Tải bản đầy đủ

5 đề tài thảo luận môn kinh tế vĩ mô nâng cao

PHẦN 1: Chủ đề 1: Trong mô hình Mundell-Fleming (hoặc mô hình IS-LM-BP nếu
có) với tỷ giá hối đoái thả nổi, tư bản vận động tự do, hãy giải
t
h
íc
h
điều gì xảy ra với
tổng thu nhập, tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại khi
a) chính phủ tăng
t
hu
ế
.
b) khi hạn ngạch nhập
kh

u
được dỡ bỏ.
c) khi cung tiền
g
iả

m
xuống.
d) chính phủ giảm
t
hu
ế
nhập khẩu.
e) Điều gì sẽ xảy ra ở các ý của câu a) và câu b), c) và d) nếu tỷ giá hối
đoái được cố định chứ không phải thả
nổ
i?
Bạn có ngụ ý gì cho chính sách kinh tế của Việt Nam?
I. Lý thuyết
Trong mô hình Mundel-Fleming (hoặc mô hình IS-LM-BP nếu có) với tỷ giá hối đoái
thả nổi, tư bản vận động tự do, hãy giải thích điều gì xảy ra với tổng thu nhập, tỷ giá hối đoái
và cán cân thương mại khi
Mô hình Mundel-Fleming, có một số giả định chính như sau:
- Nền kinh tế nhỏ mở cửa với luồng chu chuyển vốn hoàn hảo : r = r*
- Thị trường hàng hóa cân bằng – Đường IS*
Y = C(Y-T) + I(r*) + G + NX(e)
Trong đó: e= tỷ giá hối đoái danh nghĩa
= Mỗi đơn vị ngoại tệ/mỗi đơn vị nội tệ
Đường IS* là đường thị trường hàng hó cân bằng, có:
Y = C(Y-T) + I(r*) + G + NX(e)
Đường IS* cho ta biết, ứng với mỗi mức lãi suất nhất định r*, khi e giảm làm cho NX
tăng (đồng nội tệ mất giá dẫn đến khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập khẩu) dẫn đến Y tăng.
Đường LM* là đường tiền tệ cân bằng
M/P = L (r*, Y)
Với mức lãi suất r* nhất định, đường LM* là đường thẳng đứng
1
Cân bằng trong mô hình Mundel-Fleming là cân bằng trong cả thị trường hàng hóa và
thị trường tiền tệ
II. Bài tập
a. Khi chính phủ tăng thuế
 Tỷ giá hối đoái thả nổi.
Ban đầu, thị trường cân bằng ở mức r* với e1 và Y1. Khi chính phủ tăng thuế, trong
ngắn hạn, thuế tăng làm giảm chi tiêu hàng hóa trong nước. Đường IS dịch chuyển sang trái
từ IS1 đến IS2, trong khi đường LM đứng yên), dẫn đến đồng ngoại tệ lên giá so với nội tệ.
Đồng ngoại tệ lên giá làm tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu, khả năng cạnh tranh của khu
vực xuất khẩu sẽ tăng lên, xuất khẩu ròng sẽ tăng đúng bằng mức giảm mua sắm của chính


phủ để cho sản lượng không đổi
2
Như vậy, trong ngắn hạn dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn
hảo thì chính phủ tăng thuế không có hiệu lực trong việc điều tiết tổng cầu của nền kinh tế.
 Tỷ giá hối đoái cố định

Khi Chính phủ tăng thuế làm đường IS dịch chuyển sang trái từ IS1 sang IS2, để duy
trì được tỷ giá hối đoái cố định, ngân hàng trung ương phải giảm cung tiền, làm đường LM
dịch chuyển sang trái một khoản tương ứng. Như vậy, trong ngắn hạn với tỷ giá hối đoái cố
định, nếu chính phủ tăng thuế sẽ làm giảm Y.
Bài học: Đối với nền kinh tế nhỏ, tỷ giá hối đoái cố định không nên áp dụng chính sách
tăng thuế để tăng sản lượng.
b. Khi hạn ngạch nhập khẩu được dỡ bỏ
 Tỷ giá hối đoái thả nổi.
3

Khi tỷ giá hối đoái thả nối, hạn ngạch nhập khẩu được dỡ bỏ dẫn tới nhu cầu về hàng
hóa tăng lên, khuyến khích tăng nhập khẩu. Xuất khẩu ròng bằng xuất khẩu trừ đi nhập
khẩu, tăng nhập khẩu sẽ làm cho giảm tỷ giá hối đoái và giảm xuất khẩu ròng, đường xuất
khẩu ròng dịch chuyển sang trái. Đường xuất khẩu ròng (NX) dịch chuyển sang trái làm cho
đường IS dịch chuyển sang trái.
Như vậy, khi hạn ngạch nhập khẩu được dỡ bỏ làm giảm tỷ giá hối đoái và làm cho
tổng cầu không đổi, Việt Nam nên áp dụng chính sách này để khuyến khích xuất nhập khẩu.
 Tỷ giá hối đoái cố định


Chính phủ dỡ bỏ hạn ngạch nhập khẩu làm tăng nhập khẩu (làm giảm xuất khẩu ròng), làm
dịch chuyển đường IS sang trái. Để giữ cho tỷ giá hối đoái cố định thì chính phủ phải giảm
cung tiền lên làm đường LM dịch chuyển sang trái, sản lượng Y giảm.
4
Bài học với nền kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn với tỷ giá hối đoái cố định thì không
nên áp dụng chính sách dỡ bỏ hạn ngạch thương mại.
c. Khi cung tiền giảm xuống
 Tỷ giá hối đoái thả nổi.
