Tải bản đầy đủ

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thỏa thuận trọng tài đối với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại tại Việt Nam

NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội phát triển như hiện nay, Trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại được các thương
nhân sử dụng một cách phổ biến. Đã xuất hiện trên thế giới từ lâu, nhưng tại
Việt Nam, các chủ thể kinh doanh chỉ biết đến phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại từ những năm 1960
1
. Trong suốt hơn 40 năm tồn
tại, các tổ chức trọng tài thương mại Việt Nam cũng như phương thức giải quyết
tranh chấp thương mại bằng trọng tài dần trưởng thành theo sự chuyển đổi, phát
triển của đất nước.
Từ những năm 1990, Việt Nam phát triển kinh tế thị trường, mở rộng giao
lưu thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam có
nhiều cơ hội giao dịch thương mại với các đối tác nước ngoài nên đã làm quen
và sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhiều hơn trước.
Nhưng các doanh nghiệp vẫn còn e ngại khi chọn trọng tài thương mại để giải
quyết tranh chấp thuộc lĩnh vực thương mại, một mặt do hiểu biết hạn chế, mặt
khác do hệ thống pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam còn nhiều bất
cập. Mặc dù vậy, với tốc độ phát triển như hiện nay của kinh tế thị trường, giới
luật gia quốc tế và trong nước đều cho rằng giải quyết tranh chấp thương mại

qua Trọng tài thương mại là một phương thức có nhiều ưu điểm, ngày càng ưa
chuộng và phát triển. Cũng vì vậy mà hoàn thiện hành lang pháp lý về trọng tài
thương mại đang được coi là một trong những mục tiêu hàng đầu trong nỗ lực
tạo điều kiện để phát triển trọng tài thương mại nói riêng và hỗ trợ có hiệu quả
hoạt động kinh doanh thương mại nói chung ở nước ta.
Thỏa thuận trọng tài là yếu tố cơ bản cần thiết, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
toàn bộ hoạt động trọng tài kể từ lúc khởi đầu trọng tài cho đến khi công nhận
và thi hành phán quyết trọng tài. Hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài phụ
thuộc một phần không nhỏ vào thỏa thuận trọng tài. Sự cần thiết hoàn thiện các
chế định pháp lý về thỏa thuận trọng tài do đó cũng là một yêu cầu tất yếu và là
1
Trọng tài đã từng được thừa nhận trong pháp luật An Nam.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
hạt nhân quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về Trọng tài thương
mại.
Thực tiễn pháp luật và áp dụng pháp luật về Trọng tài thương mại ở Việt
Nam cho thấy, nhiều doanh nghiệp còn chưa đánh giá đúng vai trò của thỏa
thuận trọng tài nên trong quá trình soạn thảo, ký kết thỏa thuận trọng tài còn
nhiều thiếu sót dẫn đến những tranh chấp không đáng có về thỏa thuận trọng tài.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành về thỏa thuận trọng tài còn có nhiều hạn chế,
bất cập nên đã gây nhiều cản trở cho hoạt động đưa tranh chấp ra giải quyết tại
trọng tài thương mại và làm giảm tính hấp dẫn của phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại.
Đây cũng chính là lý tôi lựa chọn đề tài “ Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về thỏa thuận trọng tài đối với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Thương mại tại Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận sử dụng kết hợp phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, phương pháp
phân tích – tổng hợp, phương pháp Luật học so sánh và phương pháp thu thập
thông tin để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
Về bố cục, khóa luận được trình bày với kết cấu ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát về trọng tài thương mại và thoả thuận trọng tài
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về thoả thuận
trọng tài.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
CHƯƠNG I :
KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
VÀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
1.1. Khái quát chung về trọng tài thương mại


1.1.1. Khái niệm trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng
phổ biến trong đời sống kinh tế ở khắp nơi trên thế giới. Khái niệm này được
nghiên cứu dưới rất nhiều bình diện khác nhau trong khoa học pháp lý và hiện
nay cũng có rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm này. Trọng tài với tư cách là
một phương thức giải quyết tranh chấp là cách tiếp cận chủ yếu của hệ thống các
quy định pháp luật về trọng tài, ví dụ như theo Luật mẫu của UNCITRAL - một
văn bản nhiều nước tiếp nhận khi xây dựng luật trọng tài thì: “ Trọng tài nghĩa
là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của tổ chức”.
Hay theo Hiệp hội trọng tài Hoa kỳ (AAA) thì: “ Trọng tài là cách thức
giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách
quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc
các bên tranh chấp phải thi hành”.
Pháp luật trọng tài Việt Nam cũng có quy định tương tự về khái niệm này:
“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự thủ tục
do pháp lệnh này quy định”. (Khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại
năm 2003
2
).
Bên cạnh đó, trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp
cũng là cách tiếp cận khá phổ biến, ví dụ như theo từ điển tiếng Việt thì trọng tài
là “ Người được cử ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp”.
Ngoài ra, khái niệm này còn được tiếp cận với tư cách là một chế định
pháp luật, theo cuốn Danh từ pháp luật lược giải
3
thì trọng tài là “một chế định
2
Được viết tắt: PLTTTM 2003
3
Danh từ pháp luật lược giải, tác giả: Trần Thúc Linh, thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn cũ, nhà sách Khai Trí ấn hành
năm 1965.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
cử tư nhân
4
giải quyết sự bất hòa cho hai bên nguyên bị trong một vụ tranh
chấp”.
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về trọng tài, tuy
nhiên khi nghiên cứu khái niệm này ta thường xem xét dưới hai góc độ chủ yếu:
là cơ quan giải quyết tranh chấp (tổ chức trọng tài) và là một hình thức giải
quyết tranh chấp (hình thức trọng tài) :
a. Trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp
Trọng tài được hiểu là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Trọng tài được luật pháp các
nước có nền kinh tế thị trường thừa nhận là một cơ quan tài phán độc lập, tồn tại
song song với Tòa án. Pháp luật tôn trọng quyền tự do lựa chọn của các bên, khi
có tranh chấp trong thương mại phát sinh, các chủ thể có thể lựa chọn hoặc Tòa
án hoặc Trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu các bên đã có thỏa thuận
trọng tài có hiệu lực, đưa tranh chấp ra Trọng tài giải quyết mà sau đó các bên
lại đưa đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án không được thụ lý và sẽ trả lại
đơn kiện và vụ tranh chấp đó sẽ do trọng tài giải quyết.
