Tải bản đầy đủ

I.Khái quát chung về thẩm quyền dân sự của toà án theo loại việc và tranh chấp kinh doanh thương mại

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng thì các tranh chấp phát sinh càng nhiều với tính chất đa dạng và phức tạp; đặc biệt
là tranh chấp về kinh doanh thương mại. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên tham gia hợp đồng, cũng như tạo điều kiện hoạt động đồng bộ cho toàn bộ nền
kinh tế, các tranh chấp đó cần được giải quyết kịp thời, đúng đắn. Về nguyên tắc khi
tranh chấp trong kinh doanh, thương mại xảy ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thỏa
thuận trong kinh doanh, pháp luật cho phép các bên gặp nhau tự bàn bạc tìm cách giải
quyết. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau và có yêu cầu thì
tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết tại Trọng tài hoặc tại Tòa án nhân
dân giải quyết theo thủ tục tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS)
được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01
năm 2005. Một thực tế tại Việt Nam là hơn 95% các tranh chấp về kinh doanh, thương
mại được tòa án các cấp xét xử. Chính vì vậy, nhóm chúng tôi đã tìm hiểu về vấn đề
thẩm quyền dân sự của toà án theo loại việc về tranh chấp kinh doanh thương mại.
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về thẩm quyền dân sự của toà án theo loại việc và
tranh chấp kinh doanh thương mại.
1. Thẩm quyền dân sự của toà án theo loại việc.
Thẩm quyền dân sự của toà án là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc và
quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng

dân sự
1
.
Để phân biệt thẩm quyền của toà án với thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức
khác trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội; phân định thẩm
quyền của toà án trong việc giải quyết các loại việc theo thủ tục tố tụng dân sự với
thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các loại việc theo thủ tục tố tụng hình sự
và tố tụng hành chính; pháp luật tố tụng dân sự đã quy định thẩm quyền dân sự của toà
án theo loại việc. Thẩm quyền dân sự của toà án theo loại việc là thẩm quyền của toà
án trong việc thụ lý, giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo quy định
tại điều 126 Hiến pháp năm 1992, điều 1 Luật Tổ chức Toà án nhân dân, điều 1
BLTTDS thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án và các việc dân sự, hôn nhân
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động theo quy định của pháp luật.
2. Tranh chấp kinh doanh thương mại.
Tranh chấp kinh doanh thương mại là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá
trình hoạt động kinh doanh, thương mại – các quan hệ có tính tài sản với mục đích kinh
1
Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, năm 2005, tr 59.
1
doanh kiếm lời. Trong đó, kinh doanh có thể hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản cuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi; còn thương mại là hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Các tranh chấp kinh doanh , thương mại có đặc điểm sau
2
:
 Tranh chấp về kinh doanh, thương mại nảy sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh
doanh và luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh. Đó là hệ quả phát sinh từ quan
hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc giữa các bên liên quan với chủ thể
kinh doanh trong quá trình tiến hành các mục đích nhằm mục đích sinh lợi .
 Vấn đề giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại do các bên tranh
chấp tự định đoạt (có thể giải quyết bằng nhiều cách khác nhau như thương
lượng, hoà giải, trọng tài và toà án).
 Các bên tranh chấp thương mại thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương
nhân.
 Tranh chấp kinh doanh thương mại là những tranh chấp mang yếu tố vật chất và
thường có giá trị lớn .
Trong đó, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại toà án là hình thức
giải quyết thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực
nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên phải chấp hành, kể cả bằng sức mạnh
cưỡng chế. Trước ngày 01/01/2005, thủ tục tố tụng để giải quyết các tranh chấp kinh
doanh, thương mại được giải quyết theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
có hiệu lực từ 01/7/1994, và từ 01/01/2005 thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh
thương mại được qui định chung trong BLTTDS. BLTTDS năm 2004 ra đời đã khắc
phục được những hạn chế của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế tạo điều
kiện thuận lợi cho việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại.
II. Những nội dung chính về thẩm quyền dân sự của toà án theo loại việc về
tranh chấp kinh doanh thương mại.
Theo quy định tại điều 29 BLTTDS 2004 thì những loại việc tranh chấp kinh
doanh thương mại thuộc thẩm quyền của tòa án được chia thành ba nhóm. Nhóm thứ
nhất gồm các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Thứ hai,
là các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ
chức với nhau đều có mục đích lợi nhuận. Thứ ba, là nhóm tranh chấp kinh doanh,
thương mại giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công
ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia
2
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng toà án, Luật sư Tony Thắng.
2
tách chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Ngoài ra thì còn có những tranh chấp
khác về kinh doanh, thương mại.
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau
Theo quy định của pháp luật thì tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức phát
sinh từ hoạt động thương mại thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án khi những tranh
chấp đó có đủ 3 điều kiện như sau:
- Một là, các tranh chấp này phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại phải
có mục đích lợi nhuận. Dấu hiệu mục đích lợi nhuận của tổ chức, cá nhân trong hoạt
động kinh doanh, thương mại được Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005
giải thích là sự mong muốn của tổ chức, cá nhân đó là thu được lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh của mình cho dù thực tế có đạt được hay không.
- Hai là, các tranh chấp phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức với nhau đồng thời
các cá nhân, tổ chức phải là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật.
Nghị quyết số 01/2005/HĐTPTATC ngày 31/3/2005 về hướng dẫn một số quy
định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã mở rộng thêm đối
với những tranh chấp kinh doanh, thương mại mà một trong các bên không có đăng ký
kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận cũng thuộc thẩm quyền cũng thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án kinh tế. Có thể thấy, quy định này phù hợp hơn với quy
định của Luật thương mại năm 2005.
- Ba là, các tranh chấp thuộc 14 lĩnh vực được quy định tại khoản 1 điều 29
BLTTDS, đó là: Mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện; đại lý;ký
gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng, tư vấn; kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành
khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận chuyển hành khách, hàng
hóa bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái và giấy tờ có giá
khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm do, khai thác.
Hoạt động kinh doanh thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi
thương mại, hoạt động này không chỉ dừng lại ở những hoạt động đã đăng ký mà nó
còn bao gồm cả những hoạt động khác phục vụ cho việc thúc đẩy hay tạo điều kiện cho
hoạt động đã đăng ký. Ví dụ: Công ty trách nhiệm hữu hạn A được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng. Hoạt động của công ty A không chỉ
dừng lại ở việc xây các công trình mà còn có thể bao gồm cả các hoạt động như mua
nguyên vật liệu để sản xuất, xây dựng nhà kho, mua sắm trang thiết bị, thuê công
nhân…Các hoạt động được ghi nhận tại khoản 1 điều 29 chính là cơ sở để phân định
giữa quan hệ hợp đồng kinh doanh, thương mại với các quan hệ hợp đồng dân sự, lao
động…
3
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
Trong điều kiện phát triển ngày một cao của khoa học công nghệ, hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày một gia tăng về số lượng, tinh vi về tính chất, nghiêm
trọng về hậu quả. Để đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, các điều ước quốc tế cũng đã ghi
nhận nhiều biện pháp thực thi như biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, kiểm soát
biên giới…Trong đó, thực thi bằng biện pháp dân sự có mục đích chủ yếu là nhằm khôi
phục, khắc phục các thiệt hại để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người có
quyền bị xâm phạm.
Trước yêu cầu hội nhập với thế giới, pháp luật TTDS Việt Nam cũng đã ghi
nhận thẩm quyền dân sự cho tòa án để giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ (bao
gồm quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp), chuyển giao công
nghệ giữa cá nhân, tổ chức.
Theo quy định của Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TAND-VKSND-
BVHTT&DL ngày 03/04/2008, các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao
công nghệ bao gồm các tranh chấp như tranh chấp giữa chủ đầu tư và người biểu diễn
về quyền nhân thân, quyền tài sản; tranh chấp về quyền liên quan đối với cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; tranh chấp về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sở hữu công nghiệp…Tuy nhiên, không phải tất cả các tranh chấp về sở
hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ là loại vụ việc về kinh doanh thương mại. Một tranh
chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ còn có thể xác định là một
tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo quy định của Khoản 4
Điều 25 BLTTDS. Vì vậy để phân biệt hai loại tranh chấp này pháp luật đã đưa ra dấu
hiệu “mục đích lợi nhuận”. Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 đã giải
thích rõ: “Đối với các tranh chấp quy định tại khoản 2 điều 29 BLTTDS thì không nhất
thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ
chức đều có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận thì đó là
tranh chấp về dân sự quy định tại khoản 4 điều 25 BLTTDS”.
3.Tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viên công
ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia
tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
3.1. Tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty.
Tranh chấp giữa thành viên công ty và công ty là sự mâu thuẫn, bất đồng về ý
chí giữa thành viên công ty với công ty. Tranh chấp phát sinh giữa công ty và thành
viên công ty là tranh chấp thương mại khi các tranh chấp này được phát sinh liên quan
đến các lĩnh vực được quy định tại khoản 3 điều 29 BLTTDS 2004. Thông thường, các
tranh chấp này xuất phát từ các vấn đề sau:
4
- Về phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty (thông thường phần vốn
góp đó được tính bằng tiền, nhưng cũng có thể bằng hiện vật hoặc bằng giá trị quyền
sở hữu công nghiệp);
- Về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với mỗi công ty cổ phần;
về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công
ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp
vào công ty;
- Về yêu cầu công ty đổi các khoản nợ hoặc thanh toán các khoản nợ của công
ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty;
- Về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
3.2.Tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau.
Các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau là các tranh chấp phát
sinh giữa các thành viên của công ty về giá trị phần vốn góp vào công ty giữa các thành
viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành
viên của công ty hoặc về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên
công ty đó cho người khác không phải là thành viên công ty; việc chuyển nhượng cổ
phiếu không ghi tên và cổ phiếu có ghi tên; mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành
và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với số cổ
phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ,
thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên
của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể, về các vấn đề khác giữa các thành
viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất,
chia, tách, chuyển đổi hình thức công ty.
Nếu giữa công ty với các thành viên của công ty hoặc giữa các thành viên của
công ty có tranh chấp với nhau, nhưng tranh chấp đó không liên quan đến việc thành
lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức
của công ty mà chỉ liên quan đến các quan hệ khác như quan hệ lao động, quan hệ dân
sự (ví dụ tranh chấp về bảo hiểm xã hội, về trợ cấp cho người lao động, về hợp đồng
lao động,…) thì tranh chấp đó không phải là tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy
định tại khoản 3 điều 29 BLTTDS.
4. Những tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại.
Hiện nay, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại rất đa dạng và phong phú,
khó có thể liệt kê hết được. Bên cạnh đó, đời sống kinh tế luôn luôn vận động và phát
triển, trong khi pháp luật lại mang tính ổn định tương đối. Do đó, pháp luật không thể
dự báo và liệt kê hết các loại việc có thể nảy sinh trên thực tế. Chính vì vậy, khoản 4
điều 29 BLTTDS đã quy định, ngoài các tranh chấp đã nêu trên, còn có “các tranh chấp
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×