Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu pháp luật về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng và các biện pháp bảo đảm an toàn

Đề tài : “Tìm hiểu pháp luật về hoạt động
cho vay của các tổ chức tín dụng và các
biện pháp bảo đảm an toàn”
LỜI MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Ở tất cả các quốc gia ,các tổ chức tín dụng đóng vai trò đặc biệt quan
trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội.Chính vì vậy ,ngay trong điều kiện
nước nhà mới độc lập và thực hiện công cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp,Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc xây dựng hệ thống các Tổ chức
tín dụng của chế độ mới. Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây
luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với khu vực. Với mức độ tăng trưởng như
hiện nay, nhu cầu vốn cho nền kinh tế là hết sức lớn. Trong điều kiện hiện
nay, đầu tư nước ngoài chưa đạt được mức kế hoạch, ngược lại ở nhiều nơi
còn có dấu hiệu giảm sút thì chủ trương dựa vào nguồn vốn trong nước đang
được thực hiện triệt để. Tuy nhiên, các kênh huy động vốn từ nội lực kinh tế
còn hẹp. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành và chưa thật
sự trở thành kênh cung cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy
phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam năng lực tài chính còn yếu kém, hoạt
động chủ yếu dựa trên nguồn vốn vay từ các Tổ chức tín dụng.Từ đo khẳng
định tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay sẽ còn tiếp tục là một kênh
cung cấp vốn quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nếu muốn có một nền

kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh.
Muốn vậy, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm
bảo được hành lang an toàn cho hệ thống ngân hàng.
1
Chính vì vậy ,việc nghiên cứu những quy định của pháp luật cũng như thực
tế áp dụng các quy dịnh của pháp luật trong hoạt động cho vay của các Tổ
chức tín dụng và các biện pháp bảo đảm an toàn là hết sức cần thiết trong giai
đoạn hiện nay.Và trên cơ sở đó,có thể đó có thể đề ra những phương hướng
hoàn thiện có ý nghĩa thiết thực.Đây cũng là lý do sinh viên chọn đề tài “Tìm
hiểu pháp luật về hoat động cho vay của các Tổ chức tín dụng và các
biện pháp bảo đảm an toàn ”làm khóa luận tốt ngiệp.
2.Mục đích,đối tượng nghiên cứu ,phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu đánh giá thực trạng
pháp luật về hoạt động cho vay của các loại hình tổ chức tín dụng để trên cơ
so đó để ra các biện pháp tối ưu nhằm đảm bảo cho các hoạt động trên.Từ
mục đích đó ,nhiệm vụ nghiên cứu được xác định là :
Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan trực tiếp đến đề tài về
hoạt động cho vay của các tổ chức tín đụng ,về pháp luật điều chỉnh hoạt
động cho vay của tổ chức tín dụng .
Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng
phát hiện những bất cập trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín
dụng.
Đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay của
các tổ chức tín dụng và các biện pháp bảo đảm an toàn.
Đối tượng nghiên cứu được xác định là các quy phạm pháp luật Việt
Nam,các tài liệu liên quan đến hoạt đông cho vay của các tổ chức tín dụng và
các biện pháp an toàn,một số quy định của pháp luật nước ngoài về hoạt động
của các tổ chức tín dụng.
Phạm vi nghên cứu của khóa luận không bao gồm tất cả các vấn đề liên
quan đến hoạt động của các Tổ chức tín dụng Việt Nam mà giới hạn ở các
quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng
và các biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín
dụng .Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp ,sinh viên không có
2
nhiều sự hiểu biết chuyên sâu,cũng như sự hạn chế về thời gian nên những
vấn đề nêu ra trong khóa luận chỉ dừng lại ở những vấn đề đã đươc nêu ra
trước đó trong các nghiên cứu ,cũng như trên các thông tin đại chúng trong
thời gian và qua những kiến thức ,mà sinh viên được học ,nghiên cứu tại
trường .Vì vậy những phân tích và đánh giá chưa được sâu sắc và hoàn
chỉnh,sinh viên mong nhận được sự góp ý đánh giá từ các Thầy Cô để khóa
luận có thể hoàn thiện hơn.
3.Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận là phép biện chứng
duy vật và sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích ,đánh giá các
quy định của pháp luật ,để từ đó có một số đề xuất cụ thể có ý nghĩa thiết
thực .
4.Cơ cấu của khóa luận
Khóa luận ngoài lời nói đầu ,kết luận và danh mục tài liệu tham khảo ,có 3
chương:
Chương I:Một số vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động
cho vay của tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật trong hoạt
động cho vay của các Tổ chức tin dụng .
Chương II:Pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của
Tổ chức tín dụng.
Chương III:Thực trang và phương hướng hoàn thiện pháp luật về
hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng và pháp luật bảo dảm an
toàn .
3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ CÁC
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG.
1.1Khái niệm và phân loại cho vay của tổ chức tín dụng
1.1.1Khái niệm cho vay của tổ chức tín dụng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì có các định nghĩa sau về cho vay
“ Cho vay là đưa tiền cho vay trong một thời hạn nhất định rồi trả cả vốn
lẫn tỷ suất lãi theo quy định :cho vay tiền để phát triển sản xuất.”