Trong tương quan so sánh với Tòa án, cơ quan giải quyết tranh chấp
thương mại thuộc hệ thống cơ quan Nhà nước, Trọng tài thương mại có những
đặc trưng riêng khác hẳn với Tòa án, cụ thể là :
Một là, với hình thức là một Trung tâm Trọng tài thì trọng tài là một tổ
chức xã hội - nghề nghiệp do các trọng tài viên tự thành lập nên để giải quyết
tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại; còn với hình thức là
trọng tài vụ việc (ad- hoc) thì trọng tài là một tổ chức lâm thời do các bên tranh
chấp thoả thuận thành lập để giải quyết một vụ việc tranh chấp cụ thể. Trọng tài
không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước, không do Nhà nước thành lập nên
và cũng không hoạt động bằng ngân sách Nhà nước. Các trọng tài viên không
phải là viên chức Nhà nước và cũng không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Khi xét xử, trọng tài không nhân danh Nhà nước để ra các phán quyết.
Hai là, thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với tranh chấp thương mại
cụ thể không tự nhiên mà có, không do pháp luật ấn định mà còn phụ thuộc vào
4
“ tư nhân” ở đây dùng để là bên thứ ba ngoài Tòa án
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp. Pháp luật quy định, trọng tài chỉ có
thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa
chọn trọng tài giải quyết. Nếu không có thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra
tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu
thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết. Có thể nói, chính các chủ thể tranh
chấp với việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp của mình đã trao quyền
được xét xử vụ việc cho trọng tài.
Ba là, phán quyết trọng tài vừa là sự kết hợp giữa ý chí, sự thỏa thuận của
các bên, vừa mang tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền xét xử. Tuy nhiên,
do trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước như Tòa án nên phán
quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước. Phán quyết của trọng
tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp mà không có giá trị ràng buộc
với bên thứ ba.
5
Ngay cả khi một hoặc các bên tranh chấp không tôn trọng phán
quyết trọng tài, không tự nguyện thi hành phán quyết thì trọng tài cũng không có
cơ quan cưỡng chế của riêng mình để cưỡng chế thi hành. Phán quyết trọng tài
do các bên đương sự tự nguyện thi hành hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan
Nhà nước để cưỡng chế thi hành.
Như vậy, với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài không nằm trong
hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, tồn tại độc lập, song song với Tòa án và có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được các bên lựa chọn.
Với tư cách là tổ chức giải quyết tranh chấp trọng tài thường được biết
đến với hai hình thức phổ biến là trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài
thường trực (trọng tài quy chế).
 Trọng tài vụ việc ( trọng tài ad-hoc)
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài do các bên có tranh chấp
thỏa thuận thành lập để giải quyết một vụ việc tranh chấp cụ thể giữa các bên và
sẽ tự giải thể khi vụ việc đã giải quyết xong. Đặc điểm của loại trọng tài này là
không có trụ sở, không phụ thuộc vào bất kỳ quy tắc xét xử nào. Do đó các bên
phải tự chịu trách nhiệm thành lập Hội đồng trọng tài, quy tắc tố tụng dành riêng
5
Bên thứ ba: là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
cho mình; phải thỏa thuận trực tiếp vấn đề thù lao và chi phí với các trọng tài
viên.
Ưu điểm của hình thức Trọng tài vụ việc so với trọng tài quy chế là là
quyền tự định đoạt của các bên lớn hơn, chi phí cho tố tụng trọng tài thấp và thời
gian giải quyết nhanh. Tuy nhiên, trọng tài vụ việc cũng có những hạn chế nhất
định, hạn chế lớn nhất là phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên.
Nếu một bên không có thiện chí quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn,
và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì không có quy
tắc tố tụng nào được áp dụng. Mặt khác trong quá trình tố tụng cũng không có tổ
chức nào giám sát nên kết quả phần lớn phụ thuộc vào việc tiến hành tố tụng và
khả năng kiểm soát quá trình tố tụng của các trọng tài viên. Trọng tài viên và các
bên sẽ không có cơ hội nhận được sự ủng hộ và trợ giúp đặc biệt từ một tổ chức
Trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sự kiện không dự kiến trước và
trong trường hợp các trọng tài viên không thể giải quyết được vụ việc. Sự hỗ trợ
duy nhất mà các bên có thể nhận được là sự hỗ trợ của Tòa án.
 Trọng tài thường trực ( Trọng tài quy chế)
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài có tổ chức, hoạt động thường
xuyên, có điều lệ, quy tắc tố tụng riêng và có danh sách trọng tài viên. Trọng tài
thường trực được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như: các trung tâm
trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài, nhưng chủ yếu và phổ
biến vẫn là các Trung tâm Trọng tài. Có thể kể tên các Trung tâm Trọng tài nổi
tiếng như: Toà án trọng tài quốc tế ( IAC) thuộc Phòng Thương mại quốc tế
(ICC) có trụ sở tại Paris (Pháp); Hiệp hội trọng tài Mỹ (AAA); Trọng Tài quốc
tế Singapore; Trọng Tài quốc tế Hồng Kong; ở Việt Nam có Trung tâm Trọng
tài quốc tế Việt Nam – VIAC và một số trung tâm khác.
Có thể nói ưu điểm lớn nhất trọng tài quy chế so với trọng tài vụ việc là
có quy tắc tố tụng chi tiết từ khi bắt đầu đến khi kết thúc quá trình giải quyết
tranh chấp. Điều này đảm bảo trong mọi trường hợp tranh chấp sẽ được giải
quyết, không phụ thuộc vào việc một bên có tham gia vào quá trình tố tụng
trọng tài hay không. Ưu điểm thứ hai là hầu hết các tổ chức trọng tài đều có
những chuyên gia hỗ trợ cho quá trình trọng tài. Họ đảm bảo cho Hội đồng
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
Trọng tài sẽ được thành lập, các khoản phí trọng tài sẽ được nộp đủ, đôn đốc
đúng thời hạn...Bên cạnh đó, trọng tài quy chế cũng có những hạn chế nhất định,
mà hạn chế lớn nhất đó là tốn kém nhiều chi phí vì ngoài việc phải trả chi phí
thù lao cho các trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính
để nhận được sự hỗ trợ của các Trung tâm trọng tài. Nhược điểm thứ hai của
Trọng tài quy chế là với những vụ việc cần giải quyết nhanh chóng hoặc vụ việc
đơn giản thì quá trình tố tụng thường bị kéo dài mà các bên tranh chấp và Hội
đồng trọng tài vẫn bắt buộc phải tuân theo do phải tuân thủ các thời hạn theo
quy định của Quy tắc tố tụng.
b. Trọng tài thương mại với tư cách là một hình thức giải quyết tranh
chấp thương mại
Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương
mại được hiểu là phương thức, trong đó các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận
với nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho
trọng tài; và trọng tài, trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, được
quyền đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có
giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên.
