Tải bản đầy đủ

Phát triển nguồn nhân lực của giáo dục đại học

Lời mở đầu
Về vai trò ngời thầy trong giáo dục, xã hội Việt Nam thờng định hớng
theo các triết lý truyền thống Không thày đố mày làm nên, muốn con hay
chữ phải yêu lấy thầy, và gần đây làsự du nhập của triết lý Không có học sinh
tồi, chỉ có thầy giáo kém. Tuy nhiên, khi cuộc sống có nhiều biến đổi lớn thì
các triết lý và chân lý của nó cũng phải thay đổi.
Giáo dục, trong đó có giáo dục đại học là một yếu tố và bộ phận nhạy
cảm trong đời sống xã hội. Những tác động, nhân tố mới từ bên ngoài vào nớc
ta nh Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, xu thế toàn cầu hoá và kinh tế tri
thức đã buộc ngành giáo dục phải đối mặt với thách thức gay gắt đồng thời
cũng mở ra những cơ hội phát triển mới. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về nhân
lực của giáo dục đại học Việt Nam và cách thức phát triển nó trong một tơng lai
gần là một việc làm khó khăn song cũng rất cần thiết.
Bài viết của em gồm các nội dungchính sau:
I. Thực trạng của nguồn nhân lực giáo dục đại học ở nớc tavà nguyên
nhân của những tồn tại và yếu kém.
1. Thực trạng của nguồn nhân lực giáo dục đại học ở nớc ta .
2. Nguyên nhân của những tồn tại và yếu kém.
II. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại
học ở nớc ta.
1. Hoàn thiện cơ chế và nâng cao năng lực quản lý nhà nớc đối với giáo

dục đại học và nguồn nhân lực của nó.
2. Cải thiện môi trờng giáo dục ,nâng cao mức sống và chất lợng của
nguồn nhân lực.
III. Nhiệm vụ và mục tiêu chiến lợc cho sự phát triển nguồn nhân lực của
giáo dục đại học.
1. nhiệm vụ và mục tiêu.
2. Nhiệm vụ và nguyên tắc định chiến lợc.
Vì đây là lần đầu tiên em viết tiểu luận,chắc chắn sẽ mắc phải nhợc điểm
và thiếu xót.Vậy em rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài tiểu
luận của em dợc tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn của thầy đã giúp em hoàn thành
bài tiểu luận này.
Nội dung
I. Thực trạng của nguồn nhân lực giáo dục đại học ở nớc
nguyên nhân của những tồn tại ,yếu kém.
1. Thực trạng của nguồn nhân lực giáo dục đại học ở nớc ta.
Nguồn nhân lực giáo dục nớc ta đang phải đối mặt với một vấn đề nan
giải :nhu câu học tập của xã hội và quy mô đào tạo tăng nhanh trong khi đó số
lợng và năng lực của đọi ngũ giáo viên có giới hạn và khả năng tăng chậm.qua
điều tra cho thấy,không phải trờng đại học nào cũng có tốc độ tăng trởng về quy
mô đào tạo nh nhau. .Các trờng đại học thuộc nhóm ngành đào tạo về luật ,kinh
tế ,kinh doanh ,ngoại ngữ tăng tr ởng mạnh về quy mô đào tạo .Hiện tợng 1
thầy giảng cho lớp học trên 100 học viên diễn ra một cach phổ biến .ở những
bộ môn có nhiều giờ giảng,thờng mỗi giáo viên một năm lên lớp vợt giờ chuẩn
của Bộ quy định.Phải lên lớp với cờng độ cao ,số thời gian quá nhiều sẽ tác
động hai mặt tới chất lơng sống của giáo viên và bộ phận quản lý giáo dục kèm
theo.Họ có cơ hội cải thiện cuộc sống;mặt khác ,họ sẽ mất đi cơ hội và thời gian
tham gia các hoạt động tập luyện thể thao,bồi dỡng sức khoẻ,học tập và nghiên
cứu khoa học để cập nhật kiến thức,nâng cao trình độ và kỹ năng chuyên
môn .Nếu những giáo viên có quá nhiều tiết giảng mà vẫn cố gắng tham gia học
tập nh chơng trình đào tạo thạc sĩ,tiến sĩ hoặc nghiên cứu khoa học thì do sự câu
thúc về thời gian họ sẽ phải hoàn thành công việc trên một cách chiếu lệ và
nhanh nhất miễn là đạt đợc kết quả.Chính những nguyên nhân đã dẫn tới kết
quả tất yếu sẽ ảnh hởng tiêu cực tới chất lợng giảng dạy và nghiên cứu khoa học
của giáo viên. Hiện tợng căt xém bài giảng, bớt giờ lên lớp, gộp lớp hoặc bỏ lớp
đã diễn ra ở quy mô lớn ảnh hởng xấu tới quy chế và kỷ luật giáo dục. Và điều
này nếu tồn tại lâu ngày sẽ dẫn đến một thái độ và lề lối làm việc chung chỉ coi
trọng số lợng, kết quả mà coi nhẹ chất lợng, hiệu quả trong sự nghiệp trồng
ngời. Đây thực sự là một nguy cơ và thách thức lớn đối với giáo dục đại học
Việt Nam hiện nay.