Ban đầu, thị trường cân bằng ở mức r* với e1 và Y1. Khi cung tiền giảm, đường LM
dịch chuyển sang trái từ LM1 đến LM2. Với nền kinh tế nhỏ, mở r* không bị giảm, nhưng
cung tiền giảm làm cho lãi suất trong nước có chiều hướng tăng, làm cho tỷ giá hối đoái
giảm, khuyến khích nhập khẩu, giảm xuất khẩu dẫn đến NX giảm và do đó Y giảm từ Y1
đến Y2.
Hai thị trường cân bằng tại (e2, Y2)
Với chính sách kinh tế của Việt Nam, là một nền kinh tế nhỏ, mở; chính sách tiền tệ
thắt chặt bằng giảm lượng cung tiền trong nước, làm cho e giảm.
 Tỷ giá hối đoái cố định
Việc giảm cung tiền làm tăng tỷ giá hối đoái. Để kéo tỷ giá hối đoái trở lại, ngân hàng
trung ương bán tăng dự trữ ngoại hối bằng việc mua ngoại tệ, đưa thêm tiền nội tệ, giảm
ngoại tệ ra ngoài lưu thông. Việc này loại bỏ ngoại tệ ra ngoài lưu thông, tăng nội tệ trong
lưu thông, gây ra cung tiền tăng làm đường LM dịch chuyển sang phải từ LM2 sang LM1.
Tỷ giá hối đoái giảm, làm khuyến khích nhập khẩu trở lại và hạn chế xuất khẩu. NX giảm.
5
Bài học cho Việt Nam: Khi cung tiền giảm, với một nền kinh tế nhỏ, mở như nước ta,
vệc áp dụng tỷ giá hối đoái cố định chỉ làm cân bằng trên 2 thị trường trở về mức cân bằng
vốn có của nó, không có hiệu quả nào khác.
d, Chính phủ giảm thuế nhập khẩu
 Tỷ giá hối đoái thả nổi
Tại mức tỷ giá hối đoái nhất định, mức thuế nhập khẩu giảm làm nhu cầu hàng hóa
nhập khẩu tăng lên, nhu cầu hàng nội địa giảm xuống, làm NX giảm. Việc tăng nhu cầu của
người tiêu dùng đối với hàng hóa nước ngoài sẽ làm tăng tương ứng cầu ngoại tệ trong thị
trường ngoại hối. Điều này làm cho tỷ giá giảm. Khi tỷ giá giảm, kích thích xuất khẩu và
hạn chế nhập khẩu làm NX tăng.
Vì vậy, nhìn chung, việc chính phủ giảm thuế nhập khẩu không làm ảnh hưởng đến NX
mà chỉ khuyến khích thương mại.
Vì NX không thay đổi nên không làm thay đổi gì đến tổng thu nhập Y (giả định các
yếu tố khác không đổi).
Tác động của việc chính phủ giảm thếu nhập khẩu được thể hiện trên biểu đồ như sau:
ban đầu thị trường tài chính và tiền tệ cân bằng ở mức r*, e1, Y1. Khi chính phủ giảm thuế
nhập khẩu, như đã nói ở trên, làm cho cầu về hàng hóa nhập khẩu tăng, cầu hàng nội địa
giảm, cầu ngoại tệ tắng, làm e giảm từ e1 đến e2, đường IS dịch chuyển sang phải từ IS1
đến IS2. Tổng thu nhập Y không đổi, đường IS2 cắt đường LM1 tại (e2,Y) – điểm cân bằng
mới trên cả 2 thị trường.
6
Bài học cho Việt Nam: có thể sử dụng chính sách giảm thuế nhập khẩu với tỷ giá hối
đoái thả nổi để khuyến khích hoạt động thương mại xuất nhập khẩu mà không làm ảnh
hưởng đến tổng thu nhập của nền kinh tế.
 Tỷ giá hối đoái cố định
Khi chính phủ giảm thuế nhập khẩu để khuyến khích nhập khẩu, làm cho e giảm
xuống từ e1 đến e2, như đã phân tích ở trên. Trong trường hợp tỷ giá hối đoái cố đinh, chính
phủ muốn giữ mức e1, Ngân hàng TW mua ngoại tệ, bán nội tệ làm cho e tăng trở lại từ e2
lên e1. Mua bán này làm M giảm, đường LM dịch chuyển sang bên trái, từ LM1 đến LM2,
cân bằng mới tại (e1, Y2)
Việc Chính phủ giữ mức tỷ giá cố định khi tăng thuế nhập khẩu làm thổng thu nhập của
nền kinh tế giảm. Đối với nền kinh tế nhỏ, mở như ở Việt Nam, chính sách này làm kìm hãm
sự phát triển của nền kinh tế, chỉ dùng khi nền kinh tế tăng trưởng nóng.
7
PHẦN 2: Chủ đề 2: Hãy dùng mô hình Mundell-Fleming (hoặc mô hình IS-LM-BP
nếu có) để dự đoán điều gì xảy ra với tổng thu nhập, tỷ giá hối
đo
ái
và cán cân thương
mại trong điều kiện tỷ giá hối đoái thả nổi và cố định, tư bản vận động tự do
khi
a) có sự suy giảm niềm tin của người tiêu dùng về tương lai làm cho họ chi tiêu ít hơn và
tiết
k
iệ
m
nhiều
hơn.
b)
kh
i
Thái Lan đưa ra thị trường một loại sản phẩm mỳ ăn liền rất hợp thị hiếu của
người Việt
Nam
(thích mỳ ăn liền Thái Lan hơn mỳ ăn liền sản xuất trong
nướ
c
).
c)
kh
i
việc sử dụng rộng rãi máy rút tiền tự động làm giảm nhu cầu về
tiề
n.
