Tải bản đầy đủ

Đề cương luận án tiến sĩ Phát triển năng lực sáng tạo cho Hs trong dạy học hình học không gian. file .doc

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
GD Giáo dục
GV Giáo viên – Giảng viên
NLST Năng lực sáng tạo
NLTDST Năng lực tư duy sáng tạo
NCS Nghiên cứu sinh
TDST Tư duy sáng Tạo
THPT Trung học phổ thông
MỤC LỤC
1
Danh mục chữ viết tắt …………………………………………………………
Mục lục………………………………………………………………………….
1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………………
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:…………………………………………………
3. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………
4. Khách thể, đối tượng nghiên cứu…………………………………………
5. Giả thuyết khoa học…………………………………………………………
6. Nội dung và phạm vi nghiên cứu…………………………………………
7. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu……………………
8. Nơi thực hiện đề tài nghiên cứu……………………………………………

9. Dự kiến bố cục của luận án…………………………………………………
10. Những đóng góp mới của luận án và ý nghĩa của đề tài:
11. Những luận điểm đưa ra bảo vệ:
12. Các công trình khoa học của ứng viên nghiên cứu sinh có liên quan đến
đề tài luận án đã được công bố…………………………………………
13. Dự kiến kế hoạch, tiến độ thực hiện………………………………………
14. Đề Xuất người hướng dẫn
Danh mục tài liệu tham khảo
1
2
4
11
14
15
15
15
16
16
17
19
19
20
20
20
21
/
1. Lý do chọn đề tài:
2
1.1 Hình thành và phát triển năng lực tư duy nói chung và năng lực tư duy
sáng tạo nói riêng là một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của giáo dục.
Các nhà lý luận dạy học ngày nay đã tổng kết các thành phần của nội dung
học vấn phổ thông và chức năng của từng thành phần đối với hoạt động tương lai
của thế hệ trẻ. Đó là:
- Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy, kĩ thuật và phương pháp nhận thức
giúp học sinh nhận thức thế giới.
- Hệ thống kĩ năng, kĩ xảo giúp học sinh tái tạo thế giới.
- Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo giúp phát triển thế giới.
- Thái độ chuẩn mực đối với thế giới và con người giúp học sinh xây dưng và phát
triển quan hệ lành mạnh với thế giới xung quanh.
Như vậy, hoạt động sáng tạo là một trong bốn thành phần không thể thiếu của nội
dung học vấn mà nhà trường cần giáo dục cho học sinh.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã nhận định
“ Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học … Áp dụng những
phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo,
năng lực giải quyết vấn đề , chú ý bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu”.
Luật Giáo dục ban hành ngày 27/6/2005, điều 2.4, đã ghi “Phương pháp giáo
dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;
Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập
và ý chí vươn lên”.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; Phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; Khắc phục lối truyền
thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến
3
khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát
triển năng lực”.
Qua đó có thể thấy Đảng và Nhà Nước luôn quan tâm đến việc nâng cao chất
lượng giáo dục nói chung và bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh, sinh
viên nói riêng.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, việc phát triển lực
lượng lao động khoa học kỹ thuật chất lượng cao, có năng lực sáng tạo là hết sức
cần thiết, chính vì vậy giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực để phát
triển kinh tế xã hội, với nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là đào tạo ra
những con người phát triển về mọi mặt, không những có kiến thức tốt và còn biết
vận dụng kiến thức một cách sáng tạo trong mọi tình huống công việc. Do đó việc
hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh ở trường phổ thông
của những người làm công tác giáo dục là hết sức cần thiết. Trong giai đoạn hiện
nay, trước những thời cơ và thử thách to lớn, để tránh nguy cơ bị tụt hậu, việc rèn
luyện khả năng sáng tạo cho thế hệ trẻ càng cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết.
1.2 Môn toán có khả năng to lớn và vai trò quan trọng trong việc hình thành
và phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho người học, đặc biệt là nội dung hình
học không gian.
Nhà Toán học Hoàng Tụy cho rằng: “ Ta còn chuộng cách nhồi nhét, luyện
trí nhớ, dạy mẹo vặt để giải các bài toán oái oăm, giả tạo, chẳng giúp ích gì mấy
cho việc phát triển trí tuệ mà còn làm cho học sinh xa rời thực tế, mệt mỏi và
chán nản ”. Do đó thay vì việc dạy nhồi nhét, luyện nhớ, chúng ta hãy góp phần
hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, dạy cho học sinh
cách học, dạy cho học sinh cách tư duy. Trong dạy Toán, cụ thể là dạy học Hình
học không gian, vừa tạo ra cơ hội thuận lợi cho học sinh huy động khả năng tưởng
tượng, vừa đòi hỏi phát triển những biện pháp sư phạm thích hợp để hình thành và
phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh.
4
Theo Nguyễn Cảnh Toàn: Ngày nay, nhiều người nghĩ rằng học toán là để có
các kiến thức toán học mà dùng trong đời sống hàng ngày và để học các môn
khác, nhất là để học các môn khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Nghĩ như vậy không
sai nhưng chưa đủ. Thời đại ngày nay trong giáo dục và đào tạo, người ta yêu cầu
cao về việc rèn luyện trí óc thông minh sáng tạo, tính năng động thích nghi với
những thay đổi nhanh đến chóng mặt nên toán học được coi là “ Nữ hoàng của
các khoa học” càng phải phát huy được vai trò đó. Toán học không chỉ rèn trí
thông minh, óc sáng tạo để phục vụ các lĩnh vực cần đến những khái niệm, định
lý, công thức toán mà còn phục vụ cho các các lĩnh vực “ phi toán”. Tức là những
lĩnh vực không dùng đến bất cứ công thức hay định lí toán học nào cả. Do đó toán
học có một vai trò quan trọng và có khả năng tiềm ẩn trong việc hình thành và
phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho người học.
