Tải bản đầy đủ

MỘT HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO VÀ PHẬT GIÁO TRIẾT HỌC CỦA DÂN TỘC

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Từ nhiều năm nay đã có nhiều ngời viết về "Nhận thức
luận Phật giáo", "Triết học phật giáo", "Lô gic học phật giáo"
v.v..nhng còn ít ngời đề cập đến vấn đề Phật giáo trong mối
quan hệ với lịch sử t tởng Việt Nam. Để thấy rõ ràng hơn nguồn
gốc hình thành thế giới quan của ngời Việt Nam trong lịch sử,
nên chăng chúng ta cùng nghiên cứu vấn đề Phật giáo và thế
giới quan của ngời Việt.
I- Phật giáo, một hiện tợng tôn giáo và
triết học của dân tộc.
Sự giao lu giữa các quốc gia trong một khu vực đã phá vỡ
cái thế riêng biệt của tâm lý, t tởng trong từng dân tộc làm cho
tâm lý và t tởng đó hoà vào cái chung của khu vực. Việt Nam
cũng ở trong một quá trình nh thế. Theo chân các nhà buôn, nhà
truyền giáo ấn Độ, Phật giáo vào nớc ta vào khoảng thế kỷ thứ I
và thứ II sau công nguyên. Sau đó, nối gót ngời ấn Độ các nhà
Phật giáo Bắc tông vào. Rồi những ngời tìm đờng sang Trung
Quốc, ấn Độ học Phật trở về cũng tiếp tục truyền bá Phật giáo.
Bằng những con đờng khác nhau đó, Phật giáo, một tôn giáo
chung của nhiều nớc Nam á và Đông Nam á lúc bấy giờ cũng
tìm đợc chỗ đứng ở Việt Nam.

Nhng Phật giáo có nguồn gốc ở xã hội ấn Độ cổ đại vốn
mang trong mình những đặc điểm của t tởng và tôn giáo, của
con ngời và xã hội của quá khứ và hiên tại ấn Độ lúc bấy giờ.
Có những điều không phù hợp với con ngời và xã hội Việt Nam
đơng thời. Vì vậy để phát triển đợc ở Việt Nam, Phật giáo phải
trải qua một quá trình:
1,Vào giai đoạn đầu của thời kỳ truyền bá Phật giáo vấp
phải sự phản ứng của các tín ngỡng cổ truyền của ngời Việt
Nam, của tục thờ phụng tổ tiên, của lệ cúng bái thổ công và các
thói quên thờ cúng thành hoàng.. . Ngời Việt Nam mang các tín
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngỡng trên không khỏi ngỡ ngàng trớc Phật giáo. Họ đã xa
lánh, thậm trí chê bai, đả kích.
2,Vào thời kỳ sau của sự truyền bá, lúc Phật giáo đã làm
quen với dân tộc nó vẫn còn liên tục bị sự mổ xẻ của một số ng-
ời. Ngời ta đã đặt nó trên bình diện chính trị - xã hội để khảo
nghiệm và thấy rằng ở Phật giáo có những điều không thích
hợp. Do đó, nhiều ngời Việt Nam trong những thời kỳ khác
nhau đã phê phán, kỳ thị Phật giáo nh : Đàm Mĩ Mông (thế kỷ
XII); Lê Quát, Trơng Hán Siêu (thế kỷ XIV); Bùi Huy Bích,
Phạm Nguyễn Du (thế kỷ XVIII); Phạm Quý Thích (thế kỷ
XIX)... đều xem Phật giáo là điều có hại cho xã hội.
Nhng ở một phía khác, trên phơng diện tín ngỡng, ngời
Việt Nam xa lại tìm đến Phật giáo. Dần dần, họ đi đến tôn sùng
và đề cao nó. Các vua Lý, vua Trần từ các thế kỷ XI đến XIV
đều đề cao Phật giáo. Thời Lê, thời Nguyễn tuy tôn sùng Nho,
nhng vẫn để cho Phật giáo lu hành. Lê Sát, Lê Ngân là những
đại thần thời Lê sở và những hoàng thân, quốc thích thời
Nguyễn trong nhà đều có chùa thờ Phật. Thậm chí Trơng Hán
Siêu trớc chống Phật giáo sau lại theo Phật giáo. Còn quần
chúng nhân dân thì lẳng lặng đi theo Phật giáo.
