Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo chương trình mới của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và Đào tạo có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế
– xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Những bài học về sự phát triển
“thần kỳ” của các nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v …, và một số
quốc gia khác đã cho thấy giáo dục phát triển là yếu tố cơ bản để đẩy
nhanh sự tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai 2 của Ban chấp hành Trung ương
khoá VIII khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, Giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu.” [7], quan điểm đó đã định hướng cho chiến lược
phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới của đất nước. Đại hội Đảng
cộng sản Việt Nam lần IX cũng đã đặt ra những nhiệm vụ cụ thể cho ngành
Giáo dục và đào tạo. Đây cũng được xem như là một giải pháp quan trọng
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.
Trước những yêu cầu đổi mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước, trước sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, của khoa học
- công nghệ nói chung và khoa học giáo dục nói riêng, chương trình và sách
giáo khoa hiện hành đã bộc lộ những hạn chế. Chính vì vậy Quốc hội đã có
Nghị quyết số 40/2000/QH10 vào ngày 09 tháng 12 năm 2000 về đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ IX của Đảng và chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đã nêu rõ việc “khẩn trương biên
soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước chương trình và sách giáo
khoa phổ thông, phù hợp với yêu cầu phát triển mới”.
Trước những biến đổi, xu thế phát triển hiện nay, không chỉ có Việt
Nam mà rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện việc đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
1
nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi đất nước.
Trong bối cảnh đó nền giáo dục Việt Nam cũng có nhiều đổi mới. Bên cạnh
các môn học tự nhiên và xã hội, tiếng Anh là phương tiện để người học có
thể tiếp cận nhanh chóng nhất tới các nền văn hoá và tri thức của thế giới.
Mặc dù môn tiếng Anh có đặc điểm riêng nhưng cũng giống như các môn
học khác cần được đổi mới nội dung chương trình để phù hợp hơn, đáp ứng
được đòi hỏi của xã hội. Từ khi đổi mới chương trình THPT, việc dạy và
học môn Tiếng Anh cũng có những thay đổi theo, nó ảnh hưởng đến các
hoạt động dạy, kiểm tra, đánh giá của giáo viên và việc học tập của học sinh.
Do vậy, việc quản lý hoạt động dạy và học tiếng Anh theo chương trình mới
ở THPT cần những sự thay đổi thích ứng.
Trong những năm qua hoạt động quản lý hoạt động dạy học ở các
trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và huyện Yên Lạc nói riêng
vẫn theo cách làm truyền thống đã được hình thành từ nhiều thập kỷ
trước… Cách quản lý hoạt động dạy học của nhà trường nói chung và
môn học tiếng Anh nói riêng phần lớn theo kinh nghiệm tự học hỏi nên
chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu
đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo
chương trình mới của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Yên Lạc, tỉnh
Vĩnh Phúc” có ý nghĩa thiết thực và đáp ứng yêu cầu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện
nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy
học tiếng Anh theo chương trình mới của Hiệu trưởng các trường
THPT huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, đề xuất một số biện pháp quản
lý để nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh nói riêng và chất
lượng dạy học trong nhà trường THPT nói chung, đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục phổ thông hiện nay.
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo chương
trình mới của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh
Phúc
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo chương
trình mới của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo
chương trình mới của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Yên Lạc, tỉnh
Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả nhất định song bên cạnh đó còn có
nhiều hạn chế. Nếu xây dựng được các biện pháp hợp lí và khả thi sẽ đáp ứng
được các yêu cầu của chương trình mới góp phần nâng cao chất lượng dạy học
tiếng Anh ở các trường THPT huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng
Anh theo chương trình mới ở trường THPT
5.2. Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo
chương trình mới ở các trường THPT ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc và
nguyên nhân của thực trạng đó
5.3. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học
tiếng Anh theo chương trình mới ở các trường THPT ở huyện Yên Lạc, tỉnh
Vĩnh Phúc
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
3
Đề tài chỉ nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học
môn tiếng Anh theo chương trình mới của hiệu trưởng ở các trường THPT
huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu ở 4 trường THPT thuộc huyện Yên Lạc,
tỉnh Vĩnh Phúc
Trường THPT Yên Lạc 1
Trường THPT Yên Lạc 2
Trường THPT Phạm Công Bình
Trường THPT Đồng Đậu
6.3 Giới hạn khách thể điều tra
Đề tài tiến hành khảo sát trên các đối tượng cụ thể sau:
- 4 Hiệu trưởng
- 7 Hiệu phó
- 4 Tổ trưởng tổ chuyên môn
- 4 Tổ trưởng tổ bộ môn
- 36 Giáo viên dạy tiếng Anh
- 120 HS của các khối lớp
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sử dụng
phối hợp các phương pháp sau:
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá,
khái quát hoá các tài liệu lí luận, các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng
và Nhà nước có liên quan đến GD&ĐT, quản lý hoạt động dạy học nói chung
và dạy học tiếng Anh nói riêng để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra
4
Chúng tôi xây dựng và sử dụng một hệ thống câu hỏi (xem phụ lục)