Nội dung Hình học, thực sự là một thử thách đối với phần lớn học sinh ở phổ
thông hiện nay. Đặc biệt là phần Hình học không gian, khi các em phải di chuyển từ
Hình học phẳng sang Hình học không gian, khi mà những biểu tượng trực quan và tư
duy trực giác thông qua xem xét các mô hình, hình vẽ minh họa lại dường như không
thống nhất với nội dung, kiến thức khoa học chứa đựng trong nó. “Trí tưởng tượng
hình học” của các em không đủ để có được hình vẽ mong muốn, do đó không có
cách tiếp cận bài toán theo hướng có lợi nhất để giải quyết bài toán một cách hiệu
quả nhất. Nội dung hình học không gian đòi hỏi người học phải có khă năng tưởng
tượng, tưởng tượng ra hình vẽ thì mới có thể vẽ được hình, mới có thể giải toán
được. Theo PGS.TS Bùi Văn Nghị trong cuốn phương pháp dạy học những nội dung
cụ thể môn toán “ Không có trí tưởng tượng thì không có sự sáng tạo nào hết. Bởi vì
cái được sáng tạo là cái mới, cái chưa có nên phải tưởng tượng ra nó”. Chính vì vậy
Hình học không gian tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể khai thác để hình thành và phát
triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh THPT.
5
1.3 Thực trạng dạy học môn toán ở trường THPT chưa đáp ứng tốt được yêu
cầu hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh.
Toán học có một vai trò to lớn trong sự phát triển của các ngành khoa học và
kỹ thuật; Toán học có liên quan chặt chẽ và có ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều
lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ, sản xuất và đời sống xã hội hiện đại;
Toán học còn là một công cụ để học tập và nghiên cứu các môn học khác. Tuy
nhiên, vẫn còn những tồn tại về phương pháp giảng dạy. Còn có tình trạng quá
thiên về kĩ năng giải toán, nặng về cường độ lao động mà nhẹ về rèn luyện tư duy,
nhất là tư duy sáng tạo. Học sinh luôn ở trạng thái “quá tải”, học toán theo kiểu “sôi
kinh nấu sử”. Cách học đó làm cho học sinh ít có điều kiện để phát triển năng lực
tư duy, năng lực tư duy độc lập và sáng tạo bị hạn chế.
Trong Hội thảo khoa học quốc gia ''Nghiên cứu giáo dục Toán học theo
hướng phát triển năng lực người học, giai đoạn 2014-2020'' tổ chức tại Hải Phòng
đã có nhiều nghiên cứu tập chung vào vấn đề như: Khẳng định vai trò quan trọng
và cần thiết của giáo dục Toán học theo hướng phát triển năng lực người học; Thực
trạng giảng dạy môn Toán ở các cấp hiện nay với các tham luận giá trị của các
nhà khoa học như: Giáo dục Toán học thế giới, bài học cho Việt Nam, GS.TS.
Nguyễn Hữu Châu - Đại học Giáo dục; Những hướng nghiên cứu giáo dục toán
học quốc tế, PGS.TS. Lê Thị Hoài Châu - Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh; Mô
hình giáo dục hướng năng lực, PGS.TS. Phạm Đức Quang- Viện Khoa học Giáo
dục Việt Nam. Các tác giả đã chỉ rõ những bất cập trong giáo dục toán học ở Việt
Nam và sự cần thiết phải đổi mới PPGD nhằm phát triển năng lực cho người học,
đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo.
Bàn về tình hình dạy học toán học hiện nay tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã
nhận xét “Dạy và học toán tách rời cuộc sống đời thường”. Tác giả Hoàng Tụy
cho rằng: “Kiểu cách dạy học hiện nay còn mang nặng tính nhồi nhét, luyện trí
6
nhớ, dạy mẹo vặt để giải những bài tập oái oăm, giả tạo, không phát triển trí tuệ
mà xa rời thực tiễn”.
Trong thông báo kết luận của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung ương 2 khóa (VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm
2020 đã nhận định: “ Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi
mới, chậm hiện đại hóa; Nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao
động nghề nghiệp, chưa chú trọng phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của
học sinh, sinh viên”.
Nghị quyết hội nghị lần thứ VI BCHTƯ ĐCSVN khóa VIII khẳng định: “
Phải đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học”. Hiện nay việc đổi mới phương
pháp giáo dục ở trường phổ thông mới ở giai đoạn đầu, giai đoạn tích cực hoạt
động học tập của học sinh, dạy học sáng tạo còn là đề tài mở, quá trình tích lũy lý
thuyết và kinh nghiệm cần được tiến hành thường xuyên và lâu dài.
Như vậy có thể thấy vấn đề hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo
cho học sinh trong dạy học môn toán ở trường phổ thông hiện nay vẫn chưa được
thực hiện tốt, phương pháp giáo dục còn nhiều hạn chế: tri thức được truyền thụ
dưới dạng có sẵn, thầy thuyết trình trò ghi nhớ, thầy áp đặt trò thụ động, điều đó
dẫn đến học sinh tiếp cận kiến thức một cách máy móc, ít yếu tố tìm tòi sáng tạo
trong học tập. Thực tế đòi hỏi cần phải có thêm nhiều hơn nữa những công trình
nghiên cứu có giá trị nhằm cải thiện tình hình dạy học toán học hiện nay, nhằm phát
triển năng lực cho người học.