Hai khuynh hớng phủ nhận và thừa nhận trên đã đan xen
nhau, kế tiếp nhau trong lịch sử. Nhng khuynh hớng thừa nhận
mạnh hơn khuynh hớng phủ nhận và là khuynh hớng chung của
lịch sử, làm cho Phật giáo trở thành một tôn giáo và là một hiện
tợng triết học lâu dài của dân tộc.
Trở thành một hiện tợng đó, rõ ràng không phải là sự áp
đặt, cũng không phải là sự lầm lỡ nhất thời, mà nh là một sự tất
yếu, một hiện tợng có tính quy luật, không thể khác trong hoàn
cảnh lúc bấy giờ.
Tính tất yếu trên ít nhiều đã có ngời đề cập. Một số ngời
có kiến thức lịch sử lại có quan điểm hiện thực chủ nghĩa,
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
không thể không công khai thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của
Phật giáo. Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích thế kỷ
XVIII đều thừa nhận một số yếu tố của Phật giáo. Thậm chí Lê
Quý Đôn còn cho rằng chê bai tiên Phật là thái độ "hẹp hòi".
Vì sao Phật giáo, một tôn giáo, một triết thuyết từ bên
ngoài vào lại khẳng định đợc vị trí của mình dài lâu trong dân
tộc nh thế?
Về vấn đề này đã có nhiều giải kiến khác nhau. Có ngời
cho rằng dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống bao dung tôn
giáo nên dung nạp Phật giáo; có ngời giải thích rằng Phật giáo
là một trào lu văn hoá nên sẽ sống mãi với dân tộc, có ngời
quan niệm rằng Phật giáo không giành quyền binh và uy lực
ngoài đời nên ngời ta tin theo... Nhng tất cả các lý lẽ đó đều
không sức thuyết phục.
Nếu nói rằng, ngời Việt Nam có truyền thống bao dung
tôn giáo thì không thể giải thích đợc hiện tợng các nhà nho phê
phán Phật giáo và những ngời vô thần đối nghịch với Phật giáo.
Nếu nói rằng Phật giáo là một trào lu văn hoá mới thấy một mặt
của văn hoá dân tộc: mặt chịu ảnh hởng và mang dấu ấn của
Phật giáo. Nhng xét về bản chất thì Phật giáo là một tôn giáo,
một lý thuyết thần bí về sự giải thoát con ngời và do đó gọi là
một tôn giáo đúng hơn là một trào lu văn hoá. Nếu nói rằng
Phật giáo không giành quyền binh, địa vị ngoài đời thì không
thể giải thích đợc các hiện tợng lịch sử, nh có ngời tin theo Phật
giáo để mong giầu sang...
II-Phật giáo là một nhu cầu tinh thần
của ngời Việt Nam trong lịch sử
Con ngời ta gồm các cá nhân khác nhau, sống trong thời
gian và không gian khác nhau, nhng để sống, ở họ đều có chung
một tâm lý: mong muốn ấm no, mạnh khoẻ, sống lâu, giàu
sang... Mong muốn đó ở ngời dân Việt Nam đợc gửi vào hình t-
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ợng "Tam đa": Phúc, Lộc, Thọ. Đó là tâm lý, vừa mang tính
chất tự nhiên, vừa mang tính chất xã hội, vừa lâu dài, vừa cấp
bách. Nó gắn liền với con ngời nh sự tồn tại của chính họ.
Xã hội phong kiến là một xã hội trì trệ lâu dài. Ngời ta
bằng lòng với nền kinh tế tự cấp, tự túc, với tri thức hạn hẹp và
nếp sống làng xã khép kín. Ngời ta không thể hiểu đợc những
nguyên nhân thực sự đa đến những số mệnh khác nhau của con
ngời, không thể hiểu đợc vì sao ở ngời này thì có số phận hẩm
hiu, ở ngời khác thì có số phận may mắn... Mỗi con ngời nghèo
khổ đều băn khoăn và mong muốn có một ngày nào đó đợc đổi
đời. Trong một chế độ xã hội ngời bóc lột ngời nh chế độ phong
kiến, con ngời cha tìm đợc sức mạnh để giải phóng mình ở
chính bản thân mình. Ngời ta đặt hy vọng vào một lực lợng siêu
nhiên, đặt niềm tin vào tôn giáo.