Trọng tài, với tư cách là phương thức giải quyết tranh chấp đã xuất hiện
trên thế giới từ năm 1800 trước công nguyên, từ cuối thế kỉ 18- 19 luật tố tụng
các nước Châu Âu đã công nhận hoạt động trọng tài như một biện pháp giải
quyết tranh chấp; còn tại Việt Nam, trọng tài theo đúng nghĩa là một phương
thức giải quyết tranh chấp chỉ ra đời từ năm 1993 trên cơ sở Quyết định số 204-
TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 về việc thành lập Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam ( VIAC ).
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động kinh doanh thương mại, trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của
bên thứ ba - một Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất. Trọng tài
do chính các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh
chấp. Trọng tài là người hoàn toàn độc lập với các bên, đứng giữa để giải quyết
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
tranh chấp, đưa ra các phán quyết bắt buộc để bảo vệ quyền và lợi ích của các
bên.
Hai là, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục
tố tụng chặt chẽ. Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết tranh
chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà
pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định.
Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng,
ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng
trọng tài mà mình đặt ra.
Ba là, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết do
trọng tài tuyên đối với các bên đương sự của vụ tranh chấp. Phán quyết có giá trị
bắt buộc thi hành đối với các bên.
1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng
trọng tài thương mại
Hiện nay trên thế giới trọng tài đã trở thành một phương thức phổ biến để
giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh. Thực tế này xuất phát từ những lợi
thế to lớn mà trọng tài mang lại cho các doanh nghiệp khi họ lựa chọn trọng tài
làm phương thức giải quyết tranh chấp. Ưu thế của trọng tài trong quan hệ so
sánh với các phương thức khác như tòa án, hòa giải, thương lượng chủ yếu xuất
phát từ các nguyên tắc hoạt động của nó. Trước hết, so với Tòa án thì trọng tài
có những ưu điểm sau:
Thứ nhất, giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài đảm bảo tối
đa quyền tự do thỏa thuận của các bên. Mọi tranh chấp được đưa ra giải quyết
bằng trọng tài đều dựa trên yếu tố thỏa thuận. Các bên có thể tự do thỏa thuận về
việc lựa chọn trung tâm trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài, trọng tài viên, luật áp
dụng, ngôn ngữ hay về thời gian cũng như địa điểm giải quyết tranh chấp và nhờ
vậy có thể chủ động và tiết kiệm thời gian trong việc kinh doanh. Đây là điều
mà các bên khó có thể thực hiện khi giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, vì họ
phải tuân thủ những quy định tố tụng do luật định.
Thứ hai, phương thức trọng tài với nguyên tắc xét xử một lần và quyết
định của trọng tài có giá trị chung thẩm đã giảm nhẹ gánh nặng về mặt thủ tục
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
pháp lý cho các bên tranh chấp, giúp họ tiết kiệm thời gian và chi phí qua đó
nâng cao được hiệu quả kinh doanh. Mặc dù vậy, các phán quyết cuả trọng tài
vẫn đảm bảo được tính thi hành vì pháp luật cho phép các bên tự do thỏa thuận
về các yếu tố trong quá trình giải quyết bằng trọng tài, vì vậy họ buộc phải tuân
thủ các phán quyết mà trọng tài đưa ra; nếu không thực hiện thì Tòa án sẽ là cơ
quan cưỡng chế thi hành đối với các bên liên quan. Còn nếu giải quyết bằng con
đường Toà án, các bên tranh chấp có thể mất rất nhiều thời gian do phải qua
hàng loạt cấp xét xử như sơ thẩm, phúc thẩm, thậm chí giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thứ ba, phương thức trọng tài đảm bảo được tính bí mật trong quá trình
giải quyết tranh chấp. Cơ chế này đảm bảo bí mật kinh doanh và uy tín nghề
nghiệp cho các thương nhân có liên quan tới vụ tranh chấp, nhất là trong các
tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh. Ưu điểm này xuất
phát từ nguyên tắc xét xử của trọng tài là xét xử bí mật, tức là không ai có quyền
tham dự phiên họp xét xử nếu không được sự đồng ý của các bên. Trong khi đó,
nguyên tắc xét xử của Toà án là xét xử công khai.
Thứ tư, các bên tranh chấp được quyền chủ động tìm và lựa chọn các
trọng tài viên để giải quyết tranh chấp cho mình nên đối với các tranh chấp đòi
hỏi chuyên môn cao, họ có thể lựa chọn được các chuyên gia hàng đầu trong các
lĩnh vực như hàng hải, sở hữu trí tuệ, ngoại thương, công nghệ thông tin… Điều
này giúp cho việc giải quyết tranh chấp hiệu quả và nhanh chóng.
Thứ năm, các phán quyết của trọng tài có thể được công nhận và cho thi
hành ở nước ngoài. Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành các
quyết định của trọng tài nước ngoài đã quy định rằng các nước thành viên của
công ước này có nghĩa vụ công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài
của nước bên kia cũng là thành viên.
Ngoài ra, so với thương lượng, hòa giải phương thức trọng tài cũng có
những ưu điểm vượt trội mà các phương thức này không thể có được. Điển hình
là khung pháp điều chỉnh các hình thức này. Trong khi PLTTTM 2003 là khung
pháp luật cơ bản điều chỉnh hoạt động của trọng tài thì thương lượng, hòa giải
vẫn chỉ là những hoạt động mang tính tự phát, chưa có văn bản pháp luật điều
chỉnh cụ thể. Chính vì thế mà giá trị pháp lý của kết quả thương lượng, hòa giải
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
không được đảm bảo thi hành, chủ yếu dựa trên sự tự giác của các bên. Trong
khi đó, trọng tài luôn được đảm bảo về mặt pháp lý bởi Tòa án. Việc không tự
nguyện thực hiện quyết định trọng tài sẽ bị cưỡng chế thi hành.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và lợi ích vượt trội so với Tòa án và
một số phương thức giải quyết tranh chấp khác thì trọng tài cũng có những hạn
chế nhất định như :
Thứ nhất, phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm là một ưu thế
lớn nhưng mặt nào đó cũng chính là nhược điểm của phương thức này vì việc
không cho các bên kháng cáo, kháng nghị có thể dẫn tới khó khăn trong việc
phát hiện và sửa chữa sai phạm trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài thường được
ấn định trước và thường cao hơn rất nhiều so với các phương thức giải quyết
tranh chấp khác. Đây là một trở ngại không nhỏ cho các bên tranh chấp muốn
tìm đến các Trung tâm Trọng tài.
