Tải bản đầy đủ

Những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Về lý luận:
Hiện nay hoạt động học tập của học sinh, sinh viên các trường đại học,
cao đẳng và dạy nghề là một vấn đề đang được ngành giáo dục đại học, cao
đẳng và dạy nghề quan tâm, vì các em là nguồn nhân lực quan trọng để phát
triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ CNH, HĐH của Đảng
ta,con người được coi vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh
tế –xã hội. Để có được thế hệ con người Việt nam mới đáp ứng những yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới trong bối cảnh toàn cầu hóa chúng ta cần có một
chiến lược giáo dục vừa tiên tiến vừa kế thừa.
Chất lượng giáo dục và đào tạo vừa phụ thuộc vào hoạt động dạy của
thày nhưng cũng vừa phụ thuộc vào hoạt động học của trò, trong đó hoạt
động học của trò đóng vai trò rất quan trọng, vì chỉ khi các em tích cực chủ
động tiến hành các hoạt đông nhận thức dưới sự tổ chức, điều khiển của
thày thì hoạt động dạy học mới hoàn thành mục đích của mình.
Điều 5 Luật giáo dục 2005 quy định: phương pháp giáo dục phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học, bồi
dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học
tập và ý chí vươn lên.

Như vậy có thể nói rằng trong hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
thì khâu tự học là một vấn đề cốt lõi trong quá trình giảng dạy, giáo dục ở
nhà trường, đại học, cao đẳng và dạy nghề . Vì thế tập thể sư phạm nhà
trường cần phải chó ý đặc biệt tới việc tự học của học sinh, sinh viên.
Chóng ta đang bắt tay vào xây dựng một xã hội học tập; trong đó, mỗi
người chúng ta cần phải học tập và học tập suốt đời. Vì vậy, các em học sinh
sinh viên càng cần phải biết tự học, để có thể tiếp thu ngày càng sâu những
1
kiến thức học trong nhà trường và cả sau này khi ra trường các em còn phải
thường xuyên tự học.
Mặc khác, trường đại học và cao đẳng và dạy nghề là môi trường hoàn
toàn khác so với trường phổ thông, cho nên việc học sinh sinh viên tự học,
tự nghiên cứu dựa trên những kiến thức đã được thầy cô dạy và định
hướng trên lớp là chủ yếu. Điều đó cũng có nghĩa là việc tự học, tự nghiên
cứu của học sinh sinh viên sẽ giúp cho chuyên môn của các em càng sâu
rộng, vững chắc hơn.
Hiện nay, hầu hết các trường đại học cao đẳng và dạy nghề trên toàn
quốc đang xây dựng mục tiêu chuyển hình thức đào tạo từ lấy nội dung làm
trung tâm sang lấy học sinh sinh viên làm trung tâm. Do đó, việc tự học của
học sinh sinh viên lại trở nên cần thiết hơn cả; giúp cho người học chủ động
hơn, làm chủ được quá trình học cũng như thời gian học của mình.
1.2. Về thực tiễn:
Trường Cao đẳng Điện tử - Điện lạnh Hà Nội là một trường mới được
lên hệ cao đẳng từ tháng 9/2006(tiền thân là trường trung học Điện tử - Điện
lạnh Hà Nội, đào tạo chủ yếu là hệ trung cấp và CNKT). Mặc dù có bề dày
hơn 40 năm phát triển, đã được nhà nước tặng thưởng huân chương lao động
hạng nhất. Nhưng trong thực tế kinh nghiệm dạy cho học sinh,sinh viên hệ
cao đẳng là vấn đề rất mới. Việc hướng dẫn và quản lý hoạt động tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh, sinh viên đã được nhà trường đặt ra, song sự
chuyển biến trong cách học của học sinh, sinh viên còn chậm mặc dầu nhà
trường có nhiều sách tham khảo, sách hướng dẫn ôn tập và tự học nhưng học
sinh sinh viên vẫn chưa quan tâm đúng mức đến việc rèn luyện kỹ năng tự
học, tự củng cố, trau dồi kiến thức,các em vẫn chưa tin vào khả năng tự học
của bản thân, vẫn chưa tin vào kết quả tự học mà vẫn ỷ lại vào hoạt động
giảng dạy của thầy cô. Nguyên nhân của tình trạng này một phần lớn là do
công tác quản lý dạy - học ở nhà trường chưa được quan tâm đúng mức.
2
Hiện nay lượng học sinh, sinh viên vào học các ngành:Viễn thông, Nhiệt
lạnh, Công nghệ thông tin ,Tự động hóa ngày càng đông, năm sau tăng hơn
năm trước. Nhà trường đã là một địa chỉ đáng tin cậy của thủ đô và đất nước.


Để nhà trường không ngừng phát triển và phấn đấu trở thành trường đại học
trong tương lai thì công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh,sinh viên
cần phải được đổi mới triệt để nhằm tạo cho học sinh sinh viên năng lực tự
học tự nghiên cứu. Đó là những đòi hỏi bức bách từ thực tế của nhà trường
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo hiện nay và trong tương lai.