để trưng cầu ý kiến của các cán bộ quản lý và giáo viên trường THPT để tìm
hiểu thực trạng việc dạy học tiếng Anh theo chương trình mới.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng trong đề tài với mục đích quan
sát cách thức quản lý, cách thực hiện hoạt động dạy và học môn tiếng Anh
hiện nay của giáo viên và học sinh các trường THPT để thu thập tài liệu bổ
sung cho kết quả điều tra.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn một số Hiệu trưởng, Hiệu phó, tổ
trưởng bộ môn và giáo viên dạy tiếng Anh của một số trường THPT để
tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy tiếng Anh và
quản lý hoạt động dạy tiếng Anh theo chương trình mới nhằm góp phần
làm rõ thực trạng.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các đánh giá sản phẩm hoạt động giảng dạy, hoạt động
chuyên môn của giáo viên và các sản phẩm hoạt động học của học sinh qua
kết quả các bài kiểm tra, các bài thi, các kỹ năng học sinh thể hiện trong học
tập tiếng Anh hiện nay.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu được.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Phát hiện được thực trạng các biện pháp quản lý HĐDH tiếng Anh
theo chương trình mới của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện Yên
Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
5
- Đề xuất được một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng
quản lý HĐDH tiếng Anh cho Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện Yên
Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh
theo chương trình đổi mới ở các trường THPT.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý dạy học tiếng Anh theo
chương trình mới của hiệu trưởng ở các trường THPT huyện Yên Lạc, tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng
Anh theo chương trình mới của hiệu trưởng ở các trường THPT huyện
Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TIẾNG ANH THEO CHƯƠNG TRÌNH ĐỔI MỚI
Ở CÁC TRƯỜNG THPT
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đã và đang tiếp tục
phát triển với những bước nhảy vọt mang tính đột phá trong thế kỷ 21, khoa
học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp có tác động tới tất cả
các lĩnh vực trong đó có quản lý, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời
sống, tinh thần của xã hội, thông tin ,trí thức trở thành nguồn lực chủ yếu
cho phát triển và lợi thế cạnh tranh của các nước. Toàn cầu hóa, hội nhập
kinh tế quốc tế đã và đang là một xu thế phát triển khách quan trong đó vừa
diễn ra quá trình cạnh tranh gay gắt giữa các nước vừa thúc đẩy sự phát triển
của mỗi nước trên thế giới.
Việt Nam ngày nay, với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước trong xu thế toàn cầu hóa, mặt khác năm 2006, Việt Nam gia
nhập WTO là một bước đi quan trọng của đất nước trong quá trình hội nhập
với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế xã hội hơn bao giờ hết cần đến nguồn
lực con người. Nguồn nhân lực này phải trải qua quá trình đào tạo của nền
giáo dục hiện đại có chất lượng.
Giáo dục có chức năng quan trọng là tái sản xuất sức lao động kỹ
thuật cho nền kinh tế, phục vụ cho sự phát triển của xã hội. Vì vậy, hoạt
động giáo dục luôn luôn phát triển, tiến bộ và không ngừng đổi mới để góp
phần vào sự phát triển, sự tiến bộ của xã hội. Trong xu thế toàn cầu hóa, hội
nhập kinh tế thế giới, nguồn nhân lực có chuyên môn cao, tay nghề vững
vàng, ngoại ngữ tốt để giao tiếp lại càng cần thiết và quan trọng. Để đáp ứng
được yêu cầu này của xã hội, giáo dục lại càng có vai trò quan trọng và cấp
7
thiết trong việc giáo dục toàn diện. Chính vì vậy mà trong Luật Giáo dục
năm 2005 - Điều 7 đã đề cập về vấn đề dạy ngoại ngữ: "Ngoại ngữ quy định
trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao
dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trườngcũng như các cơ
sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu
quả".
Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, khoa học quản lý giáo dục
Việt Nam đang dần hoàn thiện, phát triển và tiếp cận với thế giới. Trong quá
trình đó, đã xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu quản lý giáo dục với các công
trình được viết dưới dạng sách tham khảo, giáo trình bài giảng với các tác
giả như: Đỗ Hoàng Toàn với giáo trình Khoa học quản lý, Trần Kiểm với
Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Bùi Minh
Hiền (chủ biên) - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo với Quản lý giáo dục,
Đặng Quốc Bảo với Quản lý giáo dục, Đặng Bá Lãm, Phạm Khắc Chương
với Lý luận quản lý giáo dục đại cương, Trần Quốc Thành với bài giảng Đại
cương về quản lý giáo dục, Trần Kiểm - Bùi Minh Hiền với giáo trình Quản
lý và lãnh đạo nhà trường,…
Trong hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học trong nhà
trường hiện nay một số đề tài đã được nghiên cứu như: Một số biện pháp
quản lý hoạt động của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở
trường THCS huyện Đông Sơn - Thanh Hoá - Lê Thị Hải - ĐHSP HN, 2003;
Một số biện pháp quản lý của chủ nhiệm bộ môn đối với hoạt động dạy học
ngoại ngữ ở trường Đại học sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên - Hoàng
Công Đình, ĐHSPHN, 2004, Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học
môn tiếng Anh của bộ môn Ngoại ngữ trường Cao đẳng kỹ thuật y tế I - Vũ
Thị Thuý, ĐHSP HN, 2005,. Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học
ngoại ngữ của chủ nhiệm bộ môn ở trường Cao đẳng sư phạm Trung Ương -
Bùi Phi Yến, ĐHSP HN, 2006. Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng
8
dạy học ngoại ngữ ở trường Cao đẳng sư phạm Trung Ương - Vũ Hồng Ngọc,
ĐHSP HN, 2006. Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh
cho cán bộ công chức khối hành chính sự nghiệp của thành phố Hải Phòng
trong thời kỳ hội nhập - Nguyễn Thị Ngân - ĐHSP HN, 2007.