Thứ ba, phạm vi các tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài còn hạn
chế, chỉ giới hạn trong các tranh chấp thương mại.
Ngoài ra còn một số nhược điểm khác có thể đề cập đến như: thẩm quyền
hạn chế của Hội đồng trọng tài trong việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế; sự
cứng nhắc của việc giải quyết khiếu kiện trong mối quan hệ với các khiếu kiện
khác hoặc với bên thứ ba...
6
1.2. Khái quát chung về thoả thuận trọng tài thương mại
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài thương mại là một thỏa thuận bằng văn bản theo đó
các bên kí kết nhất trí đưa tất cả hoặc một số tranh chấp đã hoặc sẽ có thể phát
sinh từ giao dịch thương mại có khả năng được áp dụng trọng tài ra giải quyết
bằng con đường trọng tài. Bản chất của trọng tài là phương thức giải quyết tranh
chấp dựa trên sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Điều này khác với việc các
bên tranh chấp yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án, cơ quan đương nhiên có
thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp trong nước nào (chỉ trừ khi các bên có thỏa
thuận khác). Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên tranh chấp có thỏa
6
http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/baivietlienquan/2009/02/267.aspx
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, điều này đồng nghĩa với việc thỏa
thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết để tiến hành tố tụng trọng tài.
Theo quy định của pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới, thỏa thuận
trọng tài có những đặc điểm sau:
 Đặc điểm về hình thức của thỏa thuận trọng tài
Trong hầu hết các trường hợp thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới
hình thức văn bản. Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài có giá trị như một
chứng cứ xác định ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định thỏa thuận trọng tài phải bằng văn
bản, tuy nhiên điều khoản trọng tài cũng có thể bằng miệng, nhưng trường hợp
này là rất hiếm hoi.
Thông thường có hai cách để thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài:
Một là, các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệ
thương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong
tương lai. Sự thỏa thuận này thường được thể hiện thành một điều khoản trọng
tài trong hợp đồng xác lập quan hệ thương mại giữa hai bên. Điều khoản này
thường nằm cuối hợp đồng sau khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản
chính. Điều khoản trọng tài chỉ mang tính dự liệu, các bên đều không mong
muốn tranh chấp sẽ xảy ra nên thường ngắn gọn.
Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh
chấp ra giải quyết bằng trọng tài. Thỏa thuận này thường dưới hình thức một
văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính hay còn
gọi là thỏa thuận đưa các tranh chấp hiện thời ra giải quyết theo phương thức
trọng tài, do đó, thỏa thuận trọng tài này thường biên soạn đầy đủ, có tính khả
thi cao. Tuy nhiên, trên thực tế hình thức thỏa thuận trọng tài này thường ít được
sử dụng vì sau khi đã xảy ra tranh chấp thì việc các bên ngồi lại với nhau để thỏa
thuận cách thức giải quyết tranh chấp là không dễ dàng, trong trường hợp đó, vụ
việc thường được giải quyết theo con đường Tòa án.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
 Đặc điểm về nội dung của thỏa thuận trọng tài
Nội dung của thỏa thuận trọng tài chính là việc xác định cách thức, trình
tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết
những tranh chấp, bất đồng phát sinh hay liên quan đến hợp đồng chính. Việc
xác lập nội dung các điều khoản trong thỏa thuận trọng tài đều phụ thuộc vào sự
tự nguyện thỏa thuận của các bên mà không chịu sự can thiệp của của pháp luật.
Tuy nhiên, để tránh những rắc rối mà các bên có thể gặp phải và nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp,
pháp luật có quy định một số điều khoản mang tính cơ bản trong một thỏa thuận
trọng tài như: phương thức trọng tài, tổ chức trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, luật
áp dụng, địa điểm trọng tài, chi phí trọng tài, cam kết thi hành quyết định trọng
tài. Ngoài ra, các bên có thể lựa chọn thỏa thuận thêm các điều khoản khác
nhằm tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất.
Một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng được những
yêu cầu của pháp luật về nội dung. Hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế
giới đều yêu cầu nội dung của thỏa thuận trọng tài phải rõ ràng, chính xác, có
thể dễ dàng xác định thẩm quyền của một Hội đồng trọng tài cụ thể và quy tắc tố
tụng nhất định.
 Đặc điểm về mối quan hệ giữa thỏa thuận trọng tài và hợp đồng
chính
Dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm
trong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính
thì thỏa thuận trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác
biệt và giá trị độc lập với hợp đồng chính. Như vậy, ngay cả khi hợp đồng bị
thay đổi, hủy bỏ, bị hết hiệu lực thì thỏa thuận trọng tài vẫn có giá trị.
Sở dĩ, ngay cả khi thỏa thuận trọng tài là một điều khoản nằm trong hợp
đồng chính thì nó vẫn mang tính độc lập với hợp đồng chính vì thỏa thuận trọng
tài có đối tượng pháp lý là xác định thủ tục tố tụng sẽ được áp dụng trong trường
hợp có tranh chấp phát sinh giữa các bên, hoàn toàn khác so với đối tượng của
hợp đồng chính là xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ
pháp luật nhất định. Do đó, việc pháp luật trọng tài xác định hiệu lực độc lập của
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
thỏa thuận trọng tài là hoàn toàn hợp lý, nó biểu hiện nguyên tắc tôn trọng ý chí
của các bên, mà ở đây là tôn trọng sự thỏa thuận về việc lựa chọn cơ quan giải
quyết tranh chấp của các bên. Tuy nhiên, đối với trường hợp hợp đồng chính bị
vô hiệu thì tính độc lập về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài chỉ là tương đối.
Việc xác định thỏa thuận trọng tài có vô hiệu hay không còn phụ thuộc vào
nguyên nhân hợp đồng chính bị vô hiệu. Nếu nguyên nhân dẫn đến hợp đồng
chính và thỏa thuận trọng tài vô hiệu là trùng nhau thì khi đó, đương nhiên cả
hai cùng vô hiệu, ví dụ như trường hợp thỏa thuận trọng tài tồn tại dưới dạng
điều khoản trọng tài trong hợp đồng chính do một bên không có hoặc không có
đủ thẩm quyền ký kết hoặc vi phạm các nguyên tắc tự nguyện khi kí kết hợp
đồng thì cả hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài đều vô hiệu.
 Đặc điểm về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài có liên quan chặt chẽ đến các điều kiện
luật định về năng lực chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của
trọng tài, ý chí tự nguyện của các chủ thể và hình thức của thỏa thuận trọng tài,
chỉ khi một thỏa thuận trọng tài đáp ứng đủ các điều kiện trên theo luật định thì
nó mới có hiệu lực.