Vì những lẽ trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Những biện pháp quản lý
hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện
lạnh Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng, đề xuất các biện pháp quản lý
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động học của học sinh sinh viên
trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động học của học sinh, sinh viên Trường Cao
đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trường
Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến hoạt động học tập của học
sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
4.2. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý việc học tập của học sinh, sinh
viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
3
4.3. Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh
viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên là một mặt của quá trình dạy -
học trong nhà trường, song trên thực tế, nhiều học sinh, sinh viên còn thụ
động, ỷ lại trông chờ vào sự giúp đỡ của thầy và bạn bè, tính độc lập tính
tích cực và khả năng tự học còn rất yếu. Nếu tìm những biện pháp quản lý
hữu hiệu, đồng bộ thì sẽ đẩy mạnh được việc học tập của học sinh, sinh
viên, từ đó chất lượng dạy - học của nhà trường được nâng cao.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu các văn bản có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu như: sách tài liệu về giáo dục, về quản lý giáo
dục, về các quá trình dạy và học, tự học, tự nghiên cứu, các văn bản về chủ
trương, đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước,
các văn bản của ngành về dạy và học, quản lý học tập của sinh viên nhằm
xây dựng cơ sở lý luận đề tài.
6.2. Các biện pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1. Điều tra bằng phiếu hỏi:
Mục đích: Thu thập ý kiến về hoạt động tự học của sinh viên, và quản lý
hoạt đông học của nhà trường.
Các phiếu điều tra qua phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lý, giáo viên, các
phòng, ban chức năng liên quan, các em sinh viên đang học thuộc khoa Nhiệt
lạnh từ các năm học 2007 - 2008, 2008 - 2009 về hoạt động học và những
biện pháp được đề xuất.
6.2.2. Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động học của sinh viên cao
đẳng của trường.
6.3. Xử lý kết quả điều tra thống kê toán học.
4
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội có nhiều chuyên ngành
và nhiều khoa trong đó mỗi khoa lại có ba hệ được đào tạo: hệ trung cấp
nghề, hệ trung cấp chuyên nghiệp và hệ cao đẳng. Do thời gian có hạn, đề tài
tập trung nghiên cứu hoạt đông học tập của học sinh, sinh viên các hệ thuộc
khoa nhiệt lạnh từ năm học 2007 - 2008 đến năm học 2008 - 2009.
Các nghiên cứu điều tra thăm dò ý kiến giáo viên, cán bộ công nhân
viên được thực hiện trong toàn trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội
nhưng điều tra về hoạt động học tập thì chỉ được thực hiện ở học sinh sinh
viên các khóa từ năm học 2007 - 2008, 2008 - 2009 của khoa Nhiệt Lạnh, ở
những địa bàn nhất định (lớp học, phòng thí nghiệm, xưởng thực tập), tùy theo
nội dung giảng dạy (dạy lý thuyết, hướng dẫn thực hành, thực tập tay nghề).
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của học
sinh, sinh viên trường Cao dẳng
Chương 2: Thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động học tập
của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
Chương 3: Những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học
sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
Kết luận và kiến nghị.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
1.1.1. Trong nước.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ
Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài và kính yêu của dân tộc Việt Nam đã rất quan
tâm đến việc học tập, rèn luyện và tự học. Bác đã động viên toàn dân: “Phải
tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng,
phải cố gắng hoàn thành cho được do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế
hoạch học tập”. [39] Người còn chỉ rõ: “Về việc học phải lấy tự học làm
cốt”.[40]
Như vậy vấn đề học tập của học sinh đã được Bác Hồ quan tâm rất
sớm và sau đó được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu từ lâu trong lịch sử giáo
dục và vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại
và tương lai.
Quá trình học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin để tự biến đổi
mình, làm phong phó tri thức cho bản thân. Trong điều kiện ngày nay, thông
tin là tài nguyên của sự học, trí tuệ con người trở thành tài nguyên quý giá
nhất của một quốc gia dân tộc. Mặt bằng dân trí cao, cùng với những đỉnh
cao của trí tuệ là điều kiện tiên quyết để một quốc gia dân tộc thắng lợi trong
cuộc cạnh tranh khốc liệt mang tính toàn cầu hiện nay. Dù ở bất kỳ xã hội
nào, học tập cũng luôn là hoạt động cơ bản của con người như Lênin đã dạy
“Học! Học nữa! Học mãi!”. Vì vậy, nâng cao chất lượng học tập của học
sinh là mục đích là nhiệm vụ chủ yếu của các nhà trường hiện nay. Quản lý
hoạt động dạy và học như thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề
đang được các nhà giáo dục và quản lý giáo dục quan tâm.
6
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến chuyên gia
đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động học tập của người học ở nhiều khía
cạnh khác nhau. Sau đây là một vài ví dụ:
Đối với giáo dục phổ thông, với quan điểm lấy người học làm trung
tâm, tác giả Nguyễn Kỳ trong tài liệu của mình đã đưa ra:’’ Mô hình dạy học
tích cực’’, ông cho rằng chỉ có bằng cách này mới có thể thóc đẩy học sinh
tự giác học tập [34]. Để nâng cao chất lượng dạy và học nghề phổ thông,
luận án tiến sĩ của Phạm Văn Sơn đã cho rằng, không chỉ đổi mới cách dạy
mà còn phải đổi mới cách tổ chức buổi học thực hành nghề phổ thông theo
quy trình 7 bước nhằm tăng cường tính tự học của học sinh [45].
Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, Nguyễn Cảnh Toàn đã đi sâu vào
nghiên cứu năng lực tự học của sinh viên trong nhiều năm, ông khẳng định
chỉ có phát triển năng lực tự học của sinh viên thì mới giúp họ khám phá ra
cái mới trong khoa học và trong sản xuất.