Bạn có ngụ ý gì cho chính sách kinh tế của Việt Nam?
I. Lý thuyết
1.1. Đường LM*
Cách dựng LM*:
Phương trình LM* : M / P = L ( r* , Y )
Đường LM* là đường LM trong đồ thị Y-e.
Đường LM* là một đường thẳng đứng, vì tỷ giá hối đoái không được đưa vào trong
phương trình của LM*.
- Lãi xuất r
*
nhất định
Y
e
IM
*
- Là đường thẳng đứng: với r
*
nhất định, chỉ có yếu tố thu nhập Y làm cho cung tiền và cầu
tiền cân bằng ứng tại các mức tỷ giá khác nhau.
1.2. Đường IS*
Cách dựng IS* :
Phương trình đường IS* : Y = C ( Y - T ) + I ( r* ) + G + NX ( e )
Đường IS* là đường IS thể hiện trong đồ thị Y-e.
Đường IS* dốc xuống vì tỷ giá hối đoái cao hơn làm giảm xuất khẩu ròng ( NX ),qua
đó làm giảm tổng thu nhập.
8
e
Y
IS
*
1.3. Nền kinh tế nhỏ, tỷ giá hối đoái thả nổi
1.3.1. Chính sách tài chính(Chính sách tài khóa)
Ảnh hưởng của chính sách tài chính mở rộng trong ngắn hạn,tỷ giá hối đoái thả nổi:
Để tăng sản lượng Y, chính phủ có thể sử dụng chính sách tài chính mở rộng (tăng chi
tiêu chính phủ hoặc giảm thuế). Trong ngắn hạn, chi tiêu chính phủ tăng làm tăng chi tiêu
hàng hóa trong nước (đường IS dịch chuyển sang phải trong khi đường LM đứng yên), dẫn
đến đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ (do nhu cầu về đồng nội tệ lớn). Đồng nội tệ lên giá
làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu. Trong dài hạn, sự gia tăng của tỷ giá hối đoái làm
giảm xuất khẩu ròng, là nguyên nhân làm mất ảnh hưởng của sự mở rộng tổng cầu trong
nước về hàng hóa và dịch vụ. Điều này làm triệt tiêu ảnh hưởng mở rộng ban đầu của chính
sách tài chính và đưa lãi suất trong nước về mức lãi suất thế giới.
9
Do vậy: trong ngắn hạn, dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn
hảo thì chính sách tài chính hoàn toàn không có hiệu lực trong việc điều tiết tổng cầu của
nền kinh tế.
1.3.2. Chính sách tiền tệ
Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ mở rộng trong ngắn hạn với tỷ giá hối đoái thả nổi:
Để tăng sản lượng Y thì chính phủ tăng cung tiền làm lãi suất trong nước tạm thời giảm
xuống so với lãi suất nước ngoài, tạo ra một dòng vốn lớn chảy ra nước ngoài. Chính sách
tiền tệ mở rộng làm đường LM dịch chuyển sang phải, còn đường IS thì đứng yên. Nhà đầu
tư trong nước tìm cách chuyển từ đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ, làm giá của đồng nội tệ
giảm. Trong dài hạn, tỷ giá hối đoái giảm làm tăng xuất khẩu và làm giảm nhập khẩu. Việc
chuyển đổi đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ diễn ra cho đến khi tỷ giá hối đoái tăng đủ để lãi
suất trong nước tăng ngang bằng với lãi suất nước ngoài.
Do vậy: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảo thì
chính sách tiền tệ là có hiệu quả.
1.3.3. Chính sách thương mại
10
Ảnh hưởng của chính sách hạn chế thương mại với tỷ giá hối đoái thả nổi ,trong ngắn
hạn:
Chính phủ dùng biện pháp hạn chế thương mại: Chính phủ cắt giảm nhu cầu về hàng
nhập khẩu bằng cách đặt ra hạn ngạch nhập khẩu hoặc thuế quan. Xuất khẩu ròng bằng xuất
khẩu trừ đi nhập khẩu, giảm nhập khẩu sẽ làm cho tăng tỷ giá hối đoái và tăng xuất khẩu
ròng, đường xuất khẩu ròng dịch chuyển sang phải. Đường xuất khẩu ròng (NX) dịch
chuyển sang phải làm cho đường IS dịch chuyển sang phải.
Do vậy : Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi thì biện pháp hạn chế thương mại
chỉ làm tăng tỷ giá hối đoái mà không tác động đến sản lượng Y.
1.4. Nền kinh tế nhỏ, tỷ giá hối đoái cố định
1.4.1. Chính sách tài chính
11
Ảnh hưởng của chính sách tài khóa mở rộng trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định:
Trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách mở rộng tài chính của chính phủ
sẽ làm dịch chuyển đường IS sang phải. Để duy trì tỷ giá hối đoái cố định thì ngân hàng
trung ương phải tăng cung tiền, làm dịch chuyển đường LM sang phải với quy mô tương
ứng.
Do vậy: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách tài chính mở rộng sẽ
làm tăng sản lượng Y.