1.4 Vấn đề về dạy học theo hướng phát triển năng lực nói chung và năng lực
tư duy sáng tạo nói riêng cho học sinh ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học
quan tâm
Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu những vấn đề liên quan đến năng
lực tư duy sáng tạo điển hình như các tác giả Phạm Văn Hoàn trong “rèn luyện trí
7
thông minh qua môn toán và phát hiện bồi dưỡng học sinh có năng khiếu toán ở
cấp 1”. Tác giả cho rằng biểu hiện của tư duy sáng tạo là: Không dập khuôn cái cũ,
biết thay đổi các biện pháp giải quyết vấn đề; thấy được những mối liên hệ khăng
khít giữa những sự kiện trông bề ngoài tưởng chừng như xa lạ để tìm ra phương
pháp giải quyết đúng, gọn và hay. Tác giả đã đưa ra bảy biện pháp phát triển tư duy
sáng tạo cho học sinh cấp 1. Tác giả Hoàng Chúng trong “ Rèn luyện khả năng
sáng tạo ở trường phổ thông” đã nghiên cứu vấn đề rèn luyện cho học sinh những
phương pháp suy nghĩ cơ bản trong sáng tạo toán học: Đặc biệt hóa, tổng quát hóa,
tương tự. Có thể vận dụng các phương pháp đó để giải quyết các bài toán đã cho,
để mò mẫm và dự đoán kết quả tìm ra phương hướng giải bài toán, để mở rộng đào
sâu và hệ thống hóa kiến thức. Theo tác giả để rèn luyện khả năng sáng tạo toán
học ngoài lòng say mê học tập cần rèn luyện khả năng phân tích vấn đề một cách
toàn diện ở nhiều khía cạnh khác nhau biểu hiện ở hai mặt quan trọng đó là: Một là
phân tích các khái niệm, bài toán, kết quả đã biết dưới nhiều khía cạnh khác nhau
từ đó tổng quát hóa hoặc xét các vấn đề tương tự theo nhiều khía cạnh khác nhau.
Hai là tìm nhiều lời giải khác nhau cho một bài toán, khai thác các lời giải đó để
giải các bài tương tự hay tổng quát hơn hoặc đề xuát các bài toán mới. Theo tác giả
Nguyễn Cảnh Toàn trong “ Tập cho học sinh giỏi làm quen dần với nghiên cứu
toán học” thì rèn luyện tư duy sáng tạo phải rèn luyện tư duy biện chứng, đặt trọng
tâm vào rèn luyện khả năng phát hiện vấn đề, rèn luyện tư duy biện chứng thông
qua lao động tìm tòi cái mới, để đi đến cái mới trong toán học phải kết hợp tư duy
logic và tư duy biện chứng, cả tư duy hình tượng và thói quen tìm tòi thực nghiệm.
Tác giả khẳng định: “ muốn sáng tạo toán học rõ ràng là phải giỏi vừa cả phân tích
vừa cả tổng hợp, phân tích và tổng hợp đan xen vào nhau, nối tiếp nhau, cái này tạo
điều kiện cho cái kia”. Theo tác giả Phạm Gia Đức – Phạm Văn Hoàn trong “ Rèn
luyện kỹ năng công tác độc lập cho học sinh qua môn toán” thì rèn luyện kỹ năng
công tác độc lập là phương pháp hiệu quả nhất để học sinh hiểu kiến thức một cách
8
sâu sắc, có ý thức và sáng tạo. Các tác giả lưu ý một trong những hình thức cao
của công tác độc lập đòi hỏi nhiều sáng tạo là việc học sinh tự ra lấy đề toán, đó
cũng là biện pháp bồi dưỡng TDST cho học sinh, trong quá trình đề xuất bài toán
mới, phát hiện vấn đề mới các phẩm chất của tư duy sáng tạo được nảy nở và phát
triển. Các tác giả Phạm Văn Hoàn – Trần Thúc Trình – Nguyễn Gia Cốc trong “
Giáo dục học môn toán” đã khẳng định: Phát triển năng lực toán học ở học sinh là
một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của thầy giáo. Cần có những công trình nghiên
cứu một cách tỉ mỉ về cấu trúc của năng lực tư duy toán học của học sinh nước ta
để từ đó có nội dung phương pháp bồi dưỡng năng lực sáng tạo toán học cho học
sinh một cách chủ động. Tác giả Nguyễn Bá Kim – Vũ Dương Thụy trong “
Phương pháp dạy học môn toán” đã phân tích: “Tính linh hoạt, tính độc lập, tính
phê phán là những điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo là những đặc điểm về
những mặt khác nhau của tư duy sáng tạo, tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét
nhất ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra
kết quả mới”. Tác giả Tôn Thân trong “ Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập
nhằm bồi dưỡng một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh khá và giỏi ở
trường THCS Việt Nam” đã xây dựng hệ thống bài tập công phu nhằm bồi dưỡng
theo ba yếu tố của TDST như Tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo. Tác
giả đã đưa ra bốn phương hướng để bồi dưỡng TDST. Các tác giả Hoàng Chúng,
Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Thúc Trình, Nguyễn Bá Kim, Phạm Gia Đức, Phạm Đức
Quang, Tôn Thân, Trần Luận và nhiều tác giải khác trong các công trình của mình
đã giải quyết được nhiều vấn đề lí luận cũng như thực tiễn về bồi dưỡng năng lực
sáng tạo cho học sinh THPT. Việc áp dụng dạy học sáng tạo trong giáo dục đã phần
nào đáp ứng được yêu cầu đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao, có khả năng
sáng tạo trong mọi tình huống công việc. Tuy nhiên với sự phát triển nhanh chóng
của kinh tế xã hội, sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật hiện đại việc dạy học nhằm
9
phát triển năng lực tư duy sáng tạo vẫn chưa đáp ứng kịp với nhu cầu của xã hội,
yêu cầu của giáo dục đề ra.