Đối với lĩnh vực dạy nghề, Đặng Danh Ánh trong các công trình
nghiên cứu của mình cho rằng,hoạt động học tập của học sinh học nghề luôn
luôn gắn kết với quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động này có tính chất
học tập – sản xuất.
Để hoạt động học tập – sản xuất đạt hiệu quả cao cần phải áp dụng
phương pháp dạy học mới – dạy học nêu vấn đề vì qua thực nghiệm tác giả
nhận thấy phương pháp học tập truyền thống tạo ra lớp học sinh thực hiện
máy móc các động tác sản xuất nên năng xuất lao động thấp, còn dạy học
nêu vấn đề sẽ tạo ra thế hệ học sinh có tư duy kỹ thuật sáng tạo, năng lực tự
giải quyết tốt các tình huống khó khăn trong sản xuất, vì thế năng xuất lao
động cao [1],[2].
Còng trong lĩnh vực dạy nghề, nếu Nguyễn Viết Sự xây dựng các
tình huống có vấn đề cho môn hóa kỹ thuật thì Nguyễn Lộc xây dựng các bài
toán nêu vấn đề và các bài giảng nêu vấn đề cho môn cơ kỹ thuật, còn tình
7
huống có vấn đề trong môn điện kỹ thuật, rađiô kỹ thuật do Đặng Danh Ánh
đảm nhận. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Hồ lại bàn về công tác
quản lý trường nghề – một vấn đề rộng hơn nhiều so với hoạt động học tập
của học sinh [26].
Tóm lại có nhiều yếu tố nâng cao hoạt động học tập của học sinh, sinh
viên, nhưng việc đổi mới cách dạy và cách học có vai trò rất quan trọng.
Từ nhiều góc độ, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và phân tích hoạt
động học tập để từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
hoạt động học tập.
Như vậy vấn đề học tập trong quá trình dạy học đã được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, các tác giả đã chỉ ra vai
trò, tầm quan trọng của hoạt động học tập, các kỹ năng tự học và một số biện
pháp tổ chức hoạt động học tập cho học sinh. Tuy nhiên về vấn đề học tập
của các trường cao đẳng, đại học và dạy nghề Ýt được các tác giả quan tâm.
Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về học tập, biện pháp quản lý
hoạt động học tập của học sinh, sinh viên là rất thiết thực. Đặc biệt trường
Cao đẳng Điện tử điện lạnh Hà Nội với nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo nguồn
nhân lực cho ngành điện tử điện lạnh góp phần vào sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước thì chưa có công trình nghiên cứu nào. Chính vì vậy, chúng tôi
chọn đề tài:” Biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
trường Cao đẳng Điện tử điện lạnh Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện
nay” nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà
trường.
1.1.2. Ngoài nước.
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, học tập là vấn đề đã được quan
tâm nghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn nhằm phát huy vai trò tích
cực học tập của người học. Song ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử vấn
đề học tập được đề cập tới dưới nhiều hình thức khác nhau.
8
Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò
quan trọng của sự học. Khổng Tử (551 - 479 Tr CN) – Nhà giáo dục kiệt
xuất thời Trung Hoa cổ đại, trong cuộc đời dạy học của mình luôn quan tâm
và coi trọng mặt tích cùc suy nghĩ của người học. Ông từng dạy học trò:
“Không khao khát vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không cảm
thấy xấu hổ vì không rõ thì không bày vẽ cho, vật có bốn góc bảo cho biết
một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa”. Trong việc
học, ông đòi hỏi học trò phải nghiên cứu, tìm tòi, phải biết kết hợp học với
nghĩ, biết phát huy năng lực sáng tạo của bản thân trong quá trình học tập.
Nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc J.A. Comenxky (1592 - 1670) - Ông tổ của
nền giáo dục cận đại, đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không
thể trở thành tài năng, cần phải làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập
trong học sinh[13,9].
Đến thế kỷ XVIII - XIX, các nhà giáo dục nổi tiếng của thế giới như:
J.J Rutxô (1712 - 1778), J.H Petstalogi (1746 - 1872), A.L Dixtecvec (1790 -
1886), K.Đ Uxinsky (1824 - 1890) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình
đã khẳng định: Tự học tập giành lấy tri thức bằng con đường khám phá, tự
tìm tòi, tù suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức. [19]
Trong những năm gần đây, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách
mạng tìm phương pháp giáo dục mới trên cơ sở tiếp cận “lấy người học làm
trung tâm” để làm sao phát huy hết năng lực nội sinh của người học. Đại
diện cho tư tưởng này là J.Deway, ông cho rằng: “học sinh là mặt trời, xung
quanh nã quy tụ mọi phương tiện giáo dục”[36]
1.2 Một sè khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý và chức năng quản lý.
1.2.1.1. Quản lý.
9
Khoa học quản lý đã có một quá trình ra đời và phát triển, đến nay
khoa học quản lý đã trở thành một ngành khoa học độc lập, có vai trò tác
dụng to lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người.
Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống
nhất. Nó được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách
tiếp cận khác nhau.
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói
chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.[43,24]
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức
quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã
hội, kinh tế…vv bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc,
các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện
cho sự phát triển của đối tượng”.[18,7]
- Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt
động quản lý là hoạt động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12,1].
