Tải bản đầy đủ

Khảo sát điền dã văn học người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn học người Hoa là một mảng khá lớn, khá phát triển, và là thành
phần cấu thành khá quan trọng không thể thiếu trong kho tàng văn học Việt
Nam. Vào khoảng nửa cuối thế kỷ 17, văn học người Hoa ở miền Nam Việt
Nam đã xuất hiện Hà Tiên thập vịnh, tập thơ viết bằng chữ Hán với hơn 300 bài
thơ của hơn 30 tác giả Việt, Hoa. Thế kỷ 18, văn học người Hoa còn được biết
đến bởi nhóm Sơn Hội (Thi xã Bình Dương) ở Gia Định, tập hợp nhiều trí thức
người Hoa, nổi tiếng có Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Diệp Minh Phụng,
Hoàng Ngọc Uẩn, Vương Kế Sanh… Đầu thế kỷ 19, văn học người Hoa ở
Trung và Nam bộ còn xuất hiện rất nhiều tên tuổi như Lý Văn Phức, Phạm Phú
Thứ, Trần Tiễn Thành, Lâm Duy Nghĩa, Trương Hảo Hợp….
Có thể thấy rằng, văn học người Hoa ở Trung và Nam bộ nói chung,
thành phố Hồ Chí Minh nói riêng rất phát triển, thế nhưng số người để tâm vào
sưu tầm, chỉnh lý và nghiên cứu văn học người Hoa thật không nhiều, nếu không
muốn nói rằng thật hiếm, ngoài những tên tuổi nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức,
Ngô Nhân Tĩnh, … được chú ý nghiên cứu, các tác giả hầu như không được biết
đến, đặc biệt là tình hình văn học người Hoa Việt Nam kể từ cuối thế kỷ 19 cho
tới nay. Có thể nói, trong giới học giả hầu như không ai hiểu một cách tường tận
về tình hình phát triển cũng như thành tựu của dòng văn học này từ cuốI thế kỷ
19 đến nay. Do đó chúng tôi quyết định nghiên cứu về mảng đề tài này với tên:

Khảo sát điền dã văn học người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư liệu văn học người Hoa ở TP Hồ Chí Minh ngoài các tác giả nổi tiếng
như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Trương Hảo Hợp… khá được chú ý, còn
lại hầu như đều không được chú ý tới, thậm chí rất nhiều học giả còn không biết
tới sự tồn tại của một loạt tác giả và tác phẩm của dòng văn học người Hoa, một
dòng văn học đã và đang góp phần không nhỏ vào việc tạo dựng khuôn mặt
muôn màu muôn vẻ của bức tranh văn học thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, và
của nền văn học Việt Nam nói chung.
1
Có thể khẳng định, cho đến nay, tại Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn
chưa có một công trình nào có đối tượng nghiên cứu là sưu tầm, chỉnh lý và
nghiên cứu những thành tựu của dòng văn học người Hoa tại thành phố Hồ Chí
Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Khảo sát một cách có hệ thống thành tựu văn học người Hoa ở thành phố
Hồ chí Minh, cung cấp cho các nhà nghiên cứu một danh sách các tác giả
và tác phẩm của dòng văn học người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Góp phần thúc đẩy công tác sưu tầm, chỉnh lý và nghiên cứu về văn học
người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ở Trung và Nam bộ nói
chung, để thấy được mối quan hệ giao lưu qua lại giữa văn học người
Việt và văn học người Hoa diễn ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
trong quá khứ và hiện tại.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Điền dã, điều tra, ghi chép, thu thập, chỉnh lý và hệ thống hóa các thông
tin có liên quan đến văn học người Hoa trong dân chúng, đặc biệt là đồng bào
người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh; sưu tầm, tập hợp, chỉnh lý, hệ thống
mảng tài liệu từ sách vở, báo chí, các công trình nghiên cứu có liên quan tới văn
học người Hoa. Trên đây là những thao tác cơ bản trong quá trình chúng tôi thực
hiện đề tài nghiên cứu này.
5. Giới hạn của đề tài
Tìm ra những tác phẩm và tác giả văn học người Hoa, đặt chúng trong
tiến trình phát triển của văn học người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, sau đó
tiến hành giới thiệu về những tác giả, tác phẩm đó.
Địa bàn chúng tôi khảo sát, chủ yếu những khu vực có nhiều người Hoa
sinh sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt các di tích lịch sử, các tổ
chức xuất bản…có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với cộng đồng người
Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ những năm cuối thập
niên 80 của thế kỷ 17 đến nay, tức tính từ thời điểm người Hoa bắt đầu xuất hiện
sinh sống ở nơi này với quy mô lớn.