Như vậy có thể thấy được vấn đề năng lực TDST đã được nhiều nhà khoa học
quan tâm, đó là một năng lực quan trọng trong cấu trúc năng lực toán học của học
sinh, nó có nhiều nét đặc trưng và biểu hiện phong phú. Vậy trong các đặc trưng
của TDST đặc trưng nào là tiêu biểu nhất, là cơ bản nhất trong việc học toán của
học sinh THPT. Đặc biệt các đặc trưng đó được biểu hiện trong Hình học không
gian như thế nào? Làm thế nào để phát triển và bồi dưỡng năng lực TDST trong
hình học không gian cho học sinh?.
Những cơ sở lí luận và thực tiễn nói trên đã đặt ra yêu cầu và tạo điều kiện cho
việc nghiên cứu năng lực tư duy sáng tạo trên bình diện đề xuất các biện pháp sư
phạm nhằm bồi dưỡng cho học sinh trong dạy học Toán ở trung học phổ thông nói
chung và trong dạy học Hình học không gian nói riêng. Chính vì những lí do trên đề
tài được chọn là “ Góp phần hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo
trong hình học không gian cho học sinh Trung học phổ thông”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Trên thế giới việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo trong nhà trường đã
được nghiên cứu từ rất sớm. Năm 1962 nhà tâm lý học Mỹ Torrance với tác phẩm “
developing creative thinking through school experience” đã nghiên cứu sâu về
năng lực sáng tạo, đã đưa ra khái niệm, cấu trúc và cơ chế phương pháp phát triển
năng lực sáng tạo. Trong công trình “ Tâm lý năng lực toán học của học sinh” ,
1968, Kơrutecxki ( Nga) đã xác định rõ cấu trúc năng lực toán học của học sinh từ
đó làm cơ sở để nghiên cứu và nâng cao năng lực sáng tạo cho người học trong học
toán. Trong công trình “ Toán học và sự phát triển của toán học trong thế giới hiện
đại” , 1985, Gnhedenco đã chỉ ra những xu hướng phát triển và vận dụng toán học
trong nền kinh tế tri thức. Trong nghiên cứu “ Dạy học toán” của Xtolia A.A, tác
10
giả cho rằng: Dạy học toán chính là dạy cho học sinh biết thực hiện các hoạt động
toán học bắt đầu từ việc tổ chức thu thập các tài liệu kinh nghiệm, tổ chức logic các
tài liệu thu thập được và tổ chức ứng dụng. Năm 1968 trong hội nghị của
Freudenthal các nhà giáo dục toán đã đưa ra những quan điểm như: Tại sao phải
dạy toán để có ích, Tại sao nhiều học sinh không thể sử dụng kiến thức toán đã học
để giải quyết các vấn đề thực tế mặc dù đã đạt được chứng chỉ xuất sắc môn học
này? (Siiler). Dạy toán là phải dạy sao cho học sinh có thể áp dụng vào các tình
huống đơn giản của cuộc sống. Trong nghiên cứu của Pollak năm 1979 “Ảnh
hưởng của toán học lên các môn học khác ở nhà trường” thì: Giáo dục toán phải có
trách nhiệm dạy cho học sinh cách sử dụng toán trong cuộc sống hàng ngày. Việc
bồi dưỡng NLTDST cho học sinh là chủ đề của nhiều cuốn sách và bài báo của các
tác giả như: Pennick J.E “ Phát triển khả năng sáng tạo trong lớp học”, Reid J và
King F “ Nghiên cứu về khả năng sáng tạo của học sinh” . Yamamoto “ Vai trò của
tư duy sáng tạo và trí thông minh trong thành tích học tập”. Tác giả Hứa Mộng của
Trung Quốc với tác phẩm “ Phương pháp phát triển trí tuệ” , NXB thông tin 1991,
đã nghiên cứu khái niệm trí thông minh mà một thành tố cơ bản là năng lực sáng
tạo. Theo tác giả trí thông minh là một khái niệm phức tạp nhưng có thể nói vắn tắt
là: Khả năng thích ứng của con người với đủ loại vấn đề của cuộc sống mà muốn
thích ứng được với mọi hoàn cảnh thì rõ ràng phải có một tư duy linh hoạt sáng tạo.
Bộ sách 4 tập của tác giả nhật bản Omizumi Kagayaki “ Phương pháp luyện trí
não”, NXB Thông tin 1991, đã giới thiệu các phương pháp cụ thể để rèn luyện
TDST trong đó nội dung chủ yếu của tập II là bồi dưỡng năng lực sáng tạo toán
học. Theo tác giả : Để có TDST cần thiết phải gạt bỏ những hiểu biết về kiến thức
thông thường, gạt bỏ những kinh nghiệm trong quá khứ để suy nghĩ khỏi bị lệ
thuộc, tính sáng tạo trong tư duy khỏi bị hạn chế. Các tác phẩm trên chủ yếu nghiên
cứu khía cạnh tâm lí của tư duy sáng tạo, còn nhà Tâm lí học kiêm Toán học nổi
tiếng G. Polya đã nghiên cứu bản chất của qúa trình giải toán, quá trình sáng tạo
11
toán học, tác giả đã phân tích quá trình giải toán không tách khỏi quá trình dạy giải
toán do đó với các công trình của ông như “ Sáng tạo toán học” , “ Toán học và
những suy luận có lý” đã đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy và học
tập môn toán ở trường phổ thông mà một trong những nhiệm vụ quan trọng là bồi
dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh THPT.