- Theo Harold Koontz: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích
của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi
trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với
thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân Ýt nhất. Với tư cách thực
hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là
một khoa học”.[24,33]
- Theo F.F.Aunapu: “Quản lý là mét khoa học và nghệ thuật tác
động vào một hệ thống nhằm mục tiêu biến đổi hệ thống đó.”[3,16].
10
- Theo P.Baranger: “Quản lý là sù cai trị một tổ chức bằng cách đặt
ra những mục tiêu và hoàn chỉnh mục tiêu cần phải đạt, là lựa chọn sử dụng
các phương tiện nhằm đạt được mục tiêu đã định.” [23].
- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức
tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy
tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống
nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa cơ cấu sớm đạt mục tiêu
”[14,21].
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như:
W. Taylor (1856 - 1951) người Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ
ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt
nhất và rẻ nhất”.
A. Fayol (1841 - 1925) người Pháp: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới
đích, cố gắng sử dụng tốt khái niệm nêu trên, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố
của quản lý: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản
lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ
sau:
Sơ đồ 1.1 - Sơ đồ khái niệm quản lý [32,38]
11
Chủ thể
quản lý
Đối
tượng
quản lý
Khách
thể quản

Mục tiêu quản

Phương
pháp QL
Phương
pháp QL
Từ nhòng khái niệm quản lý nêu trên chúng ta có thể hiểu: Quản lý là
quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý nhằm đưa tổ chức vận hành và đạt mục tiêu đề ra.
1.2.1.2. Các chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của
chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá của hoạt động
quản lý. Nó tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt
được mục tiêu quản lý đề ra.
Có nhiều cách phân chia chức năng quản lý, song về cơ bản đều thống
nhất có bốn chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
* Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất giúp cho nhà quản
lý tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý và khoa học. Trên cơ sở phân tích trạng
thái xuất phát, căn cứ vào những tiềm năng đã có, những khả năng sẽ có
trong tương lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động,
các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của tổ chức. Lập kế
hoạch bao gồm ba nội dung chủ yếu sau:
- Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển.
- ChÈn đoán, đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức.
- Xác định những mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để
thực hiện mục tiêu đề ra.
* Chức năng tổ chức
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các
nguồn lực để hiện thực hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách
khoa học những con người, những công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp
các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn
hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần. Công tác
tổ chức gồm ba nhiệm vụ chính dưới đây:
12
- Xác định cấu trúc của bộ máy.
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy.
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
* Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng qua lại của chủ thể quản lý
đến hành vi và thái độ của những thành viên trong tổ chức nhằm đạt được
những mục tiêu đã đề ra. Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
- Chỉ huy, ra lệnh.
- Động viên, khen thưởng.
- Theo dõi, giám sát.
- Uốn nắn và điều chỉnh.
* Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý nhằm
đánh giá trạng thái của hệ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế
hoạch đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót, lệch lạc
tìm ra nguyên nhân của những sai sót, những vấn đề mới nảy sinh trong thực
tiễn, điều chỉnh và tạo thông tin cho quá trình quản lý tiếp theo.
Bốn chức năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành
một chu trình quản lý. Chu trình quản lý gồm 4 giai đoạn với sự tham gia của
2 yếu tố quan trọng: Thông tin và quyết định trong đó thông tin có vai trò là
huyết mạch của hoạt động quản lý. Chức năng kiểm tra đánh giá là giai đoạn
cuối cùng của hoạt động quản lý đồng thời là tiền đề của một quá trình quản
lý tiếp theo. Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ dưới đây:
Lập kế hoạch

Kiểm tra Thông tin Tổ chức

13

Chỉ đạo

1.2.2. Quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước - xã hội,
trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục cho thế hệ đang lớn
lên. Nó có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện
mục đích, mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ.
Nhà trường là tế bào chủ chốt của bất cứ hệ thống quản lý giáo dục
nào từ trung ương đến địa phương.Vì vậy, nhà trường (nói chung) là khách
thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý. Bởi lẽ, quản lý trong hệ thống giáo dục
ở tất cả các cấp đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa, để đạt mục đích,
mục tiêu, chất lượng, hiệu quả của nhà trường.
Quản lý nhà trường được hiểu theo hai mặt:
- Thứ nhất là, hoạt động quản lý của những chủ thể quản lý cấp trên
và bên ngoài nhà trường đối với nhà trường nhằm hướng dẫn và tạo điều
kiện cho mọi hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường. Bao
gồm các chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhằm
định hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc
thực hiện phương hướng phát triển đó.
- Thứ hai là, hoạt động quản lý của chủ thể quản lý ở ngay trong nhà
trường đối với các hoạt động của nhà trường như: Quản lý giáo viên, quản lý
học sinh, quản lý quá trình dạy học của giáo viên, quản lý hoạt động học tập
của học sinh, sinh viên, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, quản lý
tài chính, v.v.
Theo Giáo sư – viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức
là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu
14
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng
học sinh”. [22,61]
“Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống tác động sư phạm
hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giảng viên, học sinh
và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động và phối
hợp sức lực trí tuệ của họ vào mọi hoạt động của nhà trường hướng vào việc
hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến ”. [44,27]
Để hoạt động quản lý nhà trường đạt được mục tiêu và mang lại hiệu
quả cao, nhân tè quan trọng hàng đầu chính là đội ngũ cán bộ quản lý nhà
trường. Quá trình quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động
sư phạm của thầy giáo, quản lý hoạt động học tập – tự học của học sinh và
quản lý CSVC - thiết bị phục vụ dạy và học. Trong đó người cán bộ quản lý
phải trực tiếp và ưu tiên dành nhiều thời gian để quản lý hoạt động của lực
lượng trực tiếp đào tạo. Mọi hoạt động quản lý khác đều nhằm mục đích
nâng cao chất lượng dạy và học.