2
Nhắc đến khái niệm văn học của người Hoa thành phố Hồ Chí Minh, do
bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù, ắt có một bộ phận không nhỏ viết
bằng chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ, nhưng ở đây chúng tôi chỉ nhắm vào những
tác phẩm của người Hoa được viết bằng Hán văn. Dẫu biết rằng làm như vậy
chưa hẳn hợp lý, nhưng do thời gian thực hiện đề tài có hạn, người Hoa ở thành
phố Hồ Chí Minh trong quá khứ lại từng trải qua nhiều lần bị ép buộc nhập tịch
Việt, thế nên việc xác định các tác giả người Việt gốc Hoa, hiện dùng Việt văn
để sáng tác thật không đơn giản.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Công trình nghiên cứu này góp phần vào việc bảo lưu và hệ thống hóa
các tài liệu văn học của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh. Mặt khác công
trình cũng cung cấp phần nào tư liệu cho người muốn tìm hiểu về văn học người
Hoa như: sinh viên ngành văn, Trung Quốc học, Đông Phương học, Văn hóa
học, Hán Nôm, các học viên cao học có chuyên ngành liên quan muốn tìm
hiểu…. Sâu xa hơn là có thể góp phần vào việc bảo tồn các giá trị văn hóa tinh
thần của cộng đồng người Hoa nói riêng và của nước Việt Nam nói chung, tạo ra
sự gắn kết tinh thần giữa cộng đồng người Hoa với tinh thần dân tộc Việt Nam
7. Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu
Chương I: Giới thiệu chung
1.1.Vị trí và lịch sử hình thành khu dân cư người Hoa ở Thành phố Hồ
Chí Minh
1.2. Đặc điểm tình hình về kinh tế văn hóa khu dân cư người Hoa ở
Thành phố Hồ Chí Minh
1.3. Đặc điểm tình hình về kinh tế văn hóa khu dân cư người Hoa ở
Thành phố Hồ Chí Minh
1.4. Tình hình chung về văn học trong cộng đồng người Hoa ở Thành
phố Hồ Chí Minh.
Chương II: Các tác giả tác phẩm văn học người Hoa
2.1. Các tác giả, tác phẩm văn học người Hoa trước khi Pháp đánh
chiếm miền Nam
3
2.2. Các tác giả tác phẩm văn học Hoa văn từ những năm đầu thế kỷ
20 cho đến 1975.
2.3. Các tác giả tác phẩm văn học Hoa văn từ sau 1975 đến nay.
Phần kết luận

4
Chương I
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Vị trí và lịch sử hình thành khu dân cư người Hoa ở Thành phố
Hồ Chí Minh
Đồng bào người Hoa ở nước ta có số lượng trên 1 triệu người, là nước có
số người Hoa ít hơn nhiều so với một số nước trong khối Asian. Riêng ở đồng
bằng Nam Bộ có hơn 630 nghìn người (hơn 80%), trong đócó hơn 50 vạn người
sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, đây cũng là địa bàn cư trú tập trung đông
người Hoa nhất ở nước ta hiện nay. Theo các tài liệu lịch sử, người Hoa đến cư
trú ở các vùng phía Nam nước ta vào những năm thuộc thập niên 80 của thế kỷ
XVII, nhưng xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh với số lượng lớn vào khoảng
những năm 1778 cùng với sự thành lập của trung tâm người Hoa ở Chợ Lớn.
Chợ Lớn xưa được gọi là “xứ Sài Gòn”, nguồn gốc của tên đất Sài Gòn
hiện giới nghiên cứu còn đang tranh luận, chưa ai đưa giả thiết đủ tính thuyết
phục. Có thể ngày xưa, người bản địa sống nơi đất cao, rừng cây gòn, nay còn
dấu ấn là Phú Lâm, nhưng điều chắc chắn là phía bắc vùng Chợ Lớn khá cao,
người Việt dành xây cất chùa chiền, thí dụ như chùa Giác Lâm, chùa Cây Mai,
chùa Gò…. Từ giồng đất này, chạy thẳng xuống vùng đồng bằng lại gặp khu vực
thấp lè tè ăn xuống phía Nam, đến ngọn rạch Bến Nghé. Con rạch này ăn thông
ra sông Sài Gòn. Ở Bến Nhà Rồng thuận lợi cho việc chở lúa gạo ra bến cảng.
Người Hoa đến cư ngụ ở nước ta, đa số là nông dân, những người lao
động bần cùng của nước Trung Hoa cũ, sống cơ cực nghèo nàn và chịu cảnh
chiến tranh tàn phá liên miên nên buộc phải tha phương cầu thực. Trong số đó có
một số quan binh của triều đình nhà Minh chạy sang Việt Nam với ý nguyện
phản Thanh phục Minh; việc di dân ra nước ngoài với số lượng lớn phải mãi đến
khi cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949, mới tạm thời chấm dứt.