“Cho vay cầm chứng từ là hình thức cho vay dựa vào những chứng từ sở
hữu hàng hóa (vận đơn ,phiếu lưu kho làm đảm bảo….).”
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi một tổ chức hay cá nhân đều phải có
hoặc tự tìm kiếm cho mình một nguồn vốn nhất định để tham gia vào các
quan hệ mua bán, trao đổi hay đầu tư... Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào
hoặc không phải bất cứ chủ thể nào cũng có vốn hoặc có đủ vốn tiền tệ kinh
doanh. Nói cách khác, nếu xét tại một thời điểm bất kỳ luôn luôn xảy ra hiện
tượng có những người có những nguồn vốn nhàn rỗi, dư thừa, nhưng cũng có
những người thiếu hụt vốn tạm thời. Hiện tượng này đòi hỏi có sự điều hoà
vốn từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt vốn tạm thời. Việc điều hoà vốn này có
thể là sự gặp gỡ trực tiếp giữa người có vốn cho vay, với người cần vốn, hoặc
có thể là qua một tổ chức trung gian là các tổ chức tín dụng.
Theo Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành
kèm quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước ),tại điều 3 khoản 1“ Cho vay là một hình thức cấp tín
dụng ,theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền
để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên
tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
4
Theo giáo trình Luật ngân hàng của Nhà xuất bản
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan ,xuất hiện khi trong xã hội
loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn.Khái niệm cho
vay ,theo nghĩa chung nhất được hiểu là việc một người thỏa thuận để cho
người khác đươc quyền sử dung tài sản của mình(vật cùng loại)trong một thời
hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả ,dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình
đối với người đó.
Như vậy, cho vay khác với các hình thức cấp tín dụng: chiết khấu, bảo
lãnh, cho thuê tài chính. Trong nghiệp vụ cho vay, các ngân hàng giao một
khoản tiền nhất định trong một thời gian nhất định cho bên đi vay dùng vào
mục đích nhất định và bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn.
Điều này có ý nghĩa là đối với hình thức cho vay, khoản tiền vay được chuyển
giao trực tiếp hoặc nhập vào tài khoản của bên đi vay. Trong nghiệp vụ chiết
khấu khoản tiền vay cũng được chuyển giao tương tự như vậy. Còn đối với
hình thức cho thuê tài chính thì khoản tiền vay chính là khoản tiền mà các
ngân hàng dùng để mua tài sản để cho thuê. Trong trường hợp bảo lãnh ngân
hàng, khoản tiền vay mà bên đi vay (bên được bảo lãnh) nhận được chính là
khoản tiền mà ngân hàng (bên bảo lãnh) phải trả cho bên có quyền trong
trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ.
1.1.2.Phân loại cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD)
Việc phân loại cho vay của TCTD có ý nghĩa quan trong cả về lý
luận và thực tiễn .điều đó thể hiện ở chỗ ,dựa vào kết quả phân loại cho vay
mà các nhà làm luật có thể xây dựng thành những quy chế cho vay phù hợp
với hoạt động thực tiễn nghiệp vụ của các tổ chức tin dụng.Mặt khác cũng
dựa trên kết quả phân loại cho vay mà mỗi TCTD có thể xây dựng ,hoạch
định cho mình chiến lược kinh doanh phù hợp ,mang tính khả thi và hiệu
quả.Đặc biệt việc phân loại cho vay còn giúp cho các TCTD ở cơ sở lý luận
để xây dựng thành các quy tắc kỹ thuật nghiệp vụ tương thích với từng loại
5
hình nghiệp vụ cho vay nhằm phục vụ cho việc triên khai các hoạt động cho
vay của mình trong thực tiễn.
1.1.2.1Phân loại cho vay dựa vào thời hạn vay
Thời hạn vay theo quy đinh tại điều 10,Quyết định 1627/2001/QĐ-
NHNN “Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh
doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng
và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thỏa thuận về thời hạn cho vay.
Đối với các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá
thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động
tại Việt Nam; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá
thời hạn được phép sinh sống, hoạt độngtạiViệtNam.
1.1.2.1.1Cho vay ngắn hạn :thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận
đến một năm.Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư
vào tài sản lưu động.
1.1.2.1.2.Cho vay trung hạn và dài hạn: thời hạn sử dụng vốn vay do các
bên thỏa thuận từ trên một năm trở lên .
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng .(theo Luật Mỹ thì thời hạn này có thể từ trên 1 năm đến 7 hoặc
8 năm ).Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài
sản cố định như: đầu tư mua máy móc trang thiết bị …
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn vay từ trên 60 tháng trở
lên .Mục đích của loại cho vay này là thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các
dự án đầu tư.Thời gian thu hồi vốn của các chủ thể có nhu cầu vay là lâu
,phải có thời gian kinh doanh lâu dài ,ví dụ như:vay vốn để đầu tư xây dựng
khách sạn để kinh doanh,xây dựng cơ sở sản xuất…
1. 1.2.2.Phân loại cho vay dựa vào tính chất có bảo đảm của khoản vay
1.1.2.2.1. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: đây là hình thức cho vay trong
đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của
người thứ ba .Các bảo đảm cho tiền vay như:thế chấp ,cầm cố…
6
1.1.2.2.2. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản : đây là hình thức cho
vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay không được đảm bảo bằng tài sản cụ thể
,xác định bằng tài sản của khách hàng vay hoặc của người thứ ba.Loại cho
vay này chủ yếu dựa trên uy tín của bản thân khách hàng vay vốn mà Tổ chức
tín dụng quyết định cho vay.
