Tải bản đầy đủ

Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………..9
BÀI LÀM
I) ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong Bộ luật tố tụng dân sự, chế định phúc thẩm dân sự được quy định tại Phần thứ
ba gồm 3 chương (từ Chương XV đến Chương XVII), 39 điều luật (từ Điều 242 đến
Điều 281). Trong đó thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm được quy định từ điều 267
đến điều 274. Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự là một thủ tục rất quan
trọng trong quá trình làm sáng tỏ vụ việc, bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Trong
bài viết này em sẽ đi tìm hiểu: “Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự và đưa
ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm
dân sự”.
II) GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm và ý nghĩa phúc thẩm dân sự
1.1. Khái niệm
1
Phúc thẩm dân sự là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết
định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
Về bản chất, phúc thẩm không phải là lần xét xử đầu tiên đối với một vụ án mà là lần
xét xử thứ hai. Thủ tục phúc thẩm được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm. Đây cũng là nội
dung của nguyên tắc xét xử hai cấp mà hệ thống tòa án của Việt Nam cũng như nhiều

nước trên thế giới áp dụng. Điều này nhằm đảm bảo tính thận trọng cho các phán quyết
nhân danh Nhà nước.
1.2. Ý nghĩa phúc thẩm dân sự
Qua phúc thẩm có thể khắc phục được những sai lầm trong những bản án, quyết định
chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án, đảm bảo cho quyền lợi ích của cá nhân, góp
phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tòa án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới, có thể chỉ đạo
một cách thống nhất, kịp thời việc áp dụng pháp luật trong các hoạt động xét xử tại các
tòa án ở địa phương.
2. Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự
Về căn bản, thủ tục phiên tòa phúc thẩm được tiến hành giống như thủ tục phiên tòa
sơ thẩm.
2.1. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Thư ký tòa án là người thực hiện các công việc trong bước chuẩn bị khai mạc phiên
tòa. Đây là thủ tục bắt buộc đảm bảo cho phiên tòa diễn ra có sự tham dự đầy đủ của
những người tham gia tố tụng, kiểm tra lại xem có trường hợp nào phải hoãn phiên
toàn không, đồng thời còn nhằm xác lập trật tự của phiên tòa trước khi khai mạc.
Theo điều 212 BLTTDS, khi chuẩn bị khai mạc phiên tòa Thư ký cần tiến hành các
công việc sau:
+ Phổ biến nội quy phiên toà cho mọi người biết. Nội quy phiên tòa quy định về trật tự
của phiên tòa, cho phép người tham dự theo nguyên tắc công khai hay xử kín, người
được tham dự phiên tòa phải trên 16 tuổi, quy tắc hỏi đáp, ứng xử của mọi người như
việc đứng dậy khi HĐXX vào phòng xử án, đứng dậy khi trả lời, cách xưng hô…
+ Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên toà theo
giấy triệu tập, giấy báo của Toà án; nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do;
+ Ổn định trật tự trong phòng xử án;
+ Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử
án.
2
2.2. Thủ tục bắt đầu phiên tòa
- Khai mạc phiên tòa
Đây là thủ tục tố tụng bắt buộc phải thực hiện trước khi HĐXX tiến hành xét xử. Theo
quy định tại điều 213 BLTTDS và hướng dẫn tại Phần III.5 của Nghị quyết
02/2006/NQ-HĐTP, việc khai mạc phiên tòa bao gồm những bước sau:
+ Chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chủ tọa
phiên tòa phải tuyên bố Tòa án xét lại vụ án nào, theo kháng cáo, kháng nghị của ai đối
với bản án của Tòa án nào.
+ Thư ký Toà án báo cáo với Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người
tham gia phiên toà theo giấy triệu tập, giấy báo của Toà án và lý do vắng mặt.
+ Chủ toạ phiên toà kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên toà theo
giấy triệu tập, giấy báo của Toà án và kiểm tra căn cước của đương sự.
+ Chủ toạ phiên toà phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của những người
tham gia tố tụng khác.