Có thể chia người Hoa ở Nam bộ thành hai bộ phận chính tương ứng với
thời điểm và lý do di trú: bộ phận thứ nhất bao gồm những người Hoa vốn theo
đường lối phản Thanh phục Minh qua Việt Nam tỵ nạn chính trị vào những năm
nửa cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, như nhóm Trần Thượng Xuyên, Dương
5
Ngạn Địch, Mạc Cửu và hậu duệ của họ, nhóm này được gọi chung là nhóm
Minh hương; bộ phận thứ hai gồm những người Hoa sang Việt Nam làm ăn sinh
sống từ giữa thế kỷ XVIII đến nay, nhóm này từng được gọi là người Thanh để
phân biệt với người Minh hương. Quá trình Việt hóa của hai bộ phận này vì thế
cũng khác nhau về tính chất: nếu những người như Phụ quốc Đô đốc Trần
Thượng Xuyên, Tổng binh Mạc Cửu… và hậu duệ của họ như Trần Đại Định,
Mạc Thiên Tích… đã hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam trước hết theo con
đường chính trị, thì bộ phận thứ hai lại từng bước Việt hóa theo con đường kinh
tế - xã hội, hai con đường này để lại dấu vết của chúng khá rõ ràng trong sinh
hoạt văn hóa của người Hoa ở Nam Bộ, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay. Chẳn hạn người Hoa Minh hương ở Nam Bộ các thế kỷ trước được tổ chức
thành đơn vị “xã” như Thanh Hà xã, Minh hương xã, nên xã Minh hương ở Gia
Định có đình (đình Minh hương Gia Thạnh), còn các nhóm người Hoa ở bộ phận
thứ hai được tổ chức thành đơn vị “phủ” rồi “bang” như phủ Phước Châu, phủ
Triều Châu, phủ Ninh Ba, bang Phúc Kiến, bang Triều Châu, bang Hải Nam…,
hoàn toàn không có đình nhưng nhìn chung đều sở hữu riêng hoặc chung một
hội quán.
Nhìn chung việc các nhóm di dân người Hoa nhập cư với quy mô lớn
như trên đã nêu đã ảnh hưởng đáng kể tới diện mạo văn hóa của cộng đồng Việt
Nam ở Nam Bộ, trong đó có Gia Định. Chẳng hạn trên phương diện ngôn ngữ,
họ đã đưa vào Đàng Trong cách đọc Huỳnh, Phước, Võ theo Minh âm, Thanh
âm thay thế cách đọc Hoàng, Phúc, Vũ theo Đường âm, những mà cho đến nay
nhiều người vẫn ngộ nhận là do kiêng húy; ở mảng hệ thống công cụ sản xuất và
sinh hoạt cũng như những phong tục tập quán hôn thú, tang tế nói chung đều yếu
tố có nguồn gốc du nhập từ Hoa Nam, góp phần làm phong phú thêm sinh hoạt
vật chất và tinh thần của cộng đồng Việt Nam ở Nam Bộ nói chung và thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng.
6
1.2. Đặc điểm tình hình về kinh tế văn hóa khu dân cư người Hoa ở
Thành phố Hồ Chí Minh
Đồng bào Hoa có mối quan hệ chặt chẽ với các dân tộc ở nước ta, nhất là
các dân tộc ở Nam Bộ... và quan hệ chặt chẽ với cộng đồng người Hoa ở nước
ngoài, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Sau giải phóng năm 1975, đồng bào
người Hoa đặc biệt là người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh còn có mối quan hệ
mật thiết với người Hoa ở các nước Mỹ, Úc, Canađa và các nước Tây Âu.
Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn là những người đến từ
các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến và các vùng đồng bằng duyên hải phía Nam
Trung Quốc, trong đó đông nhất là người Triều Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông).
Người Hoa có chung một chữ viết, gọi là chữ Hán, hoặc chữ Hoa, nhưng tiếng
nói lại hoàn toàn khác nhau. Tiếng Quảng Đông và tiếng Triều Châu là hai ngôn
ngữ thông dụng trong đồng bào Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là tiếng
Quảng Đông thường được sử dụng rộng rãi hơn nhiều so với hệ thống các tiếng
nói khác. Tiếng Phúc Kiến, tiếng Hải Nam và tiếng Hẹ nhìn chung được sử dụng
ở phạm vi hẹp hơn. Đồng thời đồng bào Hoa rất yêu mến chữ Hoa và tiếng nói
địa phương của mình.
Là một trong những bộ phận cấu thành của cộng đồng 54 dân tộc anh em
trên mảnh đất Việt Nam, đồng bào người Hoa đã cùng các động đồng cư dân
khác không ngừng khai hoang mở cõi, xây dựng nên một miền đất trù phú qua
các thời kỳ lịch sử giữ nước và dựng nước, ngày nay cùng nhau tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội ngày càng yên bình, ấm no và hạnh
phúc hơn.
Là một trong những tộc người cùng làm chủ đất nước, nhất là ở các tỉnh
phía Nam, đồng bào người Hoa tự hào có các mối quan hệ bà con thân thiện với
những người Hoa khắp năm châu, tạo những điều kiện thuận lợi kêu gọi, hợp tác
hội nhập, góp phần xây dựng đất nước. Cộng đồng dân cư mang tính đặc trưng
cùng nền văn hoá phương Đông này, đến nước ta cũng như các nước Đông Nam
Á khác, họ đã sớm hoà nhập vào khối cộng đồng dân cư bản địa, cùng đồng cam
cộng khổ để xây dựng đất nước.