1.1.2.3. Phân loại cho vay dựa vào mục đích sử dụng vốn vay
1.1.2.3.1. Cho vay kinh doanh: đây là hình thức cho vay trong đó các bên
cam kết số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh của mình .Ví dụ như:cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh
công thương nghiệp ,cho vay nông nghiệp,cho vay kinh doanh xuất nhập
khẩu…
1.1.2.3.2. Cho vay tiêu dùng: đây là hình thức cho vay trong đó các bên
cam kết số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào việc thoả mãn nhu cầu sinh
hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng ,mua sắm nhà cửa..”TCTD
không được cho vay các nhu cầu vốn trong trường hợp dùng để mua sắm các
tài sản mà Pháp luật cấm mua bán ,chuyển nhượng,chuyển đổi,để thanh toán
các giao dịch mà pháp luật cấm”.
Ngoài các căn cứ trên để phân loại cho vay ,thì theo các quy định của
pháp luật một số nước trên thế giới còn phân loại cho vay theo một số căn cứ
khác ,ví dụ như theo pháp luật Hoa kỳ thì việc phân loại cho vay còn căn cứ
vào:phương pháp hoàn trả là hoàn trả một lần “trả một lần thườnglà những
khoản cho vay thẳng,hợp đồng yêu cầu hoàn trả toàn bộ một lần vào thời gian
đáo hạn cuối cùng “, hoặc hoàn trả theo hình thức trả góp “trả góp là hoàn
trả gốc và lãi theo định kỳ”.
II.Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
2.1.Các quy định của pháp luật về quy trình cho vay vốn của các Tổ chức
tín dụng đối với khách hàng
2.1.1.Quy trình cho vay vốn của các TCTD.
7
Quy trình cho vay vốn là tổng hợp các bước cụ thể từ khi tiếp nhận nhu
cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi TCTD quyết định cho vay ,ngân và
thanh lý hợp đồng tín dụng.Dựa trên những điều kiện của mình thì các TCTD
sẽ tự thiết kế những quy trình cho vay cụ thể ,bao gồm nhiều giai đoạn khác
nhau .Sau đây là một quy trình tóm tắt được sinh viên lựa chọn để tham khảo:
Bảng tóm tắt quy trình cho vay
1
Các giai đoạn của
quy trình
Nguồn và nơi
cung cấp thông
tin
Nhiệm vụ của
TCTD ở mỗi giai
đoạn
Kết quả
của mỗi
gia đoạn
Lập hồ sơ xin vay
vốn
Khách hàng đi
vay cung cấp
thông tin
Tiếp xúc,phổ biến và
hướng dẫn khách
hàng lập hồ sơ vay
vốn.
Hoàn
thành bộ
hồ sơ để
chuyển
sang giai
đoạn sau.
Phân tích điều kiện *Hồ sơ đề nghị
vay từ giai đoạn
trước chuyển
sang.
*Các thông tin
bổ sung từ hồ
sơ,hoặc phỏng
vấn ..
Tổ chức thẩm định về
các mặt tài chính và
phi tài chính do các
cá nhân hoặc các bộ
phận thẩm định thực
hiện.
Báo cáo
kết quả
thẩm định
để chuyển
sang các
bộ phận có
thẩm
quyền để
quyết định
cho vay
hoặc từ
chối cho
1
Thẩm định dự án,www.fetp.edu.vn.
8
vay.
Quyết định tín dụng Bổ sung các
thông tin cần
thiết dựa trên
các thông tin đã
có.
Quyết định cho vay
hoặc từ chối cho vay
dựa vào kết quả phân
tích.
Quyết
định cho
vay hoặc
từ chối
cho vay
dựa vào
kết quả
phân
tích.Tiến
hành các
thủ tục
pháp lý
như ký
Hợp đồng
tín
dụng,Hợp
đồng công
chứng ,và
các loại
hợp đồng
khác .
Giải ngân *Quyết định cho
vay và các hợp
đồng liên quan.
*Các chứng từ
làm cơ sở giải
ngân .
Thẩm định các chứng
từ theo điêù kiện của
hợp đồng tín dụng
(HĐTD) trước khi
phát tiền vay.
Chuyển
tiền vào
tài khoản
tiền gửi
của khách
hàng hoặc
chuyển trả
9
cho nhà
cung cấp
theo yêu
cầu của
khách
hàng,hoặc
giao trực
tiếp cho
khách
hàng.
Giam sát và thanh
lý tín dụng
*Các thông tin
từ ,báo cáo tài
chính từ khách
hàng.
*Các thông tin
khác
*Kiểm tra hoạt động
sử dụng vốn vay .
*Thanh lý HĐTD
*Báo cáo
kết quả
giám sát
và đưa ra
các giải
pháp xử
lý.