1.4.2. Chính sách tiền tệ
Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ mở rộng trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định:
Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng bằng việc tăng cung tiền sẽ tạo áp
lực làm tăng tỷ giá hối đoái, đường LM dịch chuyển sang phải. Để giữ cho tỷ giá hối đoái cố
định thì cung tiền phải giảm dẫn đến đường LM phải dịch chuyển sang trái về vị trí ban đầu.
Do vậy: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách tiền tệ không có
hiệu quả.
1.4.3. Chính sách thương mại
12
Ảnh hưởng của chính sách hạn chế thương mại trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định:
Chính phủ sử dụng thuế quan hoặc hạn ngạch làm giảm nhập khẩu (làm tăng xuất khẩu
ròng), làm dịch chuyển đường IS sang phải. Để giữ cho tỷ giá hối đoái cố định thì chính phủ
phải tăng cung tiền lên làm đường LM dịch chuyển sang phải, sản lượng Y tăng lên.
=> Do vậy: Trong ngắn hạn với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách thương mại là có
hiệu quả.
II. Bài tập
Đề Tài: Hãy dùng mô hình Mundell-Fleming (hoặc mô hình IS-LM-BP nếu có) để dự
đoán điều gì xảy ra với tổng thu nhập, tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trong điều kiện
tỷ giá hối đoái thả nổi và cố định, tư bản vận động tự do khi:
a) Có sự suy giảm niềm tin của người tiêu dùng về tương lai làm cho họ chi tiêu ít hơn
và tiết kiệm nhiều hơn.
b) Khi Thái Lan đưa ra thị trường một loại sản phẩm mỳ ăn liền rất hợp thị hiếu của
người Việt Nam (thích mỳ ăn liền Thái Lan hơn mỳ ăn liền sản xuất trong nước).
c) Khi việc sử dụng rộng rãi máy rút tiền tự động làm giảm nhu cầu về tiền.Bạn có ngụ
ý gì cho chính sách kinh tế của Việt Nam?
Ba mô hình sau đây mô tả mô hình Mundell – Fleming:
(IS): Y = C(Y-T) + I(r) + G + NX(e)
(LM): M/P = L(r, Y)
r = r*
13
Giả thiết mức giá cố định trong ngắn hạn, có nghĩa là tỷ giá danh nghĩa e bằng tỷ giá
thực tế €.
a. Sự suy giảm niềm tin của người tiêu dùng về tương lai làm cho họ chi tiêu ít hơn và tiết
kiệm nhiều hơn.
C↓→AD↓ (đường IS* dịch chuyển sang trái), MD↓và r ↓(trong nước) thấp hơn lãi
suất thế giới. Một dòng vốn sẽ chảy ra nước ngòai để thu được lãi suất cao. Trên thị trường
ngoại hối D làm đồng ngoại tệ tăng giá. Do vậy, khả năng cạnh tranh của hàng nội tăng làm
xuất khẩu IM↓ . Kết quả là NX (xuất khẩu ròng) đúng bằng mức tiêu dùng giảm đúng bằng
C.
Kết luận: Đồng nội tệ giảm giá, cán cân thương mại được cải thiện, sản lượng không
thay đổi. Khi tỷ giá cố định, đường IS dịch chuyển sang trái, nhưng tỷ giá không thể giảm Y.
Vì tỷ giá không thay đổi nên cán cân thương mại cũng không thay đổi.
b. Khi Thái lan đưa ra thị trường một loại sản phẩm mỳ ăn liền hợp thị hiếu người Việt
Nam, làm cho một số người tiêu dùng Việt Nam thích mỳ ăn liền Thái Lan hơn mỳ ăn liền
sản xuất trong nước.
Khi xảy ra trường hợp như trên→NX dịch chuyển sang trái. Tức là, tại mỗi tỷ giá cho
trước, NX thấp hơn trước đây→ đường IS dịch chuyển sang trái trong trường hợp tỷ giá thả
nổi. Vì LM* cố định, Y không đổi trong khi P↓. Cán cân thương mại không đổi dù tỷ giá
giảm, vì NX = S– I, cả S và I không thay đổi. Trong trường hợp tỷ giá cố định: khi IS* dịch
chuyển sang trái→tỷ giá ↓. Ngân hàng trung ương mua tiền đồng và bán ngoại tệ để giữ e
không đổi: điều này làm M↓→ LM* dịch chuyển sang trái. Kết quả là Y↓ .
14
Cán cân thương mại giảm vì sự dịch chuyển của đường NX, nghĩa là NX thấp hơn tại
mỗi mức tỷ giá.
c. Việc sử dụng máy rút tiền tự động làm giảm cầu tiền. Trên thị trường tiền tệ đòi hỏi cung
tiền bằng cầu tiền: M/P = L(r * , Y).
Cầu tiền giảm nghĩa là thu nhập và lãi suất không đổi, vế phải phương trình giảm. Vì
M và P cố định; vế phải phương trình không thể điều chỉnh khôi phục trạng thái cân bằng.
Lãi suất cố định tại mức của thế giới. Điều này có nghĩa: thu nhập – biến số duy nhất có thể
điều chỉnh – cần phải tăng để tăng cầu tiền. Tức là, đường LM* dịch chuyển sang phải.
Khi tỷ giá thả nổi, thu nhập tăng, tỷ giá giảm và cán cân thương mại tăng. Trường hợp
tỷ giá cố định, đường LM* dịch chuyển sang phải → r trong nước ↓ và đồng nội tệ giảm giá.
Ngân hàng trung ương mua tiền đồng và bán ngoại tệ để ngăn cản tỷ giá giảm làm cung tiền
15
Y
và đường LM* dịch chuyển sang trái. Đường LM* tiếp tục dịch chuyển trở lại khi trạng thái
cân bằng được khôi phục thu nhập → tỷ giá và cán cân thương mại không thay đổi.