7
Về văn hóa cảnh quan, người Hoa đến đây cùng với người Việt vàmột số
cộng đồng các dân tộc anh em khác đã làm biến đổi vùng đất hoang sơ chỉ có
nước mênh mông (như sứ giả nhà Nguyên trên đường đến Cao Miên đã ghi lại)
thành một vùng đất phì nhiêu, trù phú; lịch sử đã ghi nhận sự đóng góp của cha
con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích tại vùng đất cực tây Nam Bộ, cũng như sự khai
thác lập ấp của nhóm cư dân Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch… tại Đồng
Nai, Mỹ Tho là rất to lớn. Riêng cha con họ Mạc đã có công biến vùng Mang
Khảm hoang vu thành một Hà Tiên thơ mộng, biết tô đẹp thập cảnh Hà Tiên
bằng sự khai phá tôn tạo của con người.
Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, nơi người Hoa tập trung sinh sống, họ đã tạo nên
một trung tâm đô thị sầm uất, một China Town như cách gọi quen thuộc của báo
chí nước ngoài trước năm 1975. Khu vực Chợ Lớn với những đường giao thông
thuỷ bộ thuận lợi, nối liền khu trung tâm buôn bán qua kênh Bến Nghé đến cảng
Nhà Rồng, trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh và từ đó toả đi các tỉnh tây
Nam Bộ. Những dãy phố, chợ búa, cửa hàng, cửa hiệu và cơ sở sản xuất, buôn
bán tấp nập hiện ra trong qua khứ và hiện nay, đó là công sức lao động, công lao
không ngừng tạo dựng của đồng bào người Hoa.
Về văn hóa sản xuất, cùng với việc du nhập hàng loạt của đồng bào người
Hoa, các ngành nghề cổ truyền, những tri thức về sản xuất, kinh doanh của
người họ cũng đã được mang vào Nam Bộ, Sài Gòn - Chợ Lớn. Những người
thợ thủ công tài hoa khi di cư vào nước ta đã chuyển tải các ngành sản xuất gốm
sứ, gạch ngói, dệt vải, dệt lụa, thuộc da, làm giấy, bút mực, nghề in ấn,… Lúc
đầu tất nhiên họ giữ bí quyết nghề nghiệp, nhưng sau do yêu cầu của sản xuất,
họ đã hiểu được tầm quan trọng của việc chuyển giao công nghệ. Đến nay nhiều
sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh và vùng Nam Bộ đã trở
thành những sản phẩm thành công trong nước và quốc tế, thể hiện đỉnh cao của
sự giao thoa văn hóa Hoa - Việt.
Về văn hóa cộng đồng, do điều kiện sinh sống của người Hoa ở vùng đất
mới, nên ý thức cộng đồng luôn luôn được đề cao, được củng cố. Tinh thần cố
kết cộng đồng: gia đình, họ tộc, đồng hương, đồng nghiệp đặc biệt được quan
tâm giữ gìn như một giá trị tinh thần thiêng liêng. Lòng biết ơn, tinh thần nghĩa
8
hiệp đùm bọc lẫn nhau và ý chí quyết lập nghiệp là những giá trị được cộng
đồng người Hoa hết sức nâng niu, trân trọng. Chính nhờ các giá trị văn hóa, ý
thức cộng đồng nói trên đã giúp cho người Hoa tồn tại như một nhóm xã hội đặc
thù, vừa hoà nhập với các cộng đồng khác, vừa giữ được những đặc điểm riêng
có tính ưu trội của riêng mình.
Về văn hóa tinh thần, người Hoa đến vùng Nam Bộ và Sài Gòn - Chợ Lớn
mang theo một nền văn hóa đã phát triển phong phú, đa dạng và đặc sắc.
Trước hết là văn hóa tín ngưỡng, tâm linh với việc thờ cúng rất nhiều nhân
thần và nhiên thần, hai hệ thống thần linh đã ăn sâu vào tâm thức của họ. Về
nhân thần có những thánh nhân được tôn thờ và truyền tụng trong đời sống tinh
thần của cộng đồng như Quan Công, Bao Công, Bổn Đầu Công, Bà Thiên Hậu,
Quan Âm Bồ Tát… Về nhiên thần cũng có rất nhiều biểu tượng thiêng liêng
được tôn thờ, như Ngọc Hoàng - Thượng Đế, Thổ Công - Táo Quân, Thần Tài,
Phật Di Lặc…. Các công trình kiến trúc tôn giáo, tâm linh uy nghi được dựng
lên: như miếu Thiên Hậu (Hội quán Tuệ Thành), Chùa Ông (Hội quán Nghĩa
An), Nhị Phủ Miếu (Chùa Ông Bổn), Quỳnh Phủ Hội quán, Hội quán Sùng
Chính và Chùa Quan Âm (Hội quán Ôn Lăng)…. Cùng với các nghi lễ trong
những ngày lễ tết, như Nguyên Đán, Nguyên Tiêu, Thanh Minh, Hàn Thực,
Đoan Ngọ, Trung Nguyên, Thượng Nguyên… làm cho đời sống tâm linh của
người Hoa vừa thiêng liêng vừa huyền ảo nhưng vẫn gắn với đời sống nhân sinh
của con người. Có người cho rằng: thông qua hệ thống tín ngưỡng, tâm linh và
các tục lệ, lễ thức, nhân cách và tâm lý người Hoa được hình thành, góp phần
củng cố các quan hệ gia đình, ý thức cộng đồng hướng tới những ước vọng về
một cuộc sống an sinh, bền vững.