Nhìn chung các đề tài trên đều hướng về việc phân tích quản lý hoạt
động dạy học nói chung và phân ngành nói riêng nhưng ít đề tài nào nghiên
cứu về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo chương trình mới ở các
trường THPT.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Quản lý là một hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của
con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận
động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. Nghiên cứu về
quản lý sẽ giúp cho con người có được những kiến thức cơ bản nhất, chung
nhất đối với hoạt động quản lý
F.W Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm,
sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. [16;12]
H. Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích
của nhóm (tổ chức ). [16;12]
Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ
đạo. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn
nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ”. [16;12]
Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối
hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.
9
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về quản lý
như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. [16;12]
Khi xem xét khái niệm quản lý cần chú ý các điểm sau:
- Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể, nhóm xã
hội, tổ chức.
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những
nguời cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức.
- Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành
công việc qua những nỗ lực của người khác.
Quản lý bao gồm nhiều yếu tố như chủ thể quản lý (tức trả lời câu hỏi
“Ai quản lý?”), chủ thể quản lý có thể là một hoặc nhiều người. Còn “Quản
lý ai?” hay “Quản lý cái gì?” đó chính là khách thể quản lý (hay còn gọi là
đối tượng quản lý). Chủ thể quản lý và khách thể (đối tượng) quản lý luôn
có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Đây là quan hệ ra lệnh – phục
tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Bên cạnh đó phải có một mục
tiêu, một quỹ đạo đã định ra cho chủ thể và khách thể quản lý. Chính mục
tiêu này đặt ra những căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
Như vậy, bản chất của quản lý là sự tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục
tiêu cơ bản của quản lý.
Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau:
- Chức năng kế hoạch hoá: Soạn thảo thông qua được những quy định
về chủ chương quản lý quan trọng trên cơ sở những yêu cầu cơ bản kết hợp
với thực tiễn để đưa ra những phương hướng kế hoạch cho phù hợp và có
tính khả thi cao.
- Chức năng tổ chức: Thực hiện các quyết định, chủ trương bằng cách
xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan
10
hệ tổ chức, tuyển chọn, sắp xếp, bồi dưỡng cán bộ, làm cho mục tiêu trở nên
có ý nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp với
các lực lượng tích cực, chủ động theo sự phân công như kế hoạch đã định.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá: Chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý
để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện việc xem xét tình hình
thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có đánh giá đúng đắn.
Tóm lại: Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất
với một trình tự nhất định, trong đó từng chức năng vừa có tính độc lập
tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với chức năng khác. Quá trình ra
quyết định quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo một
trình tự nhất định. Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chức năng nào trong
số các chức năng đều ảnh hưởng xấu tới kết quả quản lý. Các chức năng tạo
thành một chu trình quản lý của một hệ thống.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội. Lĩnh vực này ngày
càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống. Giáo dục đồng nghĩa với sự phát
triển. Nó là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần.
Quản lý giáo dục cho thấy điển hình nhất về quản lý con người, quản lý sự
hình thành và phát triển nhân cách. Sự hình thành và phát triển nhân cách
đưa ra cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài.
Về khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát: “Hoạt động điều hành, phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã
hội”. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác
giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người; tuy nhiên
trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là
11
sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo
dục quốc dân.
- Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã
hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội. [6;86]
- Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở
nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy
luật của quản lý giáo dục, sự phát triển tâm lý, thể lực của trẻ em.”.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá
trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến
lên một trạng thái mới về chất” [19].
Như vậy, quản lý giáo dục có thể tổng hợp các biện pháp tổ chức kế
hoạch hóa nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường các cơ quan trong hệ thống
giáo dục. Hệ thống giáo dục là một hệ thống xã hội, quản lý giáo dục cũng chịu
sự chi phối của quy luật xã hội và tác động của quản lý xã hội. Trong quản lý
giáo dục các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý sự nghiệp chuyên
môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không tách biệt, tạo thành hoạt
động quản lý thống nhất.
Từ những khái niệm nêu trên đưa đến cách hiểu chung nhất: Quản lý
giáo dục là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung
nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục. Quản lý giáo dục là sự tác
động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong lĩnh vực
giáo dục nhằm đạt mục tiêu xác định.