Vấn đề nan giải đối với giáo dục đại học hiện nay là trong khi quy mô
đào tạo tăng gấp nhiều lần nh hiện nay thì không thể giải quyết triệt để vấn đề.
Thu nhập chính của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục còn ở mức thấp
khiến họ phải tăng thêm thu nhập từ các nguồn khác là nguyên nhân chính dẫn
đến sự xuống cấp về đạo đức nghề nghiệp. Nh vậy, những tiêu cực của giáo dục
đại học nớc ta trong cơ chế thị trờng xuất phát từ cơ sở kinh tế và chế độ trả
công lao động bất hợp lý của nó. Đó vừa là nguyên nhân khách quan vừa là
nguyên nhân chủ quan. Muốn ngăn chặn, tiến tới chấm dứt các hiện tợng suy
thoái đạo đức nghề nghiệp, xu hớng thơng mại hoá đào tạo và cấp bằng, thì cần
cải thiện đợc thu nhập chính đáng trong nguồn nhân lực của giáo dục đào tạo,
cần phải có giải pháp tạo ra nhiều cơ hội cho phép nhân sự trong ngành nâng
cao mức sống và chất lợng sống một cách đàng hoàng chính đáng.
Môi trờng giáo dục cha tạo ra đợc bầu không khí hăng say, phấn khởi
làm việc và tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ giáo viên, cán bộ
công nhân viên các trờng đại học. Mặt trái của cơ chế thị trờng là tạo
ra xu hớng thơng mại hoá giáo dục một cách tự phát, với các tệ nạn
của nó là thói chạy chọt trong thi cử, bằng giả, xin và mua điểm
Hiện nay phần lớn giáo viên, cán bộ công nhân viên đều giữ vững bản
lĩnh chính trị và đạo đức nhà giáo, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu
cực trong giáo dục đại học. Nhng cũng có một số cá nhân, tập thể đã
lợi dụng nghề nghiệp và vị thế của mình để kiếm lợi một cách bất
chính. Một số hiện tợng tiêu cực này đã bị phát giác, bị công luận lên
án ,gây nên sự bất bình trong d luận xã hội, ảnh hởng xấu tới uy tín và
hình ảnh của giáo viên. Có thể nói rằng môi trờng giáo dục ở nớc ta tử
khi chuyển sang cơ chế thị trờng đến nay đã bị xuống cấp so với trớc
đây.
Môi trờng bên trong các trờng đại học hiện nay cũng còn tồn tại
nhiều vấn đề cần giải quyết. Hoạt động giáo dục và khoa học rất cần một
bầu không khí dân chủ , đoàn kết giữa các chủ thể giáo dục.Song trong
thực tế , vẫn còn hiện tợng mất dân chủ và hiện tợng bè phái diễn ra,
gây nên tâm trạng chán nản, bất lực của bộ phận giáo viên và cán bộ
cấp dới. Ngoài ra tâm lý cào bằng, đố kỵ xấu đều hơn tốt lỏi, tâm lý
cục bộ và bản vị trâu ta ăn cỏ đồng ta, thói gia trởng một ngời làm
quan cả họ đợc nhờ còn tồn tại trong các tr ờng đại học, dới các
hình thức tinh vi gây cản trở quá trình phát triển nguồn nhân lực giáo
dục. Cơ cấu của nguồn nhân lực giáo dục đại học còn mất cân đối và bất
hợp lý giữa các lĩnh vực, chuyên môn, sức mạnh hệ thống yếu. Chất l-
ợng nguồn nhân lực hiện ở mức thấp.