Như vậy có thể thấy được vấn đề phát triển năng lực tư duy sáng tạo trong
toán học đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất lâu.
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục cũng đã có không ít công trình nghiên
cứu về vấn đề này trong những năm cuối của thế kỷ trước có thể kể đến các công
trình của các tác giả như Tôn Thân “Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập nhằm
bồi dưỡng một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh khá và giỏi ở trường
THCS Việt Nam ( thể hiện qua chương các trường hợp bằng nhau của tam giác lớp
7)”. Hoàng Chúng “Bồi dưỡng khả năng sáng tạo toán học ở trường phổ thông”.
Trần Luận “Vận dụng tư tưởng sư phạm của G.POLYA xây dựng nội dung và
phương pháp dạy học trên cơ sở các hệ thống bài tập theo chủ đề nhằm phát huy
năng lực sáng tạo của học sinh chuyên toán cấp II”. Phạm Văn hoàn “Bồi dưỡng
trí thông minh qua môn toán và phát hiện bồi dưỡng học sinh có năng khiếu toán
cấp 1”. Nguyễn Bá Kim – Vương Dương Minh – Tôn Thân “Khuyến khích một số
hoạt động trí tuệ của học sinh qua môn toán ở trường THCS”. Nguyễn Cảnh Toàn
“Tập cho học sinh giỏi làm quen dần với nghiên cứu toán học”. Cùng với các công
trình của nhiều tác giả khác, trong các công trình của mình các tác giả đã giải quyết
được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn về năng lực sáng tạo của học sinh cũng
như các giải pháp nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy
học toán.
Sang đầu thế kỷ 21 cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này phải
kể đến công trình của tác giả Phạm Gia Đức – Phạm Đức Quang trong “Giáo trình
12
đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở trường Trung học cơ sở nhằm hình
thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh” Các tác giả đã làm rõ lý luận
về tư duy sáng tạo của học sinh và đưa ra 7 biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực tư
duy sáng tạo cho học sinh. Các công trình của các tác giả như: Nguyễn Văn Quang,
2005, “Hình thành một số biểu hiện đặc trưng của tư duy sáng tạo cho học sinh
Trung học cơ sở thông qua dạy học chủ đề đa giác”. Nguyễn Cảnh Toàn, 2004,
“Khơi dậy tiềm năng sáng tạo”. Nguyễn Quang Hòe, 2011 “ Những chuẩn bị cần
thiết cho sinh viên ở trường sư phạm để dạy học toán nhằm bồi dưỡng năng lực
sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở (thông qua dạy học đại số sơ cấp và thực
hành giải toán)” và một số tác giả khác cũng đã giải quyết được nhiều vấn đề trong
việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh.
Như vậy có thể thấy vấn đề năng lực TDST đã được nhiều nhà khoa học
trong nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu, từ đó có thể thấy được tầm quan
trong của năng lực này trong cấu trúc năng lực học toán của học sinh THPT.
Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra là: Trong các thành tố và các biểu hiện phong phú
của Năng lực TDST , thành tố nào là cơ bản, là tiêu biểu nhất. Biểu hiện nào là đặc
trưng nhất, chúng được thể hiện trong hình học không gian như thế nào, các biểu
hiện NLTDST trong hình học không gian có gì mới, có gì đặc trưng, làm thế nào để
phát huy được nó. Vấn đề này chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu chính
vì vậy đây cũng là vấn đề mà NCS xin được nghiên cứu sâu hơn.
3. Mục đích nghiên cứu của luận án.
3.1 Mục đích: Hệ thống hóa và thống nhất một số vấn đề lí luận về năng lực tư
duy sáng tạo; từ đó xây dựng một số biện pháp sư phạm góp phần hình thành và
phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông trong dạy
học Hình học không gian nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Để đạt được mục
đích này luận án cần làm sáng tỏ một số vấn đề như:
13
- Làm sáng tỏ khái niệm năng lực TDST, các thành tố, biểu hiện của NLTDST
trong học toán. Biểu hiện của NLTDST trong hình học không gian.
- Xác định được những căn cứ để xây dựng các biện pháp sư phạm phát triển
NLTDST trong Hình học không gian.
- Xây dựng được các biện pháp nhằm bồi dưỡng NLTDST trong hình học không
gian.
- Xây dựng được hệ thống câu hỏi và bài tập nhằm góp phần hình thành và phát
triển NLTDST trong hình học không gian.
- Làm sáng tỏ tính khả thi của các biện pháp sư phạm đã đề xuất.
3.2 Mong muốn đạt được:
-Luận án giúp giáo viên có những căn cứ và nguyên tắc để hình thành và phát triển
năng lực tư duy sáng tạo trong hình học không gian cho học sinh THPT.
-Luận án là tài liệu tham khảo cho giáo viên và sinh viên sư phạm toán.
- Sản phẩm của luận án là các biện pháp sư phạm góp phần hình thành và phát triển
năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong hình học không gian.
-Học sinh sau khi được học nội dung hình học không gian theo các biện pháp sư
phạm của luận án có khả năng sáng tạo trong học tập và thực tiễn cụ thể có thể xét
một ví dụ như sau:
Bài toán: Hãy đo độ dài đường chéo của một viên gạch sau khi ra lò.
Với bài toán trên một học sinh đã học xong nội dung hình học không gian có thể sẽ
có các cách giải quyết như sau:
Cách 1: Học sinh liên tưởng viên gạch
với hình hộp chữ nhật như vậy muốn tính độ dài đường chéo phải biết ba kích
thước bởi vì không thể xuyên thước qua viên gạch được. Như vậy học sinh này sẽ
dùng thước đo cả ba kích thước của viên gạch sau đó sử dụng kiến thức toán học
tính được độ dài đường chéo. Cách giải này là thông thường và hơi máy móc.