1.2.3. Quản lý nhà trường
12
Trường học nơi tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác giáo
dục, tế bào của bất cứ hệ thống giáo dục nào (từ cơ sở đến trung ương). Chất
lượng của giáo dục đạt được do thành tích đích thực của nhà trường (cùng
với hệ thống quản lý giáo dục).
Theo tác giả Bùi Trọng Tuân thì quản lý nhà trường bao gồm quản lý
bên trong nhà trường, nghĩa là quản lý từng thành tố: Mục đích giáo dục, nội
dung giáo dục, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đội ngũ giáo viên,
CBCNV, tập thể học sinh và cơ sở vật chất - thiết bị dạy học. Các thành tố
này quan hệ qua lại lẫn nhau, tất cả đều nhằm thực hiện chức năng giáo dục
- đào tạo ngoài ra còn quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường với môi
trường xã hội bên ngoài.
Tác giả Phạm Minh Hạc viết: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [11, tr71].
Tác giả M.I. Kônđacôp thì “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh
chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội
sư phạm đặc biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và
hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường,
nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế – xã hội, tổ chức sư phạm
của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [12, tr16].
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý trường học là tập hợp những
tác động tối ưu (công tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, can thiệp) của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác”. [19]
Mục tiêu quản lý của nhà trường được cụ thể hoá trong kế hoạch
nhiệm vụ năm học, tập trung vào việc phát triển toàn diện nhân cách của học
sinh. Để thực hiện mục tiêu này, người hiệu trưởng phải tiến hành các hoạt
động quản lý.Xây dựng môi trường giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất nhà
13
trường và các điều kiện phục vụ cho việc dạy và học, bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên, tạo lập, duy trì tốt mối quan hệ nhà trường- gia đình- xã hội, thực
hiện dân chủ hoá trong quản lý nhà trường và các hoạt động khác.
Từ những định nghĩa trên cho thấy: Quản lý nhà trường là việc người
hiệu trưởng xây dựng mục tiêu, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kiểm tra
đánh giá các kết quả đạt được so với yêu cầu chuẩn mực đề ra trong chương
trình giáo dục và nhiệm vụ năm học về chất lượng phát triển toàn diện nhân
cách của học sinh.
1.2.4. Quản lý hoạt động dạy học
1.2.4.1. Hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là quá trình truyền thụ, lĩnh hội những kỹ năng, kỹ
xảo và phương pháp nhận thức của con người. Dạy học là quá trình hoạt
động hai mặt do thầy giáo (dạy) và người học (học) nhằm thực hiện các mục
đích dạy học… Nhiệm vụ dạy trong nhà trường không chỉ đảm bảo cho
người học có một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành ,
phát triển nhân cách của họ
Quan niệm trên về hoạt động dạy học đã phản ánh tính chất hai mặt
của quá trình dạy học: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của
học sinh. Hai hoạt động này không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt
động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới đáp ứng được
yêu cầu của thời đại. Ngày nay trong quá trình hoạt động chung đó, người
giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của
người học để giúp họ tự khám phá tri thức, ngoài ra giáo viên cũng có chức
năng truyền thụ tri thức nhưng chỉ khi người học thật cần thiết. Song chức
năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy.
Người giáo viên phải suy nghĩ để giúp người học sử dụng những tri thức,
những kinh nghiệm đã có của mình, những tri thức họ thu thập được qua các
14
phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống để tạo nên sự hiểu biết của
mình.
Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, người học tự giác, tích cực,
chủ động, tự tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình
nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực
nhận thức, đặc biệt năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan
khoa học và những phẩm chất tốt đẹp của con người mới.
Trong quá trình dạy học không thể thiếu một trong hai quá trình bộ
phận này, nếu không thì quá trình đó không diễn ra.
Hoạt động dạy học là hoạt động trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển,
lãnh đạo của người giáo viên làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động
tự tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực
hiện những nhiệm vụ dạy học.[2]
1.2.4.2. Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý HĐDH chính là các biện pháp tác động của chủ thể quản lý đến
tập thể giáo viên, học sinh, …khác nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học của nhà trường
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường theo yêu cầu trong năm học.
Quản lý hoạt động dạy học chính là sự tác động lên đội ngũ giáo viên,
học sinh qua việc thực thi các chức năng quản lý kế hoạch, tổ chức chỉ đạo,
kiểm tra, điều chỉnh nhằm thực hiện mục tốt nhất mục tiêu giáo dục. Trong
đó người thầy đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt học sinh đi tìm chân lý.
Người học chủ động tiếp cận chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu.
Đặc biệt vai trò người học trên cơ sở hưỡng dẫn của người giáo viên biết tự
xây dựng kế hoạch, tự kiểm tra đánh giá để đạt chuẩn với yêu cầu trong giáo
dục.
15
1.2.4.3. Mục tiêu quản lí hoạt động dạy học
- Đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch đào tạo và nội
dung, chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian quy định.
- Đảm bảo hoạt động dạy học đạt chất lượng cao.