Tín ngỡng nguyên thuỷ đã thoả mãn phần nào nhu cầu của
con ngời Việt Nam trong lịch sử. Tín ngỡng đó với các nguyên
lý: Thờ tổ tiên thì đợc tổ tiên phù hộ, thờ thổ công thì đợc thổ
công cho phúc, thờ thành hoàng thì đợc thành hoàng bảo vệ...
đã gieo vào lòng ngời những niềm tin.
Nhng tín ngỡng thô sơ đó không thoả mãn đợc nhu cầu
tâm lý và nhận thức của con ngời Việt Nam. Cùng với sự phát
triển của xã hội, ngời Việt Nam ngày càng mong muốn hiểu đợc
ý nghĩa cuộc sống của mình, muốn biết sự sinh thành của mình,
muốn biết quan hệ nhân quả trong cuộc đời mình... Phật giáo với
lý thuyết: Khổ, tập, diệt, đạo, nghiệp, vô, thờng, ngã ... đã đáp ứng đợc
phần nào nhu cầu đó. Phật giáo do đó đã thay thế đợc các tín ngỡng
cổ truyền, trở thành tôn giáo chung của nhiều địa phơng và cuối cùng
là của cả đất nớc.
Sống và yêu cầu sống không đợc đáp ứng trong hiện thực xã
hội, không những là điều kiện cho Phật giáo du nhập và thắng thế, mà
còn là cơ sở qui định sự phát triển của các tông phái. Phật giáo ở Việt
Nam, Tông phái nào chú ý đến yêu cầu sống của dân, đến cảnh khổ
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đau thì ăn sâu phát triển, tông phái nào lý luận cao siêu nhng không
chú ý mấy đến sự thoả mãn yêu cầu của con ngời thì dù có đợc thịnh
hành cũng chỉ là hiện tợng tạm thời trong lịch sử.
Phật giáo truyền vào nớc ta là Phật đại thừa với cả ba tông phái:
Thiền tông, Mật tông, Tinh độ tông.
Thiền tông với các quan niệm: Phật tại tâm, Phật có ở mọi nơi,
ai cũng có thể trở thành Phật, có thể trở thành Phật ngay tức khắc... đã
nâng con ngời lên trong ách kìm kẹp nặng nề của trật tự phong kiến và
Nho giáo. Nhng Thiền tông không đề cập đến những nhu cầu thực tế,
hàng ngày nên chỉ đợc thịnh hành trong một giai đoạn lịch sử (Lý -
Trần).
Mật tông với thuật phù chí, bùa phép, với phơng pháp hàng long
phục hổ, trấn tà yểm huyệt, tuy thô thiển về mặt cách thức nhng hứa
hẹn thoả mãn một điều gì đó trong tâm lý con ngời, nên đợc nhiều ng-
ời tin theo nhất là quần chúng ngời nghèo khổ. Nhng nổi hơn cả , có
sức hấp dẫn hơn cả phải tính đến Tinh độ tông.
Tinh độ tông với chủ trơng niệm Phật A-di-đà, với sự tôn thờ
Phật Quan thế âm, với quan niệm sống từ bi hỉ xả, thì khi chết sẽ đợc
về nơi tịnh thổ, đợc lên cõi niết bàn, đợc thoát khỏi cảnh trầm luân
khổ ải ở kiếp sau, đã đánh đúng vào yêu cầu thoát khổ thoát nạn của
con ngời trần gian, nên đã có sức lôi cuốn đặc biệt. Ngời ta dốc lòng
tin theo Phật Quan thế âm. Ngời ta còn tạo nên Phật Bà Quan âm
nghìn mắt, nghìn tay để chứng tổ rằng có một vị Phật có thể thấy đợc
hết khổ ải của chúng sinh, có thể cứu vớt đợc hết mọi ngời khổ đau.
Chính do chủ trơng cứu khổ, cứu nạn, đổi đời ngời nh thế nên Tịnh độ
tông trở thành tông phái chủ đạo của Phật giáo Việt Nam và xuyên
suốt trong lịch sử.
Có thể nói Phật giáo, nhất là Tịnh độ tông là một phơng thức
thoả mãn nhu cầu tinh thần của con ngời Việt Nam trong lịch sử.
Chừng nào thế giới quan vô thần và khoa học cha đủ điều kiện để
thống trị trong đầu óc họ thì những vị Phật do con ngời tạo ra dù âm
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×