Tải bản đầy đủ

Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn hệ thống cơ quan cấu thành
của bộ máy nhà nước, đóng một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật tự
pháp luật, bảo vệ chế độ. Xác định được tầm quan trọng của hệ thống cơ quan
này, thời gian qua, cùng với việc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã chủ
trương đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp trong đó
có Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Đây là một chủ trương lớn và đúng đắn
của Đảng được thể hiện trong nhiều văn kiện: Chỉ thị 53-CT/ TW ngày
21/3/2000 Về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực
hiện trong năm 2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 Về một số
nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-
NQ/TW ngày 02/06/2005 Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 mà
mục tiêu là "xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa…"[17, tr. 2] trong đó có yêu cầu nâng cao chất
lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp.
Đến nay, sau nhiều năm triển khai thực hiện các nghị quyết trên của
Đảng, công tác tư pháp đã đạt được những kết quả cụ thể, đáng khích lệ, đánh
dấu những biến chuyển tích cực trong công tác tư pháp, đấu tranh chống các
loại tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân:

Đã khắc phục một bước trong việc lạm dụng bắt khẩn cấp,
bắt oan, sai; tỷ lệ bắt, giam, giữ đưa ra truy tố đạt cao; công tác giải
quyết án trọng điểm và đấu tranh chống tội phạm đã được đẩy
nhanh tiến độ và đạt kết quả tốt, đã và đang giải quyết được nhiều
vụ án tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng, xử lý nghiêm minh,
không có "vùng cấm" nào... [5, tr. 5].
1
Tuy nhiên, công tác tư pháp vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế mà nguyên
nhân và bài học kinh nghiệm của các hạn chế đó không phải chỉ có một, cần
được nghiên cứu làm rõ và có hướng khắc phục để tiếp tục tiến trình cải cách
tư pháp, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn đổi mới. Mặt khác, theo quy
định của Hiến pháp và pháp luật, chức năng của VKSND ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp. Đây là một chức năng mà VKSND đã đảm đương từ lâu nhưng cho đến
nay vẫn còn nhiều vướng mắc và khó khăn do chưa đạt được sự thống nhất
cao cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Đây cũng là một trong những
nguyên nhân làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác thực hiện
chức năng của VKSND. Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề trên
không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần đảm
bảo sự thống nhất trong hành động, nâng cao hiệu quả của công tác tư pháp
nói chung, công tác kiểm sát nói riêng, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà
nước giao phó cho VKSND, đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận
và thực tiễn thông qua hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của VKSND
ở một cấp cụ thể trên địa bàn cụ thể đồng thời đề xuất một số giải pháp để
nâng cao chất lượng của hoạt động này trong điều kiện cải cách tư pháp, tác
giả chọn đề tài "Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là các
chức năng hiến định của VKSND. Về vấn đề này đã có nhiều công trình
nghiên cứu của các tác giả khác nhau. Đáng chú ý là các công trình đã được
công bố sau:
- "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai
đoạn điều tra" của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, 2005.
2
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh" của Trần Văn Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004.


- Luận văn thạc sĩ luật học: "Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân" của Trịnh Duy Tám,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005.
Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả khác với các ý kiến và
quan điểm khác nhau được đăng trên các báo và Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí
Luật học…, các báo cáo tổng kết công tác, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ,
các chuyên đề của VKSNDTC qua từng năm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Luận văn tập trung nghiên cứu và góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn
đề lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra của VKSND; thực trạng của công tác này ở Viện
kiểm sát (VKS) cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội; trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các công tác này.
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung làm rõ một số vấn
đề lý luận về quyền công tố, thực hành quyền công tố, hoạt động tư pháp,
kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND; tìm hiểu thực trạng của hoạt
động này ở VKS cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm
gần đây; trên cơ sở đó đánh giá chất lượng của các công tác này, những kết
quả đã đạt được, những vấn đề thiếu sót, yếu kém tồn tại và làm rõ nguyên
nhân của chúng đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp
3
trong tố tụng hình sự ở giai đoạn điều tra (kiểm sát điều tra), thực tiễn hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của VKS cấp huyện trên
địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2003 đến 2006.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước nói chung, về cải cách tư pháp
nói riêng, chính sách pháp luật Đảng và Nhà nước ta trong tố tụng hình sự,
luận văn sử dụng các phương pháp logic và lịch sử, kết hợp lý luận và khảo
sát thực tiễn, phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh…
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận có liên
quan đến thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của
VKSND, thực tiễn của hoạt động này tại cấp huyện trên một địa bàn cụ thể có
vị trí quan trọng về nhiều mặt - Thủ đô Hà Nội; đánh giá các kết quả cũng
như các thiếu sót tồn tại và đề ra các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất
lượng của hoạt động chức năng này của VKSND. Kết quả nghiên cứu của
luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.