III. Ngụ ý cho chính sách kinh tế của Việt Nam
Chính sách kinh tế vĩ mô là các chính sách kinh tế nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ
mô và đạt trạng thái toàn dụng lao động. Hai chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng là chính
sách tài chính và chính sách tiền tệ. Có thể có một số chính sách kinh tế khác cũng có tác
động tới kinh tế vĩ mô, như chính sách thương mại (quota, thuế quan) song mục đích chính
của chúng không phải là ổn định kinh tế vĩ mô, nên không được coi là chính sách kinh tế vĩ
mô.
Chính sách tài chính là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác
động tới nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang ở pha suy thoái, nhà nước có thể giảm thuế, tăng
chi tiêu (đầu tư công cộng) để chống lại. Chính sách tài chính như thế gọi là chính sách tài
chính nới lỏng. Ngược lại, khi nền kinh tế ở pha bùng nổvà có hiện tượng nóng, thì nhà nước
có thể tăng thuế và giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng
quá nóng dẫn tới đổ vỡ. Chính sách tài chính như thế này gọi là chính sách tài chính thắt chặt.
Chính sách tiền tệ là quá trình kiểm soát lượng cung tiền của nền kinh tế để đạt được
những mục đích như kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái. Khi cần kích thích kinh tế
tăng trưởng, ngân hàng trung ương sẽ làm tăng lượng cung tiền. Chính sách tiền tệ thế này
gọi là nới lỏng tiền tệ. Ngược lại, khi cần hạ nhiệt cho nền kinh tế, chống lạm phát, ngân
hàng trung ương sẽ làm giảm lượng cung tiền. Chính sách tiền tệ khi đó gọi là thắt chặt tiền tệ.
PHẦN 3: Chủ đề 3: Mô hình Mundell-Fleming coi lãi suất thế giới là biến ngoại sinh
(giả sử tư bản vận động tự do). Điều gì sẽ xảy ra với tổng thu nhập, tỷ giá hối đoái, cán cân
thương mại trong mô hình Mundell- Fleming với tỷ giá hối đoái cố định, khi lãi suất thế
giới tăng? Một trường hợp khác, giả sử thu nhập cao hàm ý nhập khẩu cao hơn và như vậy
xuất khẩu ròng thấp hơn. Nghĩa là, hàm xuất khẩu ròng có dạng NX = NX(e,Y). Hãy sử
dụng mô hình Mundell-Fleming để xem xét các ảnh hưởng của chính sách tài khóa mở
rộng đối với thu nhập và cán cân thương mại trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa trong điều
kiện tỷ giá hối đoái thả nổi. Trong cả 2 trường hợp bạn có ngụ ý gì cho các chính sách
kinh tế của Việt Nam?
I. Lý thuyết về Mô hình Mundell- Fleming
Giả thiết: Nền kinh tế nhỏ mở cửa với luồng chu chuyển vốn hoàn hảo r = r
*
16
Đường IS
*
: Thị trường hàng hóa cân bằng: Y= C (Y-T) + I (r
*
) + G + NX (e)
Đường IS
*
cho biết ứng với mức lãi xuất nhất định r
*
e
Y
IS
*
Đường IM
*
: Thị trường tiền tệ cân bằng M/P = L(r
*
,Y)
- Lãi xuất r
*
nhất định
- Là đường thẳng đứng: với r
*
nhất định, chỉ có yếu tố thu nhập Y làm cho cung tiền và cầu
tiền cân bằng ứng tại các mức tỷ giá khác nhau.
Y
e
IM
*
Cân bằng trong Mô hình Mundell- Fleming
Mô hình Mundell- Fleming
II. Bài tập
17
Mô hình Mundell-Fleming coi lãi suất thế giới là biến ngoại sinh (giả sử tư bản vận
động tự do). Điều gì sẽ xảy ra với tổng thu nhập, tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại trong
mô hình Mundell- Fleming với tỷ giá hối đoái cố định, khi lãi suất thế giới tăng? Một
trường hợp khác, giả sử thu nhập cao hàm ý nhập khẩu cao hơn và như vậy xuất khẩu ròng
thấp hơn. Nghĩa là, hàm xuất khẩu ròng có dạng NX = NX(e,Y). Hãy sử dụng mô hình
Mundell-Fleming để xem xét các ảnh hưởng của chính sách tài khóa mở rộng đối với thu
nhập và cán cân thương mại trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa trong điều kiện tỷ giá hối
đoái thả nổi. Trong cả 2 trường hợp bạn có ngụ ý gì cho các chính sách kinh tế của Việt
Nam?
a, Trong mô hình Mundell- Fleming với tỷ giá hối đoái cố định (e), khi lãi suất thế
giới tăng đồng nghĩa lãi suất trong nước nhỏ hơn so với lãi suất thế giới, cung tiền nội tệ
tăng, đường LM
*
dịch chuyển sang phải, e giảm. Các nhà đầu tư trong nước sẽ tìm kiếm cơ
hội đầu tư ở nước ngoài. Xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm, NX tăng. Khi này, để giữ cho tỷ
giá hối đoái không đổi, NHTW phải bán dự trữ ngoại tệ. Quá trình này kéo dài cho tới khi lãi
suất trong nước bằng với lãi suất thế giới (LM
*
2
dịch chuyển quay trở lại về LM
*
1
).
b, Giả sử thu nhập cao hàm ý nhập khẩu cao hơn và như vậy xuất khẩu ròng thấp hơn.