Việc xây dựng quy trình cho vay của các TCTD là dựa trên những quy
định thực tế của pháp luật hiện hành:“Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi
cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh
đủ điều kiện vay vốn như quy định tại Điều 7 Quy chế này. Khách hàng phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài
liệu gửi cho tổ chức tín dụng.”(Khoản 1 điều 14 Quyết định 1627/2001/QĐ-
NHNN).
Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ pháp lý
do TCTD thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay ,trên
cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không .Trong thực tế giao dịch ngân hàng
,việc thẩm định hồ sơ tín dụng thường do các nhân viên chuyên trách của tổ
10
chức tín dụng thực hiện và kết thúc bằng việc lập báo cáo thẩm định hồ sơ tín
dụng .Báo cáo này được trình lên cho người quản lý có thẩm quyền của tổ
chức tín dụng quyết định về việc có cho vay hay không .Do tính đặc biệt quan
trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật
đòi hỏi bên cho vay là TCTD phải triệt để tuân thủ nguyên tắc bảo đảm tính
đậc lập ,phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa
khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay.” Tổ chức tín dụng xây dựng quy
trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ
ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho
vay”.(Khoản 1Điều15 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNNVề việc ban hành
Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng)
Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình cho vay của các TCTD
có ý nghĩa hết sức quan trọng .Xây dựng một quy trình cho vay hợp lý sẽ góp
phần nâng cao chất lượng ,giảm thiểu rủi ro trong khi cho vay .Hơn nữa,quy
trình cho vay còn là cơ sở cho việc thiết lập các thủ tục ,hồ sơ vay vốn về mặt
hành chính,và thủ tục pháp lý quan trọng đó là thiết lập HĐTD.
2.1.2.Hợp đồng tín dụng ,cơ sở pháp lý quan trọng
Sau khi ra quyết định chấp thuận cho khách hàng vay vốn các TCTD sẽ
hướng dẫn khách hàng ký kết HĐTD. Theo quy định tại điều 17 của Quyết
định 1627/2001/QĐ-NHNN” Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng
vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng...”.Chủ thể tham gia ký kết HĐTD
là bên cho vay(các TCTD) và bên vay (khách hàng có nhu cầu vay vốn ).
Theo quy định tại điều 51 của Luật Các tổ chức tín dụng ,mọi hợp đồng tín
dụng đều phải ký kết bằng văn bản thì mới có gía trị pháp lý. Hợp đồng tín
dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương
thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị
tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên
thỏa thuận.
11
Văn bản hợp đồng tín dụng bao gồm văn bản viết và văn bản điện tử.Hợp
đồng tín dụng được xác lập thông qua phương diện điện tử dứới hình thức
thông điệp dự liệu được coi là giao dịch bằng văn bản .Các văn bản hợp đồng
điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị
chứng cứ trong quá trình giao dịch. hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn
bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố
công khai chính thức,về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để
cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phuơng cách xử sự
hợp lý,an toàn trong trường. Ngoài ra,việc cần thiết ký kết hợp đồng tín dụng
bằng văn bản mới có thể khiến các cơ quan có trách nhiệm của chính quyền
thi hành công vụ được tốt hơn.Chẳng hạn như việc thu thuế,lệ phí,kiểm
tra,thanh tra tài chính ,kiểm soát hoạt động thương mại của các chủ thể kinh
doanh trên thương trường.
2.1.2.1.Các nội dung cơ bản của HĐTD
Theo quy định tại điều 17 của Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN”…
Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn
vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo
đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được
các bên thỏa thuận”.
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có
đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù
hợp với pháp luật. Các điều khoản này vừa thể hiện ý trí của các bên, đồng
thời cũng làm phát sinh những quyền và nghĩa vu pháp lý cơ bản của mỗi bên
tham gia hợp đồng tín dụng. Nội dung của hợp đồng tín dụng (các điều khoản
của hợp đồng) phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận ý chí,
phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
12
Và theo quy định tại điều 51 luật tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung năm
2004, nội dung của hợp pháp tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau
đây:
Điều khoản về điều kiện vay vốn: Khi thoả thuận điều khoản này, các bên
cần ghi rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải
thoả mãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực. Chẳng hạn, bên vay phải có
năng lực chủ thể, có tình hình tài chính lành mạnh hay phải có tài sản cầm
cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba.
Theo quy định tại điều 7 của Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN,cũng đã
có quy định rất rõ về các điều kiện đối với khách hàng khi vay vốn tại các
TCTD,ngoài các quy định đối với khách hàng là các cá nhân tổ chức Việt
Nam thì còn có các quy định đối với khách hàng là cá nhân ,nước ngoài“Đối
với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực
pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước
mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật
nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy
định”.
Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Trong điều khoản này, các bên phải thoả
thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay,phương thức cho vay, tổng số tiền phải
trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn.
