV/AIDS, vi phạm vào điều 13 khoản 2 điểm a Nghị định số 45/2005/NĐ-CP
ngày 06/4/2005 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y
tế;
- Phạt tiền 750.000đ đối với hành vi vi phạm các quy định khác về vệ sinh, vi
phạm vào điều 13 khoản 2 điểm a Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005
của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 1.500.000đ đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện hành
nghề và sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề, y học sinh cổ truyền
(gọi chung là giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề ), vi phạm điều 26 khoản 2
điểm a Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 2.500.000đ đối với hành vi vi phạm lợi dụng nghề nghiệp để hành
nghề mê tín dị đoan, vi phạm điều 27 khoản 2 điểm g Nghị định số 45/2005/NĐ-
CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y
tế;
- Phạt tiền 7.500.000đ đối với hành vi vi phạm quy định về chuyên môn kỹ
thuật về y tế gây thiệt hại về sức khỏe cho người bệnh, vi phạm điều 27 khoản 3
điểm a,b Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 10.000.000đ đối với hành vi vi phạm không có bản cam kết thực
hiện các điều kiện về an ninh trật tự với cơ quan công an, vi phạm điều 14 khoản 3
điểm b Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội;
Tổng cộng 7 lỗi vi phạm với mức phạt tiền là: 22.150.000đồng.
Ngoài hình thức xử phạt chế tài nêu trên, cơ quan kiểm tra còn đề nghị bà
Phạm thị B chấm dứt ngay cơ sở hành nghề mê tín dị đoan, khám chữa bệnh trái
phép ; Công an, Tổ kiểm tra liên ngành là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, đôn
đốc, nhắc nhỡ cơ sở chấp hành.
3. Những thuận lợi và khó khăn:
3. 1. Thuận lợi:
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên
quan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín
ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn giáo, hòa hợp
dân tộc. Tinh thần đó được Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện bằng hệ thống
chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng và đã có từ khi mới thành lập
Đảng.
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề tôn giáo, Người đã
vận dụng một cách khoa học sinh quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn
giáo vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Bác Hồ luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự
do tín người của nhân dân, đối với Bác Quyền tự do tín ngưỡng và không tín
ngưỡng là một trong những quyền chính đáng của con người. Hạn chế và vi phạm
quyền ấy là đi ngược với xu thế của tiến bộ xã hội. Bác Hồ luôn giáo dục mọi
người và bản thân Bác luôn gương mẫu trong việc thực hiện quyền tự do tín
ngưỡng của đồng bào có đạo. Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trên văn bản, lời
nói mà còn trên cả hoạt động thực tiễn của Bác. Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm
khắc phê phán những phần tử lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, những kẻ hành nghề
mê tín dị đoan, phê phán những việc làm sai chủ trương chính sách tôn giáo của
Đảng và Chính phủ.
Ý thức trách nhiệm của người dân đóng vai trò tích cực và không thể thiếu
trong việc ngăn ngừa, phòng chống các hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng để hành
nghề mê tín dị đoan gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an ninh trật tự của người
dân và địa bàn sinh sống. Do vậy, cần nêu gương điển hình và kịp thời khen
thưởng những tổ chức, cá nhân tích cực tham gia trong phong trào giữ gìn trật tự,
an ninh khu phố.
3.2. Khó khă n :
Các quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hành nghề mê tín dị đoan,,
chỉ có hình thức xử phạt chế tài dựa trên các nghị định liên quan, luật chưa có quy
định cụ thể về hình thức xử phạt bổ sung như: có mức xử phạt cụ thể theo từng
điều khoản. Điều này cho thấy văn bản luật chưa đủ mạnh, chưa thể hiện tính
nghiêm khắc; mức xử phạt chưa đủ tính răn đe nên vi phạm vẫn tiếp tục gia tăng,
Do đó bà Phạm thị B. vẫn tiếp tục vi phạm nhiều lần. Hầu như việc xử lý vi phạm
mới chỉ dừng lại ở mức “hình thức”, phạt rồi lại không kiểm tra, nhắc nhỡ hoặc chỉ
tiến hành theo phong trào kiểu “bắt cóc bỏ dĩa”, “đá ném ao bèo” đã dẫn đến tình
trạng coi thường pháp luật.
Rõ ràng là với những điều khoản không thống nhất, không cụ thể như vậy đã
tạo ra những bật cập và kẽ hở của luật, để cho một số những kẻ hành nghề mê tín
dị đoan lợi dụng để gây rối trật tự an ninh, làm ảnh hưởng đến tình hình sức khỏe,
và lòng tin của nhân dân. Từ đó, đặt ra cho các địa phương vấn đề về quản lý dân
cư trên địa bàn và việc chăm sóc đời sống tinh thần, tự do tín ngưỡng của nhân
dân.
C. KẾT LUẬN:
Quản lý nhà nước về tôn giáo, tự do tín ngưỡng là quản lý bằng chính sách và
pháp luật gắn chặt với công tác giáo dục tư tưởng và vận động, tuyên truyền kết
hợp với quản lý nhà nước về văn hóa, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực dịch vụ văn hóa nhằm xây dựng và
giữ gìn một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa thực sự
là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.
Quản lý nhà nước về y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân: cùng vơi việc tăng
cường đội ngũ cán bộ y bác sĩ và cơ sở bệnh xá, bệnh viện thuốc chữa bệnh là tăng
cường công tác tuyên truyền giáo dục về phương pháp phòng và chữa bệnh theo
phương pháp khoa học.
Quản lý nhà nước về an ninh chính tri: giáo dục cán bộ và đồng bào các dân
tộc tôn giáo của đảng và nhà nước tăng cường ý thức chấp hành pháp luật, giáo
dục tinh thần đoàn kết dân tộc, tổ chức tuyên truyền giáo dục cho đồng bào dân tộc
các vùng nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trong và ngoài
nước.