Thứ nhất, điều kiện về năng lực chủ thể
Có thể nói năng lực chủ thể là vấn đề đầu tiên mà các bên cần quan tâm
khi tiến hành đàm phán thỏa thuận trọng tài vì nếu một bên không có năng lực
chủ thể sẽ khiến điều khoản này vô hiệu. Đối với mỗi loại chủ thể thì nội dung
pháp lý điều chỉnh lại có những quy định khác nhau phù hợp với đặc điểm, tính
chất của từng loại chủ thể. Chủ thể ở đây gồm ba dạng : cá nhân, pháp nhân và
quốc gia (hoặc các cơ quan nhà nước), đối với mỗi loại chủ thể pháp luật các
nước đều có những quy định về cách xác định luật áp dụng riêng. Ví dụ như,
theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, năng lực của cá nhân được
xác định theo luật quốc tịch, hoặc nếu là người không quốc tịch hoặc người có
nhiều quốc tịch thì áp dụng luật nơi cư trú. Đối với pháp nhân, năng lực của
pháp nhân được xác định theo luật nơi pháp nhân thành lập (trừ trường hợp pháp
nhân nước ngoài xác lập và thực hiện giao dịch tại Việt Nam thì áp dụng pháp
luật Việt Nam), tức là áp dụng hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
Thứ hai , điều kiện về thẩm quyền của trọng tài
Mặc dù phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu
điểm và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế phát triển. Tuy vậy,
không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết được bằng trọng tài, ngay cả
khi giữa các bên tranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện thỏa thuận. Đó
là khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài không cho phép giải quyết loại tranh chấp
đó thông qua hình thức trọng tài. Trong thương mại quốc tế, Việt Nam đã tuyên
bố bảo lưu đối với Công ước New York 1958 tại quyết định số 453 QĐ/CTN
của Chủ tịch nước ngày 17/7/1995, không cho phép thỏa thuận trọng tài đối với
tất cả các vấn đề liên quan đến trật tự công công cộng
7
. Nhìn chung ở một số
nước, các vấn đề không được áp dụng trọng tài là : các vấn đề về tình trạng cá
nhân ( như hộ tịch, năng lực chủ thể, ly hôn hay ly thân..); các hợp đồng ký kết
do lừa đảo hoặc vô đạo đức; tranh chấp về phát minh, nhãn hiệu hàng hóa và
bản quyền, luật cạnh tranh, tranh chấp về bảo hiểm, tham nhũng, phá sản, tranh
chấp về cấm vận, một số tranh chấp về quan hệ lao động v.v...
Thứ ba, về điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể
Thỏa thuận trọng tài là một loại hợp đồng trong đó ý chí tự nguyện của
chủ thể đóng vai trò là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình xác lập. Thỏa
thuận trọng tài sẽ không có giá trị pháp lý nếu nó không phải là kết quả của sự
thống nhất ý chí giữa các chủ thể hay là sự áp đặt ý chí của bất kì cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào. Dựa trên cơ sở thống nhất ý chí, các bên thỏa thuận về các
yếu tố liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp: tổ chức trọng tài, hình thức
trọng tài, ngôn ngữ, địa điểm...và các nội dung khác phù hợp với lợi ích của các
bên.
Trong một số trường hợp, thỏa thuận trọng tài được các bên chứng minh
rằng họ bị ép buộc, lừa dối hay nhầm lẫn khi ký thỏa thuận trọng tài và yêu cầu
tòa án trọng tài hoặc tòa án quốc gia tuyên bố hủy thỏa thỏa thuận trọng tài.
Thứ tư, điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài
Trong các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, điều kiện về
hình thức được coi là một điều kiện hết sức cơ bản. Hình thức của thỏa thuận
7
Trật tự công công cộng được hiểu là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, được ghi nhận trong Hiến pháp Việt
Nam.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
trọng tài là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống nhất ý chí của các bên tham gia
quan hệ thương mại. Nhìn chung, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước trên
thế giới đều quy định thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới dạng văn bản.
Quy định này đã trở thành một tập quán quốc tế chung bởi chỉ có thể xác lập
bằng văn bản mới tạo ra sự tin tưởng cho các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc
trách nhiệm của các bên khi pháp sinh tranh chấp. Hậu quả pháp lý của việc vi
phạm quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài là một trong những nguyên
nhân làm vô hiệu thỏa thuận trọng tài hoặc làm cho phán quyết trọng tài không
được công nhận thi hành.
1.2.1. Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương
mại
Với những đặc điểm đã trình bày ở trên, có thể khẳng định thỏa thuận
trọng tài là yếu tố không thể thiếu trong tố tụng trọng tài thương mại, vai trò
quan trọng này của thỏa thuận trọng tài được thể hiện ở các phương diện sau:
Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài có tác dụng ràng buộc các bên, bởi nó
được xác lập trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình đẳng của chính các bên. Một khi
đã xác lập thỏa thuận trọng tài thì không bên nào được thoái thác việc giải quyết
tranh chấp tại trọng tài. Qua đó, cũng giúp các bên nâng cao ý thức trong việc
thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết, là một biện pháp tích cực để phòng ngừa
các tranh chấp.
Thứ hai, thỏa thuận trọng tài loại trừ thẩm quyền xét xử của Tòa án đối
với tranh chấp. Tuy nhiên điều này không loại trừ sự hỗ trợ của Tòa án đối với
hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài khi: có khiếu kiện nại liên quan
đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời, chỉ định trọng tài viên (trong trường hợp trọng tài vụ việc) và khi có căn cứ
pháp luật để đề nghị Tòa án hủy quyết định trọng tài.
Thứ ba, thỏa thuận trọng tài là yếu tố quan trọng nhất, luôn được đặt lên
hàng đầu từ khi đưa tranh chấp thương mại ra trọng tài cho tới khi phán quyết
cuối cùng được đưa ra. Việc xác định thẩm quyền, phạm vi thẩm quyền của Hội
đồng trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào các giới hạn đặt ra
trong thỏa thuận trọng tài trọng tài. Đặc biệt với những tranh chấp có yếu tố
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
nước ngoài thỏa thuận trọng tài còn cho phép lựa chọn nơi tiến hành tố tụng
trọng tài, luật áp dụng và ngôn ngữ trọng tài trong điều kiện phù hợp nhất. Thỏa
thuận trọng tài với nội dung chính là quyền lựa chọn của các bên về các yếu tố
của luật tố tụng trọng tài sao cho phù hợp nhất với mình nên sẽ giúp hình thành
những điều kiện tốt nhất để tiến hành trọng tài và thi hành quyết định trọng tài.