Số tiền vay :phải được ghi rõ,ngoài ra sinh viên cũng xin kiến nghị một vấn
đề đó là bên cạnh việc ghi rõ số tiền vay là bao nhiêu thì cũng cần ghi rõ loại
tiền vay là USD,Euro,Tệ…để áp dụng mức lãi suất cho phù hợp và áp dụng
việc vay bằng đồng tiền nào thì trả bằng đồng tiền đó.Hơn nữa,trong thời kì
kinh tế hiện nay,cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ có rất nhiều doanh
nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động kinh doanh ,làm ăn với các doanh
13
nghiệp của nước ngoài,đặc biệt là trong hoạt động xuất nhập khẩu.Do vậy
nhu cầu về nguồn vốn vay bằng ngoại tệ là rất cần thiết .Nếu quy đổi đồng
ngoại tệ ra tiền VNĐ đôi khi sẽ gây ra khó khăn cho không chỉ các khách
hàng có nhu cầu vay vốn mà còn cho cả các TCTD,vì tỷ giá quy đổi giữa các
đồng tiền là không đồng nhất tại thời điểm vay cũng như thời điểm thanh
toán khoản vốn vay.
Lãi suất cho vay:mức lãi suất được áp dụng hiện nay theo quy định của
NHNN là do TCTD và khách hàng thỏa thuận và ấn định trong HĐTD .
Phương thức cho vay có thể là:
Cho vay từng lần:mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực
hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng:TCTD và khách hàng xác định và thoả
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Cho vay theo dự án đầu tư:TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện
các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư
phục vụ đời sống…
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng,cho vay thông qua nghiệp vụ
phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cho vay theo hạn mức thấu chi…Và các
phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm,phù hợp với điều kiện
kinh doanh của TCTD ,cũng như điều kiện của khách hàng vay.
Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay: “Thời hạn cho vay là khoảng thời
gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả
hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng”.Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng tín dụng về
ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền trong bao lâu kể từ ngày ký hợp
đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng
14
này trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thoả thuận sau
trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: Đây là điều khoản rất
quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì
thế, các bên phải thoả thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được trả dần hàng tháng
(trả góp) hay trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn. Nếu khoản vay
được thoả thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu
trước về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài
chính của bên vay khi trả nợ.
Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay:Các quy định của pháp luật
cũng có quy định mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp(theo quy định tại
khoản 2 điều 7 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN),và khách hàng vay cũng
phải sử dụng đúng mục đich đã cam kết .Vì vậy,trong điều khoản này, các
bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì (ví dụ, mua vật tư
hàng hoá để kinh doanh hay mua hàng hoá để tiêu dùng…) việc thoả thuận
điều khoản này trong hợp đồng tín dụng được xem như một giải pháp đảm
bảo sự an toàn về vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh
trường hợp bên vay sử dụng vốn một cách tuỳ tiện vào mục đích phiêu lưu,
mạo hiểm. Mặt khác để đảm bảo lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng
vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian
sử dụng vốn, các bên có quyền thoả thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay
mỗi khi xét thấy thờ cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi.
Điều khoản về giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng: Đây là điều
khoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thoả thuận về biện
pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, hoà giải, hoặc lựa
chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu trong hợp đồng
tín dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thoả thuận thì
15
việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm
bằng tài sẩn cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, thì các bên có thể thoả thuận một
điều khoản riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập
thành một hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính.Trên thực tế, các bên
thường ký kết một hợp đồng phụ ( hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp
đồng bảo lãnh) theo thể thức luật định nhằm thể hiện rõ ý chí của mình trong
việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Về lý thuyết, hợp đồng cầm cố, hợp đồng
thế chấp, hợp đồng bảo lãnh do chỉ có tính cách là hợp đồng phụ nên hiệu lực
của nó phụ thuộc hoàn toàn vào hiệu lực của hợp đồng chính(HĐTD).
2.1.2.2.Chủ thể của hợp đồng tín dụng
Trong giao dịch tín dụng ,chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng bao gồm bên
cho vay (các TCTD) và bên vay (các tổ chức ,cá nhân có đủ các điều kiện do
pháp luật quy định ).Các chủ thể này khi tham gia giao dịch hợp đồng tín
dụng cần phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo sự dự liệu của pháp
luật .Việc quy định các điều kiện chủ thể đối với bên vay và bên cho vay
không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự đánh giá hiệu lực của hợp đồng tín
dụng .,mà còn góp phần năng cao kỹ năng giao kết hợp đồng tín dụng cũng
như củng cố kỷ luật hợp đồng đối với các chủ thể tham gia giao dịch tín dụng
.
Bên cho vay trong HĐTD thông thường là TCTD có đủ những điều kiện do
pháp luật quy định .Ngoài ra,,các tổ chức khác không phải là TCTD được
Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện hoạt động tín dụng thì cũng có thể
là bên cho vay trong hợp đồng tín dụng và cũng phải thõa mãn các điều kiện
chủ thể giống như đối với bên cho vay là TCTD.
Theo quy định của pháp luật hiện hành ,một TCTD muốn trở thành chủ
thể cho vay trong HĐTD phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây :
16
Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp.
Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y.
Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp
Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín
dụng với khách hàng.(Điều 28 luật Các TCTD sửa đổi bổ sung năm 2004).
Riêng với các tổ chức không phải là TCTD .muốn trở thành chủ thể cho
vay trong hợp đồng tín dụng thì chỉ cần thỏa mãn những điều kiện như :có
giấy phép hoạt động ngân hàng ,có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và
có người đại diện hợp pháp .Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động
cho vay là hoạt động ngân hàng được phép thực hiện.