1.2.4.4. Nội dung quản lý hoạt động dạy học
- Quản lý mục tiêu, nội dung dạy học: Quản lý việc xây dựng, quản lý
việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, thái độ và phát triển trí tuệ cho
học sinh, việc chấp hành nội quy, quy chế về đào tạo, như: điều lệ, nội quy,
chế độ…
- Quản lý chất lượng dạy học: Việc phát hiện kịp thời các nguyên nhân
dẫn đến tình trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiên các biện pháp khắc
phục những yếu kém nhằm đảm bảo được chất lượng dạy học và đạt được
yêu cầu của xã hội đối với dạy học.
Bên cạnh đó, các nhà trường cần chú trọng đến các nội dung quản lý như:
- Quản lý kiểm tra, đánh giá, xác nhận trình độ văn bằng, chứng chỉ.
- Quản lý hoạt động ngoài lớp, ngoài nhà trường và quản lý điều phối
các hoạt động của các tổ chức sư phạm trong nhà trường.
Việc quản lý hoạt động dạy học phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc
quản lý giáo dục nói chung và áp dụng những nguyên tắc đó vào quá trình
dạy học ở phạm vi một nhà trường nói riêng.
1.2.5. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học
1.2.5.1.Biện pháp
Theo từ điển Tiếng việt do nhóm biên soạn Nguyễn Ngọc Bích, Trần
Thu Hằng, Chu Anh Tuấn, Quang Uý, Quang Minh - Nhà xuất bản Từ điển
Bách khoa - Hà Nội – 2005; Biện pháp: Các hành động lựa chọn sao cho
phù hợp với mục đích. Biện pháp tích cực là phòng bệnh, bất đắc dĩ mới
chữa bệnh; Hành động có cơ sở pháp lý hay dựa trên một quyền lực. Biện
pháp thi hành kỷ luật.
16
1.2.5.2. Biện pháp quản lý
Biện pháp quản lý: Tổ hợp các cách thức tiến hành của chủ thể quản lý
nhằm tác động đến đối tượng quản lý để đạt mục tiêu quản lý.
1.2.5.3. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học
- Biện pháp quản lý HĐDH là những cách thức tiến hành của chủ thể
quản lý nhằm tác động vào đối tượng quản lý hơn nữa còn giải quyết những
vấn đề trong công tác quản lý hoạt động dạy học, làm cho việc quản lý
HĐDH được vận hành đạt mục tiêu dạy học và giáo dục của cấp học đề ra
- Biện pháp quản lý HĐDH của hiệu trưởng trường THPT là các cách
thức tiến hành của hiệu trưởng để tác động đến các lĩnh vực trong quản lý
HĐDH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học nhằm thực hiện mục tiêu
cấp học.
1.3. Quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh theo chương trình mới ở
trường THPT
1.3.1. Hoạt động dạy học môn tiếng Anh
1.3.1.1. Vị trí và vai trò của tiếng Anh ở trường THPT
- Tiếng Anh không chỉ là một trong các môn học cơ bản, không thể
thiếu của học vấn phổ thông, mà còn phương tiện hữu hiệu để khai thác
thông tin công cụ giao tiếp, cập nhật tri thức để hội nhập và phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục
THPT. Môn tiếng Anh cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp mới để
tiếp thu những tri thức tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hóa đa dạng, phong
phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế.
- Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của môn tiếng Anh trong
trường phổ thông, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, thông tư
về việc đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ
trong các trường THPT. Đại hội lần thứ IX của Đảng đề ra mục tiêu phát triển
17
giáo dục và đào tạo giai đoạn 2001 - 2010 đã nhấn mạnh "Chú trọng trang bị
và nâng cao kiến thức ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên".
- Môn tiếng Anh ở trường THPT còn góp phần phát triển tư duy
(trước hết là tư duy ngôn ngữ), hỗ trợ cho việc dạy học ,tiếng Anh không
những chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác mà còn góp phần hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu
giáo dục toàn diện ở trường phổ thông.
Để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với nhu cầu của
người học và điều kiện dạy học cụ thể của từng địa phương. Việc quản lý
dạy học tiếng Anh cần: Quản lý mục tiêu và nội dung dạy học tiếng Anh,
đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Anh, quản lý hoạt động dạy của
thầy và hoạt động học của trò, quản lý việc thực hiện chương trình, SGK
mới, đổi mới phương pháp dạy học, cải tiến các hình thức tổ chức dạy học
phù hợp với đặc trưng của bộ môn, với hoàn cảnh của mỗi địa phương, đảm
bảo học sinh được học liên tục 7 năm ở bậc trung học (từ lớp 6 đến lớp 12),
đầu tư CSVC, thiết bị, sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả, đổi mới các hình
thức kiểm tra, đánh giá cho phù hợp chương trình, phương pháp giảng dạy
và yêu cầu của bộ môn tiếng Anh.