Từ phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài được
xem là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng Trọng tài
như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh. Có thể nói, không
có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
Nhưng trên thực tế hiện nay thỏa thuận trọng tài vẫn chưa phát huy được hết vai
trò to lớn của mình, vẫn còn nhiều những vướng mắc liên quan tới thỏa thuận
trọng tài làm cản trở quá trình tố tụng trọng tài. Vậy, phải làm thế nào để thỏa
thuận trọng tài thực sự phát huy được hết vai trò của mình, thực sự trở thành
bước khởi đầu hoàn hảo cho tố tụng trọng tài. Câu hỏi trên chỉ có thể được trả
lời khi ta nghiên cứu thỏa thuận trọng tài từ hai góc độ là pháp luật thực định và
thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó tại Việt Nam.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
CHƯƠNG II :
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG
TÀI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
TRÊN THỰC TẾ Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
Mỗi quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của các yếu tố về kinh tế, chính
trị, phong tục tập quán cũng như trình độ lập pháp khác nhau mà hệ thống pháp
luật của mỗi nước đều mang những nét riêng biệt, ngay cả với những nhưng quy
định về thỏa thuận trọng tài cũng vậy. Sự ghi nhận của pháp luật Việt Nam về
thỏa thỏa thuận trọng tài được thể hiện qua những khía cạnh sau:
2.1.1. Hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
Tại Việt Nam hiện nay, cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động của trọng tài
thương mại được tạo thành bởi quy định trong các văn bản sau đây:
1. Công ước New York 1958 về Công nhận và Thi hành các Quyết định
của Trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên, nội dung cơ bản của công
ước đã được luật hóa tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2004.
2. Bộ luật tố tụng Dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày
15/06/2004 có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 (Phần thứ năm: Chương XXV thủ
tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt
Nam; Phần thứ sau: Chương XXI thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài).
3. Luật thương mại 2005 được Quốc hội khóa XI ngày 14/05/2005 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2006, quy định việc giải quyết tranh chấp với hình
thức trọng tài tại Điều 317.
4. Pháp lệnh Thi hành án dân sự số 13/2004/PL-UBTVQH11 được Ủy
ban thường vụ quốc hội thông qua ngày 14/01/2004 có hiệu lực từ ngày
01/07/2004, trong đó, có quy định về tổ chức thủ tục thi hành quyết định của
Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam và quyết định của Trọng tài Thương mại Việt Nam.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
5. Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH11 được
UBTVQH khóa XI thông qua ngày 25/02/2005 có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/07/2003. Đây là văn bản điều chỉnh chủ yếu các hoạt động của trọng tài
thương mại. Hiện nay, văn bản này đang được sửa đổi, bổ sung và chuẩn bị
được thay thế bởi Luật Trọng tài Thương mại (dự kiến được Quốc hội thông qua
và ban hành năm 2010).
6. Nghị quyết số 05/2003/ HĐTP/TANDTC của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao ngày 31/07/2003 hướng dẫn thi hành một số quy định Pháp
lệnh Trọng tài Thương mại 2003.
7. Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 5/01/2004 của Chính Phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
2.1.2. Những quy định cụ thể liên quan đến thỏa thuận trọng tài thương mại
a. Quy định về khái niệm thỏa thuận trọng tài
Khái niệm thỏa thuận trọng tài được quy định tại Điều 2, Khoản 2
PLTTTM 2003 : “ Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải
quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong
hoạt động thương mại”.
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của pháp luật về trọng tài ở Việt Nam
đã có rất nhiều các văn bản pháp luật được ban hành, như Nghị định 116/CP của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế hay Quyết định
204/TTg về tổ chức của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam. Tuy nhiên, vấn
đề thỏa thuận trọng tài, một vấn đề cốt lõi đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động của trọng tài, lại chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật
này. Thỏa thuận trọng tài mới chỉ được tiếp cận ở khía cạnh quyền của các bên
tranh chấp hoặc dưới khía cạnh là cơ sở cho thẩm quyền của trọng tài ( Điều 3,
Nghị định 116/CP). Đây là một điểm thiếu sót trong hệ thống pháp luật về trọng
tài, việc hiểu rõ về thỏa thuận trọng tài là bước cần thiết đầu tiên để các bên
trong quan hệ thương mại có thể định hướng nhằm xây dựng được điều khoản
trọng tài hợp lý và có hiệu quả. Với khái niệm thỏa thuận trọng tài tại Điều 2,
Khoản 2 thì PLTTTM 2003 đã khắc phục được nhược điểm của pháp luật về
trọng tài thương mại trước đây của Việt Nam.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
Tuy nhiên, quy định trên cũng đã bộc lộ những hạn chế, theo định nghĩa
tại Khoản 2, Điều 2 PLTTTM 2003, có thể hiểu rằng, những tranh chấp phát
sinh từ quan hệ thương mại được giải quyết bằng trọng tài có thể là quan hệ phát
sinh từ hợp đồng nhưng cũng có thể là quan hệ ngoài hợp đồng, ví dụ tranh chấp
phát sinh do việc đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như tàu đâm va cầu
cảng, tàu đâm va nhau v.v…
Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam sự hiểu biết pháp luật của các tổ
chức, cá nhân kinh doanh còn hạn chế, với định nghĩa không rõ ràng như trên thì
tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thường chỉ được hiểu theo nghĩa là
quan hệ phát sinh từ hợp đồng. Điều này khiến cho thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của trọng tài trên thực tế bị thu hẹp, ngoài ra còn gây khó khăn cho việc
công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài.
b. Quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài
Hình thức của thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống
nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ thương mại. Pháp luật Việt Nam cũng
giống như pháp luật của hầu hết các quốc gia khác đều quy định thỏa thuận
trọng tài phải được thể hiện dưới dạng văn bản quy định tại Điều 9, Khoản 1
PLTTTM 2003. Bên cạnh đó, nội hàm khái niệm “văn bản” cũng được Pháp luật
Việt Nam mở rộng gồm cả các dạng như thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử
hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh
chấp bằng trọng tài thì đều được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản. Quy
định trên đã trở thành một tập quán quốc tế chung bởi chỉ có thể xác lập bằng
văn bản mới tạo sự tin tưởng cho các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc trách
nhiệm của các bên khi phát sinh tranh chấp.
Có hai hình thức tồn tại của thỏa thuận trọng tài được ghi nhận tại Khoản
2, Điều 9 PLTTTM 2003 như sau:
Một là, các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệ
thương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong
tương lai. Sự thỏa thuận này thường được thể hiện thành một điều khoản trọng
tài trong hợp đồng xác lập quan hệ thương mại giữa hai bên. Điều khoản này
thường nằm cuối hợp đồng sau khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
chính. Điều khoản trọng tài chỉ mang tính dự liệu, chưa chắc chắn hoặc không
bao giờ xảy ra nên thường ngắn gọn.
Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh
chấp ra giải quyết bằng trọng tài. Thỏa thuận này thường dưới hình thức một
văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính hay còn
gọi là thỏa thuận đưa các tranh chấp hiện thời ra giải quyết theo phương thức
trọng tài.
Mặc dù quy định trên của PLTTTM 2003 đã xác định được tiêu chí hình
thức bắt buộc đó là thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản nhưng nội
hàm của khái niệm “văn bản” vẫn còn hẹp so với thực tiễn đa dạng của các hình
thức ký kết hợp đồng hiện đại. Trên thực tế, bên cạnh những hình thức văn bản
đã được ghi nhận trong PLTTTM 2003 còn có các dạng khác cũng được coi là
thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới dạng văn bản như : thỏa thuận được xác
lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên như trao đổi về đơn
kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên
đưa ra và bên kia không phản đối; hay trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến
một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như các hợp đồng mẫu, các chứng
từ, điều lệ công ty và những tài liệu khác tương tự. Ví dụ tranh chấp về góp vốn,
mua cổ phần gữa công ty và người đăng kí kinh doanh, trong Điều lệ công ty có
điều khoản quy định giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một trong số các
phương thức giải quyết tranh chấp, khi đó điều khoản này có thể được coi là một
thỏa thuận trọng tài.
c. Quy định về quan hệ giữa hiệu lực của điều khoản trọng tài với
hiệu lực của hợp đồng liên quan
Sự độc lập trong quan hệ giữa điều khoản trọng tài và hợp đồng được quy
định tại Điều 11 PLTTTM 2003: “ Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp
đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không
ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài”
Đây là một quy định đặc thù về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dù
thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp
đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
thuận trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá
trị độc lập với hợp đồng chính. Điều đó có nghĩa, ngay cả khi hợp đồng chính có
sự thay đổi nhưng việc giải quyết tranh chấp đã được các bên thỏa thuận bằng
phương thức trọng tài thì sự thay đổi đó cũng không ảnh hưởng đến thỏa thuận
trọng tài, và Trọng tài hoàn toàn có thể giải quyết tranh chấp của các bên khi
hợp đồng vô hiệu hoặc các điều khoản khác vô hiệu.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật lại pháp sinh một số vấn đề
liên quan tới tính độc lập về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài so với hiệu lực của
hợp đồng, như sau:
Một là, với trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản nằm trong
hợp đồng chính, pháp luật quy định thỏa thuận trọng tài có tính chất độc lập với
hợp đồng thì một vấn đề đặt ra là thẩm quyền của người ký kết hợp đồng và
thẩm quyền của người ký kết thỏa thuận trọng tài là có hay không đồng nhất. Ví
dụ như, trên thực tế khi các bên chấp nhận thực hiện một hợp đồng có khiếm
khuyết về thẩm quyền của người ký kết, nhưng lại không chấp nhận hiệu lực của
thoản thuận trọng tài trong trường hợp này thì có được hay không? Điều này
hiện nay chưa có quy định nào điều chỉnh một cách rõ ràng, cụ thể. Hơn nữa,
một khi đã mở rộng phạm vi thẩm quyền
8
của trọng tài ra tới những vụ tranh
chấp ngoài hợp đồng thì việc ghi nhận một cách rõ ràng về thẩm quyền của
người ký kết thỏa thuận trọng tài lại càng có ý nghĩa.
Hai là, trong trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản của hợp
đồng, khi có tranh chấp, các bên đưa ra giải quyết tại trọng tài và trọng tài có
thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp theo thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên,
trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài phát hiện ra hợp đồng mà các bên
giao kết và cả điều khoản trọng tài chứa đựng trong đó đều vô hiệu thì một vấn
đề đặt ra là: khi đó trọng tài sẽ không có quyền tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng
trọng tài có được quyền tuyên thỏa thuận trọng tài vô hiệu để làm căn cứ từ chối
thụ lý vụ tranh chấp hay không? Đây là trường hợp phát sinh trong thực tiễn mà
hiện nay chưa có một quy định pháp luật nào điều chỉnh một cách cụ thể.
8
Dự thảo luật trọng tài thương mại
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
Ba là, trường hợp thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận cách thức giải quyết
tranh chấp đối với một hợp đồng cụ thể, hợp đồng đó về bản chất là vô hiệu,
nhưng thỏa thuận trọng tài lại không vô hiệu, vấn đề đặt ra là các bên tranh chấp
có hay không quyền được yêu cầu trọng tài giải quyết các vấn đề liên quan đến
hợp đồng vô hiệu. Nếu trọng tài không có thẩm quyền xem xét vấn đề này khi
các bên yêu cầu thì việc khẳng định sự tồn tại độc lập của thỏa thuận trọng tài
với hiệu lực của hợp đồng đi kèm với nó không có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên,
nếu các bên không được quyền yêu cầu trọng tài giải quyết mà vẫn giữ nguyên
tính hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài có thể sẽ là nguyên
nhân cản trở các bên yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc. Như vậy, pháp luật
trọng tài cần có một giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề đặt ra trong trường
hợp trên.
d. Quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Vấn đề thỏa thuận trọng tài đóng một vai trò quan trọng mang tính quyết
định đối với sự tồn tại của phương thức trọng tài. Các mâu thuẫn phát sinh trong
hoạt động thương mại không thể được giải quyết bằng trọng tài nếu như thỏa
thuận trọng tài vô hiệu. Dấu hiệu và cách thức giải quyết thỏa thuận trọng tài vô
hiệu được quy định trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, ở Việt
Nam, tại Điều 10 PLTTTM 2003 có quy định cụ thể các trường hợp vô hiệu của
thỏa thuận trọng tài như sau:
 Tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại
Pháp luật luôn tôn trọng sự tự do thỏa hiệp giữa các bên về việc đưa tranh
chấp trong quan hệ thương mại ra giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên, dù giữa
các bên có tồn tại thỏa thuận trọng tài xuất phát từ sự tự do thỏa thuận nhưng
tranh chấp giữa họ không thuộc phạm vi hoạt động thương mại thì thỏa thuận
trọng tài cũng vô hiệu và dẫn đến hậu quả là trọng tài không có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp. Vấn đề thỏa thuận trọng tài vô hiệu do “ tranh chấp phát sinh
không thuộc hoạt động thương mại” được quy định tại Khoản 1, Điều 10
PLTTTM 2003. Để có cách hiểu thống nhất về khái niệm hoạt động thương mại,
tại Khoản 3, Điều 2 PLTTTM 2003 đã quy định các hoạt động thương mại như
sau: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,
phân phối, đại diện đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thăm dò, khai thác,
vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường
sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”.