Việc pháp luật quy định những điều kiện này đối với bên cho vay không
chỉ góp phần hạn chế ,loại trừ những TCTD không đủ tiêu chuẩn kinh doanh
trên thương trường ,nhờ đó góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng và
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư,mà còn là căn cứ để các luật
gia hay các thẩm phán ,trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá một
cách khách quan vấn đề hiệu lực pháp lý của hợp đồng tín dụng.
Bên vay trong HĐTD là các tổ chức ,cá nhân thỏa mãn các điều kiện do
pháp luật quy định và các điều kiện khác do các bên thỏa thuận .
Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa
đổi bổ sung một số điều của quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với
khách hàng ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngà
31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ,tại điều 2 khoản 2”Khách
hàng vay tại Tổ chức tín dụng là các cá nhân,tổ chức Việt nam và nước ngoài
có nhu cầu vay vốn ,có khả năng trả nợ để thực hiện các dự án đầu tư,phương
án sản xuất ,kinh doanh ,dịch vụ hoặc dự án đâu tư, phương án phục vụ đời
sống trong nước và nước ngoài. Trong trường hợp khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước
ngoài, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định riêng.”
17
.Khi vay vốn tại TCTD khách hàng phải thoả mãn các điều kiện vay
vốn theo quy định của pháp luật,Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho
vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật:
“ Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:
Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự
Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự
Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự
Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự
Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự
Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có
năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật
của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu
pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia
quy định.
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có
hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù
hợp với quy định của pháp luật.
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính
phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
18
Với điều kiện này các bên không nhất thiết phải ghi rõ trong hợp đồng tín
dụng và nếu không ghi điều kiện này trong hợp đồng tín dụng thì cũng có thể
coi như các bên mặc nhiên thừa nhận nó theo quy định của pháp luật.Theo
quy trình nghiệp vụ tín dụng ,khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng
,bên cho vay phải kiểm tra ,xác minh điều kiện này trên cơ sở các tài liệu,giấy
tờ làm bằng chứng do khách hàng xuất trình như quyết định thành lập tổ
chức,điều lệ của tổ chức ,giấy chứng nhận dăng ký kinh doanh,quyết định bổ
nhiệm người đứng đầu tổ chức (đối với người vay là tổ chức)hoặc giấy chứng
minh nhân dân ,giấy xác nhận về hộ tịch ,hộ khẩu ,lý lịch tư pháp do cơ quan
có thẩm quyền cấp(đối với người vay là cá nhân ).
Tóm lại việc pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên
cho vay và bên đi vay trong hợp đồng tín dụng ngoài mục đích thiết lập trật
tự ,kỷ cương ,trong hoạt động tín dụng,còn có ý nghĩa là giải pháp nhằm bảo
đảm sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2.1.2.3.Một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên tham gia hợp đồng
tín dụng
Trong pháp luật thực định, do mỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng có tư
cách pháp lý khác nhau nên những chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ
khác nhau. Các quyền và nghĩa vụ này được phát sinh từ nội dung thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng, hoặc phát sinh từ các điều khoản đã được dự liệu
sẵn của nhà lập pháp nhưng suy cho cùng chúng đều có giá trị pháp lý ràng
buộc đối với các bên giao kết hợp đồng tín dụng.
2.1.2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay
Với tư cách là bên cho vay, đồng thời là chủ nợ trong quan hệ cho vay,
bên cho vay có những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản sau đây:
“Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời
19
sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi
quyết định cho vay. Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không
đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu
quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc tổ chức tín dụng không có
đủ nguồn vốn để cho vay”.Tiền gửi là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản
Nợ của từng Tổ chức tín dụng, hoạt động kinh doanh tín dụng của các Tổ
chức tín dụng chủ yếu bằng vốn của người khác tức là chủ yếu bằng tiền gửi
mà các Tổ chức tín dụng đã huy động được;do đó chúng ta vẫn thường nói
các Tổ chức tín dụng kinh doanh bằng cách “đi vay để cho vay” hay kinh
doanh trên sự kinh doanh của người khác. Việc cho vay và đầu tư của các Tổ
chức tín dụng luôn gắn liền với rủi ro.Do đó , thực hiện tốt việc thẩm tra tính
xác thực của các tài liệu sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn ,ảnh hưởng tới hoạt động
của các Tổ chức tín dụng.Vì vậy ,khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin
sai sự thật ,hay vi phạm hợp đồng ..thì Tổ chức tín dụng được quyền chấm dứt
việc cho vay ,thu hồi nợ trước hạn hoặc khởi kiện khách hàng hoặc người bảo
lãnh vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm cho
khách hàng vay sử dụng (nghĩa vụ giải ngân).Nghĩa vụ này phát sinh do việc
bên cho vay đã cam kết cho khách hàng vay được sử dụng số tiền của mình
trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả.Nếu bên cho vay vi phạm
nghĩa vụ này (nghĩa vụ giải ngân) như giả ngân chậm hoặc không chịu giải
ngân theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thì vấn đề trách nhiệm pháp lý
của họ là như thế nào? với hiện trạng pháp luật hiện hành ở Việt Nam, trong
trường hợp đó bên vay được coi là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, vì thế có
trách nhiệm phải bồi thường các thiệt hại vật chất đã xảy ra cho bên vay.