4
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thì VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp. Đây là chức năng hiến định của VKSND trong giai đoạn cách
mạng hiện nay và cũng là một nhiệm vụ mà VKSND vốn đảm nhiệm đã từ
lâu, ngay từ khi tổ chức tiền thân của nó là Viện công tố ra đời và đi vào hoạt
động. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp lý nói chung, trong khoa
học kiểm sát nói riêng và ngay cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn
chưa đạt được sự thống nhất cao về các vấn đề này cả trên phương diện khái
niệm, nội dung, đối tượng và phạm vi của thực hành quyền công tố, kiểm sát
các hoạt động tư pháp cũng như mối quan hệ giữa chúng. Điều này không chỉ
ảnh hưởng đến nhận thức mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt
động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong hệ thống các
cơ quan tư pháp nói chung, cơ quan VKSND nói riêng. Để góp phần từng
bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm
sát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ trong nhận thức về các
vấn đề cơ bản có liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thế
nào là thực hành quyền công tố, thế nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp, đối
tượng, nội dung, phạm vi cũng như mối quan hệ giữa chúng.
1.1.1. Thực hành quyền công tố
Để hiểu rõ về thực hành quyền công tố, trước hết cần tìm hiểu về
quyền công tố: Khái niệm, nội dung, phạm vi và đối tượng của nó cả trên
phương diện lý luận và thực tiễn ở Việt Nam.
5
1.1.1.1. Quyền công tố
a) Khái niệm quyền công tố
Quyền công tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với
người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội
loài người. Cùng với thời gian, đến nay, quyền công tố đã trở thành một chế
định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự ở đa số
các nước văn minh trên thế giới. Ở nước ta, về mặt lập pháp, thuật ngữ quyền
công tố được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến
chức năng, nhiệm vụ của VKSND (tại cụm từ "thực hành quyền công tố"). Từ
đó đến nay, trong khoa học và trong thực tiễn có nhiều ý kiến, quan điểm
khác nhau về khái niệm cũng như các vấn đề có liên quan: Đối tượng, phạm
vi, nội dung, chủ thể thực hành của quyền công tố và theo đó là thực hành
quyền công tố nhưng chưa có quan điểm nào được các cơ quan có thẩm quyền
chính thức công nhận và cũng chưa có một văn bản nào của cơ quan có thẩm
quyền hướng dẫn một cách chính thức về các vấn đề này.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố,
buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án" [47, tr. 453]. Như
vậy, theo từ điển tiếng Việt thì công tố được hiểu với các nội dung khác nhau
bao gồm: Điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước
Tòa án.
Trong giới nghiên cứu khoa học, về khái niệm thế nào là quyền công
tố có thể kể đến một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động
kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS đều là thực hành quyền công tố. Những
người theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt
động kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND. Theo họ, công tố không phải
là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là một quyền năng, một hình thức
thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS [19, tr. 85-87].
6
Theo tác giả, quan điểm này đã đánh đồng quyền công tố với quyền
kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS và như vậy là không chính xác bởi vì
thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật là hai chức năng hoàn
toàn độc lập của VKSND. Mặc dù trong quá trình thực hiện hai chức năng
này, có thể có những nội dung đan xen nhau, có quan hệ mật thiết với nhau,
tác động qua lại với nhau nhưng không phải trong mọi công tác thực hiện
chức năng của VKS, trong mọi hoạt động thực hiện chức năng của Kiểm sát
viên đều bao hàm cả hai chức năng đó, có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức
năng thực hành quyền công tố và có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng
kiểm sát tuân theo pháp luật. Vì vậy, không thể phủ nhận tính độc lập của hai
chức năng này về cả nội dung lẫn phạm vi áp dụng và vì vậy không thể đồng
nhất chúng [24, tr. 17-20].
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước
đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này
được giao cho VKSND [19, tr. 19]. Quan điểm này có thể coi là quan điểm
phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của
Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các
văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành
kiểm sát. Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực
hình sự, về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến
nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà
còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.
Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và
phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền
năng khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải
quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…).
Quan điểm thứ ba: Là quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại
trong lĩnh vực hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố
7
kẻ phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm (duy trì quyền công tố); ở Việt Nam quyền này được Nhà
nước giao cho VKSND [62, tr. 1-60]. Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất
một chủ thể có quyền công tố - đó là VKS; việc thực hiện quyền công tố chỉ
diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là TTHS và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy
nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Theo tác giả, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá
thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố;
không những vậy còn không phản ánh được bản chất của quyền công tố và hơn
thế nữa còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố bởi vì
truy tố và buộc tội chỉ là một trong số các quyền năng, là một số hoạt động cụ
thể trong số những hoạt động của VKS ở giai đoạn xét xử sơ thẩm trong
TTHS khi thực hành quyền công tố; ngoài các quyền năng đó ra, VKS còn có
nhiều quyền năng khác nữa khi thực hành quyền công tố cả ở giai đoạn xét xử
sơ thẩm hình sự và ở các giai đoạn khác ngoài giai đoạn xét xử sơ thẩm hình
sự.
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội [62, tr. 10]. Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền
công tố không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ
quan điều tra, Tòa án, Thi hành án) và như vậy quyền công tố có trong tất cả
các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Quan điểm này đã
đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc TTHS, đã nhầm lẫn giữa
các chức năng cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử …).
Quan điểm thứ năm: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
VKS truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có
trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội
phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa
8
án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [3, tr. 40]. Theo quan điểm này thì
quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; quyền
công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong TTHS; ở nước ta, quyền công
tố được Nhà nước giao cho duy nhất VKSND, không có bất cứ cơ quan nào
có thể thay thế được.
Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan
điểm khác nhau. Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý
của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là đánh đồng quyền công
tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của
VKS trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền
công tố sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của
quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;
hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố…
Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm thứ năm nêu trên
về khái niệm quyền công tố bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này phù hợp với quan điểm
truyền thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố: "Quyền
công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người
có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự
chung của toàn xã hội".
Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật
của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố, cụ thể:
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng
định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…".
- Khi nói về vai trò nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã
khẳng định: "Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát
9
để sử dụng quyền công tố, bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát
nhân dân phải trông nom, đảm bảo tốt".
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức
năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp" [16,
tr. 2].
- Tại Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội (số 729
ngày 14/3/2002) về dự án Luật Tổ chức VKSND khẳng định: "Hoạt động
công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án
đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa" [42, tr. 4].
- Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi bổ sung - Điều 137) và các văn bản
pháp luật của Nhà nước ta (Điều 1, 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2002, Điều 23
Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)) quy định "Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm
sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố" [59, tr.
39].
- Kết luận tại Hội nghị của ngành kiểm sát nhân dân quán triệt những
nội dung cơ bản của Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và những công tác
trọng tâm của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ
Chính trị được tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng
VKSNDTC đã khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh
vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".
Từ các ý kiến, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, có thể thấy thực hành quyền
công tố là việc truy cứu người có hành vi phạm tội ra trước Tòa án; quyền
công tố ở nước ta được giao cho chủ thể duy nhất là VKS; quyền công tố chỉ
có trong lĩnh vực hình sự và có ở tất cả các giai đoạn từ khi khởi tố, điều tra
đến truy tố và xét xử hình sự; các công tác khác như giải quyết án dân sự,
10
giam giữ cải tạo, giải quyết án hành chính, kinh tế, lao động, thi hành án … của
VKSND là hoạt động thuộc lĩnh vực kiểm sát các hoạt động tư pháp khác…
Từ những ý kiến phân tích như trên đây, tác giả đi đến kết luận:
Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện các
quyền năng theo quy định của pháp luật nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội, góp phần ra bản án có căn cứ, đúng pháp luật.
b) Đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố
Như đã phân tích trên, do hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau về quyền công tố nên hệ quả cũng có nhiều quan điểm khác nhau về đối
tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố:
* Đối tượng của quyền công tố
- Những người có quan điểm đồng nhất quyền công tố với kiểm sát
tuân theo pháp luật thì cho rằng đối tượng của quyền công tố là sự tuân thủ
pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, của những người thực hành tố
tụng và người tham gia tố tụng.
- Với quan điểm "quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa
các vụ việc vi phạm pháp luật thống trị ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ
lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật" thì đối tượng của quyền công tố là
tất cả các hành vi vi phạm pháp luật. Tức là đối tượng của quyền công tố rất
rộng và không cụ thể bởi lẽ các hành vi vi phạm pháp luật thì rất đa dạng,
phong phú và không chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà còn có cả trong các lĩnh
vực tố tụng tư pháp khác.
Theo tác giả, vì chức năng duy nhất của quyền công tố là chức năng
buộc tội nhân danh Nhà nước, và vì chỉ có lĩnh vực TTHS là lĩnh vực duy nhất
liên quan đến việc truy tố và buộc tội đối với người phạm tội, các lĩnh vực tư
pháp khác là các lĩnh vực chỉ liên quan đến các vi phạm, tranh chấp khác cho
nên quyền công tố chỉ có duy nhất trong lĩnh vực TTHS, không thể có trong các
lĩnh vực tư pháp khác. Với quan điểm tán đồng với quan điểm thứ năm như đã
11
nêu trên, tác giả cho rằng đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người
phạm tội.
* Nội dung của quyền công tố
Về nội dung của quyền công tố, cũng còn tồn tại những quan điểm rất
khác nhau song xuất phát từ quan điểm về bản chất của quyền công tố là sự
buộc tội nhân danh Nhà nước, đối tượng tác động của quyền công tố là tội
phạm và người phạm tội, tác giả thống nhất với quan điểm nội dung của
quyền công tố là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người đã thực hiện
tội phạm [25, tr. 36].
* Phạm vi của quyền công tố
Do hiện đang tồn tại những quan điểm khác nhau về quyền công tố
nên cũng có các cách lý giải khác nhau về phạm vi của quyền công tố (cả
phạm vi về không gian lẫn phạm vi về thời gian):
Về phạm vi không gian: Phần lớn các quan điểm cho rằng quyền công
tố chỉ có duy nhất trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có quan
điểm cho rằng quyền công tố được thực hiện không chỉ trong lĩnh vực hình sự
mà còn trong các lĩnh vực hoạt động tư pháp khác (tố tụng dân sự, kinh tế, lao
động…). Theo quan điểm của tác giả, vì bản chất của quyền công tố là buộc
tội cho nên quyền công tố không thể có trong các lĩnh vực khác không liên
quan đến sự buộc tội như trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động…Và vì vậy,
tác giả có quan điểm rằng quyền công tố chỉ có trong duy nhất lĩnh vực có
liên quan đến tội phạm và sự buộc tội - đó là lĩnh vực TTHS.