Văn hóa nghệ thuật của người Hoa cũng hết sức phong phú với các loại
hình dân ca, dân vũ và các loại nhạc cụ đặc sắc. Dân ca có các làn điệu hát
Quảng, hát Tiều, dân vũ có múa lân - sư - rồng và dàn nhạc có nhạc Xã… làm
tăng thêm tính phong phú đa dạng, tính đặc sắc đặc thù cho văn hóa Nam Bộ nói
chung và Sài Gòn - Chợ Lớn nói riêng.
Nền kinh tế - văn hoá nghệ thuật cổ đại hưng thịnh một thời của Mạc
Cửu, Mạc Thiên Tích với "Thi đàn chiêu anh các", hay Gia Định tam gia với hệ
9
thống các tác phẩm nổi tiếng như Gia Định tam gia thi, Gia Định thành thông
chí,…hay những hoạt động của đồng bào người Hoa ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ
19 nửa đầu thế kỷ 20 đã thực sự làm phong phú thêm nền văn hoá Việt Nam.
Sau khi hòa bình lập lại, ở một số nơi, nhất là ở các quận thuộc thành phố
Hồ Chí Minh, người Hoa hoạt động kinh tế - văn hoá rất giỏi và sôi nổi. Chợ
Lớn ngày nay là tên đất của khu vực quận 5, quận 6 gồm đa phần là cư dân
người Hoa sinh sống với nhịp sống lao động, sinh hoạt náo nhiệt ngày đêm, hoạt
động bán buôn, bán lẻ có thể nói phồn thịnh hơn bao giờ hết. Lại còn đủ thứ vui,
thú ăn chơi tao nhã, hội hè đình đám. Ngày nay, tất nhiên tình thế đã thay đổi,
việc mua bán ngày càng có nề nếp hơn. Vào Chợ Lớn, “món gì cũng có, có tiền
là có ngay”. Người qua lại tấp nập, không người nhàn rỗi. Nếu chúng ta thấy
nhiều người Hoa và Việt tụ họp ở quán cà phê bình dân hoặc hiệu ăn sang trọng,
không phải họ hưởng lạc thuần túy, chẳng qua là gặp nhau để thông báo về giá
cả, tình hình cung cầu, biến động thị trường hoặc “gút lại công việc làm ăn nào
đó” mà thôi.
Có thể nói giới công thương người Hoa không những thông hiểu mà còn
nhạy cảm với đường lối chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, hiện
nay trên các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, thương mại, dịch vụ, ngân hàng, lĩnh vực
nào cũng có phần đầu tư của giới công thương ngưòi Hoa. Điều đáng nói là
phạm vi đầu tư của họ không chỉ đóng khung trong các quận, huyện của thành
phố mà còn mở rộng ra các vùng lân cận thuộc các tỉnh khác, thậm chí vương
sang cả nước bạn Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan…. Ngành nghề mà họ đầu tư bao
gồm cả những nghề sinh lợi ngay như nhà hàng, khách sạn, dịch vụ du lịch, vui
chơi - giải trí lẫn những ngành nghề phải đầu tư lâu dài, phải liên tục đổi mới
thiết bị, công nghệ, phải cạnh tranh vất vả, mới thu được lợi nhuận như các
ngành sản xuất tiêu dùng, chế biến hàng xuất khẩu, ngành xây dựng cơ bản, xây
dựng cơ sở hạ tầng…. Nguồn vốn của họ ngoài vốn tự có, vốn của các tập đoàn
công thương gia trong nước, còn có nguồn vốn do thân nhân bà con nước ngoài
hỗ trợ. Nhìn chung, hoạt động kinh tế của cộng đồng người Hoa ngày càng sôi
nổi, nhộn nhịp, phát triển theo chiều hướng đi lên. Những năm qua, họ đã đóng
10
góp đáng kể vào mức tăng trưởng kinh tế của thành phố và góp phần giải quyết
công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động của thành phố.
Tuy sống ở khu vực gần như riêng biệt, nhưng từ lâu, người Việt và
người Hoa vẫn khăng khít trong việc làm ăn mua bán; lại giống nhau trên nét lớn
về tín ngưỡng dân gian, đa thần, thờ Phật, thờ Quan Công, ăn Tết âm lịch, mùng
5 tháng 5 (Đoan Ngọ), ăn rằm tháng 7, vui tiết trung thu….Nhưng ở đồng bào
người Hoa có một số mặt tích cực, cần được nghiên cứu và đề cao:
- Hiếu khách, nhớ ơn bạn bè, đã mang ơn thì nhớ ơn rất bền lâu.