Ngoài ra bên cho vay còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình như đã
cam kết, trừ trường hợp cả hai bên cùng thoả thuận chấm dứt hợp đồng tín
dụng trước thời hạn.
20
Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách
hàng. “Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình và thực hiện kiểm tra, giám sát
quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc
điểm hoạt động của tổ chức tín dụng và tính chất của khoản vay, nhằm bảo
đảm hiệu quả và khả năng thu hồi vốn vay; gửi quy trình kiểm tra giám sát vốn
vay của khách hàng cho Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.”.
Trước khi luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi năm 2004, việc kiểm tra,
giám sát quá trình vay vốn chỉ được xem là một nghĩa vụ của tổ chức tín
dụng và khả năng pháp lý này đối với bên cho vay hoàn toàn phát sinh trên
cơ sở các bên thoả thuận chứ không phải do pháp luật quy định trước. Tuy
nhiên, đứng trước yêu cầu đề cao trách nhiệm pháp lý của bên cho vay trong
quá trình cung cấp tín dụng, khoản 3, điều 53 Luật Các Tổ chức tín dụng
( được sửa đổi năm 2004) đã quy định việc kiểm tra, giám sát qúa trình cho
vay, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng là một nghĩa vụ pháp lý của tổ
chức tín dụng chứ không còn là một quyền năng pháp lý nữa. Với quy định
này, bên cho vay có trách nhiệm phải kiểm tra quá trình sử dụng vốn và hoàn
trả vốn của khách hàng nhằm nâng cao chất lượng quản trị các khoản tín
dụng. Mặt khác, khách hàng vay cũng buộc phải chịu sự kiểm tra, giám sát
này từ phía bên cho vay nhằm tạo điều kiện để bên cho vay tiến hành các
biện pháp quản trị tíng dụng hiệu quả.Phải chăng đây là một bất cập của pháp
luật vì về mặt lý thuyết quyền và nghĩa vụ của bên cho vay phát sinh từ hợp
đồng tín dụng nhưng trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc sử
dụng vốn vay như thế nào là quyền của bên vay ,vì vậy nếu quy định như vậy
một mặt sẽ tạo thuận lợi cho các tổ chức tín dụng trong việc kiểm tra ,theo
dõi ,kiểm soát tín dụng nhưng lại gây khó khăn cho bên vay.Như vậy ,cần có
những yêu cầu đối với việc áp dụng quy định này trong thực tiễn .
Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thoả thuận, kể cả tiền
phạt, tiền bồi thường thiệt hại (nếu có).” Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng
không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có
21
quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu
hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn;
Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy
định tại Quy chế này; mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ
và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
2.1.2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của bên vay
Với tư cách là người hưởng tín dụng, đồng thời là con nợ trong quan hệ
cho vay, bên vay có những quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:
Quyền từ chôí các yêu cầu không hợp lý của tổ chức tín dụng khi kết,
thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Quyền năng này được pháp luật quy định nhằm tạo cho khách hàng vay
khả năng chống lại các yêu cầu rõ ràng là không hợp lý của TCTD, có thể
gây ra những bất lợi cho họ nếu buộc phải thoả mãn các yêu cầu này, ví dụ
khách hàng vay có quyền từ chối cung cấp thông tin và hoạt động kinh
doanh của mình nhưng rõ ràng là không liên quan gì đến việc sử dụng vốn và
hoàn trả vốn vay cho tổ chức tín dụng…
Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc
các vi phạm HĐTD của TCTD.
Đây là một quyền năng pháp định, với mục tiêu nhằm bảo vệ lợi ích hợp
pháp của khách hàng vay trước những hành vi không có căn cứ hợp pháp của
tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nếu pháp luật cho phép khách hàng vay được
quyền đệ đơn khiếu nại đối với tổ chức tín dụng nhận hồ sơ vay vốn, chỉ vì lý
do họ đã từ chối cho vay không có căn cứ thì rõ ràng không hợp lý, bởi lẽ
như vậy nghĩa là pháp luật đã tước đi một quyền năng nghĩa vụ cơ bản nhất
của người kinh doanh đó là quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự
22
định đoạt việc cho vay hay không đối với khách hàng. Với quy định này, nếu
tổ chức tín dụng muốn từ chối cho vay đối với một khách hàng thì họ bắt
buộc phải đưa ra các căn cứ hay lý do chính đáng để từ chối.
Quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân đúng thoả
thuận trong HĐTD.
Quyền năng này của bên vay cũng chính là nghĩa vụ của bên cho vay,
đều phát sinh trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Do có quyền
này mà bên vay được yêu cầu bên cho vay trả tiền bồi thương thiệt hại đã xảy
ra cho mình, trong trường hợp bên cho vay không thực hiện đúng nghĩa vụ
giải ngân theo thoả thuận mà gây thiệt hại.
Nghĩa vụ sử dụng tiền vay hiệu quả đúng mục đích đã thoả thuận trong
HĐTD.