14
A
B
C
Cách 2: Cũng như cách 1 tuy nhiên học sinh chỉ cần đo 1 kích thước và đường
chéo của một mặt. Cách giải này tuy có gọn hơn
cách 1 nhưng chưa có tính độc đáo.
Cách 3: Học sinh đặt hai viên gạch như hình vẽ và chỉ cần đo 1 lần. Đó chính là
đoạn AB.
Như vậy cách giải quyết vấn đề theo cách 3 mang tính độc đáo và thể hiện được
học sinh này có năng lực sáng tạo.
Mong muốn của luận án sau khi học
nội dung hình học không gian theo
hướng hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo sẽ có nhiều học sinh có
khả năng giải quyết vấn đề theo cách 3 hơn.
4. Khách thể, đối tượng nghiên cứu.
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp sư phạm nhằm hình thành và phát triển năng
lực tư duy sáng tạo trong hình học không gian cho học sinh THPT.
4.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn toán ở trường THPT
5. Giả thuyết khoa học.
Trên cơ sở nội dung và chương trình Hình học không gian ở trường trung học phổ
thông hiện hành, nếu xây dựng và thực hiện được một số biện pháp sư phạm hợp lí,
thì có thể hình thành và phát triển được năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong
dạy học Hình học không gian ở trung học phổ thông, qua đó góp phần nâng cao
được hiệu quả dạy học.
6. Nội dung và phạm vi nghiên cứu.
6.1.Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài: Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề về cơ sở
lí luận của năng lực tư duy sáng tạo trong dạy học Hình học không gian ở trường
THPT.
- Nghiên cứu nội dung chương trình hình học không gian ở trường THPT.
15
- Nghiên cứu thực trạng dạy học hình học không gian ở trường THPT.
- Nghiên cứu năng lực tư duy sáng tạo trong học toán của học sinh THPT.
- Đề xuất các biện pháp sư phạm góp phần hình thành và phát triển năng lực tư duy
sáng tạo cho học sinh trong dạy học Hình học không gian trung học phổ thông.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm: Xem xét tính khả thi của các biện pháp đã đề
xuất.
6.2. Phạm vi nghiên cứu: Khả năng tư duy của học sinh THPT
7. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu.
7.1. Nghiên cứu lí luận:
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo: Văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chủ trương
và chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo có liên quan đến nhiệm vụ dạy học Toán
ở trường trung học phổ thông.
- Nghiên cứu các tài liệu triết học, tâm lí học, giáo dục học và lí luận dạy học bộ
môn Toán có liên quan đến đề tài.
- Phân tích chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên phân môn
Hình học trường trung học phổ thông ở Việt Nam và ở một số nước khác.
- Nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài.
7.2. Quan sát:
Dự giờ quan sát những biểu hiện của giáo viên và học sinh (về nhận thức, thái độ,
hành vi) trong hoạt động dạy và học (trước và trong khi thực nghiệm).
7.3. Thực nghiệm sư phạm:
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
8. Nơi thực hiện đề tài nghiên cứu.
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.
9. Dự kiến bố cục của luận án.
Ngoài phần mở đầu, kết luận chúng tôi dự kiến chia đề tài thành ba chương.
16
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1 Lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
1.1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
1.2 Năng lực tư duy sáng tạo của học sinh
1.2.1 Năng lực tư duy
1.2.2 Tư duy sáng tạo
1.2.3 Năng lực tư duy sáng tạo và các thành tố
1.2.4 Năng lực tư duy sáng tạo của học sinh trong học toán
1.3 Vấn đề dạy học hình học không gian ở trường phổ thông
1.3.1 Nội dung hình học không gian hiện hành ở trường phổ thông
1.3.2 Thực trạng và giải pháp
Kết luận chương 1
Chương 2: Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo
trong hình học không gian cho học sinh THPT
2.1 Định hướng xây dựng các biện pháp
2.1.1 Các căn cứ
2.1.1 Các định hướng
2.2 Những biện pháp cụ thể.
2.2.1 Biện pháp 1: Rèn luyện theo từng thành tố của TDST
2.2.2 Biện pháp 2: Rèn luyện cho học sinh các năng lực tư duy, thao tác trí tuệ cơ
bản
2.2.3 Biện pháp 3:Tập luyện cho HS trí tưởng tượng hình học bằng việc nhìn nhận
hình vẽ theo nhiều góc độ khác nhau từ đó tìm ra hình vẽ thuận lợi nhất cho việc
giải toán
2.2.4 Biện pháp 4: Khuyến khích HS tìm nhiều lời giải cho một bài toán từ đó tìm
ra cách giải hay và độc đáo
2.2.5 Biện pháp 5:Tăng cường cho HS giải các bài toán thực tiễn
2.2.6 Biện pháp 6: Hướng dẫn và tập luyện cho học sinh phân tích, phát hiện, đề
xuất bài toán mới từ bài toán đã cho
17
2.2.7 Biện pháp 7: Tập luyện cho học sinh sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu Toán học
để diễn đạt các nội dung Toán học; diễn đạt vấn đề theo những cách khác nhau,
từ đó chọn ra cách diễn đạt tối ưu nhất
2.2.8 Biện pháp 8: Sử dụng các biện pháp dạy học nhằm khơi dậy và phát triển
NLTDST
- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Dạy học khám phá.
- Dạy học hợp tác.
- Phương pháp học theo dự án (Project Based Learning).
- Phương pháp Kỹ thuật tạo ra ý tưởng (Brainstorming).