- Lấy chữ Tín làm đầu, đã hứa là giữ lời hứa mặc dầu bị thiệt thòi. Trả nợ
đúng thời hạn, chấp nhận bị lỗ vốn khi hàng hóa sụt giá thình lình. Không thích
dùng giấy tờ, giao kèo, hoặc kiện tụng đến cửa quan. Giải quyết êm thấm nội bộ
là tốt nhất.
- Không tự ái vụn vặt vì lời ăn tiếng nói lúc xã giao, giúp đỡ tận tình với
bạn bè.
- Gắn bó với người Việt trong giai đoạn chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Thời Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, người Hoa ở Hội kín đã trợ giúp
nghĩa quân, mặc dầu việc lớn không thành, nhưng những đóng góp của họ là
không thể phủ nhận. Công nhân, lớp người nghèo thành thị người Hoa đã hưởng
ứng những cuộc tranh đấu giai đoạn khi vừa có Đảng, thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ. Nhiều người Hoa đã can đảm hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng
của cách mạng, thậm chí thân sa vào vòng tù đày nơi khám Chí Hòa, nơi nhà tù
Côn Đảo, nhưng họ vẫn quyết một lòng trung trinh với Đảng với đất nước. Lòng
từ thiện của người Hoa còn biểu hiện rõ rệt trong các phong trào xóa đói giảm
nghèo, quyên góp cứu trợ đồng bào khi thiên tai, lũ lụt.
1.3. Tình hình chung về văn học trong cộng đồng người Hoa ở thành
phố Hồ Chí Minh
Người Hoa đến Việt Nam cư trú lâu dài, đã mang theo những hoài cảm
lẫn văn hóa vùng đất tổ. Con cháu họ tiếp tục được thừa kế văn hóa của tổ tiên
mang từ cố quốc sang, lại tiếp thu vốn văn hóa tinh hoa của vùng đất mới cho
11
nên đã nảy sinh không ít nhân tài. Vì thế, hai giai đoạn phát triển rực rỡ của văn
học Hoa văn thành phố Hồ Chí Minh đều được lưu tiếng đến đời sau.
Trong giai đoạn đầu, vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, văn học Hoa văn
phát triển rực rỡ, vẫn còn lưu lại tiếng thơm cho đến ngày nay với các thi xã như,
thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên vốn thuộc thành Gia Định,
nhóm Gia Định sơn hội, một số thành viên trong Bạch Mai thi xã. Tên tuổi gắn
liền với văn học thời kỳ này phải kể đến Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh,
Huỳnh Ngọc Uẩn, Trương Hảo Hợp, Diệp Minh Phụng, Vương Kế Sanh, Vương
Văn Anh… tên tuổi của họ đã hợp chung và hoà vào dòng chảy văn học Việt
Nam, trở thành yếu tố cấu thành không thể thiếu trong dòng văn học Việt Nam
giai đoạn cổ trung đại. Giai đoạn tiếp theo, được xem là thời kỳ suy thoái của
văn học người Hoa.
Sau khi Pháp đánh chiếm miền Nam, tiếng Việt ngày càng bị Latinh hóa,
Quốc ngữ cũng dần dần định hình, trước phong trào vận động sử dụng chữ Quốc
ngữ rầm rộ của nhà cầm quyền, không còn mấy người học Hán văn, thành ra văn
học Hoa văn càng ngày bị suy thoái. Nhà thơ Trần Tế Xương đã từng than rằng:
phong trào nho học đã suy tàn, mười người học thì có đến chín người thôi. Vì
muốn bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc, những gia đình người Hoa giàu có đã
đưa con cái họ về lại Trung Quốc để học tập sách thánh hiền, lớp trẻ này do đó
mà sự liên hệ về tình cảm và văn hóa đối với “đất mới” miền Nam Việt Nam
không còn chặt chẽ như các thế hệ cha ông chúng.
Sau giai đoạn suy thoái, khoảng giữa thế kỷ 20, văn học người Hoa bắt
đầu phát triển trở lại, đây là giai đoạn được đánh giá là thời kỳ phát triển thứ hai
trong lịch sử phát triển của dòng văn học người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh.
Sau chiến tranh Trung - Nhật và cuộc đại chiến thế giới lần hai, càng có nhiều trí
thức người Hoa từ Trung Quốc di cư đến Việt Nam, không chỉ thông hiểu văn
học truyền thống, họ còn rất hiểu biết về Tây học và tư tưởng tiến bộ. Họ mở
trường học, mở toà soạn tòa báo nhằm thúc đẩy việc phát triển văn hóa Hoa văn.