Nghĩa vụ này phát sinh do điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay đã
được ghi trong HĐTD, nhằm đặt cho người vay tình trạng bị kiểm tra, giám
sát thường xuyên bởi người cho vay. Tuy nhiên, nghĩa vụ này sẽ không cản
trở người vay áp dụng các biện pháp nhằm đem lại tính hiệu quả cho phương
án sử dụng vốn của mình như được quyền lựa chọn mô hình công nghệ thích
hợp nhất để đầu tư, lựa chọn loại vật tư, nguyên liệu trong nước hay nhập
khẩu để mua sắm bằng nguồn vốn tín dụng được cấp… Ngoài ra, hậu quả
pháp lý của việc bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ này là họ sẽ bị bên
cho vay đình chỉ việc sử dụng vốn hoặc bi thu hồi vốn vay trước thời hạn, su
khi đã được bên cho vay nhắc nhở bằng văn bản.
Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, trả tiền phạt vi phạm HĐTD và
tiền bồi thường thiệt hại cho bên cho vay (nếu có).
Đây là một trong những nghĩa vụ chính yếu của bên vay, phát sinh trên
cơ sở hợp đồng tín dụng hoặc phát sinh trên cơ sở phán quyết đã có hiệu lực
pháp luật của cơ quan tài phán có thẩm quyền. Thông thường, nghĩa vụ hoàn
23
trả tiền vay cả gốc và lãi sẽ phát sinh khi HĐTD bắt đầu có hiệu lực và
chúng phải được bên vay thực hiện khi thời hạn sử dụng vốn vay đã hết. Còn
nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm hợp đồng hay bồi thường thiệt hại thì chỉ phát
sinh khi xảy ra sự vi phạm hay sự thiệt hại mà các bên đã thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng, hoặc phát sinh do một phán quyết đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án hay trọng tài. Về nguyên tắc, các nghĩa vụ này của bên vay sẽ
chấm dứt khi nào chúng đã được bên vay thực hiện xong trên thực tế.
2.1.2.4.Các vấn đề liên quan đến hiệu lực của HĐTD
Điều kiện có hiệu lực của HĐTD:Dựa trên các quy định có nguyên tắc của Bộ
luật dân sự năm 2005 về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, một
HĐTD, với tư cách là một giao dịch dân sự đặc thù, chỉ có hiệu lực khi thoả
mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:
Chủ thể tham gia HĐTD phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự.
Mục đích và nội dung của HĐTD không trái pháp luật và đạo đức xã
hội.Mục đích cho vay và mục đích đi vay của các bên chủ thể hợp đồng nhất
thiết phải được thể hiện rõ ràng trong nội dung của hợp đồng và các mục đích
này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng và tự do ý chí.Một HĐTD được coi là không có sự đồng thuận khi
sự thoả thuận đó giữa các bên bị các khuyết điểm như sự nhầm lẫn: sự lừa
dối, lường gạt hoặc sự ép buộc, cưỡng bức trong khi giao kết hợp đồng. Trên
nguyên tắc, các khuyết tật này phải có ảnh hưởng mang tính quyết định đến ý
trí giao kết hợp đồng của các bên thì mới được coi là sự kiện pháp lý làm cho
hợp đồng tín dụng vô hiệu.
Hình thức của HĐTD phải phù hợp với quy định của pháp luật ngân
hàng. Đối với hợp đồng tín dụng, do tính chất rủi ro cao cho quyền lợi của
24
các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng này nên pháp luật ngân hàng đòi
hỏi hình thức hợp đồng tín dụng phải được xem là một trong những điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng.
Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ lúc
đó quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia hợp đồng tín dụng bắt đầu
phát sinh. Chẳng hạn như ở Cộng hoà Pháp, do nhà làm luật coi HĐTD là
hợp đồng thực tế nên họ cho rằng thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng
tín dụng chính là thời điểm bên cho vay chuyển giao số tiền vay (đối tượng
hợp đồng) cho bên vay. Với quan điểm này, việc chuyển giao tiền vay của
người cho vay sang co người vay không phải là một nghĩa vụ pháp lý trong
hợp đồng tín dụng mà bên cho vay phải thực hiện. Vì thế, nếu bên cho vay đã
hứa sẽ cho vay mà sau đó lại không chuyển giao tiền vay (với tư cách là đối
tượng hợp đồng) thì do đó hợp đồng tín dụng vẫn chưa hình thành và người
hứa cho vay cũng không phải gánh chịu một chế tài nào cả.
Còn ở Việt Nam, do nhà làm luật coi HĐTD là loại hợp đồng ưng thuận
nên pháp luật quy định tại thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng
chính là thời điểm các bên đã thoả thuận xong các điều khoản của hợp đồng
và bên sau cùng đã ký tên, đóng dấu (nếu có) và văn bản hợp đồng tín dụng.
Theo quy định này việc chuyển giao tiền vay (giải ngân) là một nghĩa vụ hợp
đồng của bên cho vay và nếu họ không thực hiện đúng hợp đồng này mà lại
gây thiệt hại tính được thành tiền cho bên vay thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm
nộp phạt vi phạm hợp đồng và chịu cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng và các hậu quả pháp lý của sự vô hiệu:HĐTD
đựơc coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, nội dung và hình thức của hợp
đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội hoặc
phương hại đến lợi ích chung. Khi đó, bất ky ai quan tâm (chứ không phải là
các bên ký kết hợp đồng) đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng tín
dụng vô hiệu và thời hạn thực hiện quyền yêu cầu này là không hạn chế.
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×