Khái niệm hoạt động thương mại đã bao quát được gần như toàn bộ các tranh
chấp phát sinh trong quan hệ kinh tế hiện nay.
 Thỏa thuận trọng tài vi phạm các quy định về hình thức
Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định thỏa thuận
trọng tài phải được thể hiện bằng văn bản. Nghĩa là thỏa thuận trọng tài có giá
trị chứng cứ xác định ý chí của các bên khi muốn giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài. Các hình thức khác của thỏa thuận trọng tài như lời nói hay hành vi
đều dẫn tới hậu quả pháp lý là thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Trường hợp thỏa
thuận trọng tài vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức được thể hiện tại
Khoản 5, Điều 10 PLTTTM 2003.
 Người ký kết thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký
kết theo quy định của pháp luật.
Theo Khoản 2, Điều 10 PLTTTM 2003 thì người không có thẩm quyền
ký kết thỏa thuận trọng tài được hiểu là người không có quyền theo luật định để
ký kết thỏa thuận trọng tài, ví dụ như người không được ủy quyền hợp pháp,
người được ủy quyền vượt quá phạm vi ủy quyền...
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào thỏa thuận trọng tài cũng vô hiệu
do được ký kết bởi người không có thẩm quyền. Theo Nghị quyết của Hội đồng
Thẩm phán TANDTC số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31/7/2003 hướng dẫn thi
hành một số quy định của PLTTTM 2003 quy định: Đối với trường hợp quy
định tại Khoản 2, Điều 10 PLTTTM 2003 về nguyên tắc chung nếu người ký
thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật thì
thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu. Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp mà một bên
có yêu cầu tòa án giải quyết thì tòa án yêu cầu người có thẩm quyền ký kết thoả
thuận trọng tài cho biết ý kiến bằng văn bản có chấp nhận thỏa thuận trọng tài
do người không có thẩm quyền ký kết trước đó hay không. Nếu họ chấp nhận thì
trong trường hợp này thỏa thuận trọng tài không vô hiệu và vụ tranh chấp thuộc
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
thẩm quyền của Hội đồng trọng tài theo thủ tục chung. Quy định này của pháp
luật thể hiện sự linh hoạt mềm đối với hoạt động tố tụng trọng tài. Việc chủ thể
hợp pháp cho biết ý kiến bằng văn bản chấp nhận thỏa thuận trọng tài như một
sự ủy quyền hợp pháp cho chủ thể không có thẩm quyền ký kết, qua đó đảm bảo
ý muốn giải quyết tranh chấp của chủ thể hợp pháp.
 Một bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ.
Thỏa thuận trọng tài là sự tự do thỏa thuận của các bên về việc đưa tranh
chấp ra giải quyết bằng trọng tài, nó là sự thể hiện ý chí của các bên trên cơ sở
tự nguyện. Chính vì vậy, chỉ có những chủ thể có đủ năng lực năng lực hành vi
dân sự mới thể hiện ý chí của mình cụ thể và chính xác nhất. Năng lực hành vi
dân sự là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu lực của
thỏa thuận trọng tài. Việc các chủ thể ký kết không có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ sẽ dẫn đến sự vô hiệu của thỏa thuận trọng tài theo quy định tại Khoản 3,
Điều 10 PLTTTM 2003.
Đối với chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài là các cá nhân, theo quy định
của Bộ luật Dân sự 2005 người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự. Do đó, để chứng minh người ký thỏa thuận trọng
tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì phải có giấy tờ tài liệu chứng
minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết
định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế
năng lực hành vi dân sự.
Đối với chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài là pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia
đình...do đặc trưng việc tham gia vào quan hệ pháp luật của các chủ thể này phải
thông qua người đại diện hợp pháp nên khi xem xét năng lực hành vi dân sự của
các chủ thể này phải căn cứ vào năng lực hành vi dân sự của người đại diện hợp
pháp. Nếu người đại diện không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì thỏa
thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
 Thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ
đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh
chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung.
Thực tiễn hiện nay, còn nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình
đàm phán, ký kết hợp đồng thương mại chưa đánh giá đúng vai trò của thỏa
thuận trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng nên trong quá trình
soạn thảo thỏa thuận trọng tài còn nhiều khiếm khuyết dẫn đến những tranh chấp
không đáng có về chính thỏa thuận trọng tài. Cụ thể ở đây là sự thiếu chặt chẽ,
rõ ràng như không quy định rõ đối tượng tranh chấp, hình thức trọng tài hay tổ
chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết...Những khiếm khuyết này có thể bị lợi
dụng làm căn cứ để biến thỏa thuận trọng tài thành vô hiệu, làm sai lệch ý chí
ban đầu của các bên trong quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, PLTTTM 2003 đã có
một quy định rất mềm dẻo để khắc phục tình trạng trên thông qua việc quy định
các bên có quyền bổ sung thỏa thuận trọng tài nếu phát hiện thấy khiếm khuyết.
Nếu sau đó các bên không có sự bổ sung kịp thời thì thỏa thuận trọng tài sẽ trở
nên vô hiệu (Khoản 4, Điều 10 PLTTTM). Quy định này nhằm bảo vệ ý nguyện
của các bên đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài mặc dù thỏa thuận trọng
tài có những khiếm khuyết nhất định, thể hiện sự chặt chẽ nhưng linh hoạt cần
thiết của Pháp lệnh trọng tài thương mại.
 Bên ký kết thỏa thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe dọa và có yêu
cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Thỏa thuận trọng tài là hòn đá tảng của tố tụng trọng tài. Thỏa thuận trọng
tài là kết quả của sự thống nhất ý chí giữa các bên dựa trên nguyên tắc tự do,
bình đẳng. Sự thống nhất ý chí ấy không thể bị ràng buộc, tác động hay áp đặt
bởi pháp luật hay bất kỳ cá nhân, tổ chức, cơ quan nào. Chính vì thế sự lừa dối,
đe dọa giữa các bên tham gia ký kết thỏa thuận trọng tài là những hành động đi
ngược lại với nguyên tắc tự do thỏa thuận và hệ quả tất yếu sẽ dẫn tới thỏa thuận
trọng tài vô hiệu.
PLTTTM 2003 có quy định vấn đề vô hiệu do bên ký kết bị lừa gạt, đe
dọa tại Khoản 6, Điều 10 và kèm theo một số quy định về thời hạn yêu cầu thỏa
thuận trọng tài vô hiệu như sau: “ Thời hiệu yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×