Về phạm vi thời gian (tức thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền
công tố): Vấn đề này cũng tồn tại nhiều quan điểm:
- Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng phạm vi quyền công tố
bắt đầu từ khi có quyết định truy tố của VKS và kết thúc khi Kiểm sát viên
thực hiện xong việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm. Theo quan
12
điểm này, quyền công tố chỉ có ở duy nhất một giai đoạn của TTHS đó là giai
đoạn xét xử sơ thẩm mà không có ở các giai đoạn khác kể cả giai đoạn điều
tra; theo họ, giai đoạn điều tra chỉ là giai đoạn thu thập các tài liệu chứng cứ
để phục vụ cho việc đưa vụ án ra Tòa.
Tác giả thấy rằng, quan niệm như vậy là đã quá thu hẹp phạm vi của
quyền công tố và thậm chí đã nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành
quyền công tố. Bởi vì, truy tố bị can ra Tòa và thực hiện sự buộc tội tại phiên
tòa sơ thẩm chỉ là một trong các biện pháp thực hành quyền công tố (quyền
năng) của VKS; ngoài các quyền năng trên, khi thực hành quyền công tố,
VKS còn có nhiều quyền năng khác trong suốt quá trình TTHS kể cả trong
giai đoạn điều tra như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, yêu cầu điều tra, điều tra,
áp dụng hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, quyết định truy tố… đến giai đoạn
xét xử. Cho nên nếu quan niệm như vậy thì sẽ không lý giải được việc thực
hiện các quyền năng khác của VKS như khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị
can... có thuộc quyền công tố hay không trong khi đó, pháp luật lại quy định
rõ đó là các nội dung thực hành quyền công tố (Điều 112 BLTTHS) và nếu
quan niệm như vậy cũng sẽ không lý giải được những hoạt động của VKS các
cấp sau phiên tòa sơ thẩm như VKS kháng nghị bản án hình sự, Kiểm sát viên
phát biểu quan điểm của VKS tại các phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm và
tái thẩm…) là hoạt động gì, trong khi đó các hoạt động này cũng chính là để
tiếp tục sự buộc tội nhân danh Nhà nước, để truy cứu trách nhiệm hình sự đến
cùng đối với người phạm tội - chính là nội dung của thực hành quyền công tố.
- Quan điểm thứ hai: Là quan điểm cho rằng phạm vi của quyền công tố
bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này tuy có mở rộng hơn phạm
vi của quyền công tố, theo đó thì quyền công tố có cả trong giai đoạn điều tra
nhưng lại giới hạn thời điểm kết thúc của quyền công tố là chỉ đến khi bản án
sơ thẩm có hiệu lực pháp luật; cũng như quan điểm thứ hai, quan điểm này
13
vẫn bộc lộ những hạn chế, chưa đầy đủ và thiếu tính thuyết phục bởi không
phù hợp với thực tiễn, không lý giải được vai trò của VKS khi thực hiện chức
năng thực hành quyền công tố trong các phiên tòa khác sau phiên tòa sơ thẩm
(trong phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm).
- Quan điểm thứ ba: Phạm vi của quyền công tố là từ khi khởi tố vụ
án đến khi người phạm tội chấp hành xong bản án. Theo quan điểm này thì
quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn của TTHS từ giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự, tức là quyền công tố có cả sau khi mà
bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm này đã mở rộng hơn nữa phạm vi của quyền công tố
nhưng cũng lại chưa đầy đủ và cũng chưa có sức thuyết phục bởi vì bản chất
của quyền công tố là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội
cho nên cứ ở đâu và bất cứ khi nào có tội phạm xảy ra thì ở đó và thời điểm
ấy cũng đồng thời xuất hiện đòi hỏi đối với các cơ quan chức năng trong việc
buộc phải tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật để xác
định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội để thực hành quyền công tố
cho nên quyền công tố thực ra không chỉ có từ khi vụ án được khởi tố mà nó
xuất hiện từ trước đó, ngay từ khi tội phạm được thực hiện. Và vì quyền công tố
là quyền nhân danh công quyền buộc tội đối với những người có hành vi phạm
tội cho nên một khi đã có được bản án có hiệu lực pháp luật thì việc buộc tội
đã chấm dứt, không thể còn quyền công tố kéo dài hơn nữa; vì vậy, trong giai
đoạn thi hành án, không thể nói vẫn còn có sự hiện diện của quyền công tố.
- Quan điểm thứ tư: Là quan điểm cho rằng quyền công tố có từ khi
tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật… Theo
quan điểm này, quyền công tố bắt đầu xuất hiện từ khi tội phạm được thực
hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án được
tạm đình chỉ, đình chỉ).
14
Các quan điểm trên đây tuy có khác nhau nhưng cùng có điểm chung
là cùng khẳng định quyền công tố là quyền truy tố và buộc tội của VKS nhân
danh Nhà nước. Xuất phát từ quan điểm quyền công tố là quyền của Nhà nước
giao cho VKS thực hiện các chức năng do pháp luật tố tụng hình sự quy định
trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội, góp phần ra được bản án có căn cứ, đúng pháp luật, tác
giả đồng tình với quan điểm thứ tư nêu trên về phạm vi của quyền công tố là
từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc khi
có quyết định đình chỉ trong trường hợp vụ án được đình chỉ).
1.1.1.2. Thực hành quyền công tố
a) Khái niệm thực hành quyền công tố
Việc xác định rõ quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố
có ý nghĩa không chỉ giúp phân định rõ ràng, đúng đắn chức năng nhiệm vụ,
xác định vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói
chung, trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng mà còn giúp cho
nhận thức thống nhất và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn cải cách tư pháp.
Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công tố chỉ có
trong lĩnh vực TTHS; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra,
tiếp diễn suốt từ khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Tòa, tranh tụng tại phiên
tòa và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết định của Tòa
án - trong trường hợp vụ án bị đình chỉ). Để thực hiện được quyền công tố đó,
Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền năng pháp lý khác nhau để các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong từng giai đoạn khác nhau của tố
tụng hình sự (hay nói cách khác đó là các phương pháp khác nhau để tổ chức
thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những giai đoạn tố tụng khác nhau) - đó
là thực hành quyền công tố. Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến
15
pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho
duy nhất VKS. Vậy, chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là VKSND.
Như vậy, có thể đi đến khái niệm sau: Thực hành quyền công tố là việc
Nhà nước tổ chức và giao cho cơ quan đại diện của mình (VKS) các quyền
năng pháp lý để thực hiện trong tất cả giai đoạn của TTHS từ điều tra, truy tố
đến xét xử nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm
tội và áp dụng đối với họ các chế tài hình sự cần thiết [62, tr. 1-60].
b) Phạm vi thực hành quyền công tố
Theo quy định của pháp luật nước ta thì cơ quan VKS có trách nhiệm
thực hành quyền công tố trong tất cả mọi giai đoạn của TTHS từ điều tra, truy tố
đến xét xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm).
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội; để đảm bảo thực hiện được sự buộc tội nhân
danh Nhà nước đó pháp luật quy định các biện pháp cụ thể, các biện pháp đó
chính là thực hành quyền công tố [57, tr. 13-14]. Như vậy, có thể thấy rõ
quyền công tố là cơ sở của thực hành quyền công tố, phải có quyền công tố
thì mới có thực hành quyền công tố cho nên để xem xét phạm vi của thực
hành quyền công tố thì trước hết phải xem xét đến phạm vi của quyền công
tố. Như phần trên đã nêu, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm
được thực hiện … Còn thực hành quyền công tố thì chỉ phát sinh kể từ thời
điểm vụ án được khởi tố bằng quyết định chính thức của cơ quan có thẩm
quyền - tức là khi cơ quan tố tụng đã áp dụng một trong các biện pháp thực
hành quyền công tố. Tuy nhiên, trên thực tế có không ít những trường hợp
mặc dù có tội phạm xảy ra nhưng không được khởi tố; điều này do nhiều
nguyên nhân khác nhau, trong khoa học pháp lý gọi là "tội phạm ẩn" (tức là
những tội phạm trên thực tế đã xảy ra nhưng chưa được khởi tố để điều tra)
[25, tr. 62-67] cho nên cơ quan tố tụng không áp dụng được bất cứ một biện
pháp thực hành quyền công tố nào. Qua đây, có thể thấy rằng phạm vi của
16
thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền công tố, nó chỉ
bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực
pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ).
c) Nội dung của thực hành quyền công tố
Theo các quy định của BLTTHS và Luật Tổ chức VKSND thì "Viện
kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong tất cả các giai đoạn điều tra,
truy tố và xét xử bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật". Cụ thể:
Trong giai đoạn điều tra:
- Khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Đây là các biện pháp phát động quyền
công tố, mở đầu cho cả quá trình TTHS, là điểm mốc làm phát sinh quan hệ
pháp luật hình sự giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với người có
hành vi phạm tội bởi bắt đầu từ đây, cơ quan có thẩm quyền chính thức bắt
đầu các hoạt động điều tra nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội, làm rõ
các tình tiết của vụ án… Theo quy định của pháp luật, VKS là cơ quan duy
nhất trong TTHS có quyền quyết định việc có hay không khởi tố vụ án hình
sự, bị can để điều tra: Có quyền phê chuẩn các quyết định khởi tố vụ án, khởi
tố bị can, các quyết định thay đổi và bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can
của Cơ quan điều tra… Các quyết định khởi tố vụ án, bị can của các chủ thể
khác được pháp luật giao cho thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều
phải chịu sự giám sát và phụ thuộc vào quyết định của VKS: Sau khi có quyết
định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, các quyết định khởi tố của các cơ quan đó
phải được gửi đến VKS cùng các tài liệu có liên quan để VKS xem xét quyết
định phê chuẩn hay không phê chuẩn; trong trường hợp không được sự phê
chuẩn của VKS thì các quyết định đó bị triệt tiêu về hiệu lực.
Ngoài ra, VKS còn có thẩm quyền đặc biệt hơn cả trong số các chủ
thể có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Có quyền độc lập quyết định
việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, không phải chịu sự chi phối của bất cứ cơ
quan nào, các quyết định này của VKS có hiệu lực ngay sau khi ban hành.