2.2.9 Biện pháp 9: Bồi dưỡng cho học sinh sự hứng thú trong học tập, giúp học
sinh thấy đó như là một trong các nhu cầu cần thiết của bản thân
2.2.10 Biện pháp 10: Đề xuất hệ thống câu hỏi và bài tập nhằm hình thành và phát
triển năng lực tư duy sáng tạo trong hình học không gian cho học sinh THPT
2.2.10.1 Căn cứ xây dựng hệ thống bài tập
2.2.10.2 Hệ thống bài tập
2.2.10.3 Gợi ý sư phạm sử dụng hệ thống bài tập
Kết luận chương 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm
3.2 Nội dung thực nghiệm
3.3 Tổ chức thực nghiệm
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm
Kết luận chương 3
10. Những đóng góp mới của luận án và ý nghĩa của đề tài:
10.1. Về mặt lí luận:
18
1. Góp phần làm sáng tỏ vai trò của việc dạy học phát triển NLTDST của học
sinh THPT.
2. Đưa ra các năng lực thành tố của năng lực TDST của học sinh và xây dựng
được một số biện pháp sư phạm bồi dưỡng cho học sinh năng lực TDST trong dạy
học Hình học không gian ở trường trung học phổ thông.
3. Đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm hình thành và phát triển năng lực tư
duy sáng tạo cho học sinh.
4. Đề xuất hệ thống câu hỏi và bài tập để thực hành các biện pháp sư phạm
10.2. Về mặt thực tiễn: Bước đầu kiểm nghiệm được tính khả thi bằng thực
nghiệm sư phạm những biện pháp sư phạm đã xây dựng.
11. Những luận điểm đưa ra bảo vệ:
11.1. Một số thành tố của năng lực TDST trong dạy học Hình học không gian (đây
là các thành tố thực sự cần thiết và có thể bồi dưỡng cho học sinh trong dạy học
Hình học không gian ở trường trung học phổ thông theo quan niệm của tác giả).
11.2. Hệ thống các biện pháp sư phạm đã đề xuất là thích hợp và có tính khả thi
trong việc bồi NLTDST cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học Hình học
không gian.
11.3. Hệ thống bài tập cùng với việc sử dụng các biện pháp sư phạm mà luận án đã
đề xuất là cách thức cụ thể để góp phần bồi dưỡng NLTDST cho học sinh trong dạy
học Hình học không gian.
12. Các công trình khoa học của ứng viên nghiên cứu sinh có liên quan đến đề
tài luận án đã được công bố.
1. Bùi Thành Trung, 2009, Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh THPT
qua dạy học các bài toán cực trị hình học không gian, Luận văn Thạc sỹ giáo dục
học, ĐHSPHN.
19
2. Bùi Thành Trung, 2014, Một số biện pháp góp phần hình thành và phát
triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh qua các bài toán cực trị hình học không
gian, Tạp chí Giáo dục số đặc biệt tháng 5/2014, tr 166-168.
3. Bùi Thành Trung, 2014, Rèn Luyện năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh
THPT qua việc sáng tạo bài toán cực trị hình học không gian, Tạp chí thiết bị Giáo
dục số 106 tháng 6/2014, tr 27-30.
13. Dự kiến kế hoạch, tiến độ thực hiện (theo tháng, quí, năm ).
Từ 10/2014 đến 5/2015: + Thu thập tài liệu, viết đề cương chi tiết.
+ Học các chuyên đề theo chương trình đào tạo.
+ Báo cáo đề cương chi tiết.
Từ 06/2014 đến 12/2014: + Nghiên cứu lí luận.
+ Khảo sát thực tiễn, phân tích thực tiễn.
+ Báo cáo kết quả nghiên cứu thực tiễn.
Từ 01/2016 đến12/2016 : + Thực nghiệm sư phạm.
+ Viết dự thảo luận án.
Từ 01/2017 đến 10/2017 : + Chỉnh sửa luận án.
+ Bảo vệ luận án theo kế hoạch.
14. Đề xuất người hướng dẫn
1. PGS.TS Phạm Đức Quang - Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.
2. PGS.TS Vương Dương Minh – Đại học sư phạm Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Trần Nguyệt Anh, 2000, Bước đầu khai thác và phát triển tư duy sáng tạo cho
học sinh qua dạy học giải bài tập hình học không gian, Luận văn thạc sỹ,
ĐHSPHN.
[2]. Nguyễn Trọng Bảo, 1995, “ Sáng tạo – phẩm chất cần trau dồi cho con người
Việt Nam thế kỉ 21”. Tạp trí thế giới mới, số 128.
[3]. Hoàng Chúng, 1969, Bồi dưỡng khả năng sáng tạo toán học ở trường phổ
thông, NXB Giáo dục.
20
[4]. Phạm Gia Đức - Nguyễn Mạnh Cảng - Bùi Huy Ngọc - Vũ Dương Thụy, 1998,
Phương pháp dạy học môn toán, NXB Giáo dục.
[5]. Phạm Gia Đức - Bùi Huy Ngọc, 2007, Giáo trình phương pháp dạy học các
nội dung môn toán, NXB ĐHSP.
[6]. Phạm Gia Đức – Phạm Đức Quang, 2007, Giáo trình đổi mới phương pháp
dạy học môn toán ở trường Trung học cơ sở nhằm hình thành và phát triển năng
lực sáng tạo cho học sinh, NXB ĐHSP.
[7]. Lê Hồng Đức ( chủ biên) – NGƯT. Đào Thiện Khải – Lê Bích Ngọc – Lê Hữu
Trí, Sử dụng phương pháp tọa độ trong không gian giải các bài toán hình học
không gian, NXB ĐHSP, 2008.