Nghĩa là, hàm xuất khẩu ròng có dạng NX = NX(e,Y).
Hãy sử dụng mô hình Mundell-Fleming để xem xét các ảnh hưởng của chính sách tài
khóa mở rộng đối với thu nhập và cán cân thương mại trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa
trong điều kiện tỷ giá hối đoái thả nổi.
Trong mô hình Mundell-Fleming , khi chính phủ sử dụng chính sách tài khóa mở rộng
(↑G, T↓) → AD↑ → đường IS
*
dịch chuyển sang phải. Nếu tỷ giá hối đoái thả nổi thì đường
LM
*
không bị ảnh hưởng. Như thể hiện qua hình …, tỷ giá hối đoái tăng trong khi tổng thu
nhập vẫn không đổi. Tăng tỷ giá hối đoái sẽ làm giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ
hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế
18
việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn
đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu
sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên.
Như vậy, trong một nền kinh tế nhỏ, mở cửa dưới cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi chính
sách tài khóa mở rộng không có hiệu quả khi làm thay đổi sản lượng.

III. Ngụ ý gì cho các chính sách
kinh tế của Việt Nam?
3.1. Tình hình quản lý tỷ giá
của Việt Nam
 Giai đoạn trước 1989: cố định và đa tỷ giá
 Giai đoạn 1989-2005:
- 1989- 1991: “thả nổi” tỷ gia hối đoái
-1992-1994: tỷ giá chính thức được hình thành trên cơ sở đấu thầu tại trung tâm giao
dịch ngoại tệ.
- Năm 1994: tỷ giá chính thức giữa ngoại tệ với VND theo tỷ giá mua bán trên thị
trường chỉ giao động trong biên độ cho phép là ±0.5% so với tỷ giá chính thức.
- 1995-1999: tỷ giá được hình thành trên cơ sở tỷ giá liên ngân hàng.
- Năm 1996 thì biên độ giao động được nâng lên ±1%.
- 1997- 1998: NHNN mở rộng biên độ giao dịch từ 1% lên 5%
- Ngày 13/10/1997: tăng biên độ dao động lên 10%.
 Giai đoạn 1999-2012: thả nổi có điều tiết
-1999-2006: chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định sang cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết.
19
- Năm 2007: thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt, nới rộng biên độ tỷ giá từ 0.25% lên
0.5% vào đầu năm, và tới 12/12/2007 tiếp tục nới rộng biên độ lên 0.75%.
- Năm 2008: được giới phân tích tài chính coi là “ năm bất ổn của tỷ giá” với những
biếndộng tỷ giá phức tạp. Trước tình hình suy thoái kinh tế ảnh hưởng mạnh đến Việt Nam,
các dòng vốn vào Việt Nam bị hạn chế NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng
đểtăng tính thanh khoản trên thị trường ngoại tệ. Tính đên ngày 26/12/2008 NHNN đã điều
chỉnh biên độ tỷ giá ngoại tệ liên ngân hàng 2% lên 3%.
- Năm 2009: NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên ±5% khiến cho tỷ giá
ngoạitệ liên ngân hàng đã có đợt tăng đột biến. Tỷ giá giữa USD/VND trong năm 2009 đã
trải qua 2 lần điều chỉnh, một lần vào tháng 3 tăng biên độ giao dịch từ 3% lên 5% và lần
gần nhất là vào tháng 11 (+3,4%). Ngày 26/11/2009 tỷ giá bình quân liên ngân hàng được
điều chỉnh tăngthêm 5.44% so với hôm trước.Đồng thời biên độ tỷ giá giảm từ 5% xuống
còn 3%. Mặc dù,sau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá chính thức đều lên kịch trần nhưng tỷ giá thị
trường tự do vẫn luôn nằm ngoài biên độ cho phép của NHNN.
- Năm 2010 -2011: ngày 10/02/2010, NHNN quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng
từ mức 17.941 đồng/USD lên 18.544 đồng/USD tăng khoảng 3,3%. Ngày 17/08/2010, NHNN Việt
Nam thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 2%, biên độ tỷ giá giữ nguyên
ở mức ± 3%. Ngày 11/02/2011, thực hiện Nghị quyết số 02/NQ_CP về những giải pháp chủ yếu
chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và nhằm tăng tính
thanh khoản của thị trường ngoại hối, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng
từ 18.932 lên mức 20.693 VND/USD và thu hẹp biên độ giao dịch từ ±3% xuống ±1%.
- Năm 2012, NHNN chính thức tham gia thị trường vàng bằng việc quốc hữu hóa
thương hiệu SJC nhằm mục đích giảm sự liên thông giữa thị trường vàng và thị trường ngoại
tệ. Ngoài ra việc nhập siêu trong năm 2012 giảm cùng với lượng kiều hối tăng mạnh cũng
góp phần ổn định tỷ giá. Và rất nhiều các thông tư khác hướng dẫn thực hiện, ổn định tỷ giá.
3.2. Nhận xét:
Chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay nặng về quản lý tỷ giá hối đoái danh nghĩa, thiếu
các phân tích và đánh giá thường xuyên về tỷ giá hối đoái thực và mức độ tác động đến
lạm phát xuất khẩu, … để có chính sách điều chỉnh thích hợp.
- Chính sách nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái hiện nay là đúng hướng, tuy nhiên
mức độ nới lỏng quá ít và lộ trình nới lỏng quá chậm chạp.