17
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều
tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra:
Trong TTHS, Cơ quan điều tra được giao trách nhiệm điều tra tội phạm,
có quyền áp dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để điều tra
làm rõ vụ án, làm rõ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên quan như
động cơ, mục đích của tội phạm, nhân thân của người phạm tội, các tình tiết tăng
nặng giảm nhẹ, các thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… Đây là những hoạt
động mà không có cơ quan nào có thể thay thế cho Cơ quan điều tra được bởi
họ có biên chế là đội ngũ các Điều tra viên được đào tạo chuyên môn nghiệp
vụ về điều tra và khám phá tội phạm [64, tr. 8-15]. Nhưng bởi việc đưa một
con người vào vòng tố tụng và xử lý họ về hình sự là vấn đề không hề đơn
giản, động chạm đến rất nhiều quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo
hộ cho nên cần phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác cho nên cần phải có sự
chế ước giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong TTHS nhằm đảm bảo tất cả
mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện phải được khởi tố, xử lý kịp thời và
nghiêm minh nhưng phải có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, pháp luật quy
định giao cho một cơ quan nhà nước trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đảm bảo
cho các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh hành vi phạm tội và
nhân thân của người phạm tội phải được thu thập đầy đủ, toàn diện, khách
quan và hợp pháp - Cơ quan đó là VKS. VKS là cơ quan duy nhất có quyền
can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra, đề ra yêu cầu điều tra để Cơ quan
điều tra tiến hành điều tra. Cơ quan điều tra mà cụ thể là các Điều tra viên có
trách nhiệm phải thực hiện tất cả các yêu cầu của VKS; trường hợp không
nhất trí, Cơ quan điều tra có quyền được kiến nghị đến VKS cấp trên nhưng
trong thời gian chờ đợi kết quả vẫn phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu
đó. Ngoài ra, VKS còn có quyền tự mình trực tiếp tiến hành một số hoạt động
điều tra nếu xét thấy cần thiết như ghi lời khai của bị hại, nhân chứng, thực
nghiệm điều tra…
18
- Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy
định của BLTTHS, nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố hình sự
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam và các biện pháp ngăn chặn khác
- Quyết định việc truy tố bị can, tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án,
bị can
Trong giai đoạn xét xử:
Các quyền năng của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
xét xử bao gồm:
- Duy trì quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm bằng các hoạt động như
công bố bản cáo trạng hoặc quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết
vụ án tại phiên tòa; luận tội đề nghị kết tội bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ
cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội; tham
gia thẩm vấn bị cáo và những người tham gia tố tụng khác như người bị hại,
người liên quan, nhân chứng..., tranh luận với luật sư và những người tham
gia tố tụng tại phiên tòa... để làm rõ thêm các tình tiết có liên quan đến vụ án
và các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra cũng như tại phiên
tòa, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Thực chất đây chính là
các hoạt động bảo vệ quyết định truy tố nhằm buộc tội bị cáo, làm cơ sở để
cho bản luận tội vừa có căn cứ pháp luật vừa phù hợp với các tình tiết thu
thập được qua quá trình điều tra và diễn biến của việc điều tra công khai tại
phiên tòa, vừa có tính thuyết phục, giáo dục, phòng ngừa tội phạm, đảm bảo
việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và
người phạm tội.
- Phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa
phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm; kháng nghị các bản án, quyết định của
Tòa án.
19
Tóm lại, tất cả các vấn đề mà VKS có quyền quyết định trong các giai
đoạn khác nhau của tố tụng hình sự như nêu trên chính là nội dung của thực
hành quyền công tố. Vậy, nội dung của thực hành quyền công tố là tất cả các
quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định cho cơ quan được giao thẩm quyền
(ở nước ta, cơ quan đó là VKSND) để sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người có hành vi phạm tội.
Qua các nội dung đã phân tích trên, tác giả đi đến kết luận: Nội dung
của thực hành quyền công tố là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng
pháp lý độc lập, nhằm truy cứu đến cùng trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
1.1.2. Kiểm sát các hoạt động tư pháp
1.1.2.1. Cơ quan tư pháp
Về khái niệm tư pháp, quyền tư pháp, cơ quan tư pháp hiện nay cả
trên phương diện lý luận và trong thực tiễn còn có nhiều quan điểm khác
nhau... Quyền tư pháp có thể được hiểu theo hai nghĩa hẹp và rộng. Nếu hiểu
theo nghĩa hẹp, quyền tư pháp có nghĩa là quyền xét xử của Tòa án; hiểu theo
nghĩa rộng thì đó là quyền xét xử của Tòa án và các hoạt động áp dụng pháp
luật của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Cơ quan điều tra, cơ quan Tòa
án và Cơ quan thi hành án … nhằm đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa
án [3, tr. 67].
Trong quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, bất cứ quốc
gia nào cũng đều có ba loại quyền lực (còn gọi là ba nhánh quyền lực): Lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, truyền thống
dân tộc, đặc điểm kinh tế… và đặc biệt là bản chất xã hội mà ở mỗi quốc gia
có một cách tổ chức và phân công các quyền đó trong bộ máy nhà nước khác
nhau nhưng bất kỳ nhà nước nào cũng đều có các biện pháp để đảm bảo cho
pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh. Nhà nước tư sản dùng "tam quyền
20
phân lập", giao mỗi loại quyền lực đó cho một cơ quan nắm giữ nhằm chế
ước lẫn nhau, tránh sự lạm quyền trong quá trình thực thi pháp luật. Ở nhà
nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực không chia sẻ mà tập trung trong tay Quốc
hội nên cần phải có một cơ quan giúp Quốc hội kiểm tra, giám sát thường
xuyên việc tuân theo pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm
chỉnh và thống nhất - Cơ quan đó là VKSND được thành lập theo sáng kiến
của V.I. Lênin. Như vậy, cơ quan tư pháp là một trong các bộ phận cấu
thành của hệ thống cơ quan nhà nước trong quá trình tổ chức thực thi
quyền lực nhà nước.