Về phương diện văn học, những việc làm đó đã cổ vũ mạnh mẽ cho sự phát triển
văn học bạch thoại, đặc biệt là thơ và tản văn mới. Từ cuối thập niên 40 đến đầu
thập niên 70 của thế kỷ XX, trong số những di dân người Hoa này đã xuất hiện
12
không ít những nhân tài và những con người lòng tràn đầy nhiệt huyết đối với
văn học, như Đặng Hồng Nho, Hoắc Văn, La Phong, Diệp Truyền Hoa, Trần
Hữu Cầm, Triệu Đại Độn...Có thể nói đây là những người đi đầu trong việc tạo
ra đỉnh cao thơ hiện đại và thơ cổ ở cả hai thập niên 60 và 70.Giai đoạn này có
khá nhiều tác phẩm được xuất bản, như Thập nhị thi tập, Tượng Nham cốc thi
diệp, Thuỷ thủ, Kiếp Dư ngâm thảo, Thính Vũ lâu thi thảo, Long Trai thi tập,
Diệp Truyền Hoa thi tập, Hiến cấp ngã đích ái nhân, Thuỷ chi mê, Bút luỹ,
Phong xa, Trung học sinh, Mê phong…. Về thành tựu đa dạng phong phú của
văn học ở giai đoạn này, trước mắt vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào
xoáy vào nội dung nêu trên, lại thêm các công trình trên phần nhiều thất lạc, hiện
chúng tôi chỉ tìm lại được khoảng 50% số tài liệu nêu trên.
Giai đoạn thứ tư, giai đoạn tiềm tàng của văn học Hoa văn. Sau giải
phóng miền Nam năm 1975 đến trước ngày đất nước bắt đầu mở cửa, văn học
Hoa văn ở trạng thái lắng xuống bởi giáo dục Hoa văn bị đình trệ suốt hơn 10
năm, hình thành một thời văn hóa trống rỗng của người Hoa. Nhìn chung cũng
vì kinh tế khó khăn nên những người chấp bút đành phải gác bút để tìm kế sinh
nhai, không ai còn tâm trí dành cho việc sáng tác. Một bộ phận giới trí thức và
nhân sĩ trung lưu ngày trước cũng lần lượt tìm đường ra nước ngoài định cư.
Những nhân tố kể trên cùng với nhiều lý do khác khiến cho văn học Hoa văn
không còn được như trước nữa.
Giai đoạn sau khi nước ta cải cách mở cửa đến nay, trước mắt ở thành
phố Hồ Chí Minh chỉ còn có một tờ báo Hoa văn là báo Sài Gòn Giải Phóng, từ
năm 1987 báo này đã thành lập “Câu lạc bộ Văn hữu” (Câu lạc bộ bạn văn), câu
lạc bộ này đã tiếp nhận tất cả các bạn văn ở tờ phụ san Văn nghệ vốn định kỳ
hàng tuần phát hành, tạo không khí cho các văn sĩ chấp bút và sáng tác. Từ năm
1990, hoạt động văn học Hoa văn phát triển mạnh trở lại. Ở giai đoạn này, ngoài
những cây bút đã nổi danh trước giải phóng sau một thời gian dài gác bút nay
“tái xuất giang hồ”, như Ngân Phát 銀 髮 , Ông Nghĩa Tài 翁 義 才 , Lý Chí
Thành 李志成,Trần Quốc Chính 陳國正,Thu Mộng 秋夢,Thạch Linh 石羚
…; còn xuất hiện không ít những cây bút mới nổi, như Dư Vấn Canh 余問耕
13
Tuyết Bình 雪萍,Phương Phương 方方,Khâu Lăng 丘淩,Ngọc Hoa 玉華,
Trường Phong 長風…; sự tích cực tham gia của thế hệ các văn, nhà thơ thuộc
thế hệ trước, đã cổ vũ tinh thần các bạn văn, khiến họ không ngừng tích cực
tham gia vào văn đàn đương đại.
Mặt khác, ngày nay với những đổi mới về kinh tế chính trị, không ít
người Hoa ra nước ngoài định cư thường quay lại Việt Nam để thăm hỏi bạn bè,
gia quyến, hoạt động giao lưu văn hóa của đồng bào người Hoa thành phố với
các nước lân cận vì thế không ngừng mở rộng thêm. Vì thế trình độ văn hóa của
người Hoa ngày càng cao, việc này hiển nhiên kích thích một bộ phận văn sĩ
người Hoa tái cầm bút sáng tác. Những năm lại đây, ngoài Câu lạc bộ Văn hữu
của báo Sài Gòn Giải Phóng, Hội Văn học Hoa văn cũng được Hội Văn học
Nghệ thuật các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh ráo riết chuẩn bị cho việc thành
lập. Hai tổ chức này kết hợp với Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc và một số nhà
xuất bản khác không ngừng ấn hành một số sách vở Hoa văn, trong đó quan
trọng có thể kể đến Mê giang nhã ngâm 湄江雅吟

Việt Nam hiện đại thi sao
越南現代詩淩

Hướng dương tập 向陽集

Minh Đạo thi từ tập 明道詩詞集

…và gần đây còn có Đặc san Văn học nghệ thuật Hoa Việt 華越文學藝術特刊
(đến nay đã ra được 7 số) của các tác giả Chợ Lớn và các tác giả dùng chữ Hán
sáng tác trên khắp toàn cầu. Ngoài ra, các nhà văn người Hoa còn có cơ hội tham
dự Hội nghị văn học Hoa văn thế giới tổ chức ở khắp mọi nơi trên thế giới.