1.2.3. Hoạt động học tập và quản lý hoạt động học tập
1.2.3.1. Hoạt động học tập
Học tập là hoạt động cơ bản của con người nhằm hướng vào việc
nghiên cứu và tìm hiểu các quy luật của thế giới và lĩnh hội kinh nghiệm xã
hội - lịch sử. Bản chất của quá trình học tập là quá trình nhận thức độc đáo
của người học.[54,61]
Như vậy, học tập là một quá trình đưa đến những thành tựu và những
kết quả cho người học.
Học tập là một quá trình hướng đích, có giá trị. Giá trị của học tập là
làm cho kinh nghiệm của bản thân người học thay đổi một cách bền vững,
nhờ đó mà có được những thay đổi trong nhận thức về hiện thực, có được
những thay đổi trong phương thức hành vi và định hình những thái độ xác
định trong quan hệ với thế giới xung quanh. Những thay đổi này giúp người
15
học phát triển bản chất người vốn có của mình để thích ứng và hội nhập với
cộng đồng, với dân tộc, với nhân loại. Trong và bằng quá trình đó, người học
tự khẳng định chính mình.
Như vậy, mục đích học tập của nhân loại, của dân tộc, của cộng đồng
và của mỗi cá nhân là để biết, để làm, để chung sống và để tự khẳng định.
Hoạt động học tập có nhiều hình thức và hình thức chính thống là học
tập theo phương thức nhà trường dưới sự chỉ đạo của giáo viên. Dù dưới
hình thức nào người học cũng luôn là chủ thể của hoạt động học tập.
Người học là chủ thể của hoạt động học tập, là chủ thể có ý thức chủ
động, tích cực sáng tạo trong nhận thức và rèn luyện nhân cách. Người học
cũng là đối tượng giảng dạy và giáo dục của thầy giáo. Người học quyết định
chất lượng học tập của mình.
Khẳng định vai trò tích cực chủ động của người học không có nghĩa là
bỏ qua vai trò hết sức quan trọng của người dạy và các lực lượng giáo dục
khác trong đó phải đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người thầy thể hiện ở
chức năng định hướng, diều khiển, điều chỉnh người học trong quá trình tiếp
thu tri thức.
Quá trình học tập của người học có thể diễn ra dưới sự tác động trực
tiếp của người giáo viên như diễn ra trong tiết học, giờ hướng dẫn thực hành,
hoặc dưới sự tác động gián tiếp của giáo viên như việc tự học ở nhà của học
sinh, sinh viên. Khi có sự chỉ đạo của giáo viên hoạt động tự giác, tích cực,
chủ động nhận thức học tập của học sinh, sinh viên thể hiện ở các mặt:
- Tiếp nhận những nhiệm vụ, kế hoạch học tập do giáo viên đề ra;
- Tiến hành thực hiện những hành động, thao tác nhận thức - học tập
nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập được đề ra;
- Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình dưới tác động
kiểm tra, đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của bản thân;
16
- Phân tích những kết quả hoạt động nhận thức - học tập dưới tác
động của giáo viên, từ đó cải tiến hoạt động học tập.
Trường hợp quá trình hoạt động học tập thiếu sự chỉ đạo trực tiếp của
giáo viên hoạt động tự giác, tích cực, chủ động nhận thức học tập của học
sinh, sinh viên được thể hiện như sau:
- Tự lập kế hoạch, cụ thể hoá các nhiệm vụ học tập của mình;
- Tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh tiến trình hoạt động học
tập của mình;
- Tự phân tích các kết quả hoạt động nhận thức - học tập mà cải tiến
hoạt động học tập của mình.
17
1.2.3.2. Quản lý hoạt động học tập của sinh viên.
Quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên là một trong những
nội dung chủ yếu của quản lý nhà trường. Thực chất quản lý học tập của học
sinh, sinh viên là hệ thống những tác động có ý thức của chủ thể quản lý
trong nhà trường đến quá trình nhận thức của học sinh, sinh viên.
Theo PGS - TS Phạm Viết Vượng: “Quản lý hoạt động học tập là
quản lý học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập, là hệ thống những tác động
có mục đích có kế hoạch giúp học sinh học tập tốt nhất, rèn luyện tu dưỡng
tốt nhất. Quản lý hoạt động học tập của học sinh bao hàm cả quản lý thời
gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần, thái độ và phương pháp học
tập”.[54,206]
Mục đích của việc quản lý hoạt động học tập là làm cho quá trình thực
hiện các nhiệm vụ học tập của học sinh, sinh viên đạt tới kết quả mong
muốn. Trước hết, chủ thể quản lý phải theo dõi để nắm bắt được những biểu
hiện tích cực và tiêu cực trong nhận thức của học sinh, sinh viên về tầm quan
trọng của việc học tập, về thái độ, động cơ, ý thức học tập… của học sinh,
sinh viên nói chung và của từng học sinh, sinh viên nói riêng để có biện pháp
thúc đẩy, khuyến khích học sinh, sinh viên phát huy các yếu tố tích cực, hạn
chế các yếu tố tiêu cực phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập và rèn luyện
ngày càng cao.