Đối với nhà nước ta, từ khi ra đời đến nay, phân quyền chưa bao giờ
được thừa nhận là một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước. Đảng ta luôn quán triệt "Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân".
Trong tất cả các Hiến pháp kể từ khi thành lập nước đến nay đều nhấn mạnh:
"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp". Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta qua
mọi giai đoạn vẫn thể hiện sự phân quyền ở một mức độ nhất định thể hiện ở
sự phân định các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp và trao các quyền
ấy cho các cơ quan khác nhau thực hiện để đảm bảo sự độc lập tương đối
trong hoạt động của mỗi cơ quan.
Về vị trí, vai trò của cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước, các học
giả chính trị - pháp lý đã từng khái quát "Không được có một chút quyền lập
pháp hay hành pháp nào cả nhưng chính do đó mà cơ quan tư pháp có quyền
cao hơn cả vì nó không làm gì cả nhưng có thể ngăn ngừa tất cả" [35, tr. 174].
Chỉ có các cơ quan tư pháp mới có quyền nhân danh quyền lực nhà nước và dựa
vào Hiến pháp, pháp luật để buộc các chủ thể trong toàn xã hội tuân theo các quy
định của pháp luật nhà nước một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Ở nước ta,
quan điểm về vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp được thể hiện rõ ngay từ
21
những văn bản pháp luật đầu tiên kể từ khi thành lập nước. Trong thư gửi Hội
nghị tư pháp toàn quốc tháng 02/1946, sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa non trẻ ra đời chưa được bao lâu, Hồ Chủ tịch đã viết "Tư pháp là
một cơ quan trọng yếu của Chính phủ…". Hiến pháp năm 1946 (Điều 63) ghi
rõ: "Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một hệ thống gồm
Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp và sơ thẩm". Như
vậy, ở nước ta, khi ấy, quan niệm tư pháp là xét xử và theo đó cơ quan tư pháp
là cơ quan xét xử (Tòa án). Các Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, số 51/SL
ngày 17/4/1946, 131/SL ngày 20/7/1946 vào thời kỳ trước khi Hiến pháp 1946
được thông qua và tại bản Hiến pháp 1946 thể hiện rõ ngay trong cơ cấu tổ chức
của hệ thống Tòa án, cơ quan công tố đã bắt đầu hình thành: Ở Tòa sơ cấp,
Thẩm phán làm cả nhiệm vụ buộc tội và xét xử; ở Tòa án cấp đệ nhị có Thẩm
phán buộc tội - Thẩm phán công tố, Biện lý, Phó biện lý do Bộ Tư pháp bổ
nhiệm để thực hành quyền công tố và quản lý các hoạt động tư pháp của Công
an, giám sát thi hành án; ở Tòa thượng thẩm, Chưởng lý đứng đầu và dưới
quyền là các công chức làm công tác công tố chuyên trách ngồi ghế công tố
để thực hành quyền công tố nhà nước, truy tố bị cáo ra tòa bằng bản cáo trạng,
quản lý toàn bộ tổ chức và hoạt động của Công tố viện nằm trong Tòa án
thường, trông coi việc thi hành và đốc thúc việc thi hành các bản án; ở Tòa án
binh, chức năng công tố được giao cho Ủy viên Chính phủ đứng buộc tội…
Như vậy, cơ quan tư pháp ở nước ta khi đó là cơ quan làm công tác xét xử (Tòa
án) và cơ quan buộc tội phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án (cơ quan công
tố); chức năng của cơ quan tư pháp không chỉ là xét xử mà còn có cả chức năng
khác (điều tra và truy tố).
Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng việc đổi mới tổ
chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Điều đó được thể hiện rất rõ
trong các văn bản pháp luật và thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước ta nói chung, của các cơ quan tư pháp nói riêng qua mỗi thời kỳ:
22
- Năm 1958, cùng với việc thành lập hệ thống Tòa án nhân dân các
cấp, ngày 29/01/1958, Quốc hội đã có Nghị quyết thành lập Viện công tố và
cơ quan thực hiện chức năng công tố đã tách hẳn khỏi hệ thống Tòa án nhân
dân, tuy vẫn trực thuộc Hội đồng chính phủ.
- Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc
lệnh số 20 ngày 15/7/1960 công bố sự ra đời của VKSND với tư cách là một
hệ thống cơ quan độc lập. Theo Hiến pháp năm 1959, quyền tư pháp thuộc về
Tòa án nhân dân và VKSND, trong đó Tòa án nhân dân chỉ thực hiện chức
năng xét xử còn VKSND có chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật và thực
hành quyền công tố.
- Hiến pháp năm 1980 ghi rõ" Tòa án là cơ quan xét xử của nước ta
nên là cơ quan nắm quyền tư pháp".
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khi đề cập đến nhiệm vụ củng
cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp đã xác định "Phân định lại thẩm
quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, đổi mới tổ chức và hoạt động
của VKSND, các Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ
chức bổ trợ tư pháp" [12, tr. 51].