1.3.1.2. Hoạt động dạy học môn tiếng Anh
Với nét đặc trưng riêng, dạy và học tiếng Anh không giống với các môn
học khác. Trong quá trình dạy và học, học sinh phải luôn tham gia với tư thế
chủ động hơn. Các kỹ năng nghe- nói- trả lời câu hỏi luôn đòi hỏi người học
phải có khả năng tư duy nhanh và đặc biệt người học phải phản xạ kịp thời,
mạnh dạn để khả năng giao tiếp trong giờ học tốt. Nhằm đạt được yêu cầu đó,
giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc lập kế hoạch, tổ chức, sắp
xếp, kiểm tra đánh giá, khích lệ học sinh và giúp các em từng bước lĩnh hội
kiến thức của môn tiếng Anh
Thực tế hoạt động dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy học tiếng Anh
nói riêng đều phải quan tâm đến 4 kỹ năng Nghe - Nói - Đọc - Viết. Hoạt
18
động dạy học tiếng Anh là một quá trình liên tục, giúp người học từng bước
làm chủ được 4 kỹ năng của ngôn ngữ mà họ học.
Với mục tiêu học tiếng Anh được mở rộng như một công cụ giao tiếp.
Do vậy phương pháp dạy học tiếng Anh phải xuất phát từ mục tiêu đào tạo,
nhằm đạt được mục đích của giáo dục. Phương pháp phải gắn với nội dung
dạy học, phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như lứa tuổi học sinh.
Trên cơ sở những nguyên tắc đó, phương pháp dạy học tiếng Anh đặt ra các
yêu cầu sau:
+ Giáo viên, người tổ chức, hướng dẫn, đóng vai trò người trọng tài,
người cố vấn các hoạt động của học sinh.
+ Học sinh, chủ thể nhận thức, được phát triển trong hoạt động, được
giáo viên hướng dẫn, khuyên giải. Học sinh học tập bằng hành động tuỳ
theo hứng thú và khả năng của mình, từ chỗ làm quen chuyển dần sang tái
tạo.
+ Sử dụng ngày càng nhiều các phương pháp và phương tiện kỹ thuật
để cá thể hóa việc học tập của học sinh.
+ Quan tâm chu đáo việc hướng dẫn học sinh học tập cá nhân, giúp
học sinh phát triển khẩu ngữ, khả năng giao tiếp.
Việc lựa chọn các phương pháp dạy học tiếng Anh cụ thể phải phối
hợp tối ưu những năng lực sáng tạo của giáo viên, kinh nghiệm nhận thức
của học sinh và những đặc điểm, nội dung của môn học.
1.3.1.3. Chương trình mới môn tiếng Anh ở trường THPT
Chương trình mới môn tiếng Anh ở trường THPT có những điểm
khác so với chương trình cũ. Cụ thể là:
- Chương trình mới quan tâm đều đến cả 4 kỹ năng Nghe - Nói - Đọc -
Viết. Qua chương trình này, học sinh có thể luyện được cả 4 kỹ năng. Tuy
nhiên, với chương trình mới này đòi hỏi học sinh cần phải phát huy tính tự
giác, ý thức học tập cao.
19
- Lượng kiến thức chương trình mới tương đương với chương trình
cũ, song thời lượng phân bố cho từng bài ngắn hơn rất nhiều so với chương
trình cũ. Một bài đọc ở chương trình cũ với lượng từ ít hơn, từ mới ngắn vần
dễ đọc hơn và được phân bố học trong 4 tiết. Bài đọc trong chương trình
mới với lượng từ nhiều hơn, từ mới dài vần và khó đọc hơn nhưng chỉ được
phân bố dạy trong 1 tiết. Chính vì vậy mà chương trình tiếng Anh đổi mới
trở nên khó và quá tải đối với học sinh. Hơn thế nữa, sự phân bố thời gian để
học phần ngữ pháp của chương trình tiếng Anh đổi mới quá ngắn so với lư-
ợng kiến thức mà các em phải học, điều này làm cho chương trình trở nên
khó đối với người dạy, đặc biệt là người học cảm thấy là chương trình trở
nên rất quá tải.
- Với chương trình mới đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt áp dụng, kết
hợp các phương pháp giảng dạy để các em có thể tiếp thu và vận dụng được
kiến thức đã học trong các tình huống cuộc sống thực tại, giúp các em có
hứng thú trong học tập, từ đó có thể tiếp thu kiến thức một cách chủ động, tự
giác vận dụng kiến thức đã học vào các tình huống thực tế để giúp các em
biến kiến thức đã học thành kiến thức của mình.
- Quy mô lớp học theo chương trình mới phù hợp với sĩ số từ 15 đến
25 học sinh là tối đa, song thực tế sĩ số hiện tại đang dạy ở các khối lớp phổ
biến ở mức 45 đến 50 học sinh. Do đó, việc luyện kỹ năng cho học sinh
cũng gặp rất nhiều khó khăn vì số học sinh trong một lớp quá đông không
thể bao quát hết được các em một cách đồng đều. Đây cũng là lý do không
thể nâng cao được chất lượng học tiếng Anh cho học sinh.