Mặc dù cùng được tuyển chọn vào học ở trường theo một tiêu chuẩn
chung, nhưng các học sinh, sinh viên cùng lớp, cùng khoá cũng có những
khác biệt về khía cạnh này hay khía cạnh khác trong nhân cách. Những khác
biệt đó làm cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng
như kết quả học tập, rèn luyện đạt được của các học sinh, sinh viên khác
nhau. Bên cạnh đó chính bản thân học sinh, sinh viên có những biến đổi do
tác động của giáo dục - đào tạo, môi trường học tập, xã hội làm cho sự cải
18
biến nhân cách của họ trở lên đa dạng, phức tạp. Do đó, quản lý hoạt động
học tập của học sinh, sinh viên là nhằm:
- Theo dõi, tìm hiểu để nắm được được những biểu hiện tích cực và
tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng như những
biến đổi nhân cách của học sinh, sinh viên nói chung và của từng học sinh,
sinh viên nói riêng.
- Theo dõi, thóc đẩy, khuyến khích học sinh, sinh viên phát huy các
yếu tố tích cực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả
học tập, rèn luyện ngày càng cao.
1.3. Quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trường cao đẳng
kỹ thuật.
1.3.1. Mục tiêu, nội dung, phương pháp và thời gian đào tạo của trường
cao đẳng kỹ thuật theo luật giáo dục 2005.
1.3.1.1. Mục tiêu đào tạo.
- Mục tiêu đào tạo là những yêu cầu về cải biến nhân cách của học
sinh sinh viên mà quá trình đào tạo phải đạt được. Mục tiêu đào tạo chính là
mục đích của quá trình đào tạo, mục đích này sẽ quy định những tiêu chuẩn
mà người học cần đạt được trong quá trình đào tạo, đó là những quy định về
tư tưởng chính trị, đạo đức tác phong về nội dung và phương pháp đào tạo,
đồng thời là căn cứ để kiểm tra, đánh giá chất lượng của quá trình đào tạo.
Mức độ đạt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo, nói lên chất lượng đào
tạo cao hay thấp và do đó khi nói đến chất lượng đào tạo học sinh, chóng ta
cần hiểu là chất lượng đó được so với các yêu cầu của mục tiêu đào tạo
nào.Nếu mục tiêu đào tạo phản ánh đúng các yêu cầu của xã hội thì học sinh,
sinh viên được đào tạo có chất lượng, sau khi ra trường sẽ có khả năng phục
vụ với hiệu xuất và chất lượng cao. Ngược lại thì mặc dù người học sinh
được đào tạo có chất lượng khả năng phục vụ xã hội của họ vẫn bị hạn chế.
[26]
19
Các trường cao đẳng kỹ thuật là sự kế tục và phát triển sự nghiệp giáo
dục phổ thông, để vừa hình thành và hòan thiện những nét tính cách chung
của con người, ở từng học sinh, sinh viên, vừa đào tạo các em thành những
người lao động chuyên nghiệp có trình độ tay nghề nhất định để phục vụ xã
hội.Với sự phát triển của sản xuất và của khoa học kỹ thuật, dần đần sẽ phải
thực hiện đào tạo nghề nghiệp cho tất cả mọi người lao động, làm việc ở bất
cứ nơi nào, và ở bất cứ lĩnh vực nào thì tác dụng này ngày càng có nghĩa to
lớn.
Các trường cao đẳng kỹ thuật là nơi đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật
để bổ sung cho giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo xã hội.Tác dụng này
tuy là hiển nhiên nhưng không phải mọi người đã nhận thức được đầy đủ ý
nghĩa sâu xa và tầm quan trọng của nó.
Tóm lại công tác giáo dục nghề nghiệp trong trường cao đẳng kỹ
thuật là bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng và văn hóa, khoa học và
kỹ thuật, là bộ phận hữu cơ của hệ thống giáo dục quốc dân, là nguồn bổ
sung lực lượng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp
công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.[26]
1.3.1.2. Nội dung đào tạo.
Nội dung đào tạo là nội dung của sự chuyển biến nhân cách trên các
mặt chính trị - đạo đức, văn hóa - kỹ thuật nghề nghiệp và sức khỏe, là nội
dung của sự chuyển biến về phẩm chất và năng lực nhằm thực hiện các yêu
cầu của mục tiêu đào tạo [26]. Do đó việc xác định nội dung đào tạo một
mặt phải tuân theo các nguyên tắc sư phạm mặt khác phải luôn bám sát các
yêu cầu của mục tiêu đào tạo.Tuy vậy mục tiêu đào tạo không quy định một
cách đơn trị hệ thống các nội dung đào tạo, có nghĩa là có thể có nhiều hệ
thống nội dung đào tạo khác nhau, nhằm thực hiện cùng một mục tiêu đào
tạo, trong đó mỗi hệ thống có những ưu và nhược điểm nhất định. Cần lựa
20
chọn được những hệ thống nội dung nào có nhiều ưu điểm hơn, tức là hệ
thống nội dung tối ưu.