Thành tựu đầu tiên của ngành giáo dục nớc ta là đã đào tạo đợc một
nguồn nhân lực khá đông, có trình độ và kỹ năng lao động. Đơng nhiên,
trong nguồn nhân lực của giáo dục đại học nớc ta cơ cấu các ngành
chính cũng tồn đọng sự bất hợp lý. Qua số liệu gián tiếp về cơ cấu ngành học
của các PGS (nay là tiến sĩ) đợc cấp bằng đến năm 1998 là:
Khoa học quân sự :3%
Khoa học nông nghiệp:8%
Khoa học kinh tế : 11%
Khoa học tự nhiên: 22%
Khoa học y dợc:16%
Khoa học xã hội (cả s phạm): là 40%(1)
Theo thống kê trên thì nguồn nhân lực bậc cao thuộc ngành xã hội, tự
nhiên chiếm tỷ lệ cao nhất, thấp nhất là khoa học nông nghiệp và quân sự. Sự
mất hợp lý và điểm yếu của nguồn nhân lực giáo dục đại học còn thể hiện ở số
nhân sự có trình độ cao chỉ chiếm 1 tỷ lệ thấp trong cơ cấu nguồn nhân lực.
Tình trạng thất thoát chảy máu chất xám vẫn đang tiếp tục diễn ra
trong khi ngành lại cha biết cách thu hút, phát huy trí tuệ từ các nguồn
bên ngoài. Bên cạnh đó là nguy cơ về sự hụt hẫng giữa các thế hệ của nguồn
nhân lực giáo dục đại học.
2. Nguyên nhân của những tồn tại và yếu kém.
Quan điểm của Đảng coi giáo dục và đào tạo là cốt sách hàng đầu cha
đợc quán triệt sâu sắc và biến thành hành động thực tiễn cách mạng ở tất cả các
cấp các ngành, từ tầng lớp cán bộ lãnh đạo xuống đến từng ngời dân để tạo ra sự
chuyển biến mạnh mẽ đồng bộ trong toàn xã hội, cha trở thành sự nghiệp của
toàn dân. Từ ngành giáo dục đến các ngành, các cấp khác còn tồn tại một tình
trạng chung là ngành nào cấp nào cũng có giáo dục là quan trọng và phải quan
tâm đến giáo dục và đào tạo, nhng trong việc làm thì lại thiếu quan tâm đúng
mức đến sự phát triển nguồn nhân lực của chính cơ quan đơn vị mình. Chính
phủ và các cơ quan Nhà nớc cha có những quyết định đủ mạnh về chính sách,
cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện, để thể hiện đầy đủ quan điểm coi giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Các chính sách đã ban hành cha đợc
khuyến khích nghề dạy học và những giáo viên đến dạy ở những vùng khó
khăn, cha động viên đợc những giáo viên dạy giỏi và giáo viên có trình độ cao.
Tiền lơng giáo viên cha đợc thoả đáng (2).
Nguyên nhân khách quan khiến cho các trờng phải xoay sở để tồn tại, dễ
dẫn đến những sai phạm về chế độ tài chính, ảnh hởng xấu đến kỷ cơng và môi
trờng giáo dục của trờng đại học là do Nhà nớc cấp kinh phí quá ít lại còn thiếu.
Năng llực quản lý Nhà nớc đối với giáo dục đại học của Bộ giáo dục và đào tạo
có những mặt yếu kém, bất cập chủ quan của ngành về công tác phát triển
nguồn nhân lực giáo dục đại học.
Việc thay đổi quá thờng xuyên chủ trơng đổi mới về mô hình giáo
dục đại học ở nớc ta đã tạo ra tình trạng thiếu sự ổn định cần thiết về tổ
chức và gây khó khăn cho công tác hoặch định nguồn nhân lực của
ngành,trờng.
Bộ cha xây dựng đợc một quy chế quản lý ngành để điểu chỉnh
quan hệ giữa bộ và các trờng một cách hợp lý và hiệu quả. Vì vậy, có tình
trạng vừa ôm đồm sự vụ, vừa buông lỏng chức năng quản lý Nhà nớc , cha thực
hiện tốt sự quản lý thống nhất, giữ vững kỷ cơng trong công tác giáo dục, đồng
thời cha phát huy chủ động và trách nhiệm của địa phơng và nhà trờng(3).
Công tác quản lý nhân sự của các trờng đại học vẫn cha đợc quan tâm
đúng mức và chậm thay đổi về phơng thức, công nghệ quản lý, vì vậy hiệu quả
chung là thấp.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×