Theo chương trình mới hiện nay, nếu chúng ta đáp ứng được những
điều kiện của chương trình, chẳng hạn như sỹ số lớp học chỉ khoảng từ 15
đến 25, trang thiết bị dạy học hiện đại, khả năng thích ứng của giáo viên về
phương pháp giảng dạy là lấy học sinh làm trung tâm, học sinh giữ được vai
trò chủ đạo trong một tiết học, đặc biệt khi giáo viên biết cách vận dụng tối
20
đa trang thiết bị trong một giờ học thì học sinh sẽ tiếp thu rất có hiệu quả từ
đó các em có thể luyện tập được tối đa thời gian trong một giờ học cũng như
trong một bài học. Nếu được như vậy học sinh sẽ cảm thấy việc học một
ngoại ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ dễ dàng hơn, một cách nhẹ nhàng và có hiệu
quả cao.
1.3.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh
1.3.2.1. Quản lý mục tiêu và nội dung dạy học tiếng Anh
Tiếng Anh được đưa vào chương trình giáo dục THPT nhằm đạt ba mục
đích: Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp, nâng cao trình độ văn hóa
và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức. Cả ba mục đích đều quan trọng, có quan hệ
mật thiết với nhau. Mục đích thực hiện giao tiếp trở thành cơ bản nhất, còn hai
mục đích kia phải luôn luôn gắn chặt với mục đích thứ nhất.
Quán triệt được mục tiêu của dạy học tiếng Anh ở trường THPT nhằm
cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản về tiếng Anh phát
triển phẩm chất trí tuệ để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.
- Về kiến thức
Sau khi học xong chương trình THPT, học sinh đã nắm được kiến
thức cơ bản và tương đối hệ thống về tiếng Anh thực hành hiện đại, phù hợp
với lứa tuổi; có sự hiểu biết khái quát ban đầu về văn hóa của một số nước
sử dụng tiếng Anh.
- Về kỹ năng
Học sinh có kỹ năng cơ bản sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao
tiếp ở mức độ đơn giản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết. Cụ thể là:
+ Kỹ năng nghe bao gồm: Nghe hiểu được tiếng Anh sử dụng trong
lớp học; Nghe hiểu được tiếng Anh về các chủ điểm với nội dung ngôn ngữ
được đề cập trong chương trình.
+ Kỹ năng nói bao gồm: Thực hiện các yêu cầu giao tiếp hàng ngày
bằng tiếng Anh trong lớp học và ngoài lớp học; diễn đạt các nội dung giao
21
tiếp đơn giản hàng ngày liên quan đến các chủ điểm và nội dung ngôn ngữ
đã học trong chương trình.
+ Kỹ năng đọc bao gồm: Đọc hiểu nội dung chính của đoạn văn ngắn
(khoảng 150 từ), đơn giản (phạm vi 1500 từ tối thiểu) về các chủ điểm đã
học trong chương trình; Đọc hiểu các nội dung thông tin trên cơ sở ngữ liệu
đã học, có kết hợp với suy đoán và tra cứu từ điển.
+ Kỹ năng viết bao gồm: Viết các hướng dẫn ,các đoạn văn mô tả
hoặc báo cáo tường thuật về các hoạt động của cá nhân hay lớp học trong
khuôn khổ ngôn ngữ và chủ điểm của chương trình; Viết để phục vụ các nhu
cầu giao tiếp cá nhân, xã giao đơn giản (như điền vào các phiếu cá nhân,
bảng điều tra, viết thư cho bạn…).
- Về thái độ, tình cảm
Học tiếng Anh giúp học sinh có tình cảm và thái độ đúng đắn với đất
nước, con người, nền văn hóa, ngôn ngữ của đất nước đang học tiếng, trên
cơ sở đó bồi dưỡng, phát triển thái độ, tình cảm tốt đẹp biết tự hào, yêu quý,
tôn trọng đối với ngôn ngữ và văn hóa dân tộc mình. Bước đầu có nhu cầu
tìm hiểu, biết cách tự học để nắm vững, sử dụng tiếng nước ngoài trong học
tập cũng như trong đời sống. Xây dựng và phát triển ý thức, năng lực làm
việc trong cộng đồng thông qua các hoạt động ngôn ngữ.
1.3.2.2. Quản lý việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa tiếng Anh
Trong trường THPT, tổ trưởng bộ môn và BGH đứng đầu là Hiệu
trưởng trực tiếp quản lý hoạt động dạy tiếng Anh theo nội dung, chương
trình, phương pháp và lập kế hoạch hoạt động môn học cho một học kỳ, một
năm học. Chương trình tiếng Anh đổi mới ở THPT được xây dựng theo
quan điểm giao tiếp với những định hướng cơ bản sau:
- Kỹ năng giao tiếp mang lại mục tiêu của quá trình dạy học; kiến
thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng giao
tiếp.
22
- Học sinh là chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của quá trình dạy
học. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình dạy học.
- Nội dung dạy học được lựa chọn và trình bày theo hệ thống chủ
điểm, vừa đảm bảo tính giao tiếp cao, vừa đảm bảo tính cơ bản, chính xác và
hiện đại của ngôn ngữ.
- Chương trình là cơ sở cho việc biên soạn sách giáo khoa, quản lý
quá trình dạy và học, kiểm tra kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp, đánh
giá kết quả học tập và chất lượng giảng dạy.