+ Chủ toạ phiên toà giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch.
+ Chủ toạ phiên toà hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành
tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không. Thủ
tục này nhằm đảm bảo cho những người tham gia tố tụng và Kiểm sát viên thực hiện
quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.
-Sau thủ tục khai mạc phiên tòa, trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến
hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem xét,
quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do.
- Xem xét, quyết định hoãn phiên toà khi có người vắng mặt. Khi có người tham gia tố
tụng vắng mặt tại phiên toà mà không thuộc trường hợp Toà án phải hoãn phiên toà thì
chủ toạ phiên toà phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên toà hay không; nếu có người
đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định
và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu
rõ lý do.
2.3. Thủ tục hỏi tại phiên tòa
3
Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, một thành viên của Hội đồng
xét xử phúc thẩm công bố nội dung của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội
dung kháng cáo, kháng nghị.
Tiếp theo chủ tọa phiên tòa tiến hành hỏi các đương sự về các vấn đề sau:
+ Hỏi nguyên đơn có rút đơn kiện hay không? (Điểm a khoản 2 Điều 268 BLTTDS).
Nếu nguyên đơn rút đơn kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý
hay không? Nếu bị đơn không đồng ý thì Hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút
đơn khởi kiện của nguyên đơn và phiên tòa phúc thẩm vẫn được tiến hành bình thường.
nếu bị đơn đồng ý thì hội đồng xét xử chấp thuận việc rút đơn khởi kiện của nguyên
đơn và ra quyết định hủy bỏ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường
hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ
thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Trong trường
hợp hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì nguyên đơn có quyền
khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
+ Hỏi người kháng cáo, kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị
hay không? (Điểm b khoản 2 Điều 268 BLTTDS) Nếu có việc thay đổi, bổ sung, rút
kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét xử giải quyêt theo quy định tại Điều 256
BLTTDS.
+ Hỏi các đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? ( Điểm
c khoản 2 điều 268 BLTTDS). Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án, thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội
thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa lại bản án sơ thẩm, công nhận
sự thỏa thuận của đương sự. các đương sự được thỏa thuận với nhau về án phí sơ thẩm,
nếu không thỏa thuận được thì hội đồng xét xử sẽ quyết định theo quy định của pháp
luật.
Sau khi chủ tọa đã hỏi các đương sự mà nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người
kháng cáo giữ nguyên kháng cáo, viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị và các đương
sự không thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử bắt đầu xét xử
bằng cách nghe trình bày của các đương sự theo các thứ tự sau đây:
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo trình bày về nội
dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung
ý kiến. trong trường hợp tất cả các đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày theo thứ
4
tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo là nguyên đơn và
nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự kháng cáo là bị đơn và bị
đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp chỉ có
viện kiểm sát kháng nghị thì kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn
cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo vừa có kháng nghị thì các
đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau
đó kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến
kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương sự
có quyền bổ sung ý kiến.
+ Trong trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị của mình.
+Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, kiểm sát viên có quyền đề xuất trình bổ sung
chứng cứ.
+ Sau khi nghe đương sự, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày,
việc hỏi, công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện
như tại phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên việc hỏi phải được thực hiện đối với những vấn
đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại điều 263 BLTTDS.
2.4. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
Phạm vi tranh luận, tại PTPTVADS, phạm vi tranh luận chỉ giới hạn ở những vấn đề
thuộc phạm vi phúc thẩm, nghĩa là những vấn đề có kháng cáo, kháng nghị hoặc liên
quan đến vấn đề giải quyết kháng cáo, kháng nghị.
Về trình tự tranh luận tại PTPTVADS được thực hiện như sau:
+Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo trình bày về nội
dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung
ý kiến. trường hợp chỉ có VKS kháng nghị thì kiểm sát viên trình bày về nội dung của
kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị; trong trường hợp vừa có kháng cáo, vừa
có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc
kháng cáo trước, sau đó kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ
của kháng nghị.
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×