20
- Việt Nam theo đuổi chính sách vừa kiềm chế lạm phát, vừa thúc đẩy kinh tế phát
triển nên việc điều chỉnh tỷ giá phải xem xét cân đối hài hào các yếu tố.
3.3. Ngụ ý cho các chính sách kinh tế của Việt Nam
- NHNN cần nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái. Với biên độ tương đối rộng vừa giảm
sứcép lạm phát, vừa giảm mức độ cần phải can thiệp của NHNN, đồng thời tạo điều kiện
cho thịtrường tự điều chỉnh theo cung cầu ngoại tệ.
- Sử dụng một số công cụ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá như: hợp đồng quyền chọn,
giaodịch kỳ hạn để giảm thiểu rủi ro tỷ giá.
- Thực hiện chính sách đa ngoại tệ.
- Sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất để tác động đến tỷ giá, chính phủ phải
tiến hànhtừng bước tự do hóa lãi suất, làm cho lãi suất thực sự là một loại giá cả được quyết
định bởi chính sự cân bằng giữa cung và cầu của chính đồng tiền đó trong thị trường chứ
không phải bởi chính những quyết định can thiệp hành chính của Chính phủ.
Qua 2 trường hợp trên rút ra: Trong ngắn hạn, các tác động của một chính sách ổn định
hóa kinh tế tùy thuộc vào mức độ chuyển động của dòng vốn và vai trò của hệ thống tỷ giá
hối đoái. Đối với trường hợp nền kinh tế mở, hệ thống tiền tệ mà tỷ giá được thả nổi theo thị
trường, các công cụ tiền tệ là một chính sách hữu hiệu nhất để xử lý các trường hợp khủng
hoảng. Ngược lại, trong một hệ thống mà tỷ giá bị ấn định một cách cố định, các chính sách
tài khóa đóng vai trò then chốt trong khi các chính sách can thiệp tiền tệ là vô ích”.
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nhỏ, kinh tế mở. Để quản lý nền kinh tế nên kết
hợp linh hoạt giữa 2 hệ thống tỷ giá, áp dụng hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có kiểm soát.
Trong từng giai đoạn cụ thể, Nhà nước sẽ áp dụng chính sách kinh tế: tài khóa hay tiền tệ để
điều chỉnh nền kinh tế phù hợp với mục tiêu của từng thời kì.
21
Phần 4: Chủ đề 5: Hãy trình bày vai trò của công cụ lãi suất đối với nền kinh tế. Vận
dụng các mô hình đã học để chỉ ra các tác động đến nền kinh tế khi lãi suất thay đổi. Chỉ ra
các mối quan hệ giữa lãi suất với các biến số kinh tế vĩ mô. Bạn có ngụ ý gì cho các nhà
hoạch định chính sách kinh tế của Việt Nam khi sử dụng công cụ lãi suất?
4.1.Vai trò của lãi suất đối với nền kinh tế
Lãi suất là một trong những biến số được quan tâm chặt chẽ nhất trong nền kinh tế,bởi
lãi suất không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của mỗi chúng ta mà còn là một chỉ số đo
lường sức khỏe của nền kinh tế. Có thể khái quát vai trò của lãi suất qua 2 nội dung là vai trò
vĩ mô và vai trò vi mô:
4.1.1.Vai trò vĩ mô
Đối với Ngân hàng Nhà nước thì lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Sự biến
động của lãi suất trong quá trình điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước tác động đến nhiều
mặt của nền kinh tế như đầu tư,tiêu dùng ,tiết kiệm,tỷ giá…qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến
các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước. Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng và
các doanh nghiệp có thể tiến hành bất cứ việc gì nếu họ muốn trong khuôn khổ pháp
luật,miễn là họ có phương tiện thanh toán.Vì vậy bằng cách kiểm soát giá bán và mua quyền
sử dụng tiền tức lãi suất, Ngân hàng Nhà nước ở bất kì quốc gia nào cũng có thể chi phối
dược sự tăng trưởng nền kinh tế. Bằng cách tăng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước có thể làm
yếu đi khả năng cho vay của các Ngân hàng thương mại và do đó thực hiện chính sách tiền
tệ, giảm bớt khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh và chi tiêu của
người tiêu dùng. Cũng như vậy, bằng cách sử dụng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước có thể tạo
điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Hoặc muốn kìm hãm tốc độ phát triển hay đẩy mạnh
phát triển một ngành nào đó,Ngân hàng Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay để
thu hẹp hay mở rộng đầu tư ở ngành này. Bên cạnh vai trò hướng dẫn điều hành nền kinh tế,
lãi suất tín dụng còn đóng vai trò tích cực trong kìm chế lạm phát. Sau khi đã kiềm chế và
giữ được lạm phát ở mức độ ổn định, Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện hạ thấp dần
khung lãi suất để khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,khôi phục
kinh tế. Có thể nói chính sách lãi suất là một bộ phận của chính sách tiền tệ của nhà nước
nhằm điều hòa lưu thông tiền tệ, kích thích, điều tiết và hướng dẫn sản suất kinh doanh của
các đơn vị kinh tế. Lãi suất cho vay được sử dụng để mở rộng cung ứng tiền tệ, thu hẹp đầu
tư và kiềm chế lạm phát. Thực hiện vai trò đòn bẩy kinh tế, lãi suất sẽ được điều chỉnh cho
phù hợp với mục tiêu kinh tế ở những giai đoạn khác nhau. Những ưu đãi về lãi suất, về điều
22
kiện cung ứng tín dụng và thanh toán là công cụ của nhà nước nhằm khuyến khích các
doanh nghiệp vào các loại sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế. Điều này
có ý nghĩa quan trọng đối với các nước chậm phát triển muốn có những bước nhảy vọt để đi
ngay vào công nghệ hiện đại trong thời đại hiện nay. Như vậy, có thể coi lãi suất là công cụ
trực tiếp của chính sác tiền tệ. Nó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền
cung ứng trong lưu thông, từ đó đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
4.1.2.Vai trò vi mô
Lãi suất là yếu tố thúc đẩy kinh doanh có hiệu quả của các doanh nghiệp, bù đắp chi
phí và đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng: Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng phải hoàn trả
đúng kì hạn cả vốn lẫn lãi.Vì vậy, muốn đảm bảo có nguồn vốn trả nợ, doanh nghiệp phải
quan tâm thực sự đến kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Nếu hoàn trả nợ không đúng kì
hạn, lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất đúng hạn (bằng 1,5 lần lãi suất đúng hạn) điều này thúc
đẩy các doanh nghiệp phải cố gắng kinh doanh tốt, đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn. Hoạt
động tài chính của ngân hàng kinh doanh và tổ chức tín dụng là huy động vốn để cho vay.