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII ngày 18/6/1997 nêu rõ: "Nội dung của công cuộc cải cách tư pháp
ở nước ta hiện nay bao gồm việc nâng cao chất lượng hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong
sạch, vững mạnh" [14, tr. 153].
- Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng thể hiện chủ trương và quyết tâm lớn của
Đảng ta đối với nhiệm vụ cải cách tư pháp, tạo một bước chuyển mới trong
nhận thức và hoạt động của các cơ quan tư pháp (Cơ quan điều tra, VKSND,
Tòa án nhân dân và Cơ quan thi hành án).
23
Như vậy, qua các văn bản pháp luật cũng như thực tiễn tổ chức hoạt
động của các cơ quan tư pháp ở nước ta từ khi thành lập đến nay thấy rõ
khái niệm tư pháp, cơ quan tư pháp ở nước ta luôn được nhìn nhận ở nghĩa
rộng, cơ quan tư pháp không chỉ là Tòa án và chức năng của cơ quan tư pháp
không chỉ là xét xử mà cơ quan tư pháp bao gồm cơ quan làm công tác xét xử
(Tòa án) và các cơ quan làm công tác điều tra và công tố phục vụ cho công
tác xét xử [3, tr. 73; 31, tr. 8]. Đến nay, cùng với xu thế phát triển của xã hội,
các quan hệ xã hội cũng ngày càng phát triển, nhu cầu của hoạt động tư pháp,
khái niệm tư pháp cũng được nhìn nhận với những nội dung rộng hơn [31, tr.
9]; vai trò của cơ quan tư pháp càng ngày càng trở nên quan trọng hơn, cơ
quan xét xử không chỉ xét xử các vụ án hình sự, dân sự mà còn các tranh chấp
ngày càng đa dạng hơn, cả về kinh tế, lao động, hành chính... Để đảm bảo cho
sự phán quyết đó được đúng đắn thì phải có được các tài liệu, chứng cứ để
làm căn cứ cho việc phán quyết đó cho nên đã xuất hiện đòi hỏi tổ chức Cơ
quan điều tra được sắp xếp và ngày một kiện toàn. Cho đến nay, Cơ quan điều
tra được pháp luật tố tụng nước ta quy định như một hệ thống cơ quan tư pháp
có chức năng điều tra độc lập trong TTHS [31, tr. 10]. Và cũng để đảm bảo
cho việc xét xử được chính xác, đúng người, đúng tội, pháp chế được thống
nhất và tăng cường, trên cơ sở sáng kiến của V.I. Lênin và thực tiễn của các
nước xã hội chủ nghĩa, VKSND ở nước ta được thành lập với tư cách là một
hệ thống cơ quan độc lập với chức năng buộc tội trong các vụ án hình sự
(thực hành quyền công tố) đồng thời giám sát việc tuân theo pháp luật của
Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án. Đồng thời để các phán quyết của
Tòa án thực sự có giá trị pháp lý trong đời sống, trên cơ sở Nghị quyết của
Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 1 ngày 06/10/1992, tháng 6/1993, hệ thống Cơ
quan thi hành án đã chính thức tách khỏi Tòa án, trở thành cơ quan độc lập và
ngày càng được củng cố, kiện toàn. Như vậy, cùng với sự phong phú về nội
dung hoạt động của tư pháp, hệ thống các cơ quan tư pháp cũng ngày càng
phong phú. Sự hình thành Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án chuyên trách
24
là cần thiết, đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn và chúng hợp với VKS, Tòa án
thành một chỉnh thể gọi là hệ thống các cơ quan tư pháp chính là biểu hiện
của sự phong phú đó.
Qua phân tích trên có thể kết luận: Cơ quan tư pháp ở Việt Nam là
các cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm thực thi quyền lực nhà nước
trong lĩnh vực tư pháp, bao gồm Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án, Cơ quan thi
hành án có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của
pháp luật nhằm giải quyết và hỗ trợ việc giải quyết các vụ án hình sự, các
tranh chấp giữa các chủ thể của các quan hệ pháp luật khác nhau và thi
hành các bản án, các quyết định của Tòa án.
1.1.2.2. Kiểm sát các hoạt động tư pháp
Theo quy định của pháp luật thì chức năng, nhiệm vụ của VKSND là
"Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp…". Qua tinh
thần của các văn bản pháp luật, có thể thấy rõ đây là hai chức năng hoàn toàn
độc lập của VKS. Các vấn đề có liên quan đến chức năng thứ nhất (thực
hành quyền công tố) đã được làm rõ qua phần phân tích trên. Các vấn đề có
liên quan đến chức năng thứ hai kiểm sát các hoạt động tư pháp: Thế nào là
hoạt động tư pháp và thế nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp, mối liên hệ
giữa chức năng này với chức năng thực hành quyền công tố cũng cần được
làm sáng tỏ trước khi để cập đến hoạt động thực hiện chức năng này của
VKS.
a) Hoạt động tư pháp
Các cơ quan tư pháp ở nước ta bao gồm Cơ quan điều tra, VKS, Tòa
án và Cơ quan thi hành án. Xuất phát từ nghĩa rộng của khái niệm về tư pháp
ở nước ta như đã trình bày phần trên, có thể hiểu các hoạt động tư pháp là các
hoạt động liên quan đến quá trình giải quyết các vụ án và các tranh chấp bao
gồm các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ như khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành các quyết định của Tòa án trong cả lĩnh vực hình
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×