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người học, điều kiện thực tế,
nền kinh tế, xã hội, các cấp quản lý đã tiến hành đổi mới cả về chương trình,
nội dung SGK sao cho phù hợp với khả năng ,yêu cầu của học sinh, giúp
cho học sinh có đủ kiến thức cần thiết để có thể hội nhập được vào học sinh
cùng lứa tuổi ở các nước khác.
- Đối với giáo dục THPT, chương trình, nội dung phải nhằm thực hiện
được mục tiêu của dạy học tiếng Anh ,giúp học sinh nắm được kỹ năng giao
tiếp cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở trang bị kiến thức
cơ bản về ngôn ngữ, sự hiểu biết về đất nước họ; có được những phẩm chất,
trí tuệ cần thiết để tiếp tục học cao hơn.
- Chương trình và SGK mới cho THPT do Bộ GD&ĐT ban hành từ
năm học 2006 - 2007 (từ lớp 10 đến lớp 12) bao gồm 3 ban là ban Cơ bản,
Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội với những bộ sách giáo khoa dành riêng
cho từng ban. Nội dung được mở rộng theo hình xoáy trôn ốc và bám sát các
chủ điểm về con người, gia đình, bè bạn, đất nước, môi trường, khoa học…
với mục tiêu thực hành giao tiếp và phát triển khẩu ngữ cho học sinh. Các
trường THPT phải thực hiện tốt chương trình đã được Bộ GD&ĐT ban
hành.
23
1.3.2.3. Quản lý việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Anh
- Có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo giáo viên tiếng Anh đủ về số
lượng, đạt chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu dạy học tiếng Anh theo
mục tiêu đã đề ra.
- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên theo chu kỳ về chuyên môn, nghiệp vụ
sư phạm thông qua các hình thức: Bồi dưỡng thay sách giáo khoa, bồi
dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa… để đáp ứng yêu cầu dạy học
theo chương trình và SGK tiếng Anh mới cũng như những đòi hỏi của việc
đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh trong trường THPT.
- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học, các phương
tiện dạy học hiện đại như máy tính, đèn chiếu, máy projecter……..
- Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá kết quả về trình độ chuyên
môn, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên tiếng Anh trong các trường THPT.
- Giáo viên tiếng Anh cũng phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng
chuyên môn, tự nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, tích luỹ kinh nghiệm nhằm
không ngừng nâng cao năng lực của bản thân về mọi mặt góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học tiếng Anh nói riêng.
1.3.2.4. Quản lý về cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học tiếng Anh
Với đặc thù của tiếng Anh là thực hành giao tiếp, rèn luyện 4 kỹ năng:
Nghe - Nói - Đọc - Viết nên đồ dùng dạy học rất cần thiết phải phong phú
nhằm hỗ trợ đắc lực cho hiệu quả giảng dạy trong mọi điều kiện. Vì vậy cần:
- Đầu tư, trang bị cơ sở vật chất, phòng học, đồ dùng dạy học cần thiết
cho học sinh học tiếng Anh ở trường THPT.
- Nghiên cứu, sản xuất, cung cấp các thiết bị, đồ dùng dạy học phù
hợp với yêu cầu chương trình và SGK tiếng Anh mới.
- Tăng cường phát động, khuyến khích giáo viên tự làm đồ dùng dạy
học phục vụ giảng dạy tiếng môn Anh.
24
- Động viên, khuyến khích, quy định, đánh giá việc sử dụng đồ dùng
dạy học trong các giờ dạy tiếng Anh nhằm nâng cao trách nhiệm của giáo
viên cũng như gây hứng thú học tập cho học sinh.
- Trang bị phòng dạy học ngoại ngữ (phòng học tiếng) cho một số
trường điểm ở cấp THPT để nâng cao khả năng nghe nói cho học sinh.
- Biên soạn các tài liệu, sách tham khảo, từ điển hỗ trợ cho việc nâng
cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
1.3.2.5. Quản lý về kiểm tra, đánh giá dạy học tiếng Anh ở trường THPT
- Xây dựng, cải tiến các hình thức và nội dung kiểm tra, đánh giá, dạy
học tiếng Anh ở trường THPT phù hợp với mục đích, nội dung dạy học tiếng Anh
theo chương trình mới.
- Xây dựng các cấu trúc bài kiểm tra, bài thi mẫu, kiểm tra dưới các
hình thức trắc nghiệm hay tự luận với số lượng, thang điểm cụ thể, rõ ràng.
- Quản lý, chỉ đạo việc kiểm tra, đánh giá dạy học tiếng Anh trong
trường THPT một cách thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
- Bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác
quản lý và chỉ đạo việc kiểm tra, đánh giá trong các trường THPT.
- Ban hành các chế độ, quy chế kiểm tra, đánh giá và kết luận mức độ
khen thưởng hay kỷ luật đối với cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh.
- Tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của
người học.
- Đề cao và phát huy tốt vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức bằng hoạt động của mình
- Dạy cho học sinh cách tự học và ý chí tự học
1.3.3. Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh
1.3.3.1.Vai trò, chức năng của Hiệu trưởng trường THPT
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×