14
Chương II
CÁC TÁC GIẢ TÁC PHẨM VĂN HỌC HOA VĂN
2.1. Các tác giả tác phẩm văn học Hoa văn trước khi Pháp đánh chiếm
miền Nam
Văn học Hoa văn trong thời gian này phát triển hết sức rực rỡ, tiêu biểu
nhất có Gia Định Sơn hội 嘉定山淩. Gia Định Sơn hội hoạt động vào khoảng
cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, thành phần gồm có các nhà thơ: Chỉ sơn
Trịnh Hoài Đức 止山鄭懷德, Nhữ sơn Ngô Nhân Tĩnh 汝山吳人靜, Kì sơn
Diệp Minh Phụng 祁山葉明鳳, Phục sơn Vương Kế Sanh 伏山王繼生, Hội sơn
Huỳnh Ngọc Uẩn 淩山黃玉淩. Bạch Mai thi xã thì do sư trụ trì chùa Cây Mai là
Hoằng Ân Sang 殷 弘 創 lập ra, có rất nhiều người Việt Nam và người Minh
Hương tham gia sáng tác Nôm văn và Hán văn. Theo cuốn “Địa chí văn hóa
Thành phố Hồ Chí Minh” cuốn 1, Cao Tự Thanh đã phân tích: sự xuất hiện của
Sơn hội đã đóng góp một phần quan trọng trong tiến trình văn hóa từ đó về sau
của Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Ngày nay, các tác
phẩm của các thi nhân trong Sơn hội và một số thi nhân giai đoạn sau còn tồn tại
như: Gia Định tam gia thi 嘉定三家淩 thu thập thơ ca của Trịnh Hoài Đức, Lê
Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh; Gia Định thành thông chí 嘉定城通誌 , Cấn
Trai thi tập 艮淩詩集 , Gia Định tam thập cảnh 嘉定三十景 của Trịnh Hoài
Đức; Nhất thống địa dư chí 一統地輿誌 , Hoa Nguyên thi thảo 淩原淩草 của
Lê Quang Định; Thập Anh thi tập 拾英詩集, Thập Anh văn tập 拾英文集 của
Ngô Nhân Tĩnh, Trương Mộng Mai thi tập 淩淩梅淩集 hay Mộng Mai đình thi
thảo 夢梅梅亭詩草 của Trương Hảo Hợp,… nghiễm nhiên được coi là di sản
Việt Nam.
15
2.1.1. Gia Định tam gia thi 嘉定三家詩 do Trịnh Hoài Đức khắc in, sách
đã mất nhưng hiện còn lời tựa cho tập này của Trịnh Hoài Đức. Sách gồm ba tập
thơ của ba tác giả in độc lập vào những thời điểm khác nhau, theo thứ tự:
2.1.1.1. Cấn Trai thi tập toàn biên mục lục 艮齋詩集全編 Ngoài lời tựa
Nguyễn Định Cát, Ngô Thời Vị và Cao Huy Diệu ở đầu, bài tự tự ở phần cuối,
thứ tự tập thơ được xếp theo thứ tự:
- Thoái thực truy biên thi, gồm 127 bài thơ.
- Quan Quang tập thi , gồm 152 bài thơ
- Khả dĩ tập thi, gồm 48 bài thơ.
2.1.1.2. Hoa Nguyên thi thảo 華原詩草 : Ngoài 77 bài thơ còn có bài tựa
của Lê Bá, tức Thanh Hoa Lê Lương Thận, giữ chức Hàn lâm viện chế cáo viết
vào tháng 8 năm Gia Long thứ sáu (1807).
2.1.1.3. Thập Anh đường thi tập 拾英堂詩集 : Ngoài 187 bài thơ còn
có ba bài tựa của Trần Tuấn Viễn, Nguyễn Địch Cát và Bùi Dương Lịch được
khắc in ở phần đầu.
2.1.2. Cấn Trai thi tập 艮斋斋集: Trịnh Hoài Đức hiệu Cấn Trai biên soạn
và viết lời tựa khi khắc in năm Gia Long 18 (1819). Phần đầu có lời tựa của
Nguyễn Địch Cát, bài bạt của Ngô Thì Vị và Cao Huy Diệu. Sách hiện do thư
viện thựôc Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, gồm 2 bản in (A.780,
A.1392), 1 bản viết (A.3139). Sách gồm ba tập, sắp theo thứ tự như sau:
Thoái thực truy biên , 127 bài thơ soạn năm Nhâm dần (1782).
Quan quang tập, 152 bài thơ do tác giả làm trong dịp đi sứ Trung Quốc
(1802).
Khả dĩ tập, 48 bài thơ mang nội dung tặng đáp, thù tạc….
Sách này hiện thư viện Viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh
cũng lưu giữ 1 bản, nhưng đã rách nát.
2.1.3. Thập Anh đường thi tập 拾英堂詩集 , 187 bài thơ của Ngô Nhân
Tĩnh khi làm quan và khi đi sứ Trung Quốc. Sách do thư viện Viện Nghiên cứu
16

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×