Trong thực tế hệ thống các nội dung đào tạo được thể hiện trong các
chương trình môn học, ngành học do các cơ quan quản lý đào tạo xây dựng
và giao cho các trường thực hiện.[26]
1.3.1.3. Phương pháp đào tạo của trường cao đẳng kỹ thuật.
Phương pháp đào tạo là cách thức mà các trường cao đẳng kỹ thuật và
các giáo viên tác động lên nhân cách của học sinh, sinh viên để làm chuyển
biến theo những nội dung và mục đích nhất định, nhằm thực hiện được các
yêu cầu của mục tiêu đào tạo với chất lượng cao.
Phương pháp đào tạo trong các trường cao đẳng kỹ thuật bao gồm cá
phương pháp giảng dạy, các môn học lý thuyết, phương pháp hướng dẫn học
sinh rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và phương pháp giáo dục học sinh, sinh
viên về phẩm chất đạo đức.Khi nói về hoạt động của giáo viên để thực hiện
từng loại nội dung đào tạo (lý thuyết, thực hành) người ta không dùng thuật
ngữ phương pháp đào tạo mà nói là phương pháp giảng dạy, hướng dẫn, giáo
dục Khi nói đến những phương pháp chung để tác động lên nhân cách hay
một bộ phận lớn của nhân cách thì người ta thường nói đến phương pháp đào
tạo. Chẳng hạn kết hợp thực tập với sản xuất ra của cải vật chất là phương
pháp đào tạo quan trọng trong các trường, vì với phương pháp này các
trường có thể tác động và gây ra sự chuyển biến trên nhiều mặt nhân cách
của học sinh. [26]
1.3.1.4. Thời gian đào tạo của trường cao đẳng kỹ thuật.
Thời gian đào tạo của trường trường cao đẳng kỹ thuật theo điều 38
Luật Giáo dục 2005 quy định "Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ 2
dến 3 năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp
THPT hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp từ một năm rưỡi đến hai năm đối với
người có bằng trung cấp cùng chuyên ngành".
21
Theo quy định trên thì các em học sinh đã tốt nghiệp THPT thì sẽ
được học hệ 3 năm.Với các em tốt nghiệp hệ trung cấp chuyên nghiệp thì sẽ
được liên thông với thời gian học là 1năm rưỡi.
Các trường cao đẳng kỹ thuật có thể đào tạo các hệ trung cấp chuyên
nghiệp và trung học nghề với thời hạn 2 năm cho các em đã tốt nghiệp trung
học phổ thông.[38]
1.3.2. Đặc điểm chung của các trường cao đẳng kỹ thuật.
1.3.2.1. Kết quả lao động tập thể của cán bộ giảng viên, giáo viên, công nhân
viên trong nhà trường cao đẳng kỹ thuật là một loại sản phẩm đặc biệt.
Đó là nhân cách của học sinh, sinh viên được đào tạo theo các tiêu
chuẩn quy định trong mục tiêu đào tạo của từng ngành học [26]
Khác với mọi sản phẩm vật chất và tinh thần khác, nhân cách ở từng
người học sinh, sinh viên do quá trình đào tạo ở trường cao đẳng kỹ thuật tạo
ra, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đồng thời tác động một cách phức tạp như:
nhân cách vốn có của từng học sinh, sinh viên lúc vào trường, sự tác động của
các điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần cá nhân, tác động của tập thể, của
gia đình và xã hội, tác động giáo dục đào tạo của nhà trường.Tình hình này
làm cho kết quả đào tạo không đồng đều ở mọi học sinh, sinh viên và việc
đánh giá kết quả hoạt động đào tạo của nhà trường cũng có nhiều khó khăn.
Đặc điểm này là đặc điểm chung cho tất cả các trường cao đẳng kỹ
thuật [26]
1.3.2.2. Nội dung đào tạo trong các trường cao đẳng kỹ thuật phải toàn diện
và đầy đủ.
Yêu cầu này đặt ra cho các trường cao đẳng kỹ thuật nhiệm vụ phải tổ
chức một cách khoa học quá trình giảng dạy - giáo dục đầy đủ các mặt: chính
trị và đạo đức, văn hóa và kỹ thuật, rèn luyện tay nghề, bồi dưỡng sức
khỏe.Trong đó việc rèn luyện tay nghề là yêu cầu chính.Để tổ chức rèn luyện
22
tay nghề cho học sinh, sinh viên nhà trường phải có cơ sở thực hành cần thiết
như (trạm, xưởng thực tập, phòng thí nghiệm, phòng thực hành nghiệp vụ )
phải có tổ chức và phương pháp giảng dạy phù hợp với từng ngành nghề.Về
giảng dạy lý thuyết nhà trường cần coi trọng vì nó tạo cơ sở cho việc đào tạo
thực hành, đồng thời góp phần tạo ra năng lực sáng tạo ở học sinh, sinh viên.
[26]
1.1.2.3. Hoạt động đào tạo trong các trường cao đẳng kỹ thuật phải quán
triệt đầy đủ nguyên lý giáo dục của Đảng.
Đó là các nguyên lý kết hợp thực tập với sản xuất và thực tập sản xuất
trong các cơ sở sản xuất ở trong và ngoài trường.Hoạt động sản xuất ở trong
trường phải nhằm phục vô cho nhiệm vụ đào tạo là chính, nhưng không phải
vì thế mà có thể tiến hành một cách tùy tiện, trái lại phải tuân theo những
quy luật nhất định, quy luật của sản xuất, trong đó quy luật giáo dục giữ vai
trò chủ đạo.
1.3.3. Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trong trường cao đẳng kỹ
thuật.
Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trong trường CĐ có đầy đủ
những đặc điểm và bản chất của quá trình học tập nói chung là:
- Đối tượng của hoạt động học tập là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng. Người học phải chiếm lĩnh được hệ thống kiến thức trong chương
trình học tập để sử dụng chúng trong thực tiễn cuộc sống.
- Mục đích của hoạt động học tập hướng vào làm thay đổi chính chủ thể
của hoạt động.
Song bên cạnh đó nó cũng có những đặc điểm riêng, đó là:
- Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trong trường CĐ kỹ thuật
luôn luôn gắn kết với sản xuất kinh doanh và khoa học công nghệ [2] đồng
thời nó diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, phụ thuộc vào nội dung, chương
trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn nhất định.
23
- Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trong trường CĐ kỹ thuật đặc
biệt hệ dạy nghề không chỉ ở trên lớp, ở ký túc xá ( ở nhà) mà chủ yếu là ở
xưởng trường vì phần lớn tỉ lệ thực hành rèn luyện tay nghề ở nhiều nghề
chiếm khoảng từ 50% đến 70% tổng thời gian đào tạo.
- Phương pháp học tập của học sinh, sinh viên trong trường CĐ là
phương pháp nhận thức rất gần gũi với phương pháp nhận thức chung của
loài người, đồng thời còn là phương pháp rèn luyện để hình thành hệ thống
kỹ năng thực hành và phát triển tư duy kỹ thuật, năng lực sáng tạo kỹ thuật.
- Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trong trường CĐ mang tính
độc lập, trí tuệ, trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động tập thể, hoạt động
thực tiễn, hoạt động tự rèn luyện của học sinh, sinh viên trong đó yếu tố
quyết định kết quả học tập của học sinh, sinh viên chính là động cơ học tập.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập của học sinh, sinh viên các
trường cao đẳng.
* Mục đích, động cơ học tập
Hoạt động của con người bao giê cũng có tính mục đích. Mét trong
những mục đích hoạt động của con người là làm biến đổi chính bản thân
mình. Vì vậy, mục đích sẽ hướng về nội dung, yêu cầu và phương thức hoạt
động giúp con người đạt tới điều mình mong muốn. Nói cách khác mục đích
là mô hình đặt ra trước trong ý thức con người, nã hướng dẫn hành động và
điều chỉnh hành động.
Mục đích được thúc đẩy bởi những động cơ nhất định. Hoạt động học tập
cũng vậy, động cơ học tập là nguồn gốc tạo ra trạng thái tích cực trong học
tập. Động cơ học tập rất phong phú và đa dạng. Nó không thể được hình
thành bằng cách áp đặt mà được hình thành trong quá trình học tập và giải
quyết các nhiệm vụ học tập, đồng thời nó còn được hình thành trong quá
trình giáo dục, tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh, sinh viên.
Nếu trong quá trình dạy học, thầy tổ chức cho học sinh, sinh viên tự phát
24
hiện ra những điều mới lạ, tự giải quyết những nhiệm vụ học tập tạo ra
những Ên tượng tốt đẹp đối với việc học thì dần dần làm nảy sinh nhu cầu
học tập ở các em. Khi học tập trở thành nhu cầu không thể thiếu được của
học sinh, sinh viên thì nó sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần thúc đẩy học sinh,
sinh viên khắc phục khó khăn để giành lấy tri thức. Để hình thành động cơ
học tập cho học sinh, sinh viên trước hết cần khơi dậy mạnh mẽ ở các em
nhu cầu nhận thức. Cần phải làm cho học sinh, sinh viên hiểu rõ tại sao phải
học tập, học để làm gì. Chỉ khi nào học sinh, sinh viên thấy việc học sẽ mang
lại lợi Ých thiết thực cho bản thân thì mới có thể hy vọng sự tự giác, tích cực
học tập của các em và điều đó là yếu tố cơ bản góp phần nâng cao kết quả
học tập. Động cơ học tập gồm có động cơ bên trong và động cơ bên ngoài:
+ Động cơ bên trong là động cơ xuất phát từ chính việc học tập, từ nội
dung, phương pháp học, từ nhu cầu, hứng thú học tập. Động cơ bên trong
thống nhất với mục đích học tập. Vì vậy, động cơ bên trong sẽ giúp người
học vượt qua những trở ngại không những cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ
học tập mà còn tạo ra mọi điều kiện để tự học, tự rèn nghề. Chính động cơ
bên trong sẽ giúp người học có niềm vui trong học tập, tạo cho họ có được
niềm tin vào chính khả năng vốn có của bản thân mình.
+ Động cơ bên ngoài là những yếu tố kích thích hoạt động vươn tới mục
đích. Chúng ta biết rằng, để có được sù say mê, ham hiểu biết thì ngoài nội
dung, phương pháp học cũng cần có những yếu tố kích thích từ bên ngoài.
Những nôi quy, quy chế học tập, những tiêu chuẩn xếp loại học sinh để được
khen thưởng, được học bổng khuyến khích học tập sẽ là những nhân tố kích
thích sự cố gắng, nỗ lực của người học.
Song, muốn cho động cơ bên ngoài trở thành yếu tố kích thích người học,
nhà giáo dục phải nắm được đối tượng của mình để có biện pháp thích hợp
nhằm khuyến khích động viên hứng thú học tập của họ.
* Các điều kiện, phương tiện vật chất phục vụ học tập
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×