Trong xu thế đất nước hội nhập, những thế lực thù địch đã và đang phá hoại
đất nước ta bằng con đường “diễn biến hòa bình”, đưa văn hoá độc hại cùng với lối
sống sa đọa, làm băng hoại những giá trị đạo đức, làm ảnh hưởng đến đời sống tôn
giáo, tự do tín ngưỡng của nhân dân. Chính vì vậy quản lý văn hóa, tôn giáo là
nhiệm vụ quan trọng không chỉ của riêng ngành văn hóa, tôn giáo mà còn là của
toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Trong thực tế, hai mặt chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thường đan xen
vào nhau. Có những lúc mâu thuẫn về mặt chính trị lại được các thế lực phản động
ngụy trang bằng sự khác nhau về tư tưởng và ngược lại. Loại bỏ mặt chính trị phản
động trong tôn giáo, nhất là khi các thế lực phản động quốc tế đang lợi dụng tôn
giáo nhằm thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình là việc làm cần thiết. Khi thực
hiện cần dựa vào sức mạnh của quần chúng tín đồ. Phương pháp phải kịp thời,
cương quyết nhưng phải tránh nôn nóng vội vàng. Đảm bảo được yêu cầu: đoàn
kết rộng rãi đồng bào có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng, phát huy tinh thần
yêu nước của các tu sĩ chân tu đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng tín
ngưỡng tôn giáo để phá hoại sự đoàn kết dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách mạng .
miền núi và vùng cao. Phát triển phong trào phòng bệnh, xây dựng nếp sống mới
bài trừ mê tín dị đoan và những phong tục tập quán lạc hậu.
Kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý:
Rà soát lại hệ thống các văn bản pháp luật liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ
sung, điều chỉnh hoàn thiện phù hợp với tình hình mới. Trong các điều khoản về
xử phạt vi phạm hành chính cần tính đến các mức phạt đủ sức răn đe, tránh việc tái
vi phạm của các cơ sở dịch vụ văn hóa.
Tổ chức và sắp xếp lại bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước, có cơ chế, chính
sách thu hút những cán bộ có tài, có tâm, có tầm. Kiện toàn đội ngũ cán bộ thanh
tra, kiểm tra giám sát của ngành từ thành phố đến cơ sở, đảm bảo đủ về số lượng
cho hoạt động đạt hiệu quả. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quản lý, kiến thức
chuyên môn; khoa học công nghệ thông tin. Tăng đầu tư ngân sách và kinh phí
hoạt động, tạo điều kiện trang thiết bị đáp ứng công tác quản lý kiểm tra đạt hiệu
quả.
Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phối hợp chặt chẽ với các ngành
có liên quan như: Công an, Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Văn hóa – Thông tin, Phát
thanh –Truyền hình, Y tế, Chính quyền địa phương Tập trung kiểm tra, xử phạt
thích đáng đối với các cá nhân có những biểu hiện vi phạm, có đơn thư phản ảnh
của quần chúng nhân dân; có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các cá nhân tái
phạm nhiều lần. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường
xuyên, không mang tính hình thức tạo tâm lý coi thường pháp luật của cá nhân.
Tuy nhiên tất cả những biện pháp trên có thể coi là những giải pháp tình thế,
chúng ta không chỉ chú trọng mặt “chống” mà cần quan tâm hơn nữa mặt “xây”, vì
đây là cách làm hiệu quả, là giải pháp cơ bản, bền vững nhất. Xây dựng được môi
trường văn hóa lành mạnh là chúng ta đã thực hiện “chống” lại những hiện tượng
phi văn hóa đang diễn biến phức tạp trong xã hội.
Liên hệ thực tế ở Bình Dương:
- Các hoạt động văn hóa thông tin: Cần tập trung vào tuyên truyền, giáo dục,
đường lối, chủ trương của Đảng về chính sách tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân .
- Các họat động văn hóa thông tin , phát thanh truyền hình ngày càng mở
rộng và quan tâm mở rộng có quan tâm phục vụ vùng sâu , vùng xa , khuyến khích
mở rộng giao lưu văn hóa, thông tin về tôn giáo, tín ngưỡng với các địa phương
khác thông qua các hội thi, biễu diễn .
- Công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo phải kết hợp chắt chẽ với công
tác quản lý về văn hóa, thông tin. Bình Dương có hai địa điểm nổi tiếng về tôn
giáo và đậm nét văn hóa là Lễ hội Chùa Bà và khu du lịch Lạc Nam Đại Cảnh, do
đó cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục về chính sách văn hóa, tôn giáo
và tự do tín ngưỡng trong nhân dân để hoạt động của hai nơi này luôn là điểm
sáng về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của Bình Dương .
Vì môi trường văn hóa lành mạnh, vì lợi ích cộng đồng, mỗi cá nhân chúng ta
cần tôn trọng kỹ cương phép nước, hãy “sống và làm việc theo pháp luật” nhằm
hướng tới một xã hội tốt đẹp, văn minh hơn, đặc biệt là Huyện Thuận An Tỉnh
Bình Dương của chúng ta.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng Sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
2. Chính phủ - Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1987 của Chính phủ về phương
hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá.
3. Học viện Hành chính Quốc gia - Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực xã
hội. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997.
4. Học viện Hành chính Quốc gia - Quản lý nhà nước nguồn nhân lục. NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1997.
5. Tài liệu học tập lớp bồi dưỡng kiến thức Quản lý Nhà nước khóa 32 –
Trường Chính trị Tỉnh Bình Dương.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×