[ 8]. Nguyễn Hữu Điền, 2001, Phương pháp giải các bài toán cực trị trong hình
học, NXB Khoa học kỹ thuật.
[9]. Tạ Khắc Định – Nguyễn Hữu Thanh, 2007, Rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo
thông qua việc khai thác lời giải một bài toán,Tạp trí dạy và học ngày nay, số 8.
[10].TSKH Vũ Đình Hòa, 2008, Bất đẳng thức hình học, Chuyên đề bồi dưỡng học
sinh giỏi THPT, NXBGD.
[11]. Trần Bá Hoành, 1999, Phát triển tính sáng tạo của học sinh và vai trò của
giáo viên, Tạp chí NCGD, số 9.
[12].Phan Thị Hoa, 2007, Bồi dưỡng một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học
sinh trung học phổ thông trong dạy học chủ đề Hệ phương trình. Luận văn Thạc sỹ
Giáo dục học, Viện KHGD.
[13]. Phạm Văn Hoàn, 1969, Bồi dưỡng trí thông minh qua môn toán và phát hiện
bồi dưỡng học sinh có năng khiếu toán cấp 1,NXBGD.
[14].Nguyễn Quang Hòe, 2011, Những chuẩn bị cần thiết cho sinh viên ở trường
sư phạm để dạy học toán nhằm bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh trung
học cơ sở (thông qua dạy học đại số sơ cấp và thực hành giải toán), Luận án Tiến
sĩ Giáo dục học. Viện KHGD.
[15]. Trần Khánh Hưng, 2005, Giáo trình phương pháp dạy học toán( phần đại
cương), NXBGD.
[16]. Đặng Văn Hương – Nguyễn Trí Thanh, 2007, Một số phương pháp dạy học
môn toán theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Trung học cơ sở, NXB
ĐHSP.
[17]. Nguyễn Thúy Hường, 2004, Dạy học các bài toán cực trị trong hình học
không gian, Luận văn thạc sỹ, ĐHSPHN.
[18]. Trần Kiều, 2001, Một số ý kiến về đổi mới phương pháp dạy toán ở bậc trung
học nước ta, Thông tin khoa học giáo dục số 83.
[19]. Trần Kiều – Nguyễn Lan Phương, 1997, Tích cực hóa hoạt động học tập của
học sinh, Thông tin khoa học giáo dục số 62, Viện khoa học giáo dục.
[20]. Nguyễn Bá Kim – Vương Dương Minh – Tôn Thân, 1999, Khuyến khích một
số hoạt động trí tuệ của học sinh qua môn toán ở trường THCS, NXBGD.
[21]. Nguyễn Bá Kim, 2006, Phương pháp dạy học môn toán, NXB ĐHSPHN.
21
[22]. Lê Văn Minh, 1997, Một số bài toán bất đẳng thức và cực trị trong hình học,
Luận văn thạc sỹ,ĐHSPHN.
[23].Nguyễn Thị Lan,2000, Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh khá và giỏi
toán thông qua hệ thống bài tập chương "Hàm số" (Đại Số 7). Luận văn Thạc sĩ
giáo dục học, Viện KHGD,
[24]. Trần Luận,1995, Một số nét về tình hình nghiên cứu các trình độ tư duy của
học sinh khi học hình học, Thông tin khoa học giáo dục số 50, Viện khoa học giáo
dục.
[25]. Trần Luận, 1996, Vận dụng tư tưởng sư phạm của G.POLYA xây dựng nội
dung và phương pháp dạy học trên cơ sở các hệ thống bài tập theo chủ đề nhằm
phát huy năng lực sáng tạo của học sinh chuyên toán cấp II, Luận án PTS khoa sư
phạm tâm lý, Viện khoa học giáo dục.
[26]. Gpolya, 1995, Toán học và suy luận có lý, NXBGD, Hà Nội.
[27]. Gpolya, 1997, Sáng tạo toán học, NXBGD, Hà Nội.
[28]. Nguyễn Văn Quang, 2005, Hình thành một số biểu hiện đặc trưnng của tư
duy sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua dạy học chủ đề đa giác, Luận
án TS giáo dục học, Viện khoa học giáo dục.
[29]. Nguyễn Thị Thu, 2000, Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 8 thông
qua hệ thống bài tập về tam giác đồng dạng. Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Viện KHGD.
[30]. Ngô Thị Bích Thảo, 2003, Bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh trong
phần cơ học lớp 8 THCS, Luận án TS giáo dục học, Viện khoa học giáo dục.
[31]. Tôn Thân, 1995, Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập nhằm bồi dưỡng một
số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh khá và giỏi ở trường THCS Việt Nam
( thể hiện qua chương các trường hợp bằng nhau của tam giác lớp 7), Luận án PTS
khoa học tâm lí, Viện khoa học giáo dục.
[32]. Tôn Thân, 1995, Bài tập “ mở” một dạng bài tập góp phần bồi dưỡng tư duy
sáng tạo cho học sinh,Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 6.
[33].NguyễnVănThiện, 2000, Rèn luyện một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học
sinh lớp 12 thông qua hệ thống bài tập hình học không gian. Luận văn thạc sĩ giáo
dục học. Viện KHGD.
[34]. Nguyễn Cảnh Toàn, 2004, Khơi dậy tiềm năng sáng tạo, NXBGD.
[35]. Nguyễn Cảnh toàn, 1992, Tập cho học sinh giỏi làm quen dần với nghiên cứu
toán học, NXBGD
[36]. Trần Anh Tuấn – Nguyễn Thanh Tùng, 2008, Một số hướng kế cận để giải bài
toán cực trị hình học trong chương trình THCS, Tạp trí giáo dục số 195.
22

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×