Khi huy động vốn, ngân hàng phải trả lãi cho người gửi, khi cho vay sẽ thu lãi của người
vay. Ngân hàng phải tính toán mức lãi suất cho vay và đi vay hợp lý để bù đắp các khoản chi
phí nghiệp vụ và có lợi nhuận cho mình. Mặt khác, lãi suất chính là công cụ để cạnh tranh
giữa các tổ chức tín dụng.
4.2. Mối quan hệ giữa lãi suất và các biến số kinh tế vĩ mô khác
Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ nhất trong nền
kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hầu như hàng ngày trên báo chí vì nó trực tiếp ảnh
hưởng đến đời sống hàng ngày của mỗi người chúng ta và có những hệ quả quan trọng đối
với sức khoẻ của nền kinh tế.
Nó tác động to lớn đối với việc tăng hoặc giảm khối lượng tiền lưu thông, thu hẹp hay
mở rộng tín dụng, khích lệ hay hạn chế huy động vốn, kích thích hay cản trở đầu tư, tạo lợi
nhuận hay khó khăn cho hoạt đọng ngân hàng.
Tóm lại, lãi suất là một phạm trù phức tạp có liên quan và tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp tới nhiều nền kinh tế vĩ mô khác.
4.2.1.Lãi suất và đầu tư
Lượng cầu về hãng đầu tư phụ thuộc vào lãi suất, để một dự án đầu tư có lãi, lợi nhuận
thu được phải cao hơn chi phí. Vì lãi suất phản ánh chi phí vốn để tài trợ cho đầu tư, việc
23
tăng lãi suất làm giảm số lượng dự án đầu tư có lãi, bởi vậy nhu cầu về hãng đầu tư giảm do
đó đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất.
Lãi suất thực tế phản ánh chi phí thực sự của tiền vay do vậy chúng ta nhận định đầu tư
phụ thuộc vào lãi suất thực tế chứ không phải lãi suất là lãi suất danh nghĩa. Mối quan hệ
giữa lãi suất thực tế (r) và đầu tư có thể biểu thị bằng phương trình sau: I = I(r).
Phương trình này hàm ý đầu tư phụ thuộc vào lãi suất.
Đồ thị biểu thị hàm đầu tư, nó dốc xuống vì khi lãi suất tăng lượng cầu về đầu tư giảm.
Mặt khác kinh tế học Macxit trong phân tích về tư bản cho vay và chỉ rõ rằng:
lãi suất < tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội
Nếu mối quan hệ này bị vi phạm lợi ích của người đi vay sản xuất không được giải
quyết thoả đáng sẽ làm giảm ý muốn đầu tư sản xuất, không mở rộng được quy mô, tốc độ
phát triển của nền kinh tế. Đồng thời người ta thích gửi tiền hơn và hình thành một lớp người
thực lợi, sống vào lãi suất tiết kiệm.
4.2.2.Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của cá nhân bao giờ cũng được chia làm hai phần là tiêu dùng và tiết kiệm.
Hành vi tiết kiệm với kỳ vọng phòng ngừa rủi ro, mở rộng sản xuất, tích luỹ và tiêu dùng
trong tương lai chính là cung về vốn vay trong nền kinh tế.
Tiêu dùng là một hàm phụ thuộc vào thu nhập khả dụng. Ở mỗi giai đoạn của chu kỳ
kinh doanh, sự thắt chặt hay nới lỏng của chính sách thuế mà ngân sách dành cho chi tiêu bị
tác động. Tiết kiệm bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như thu nhập, tập quán tiết kiệm và lãi
suất. Khi lãi suất tăng làm tăng ý muốn tiết kiệm và sự sẵn sàng chi tiêu giảm xuống.
24
Tiết kiệm là một hàm phụ thuộc thuận vào lãi suất : S =S (r) .
4.2.3.Lãi suất và lạm pháp
Lạm pháp là sự tăng lên liên tục của mức giá, là hiện tượng mất giá của đồng tiền. Lý
luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữ lãi suất và lạm phát. Fisher chỉ ra
rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát cao. Có nhiều nguyên nhân gây nên lạm phát và
cũng có nhiều biện pháp để kiểm soát lạm phát, trong đó công cụ lãi suất là một giải pháp
công hiệu khá nhanh.
Trong thời kỳ lạm pháp, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể thu hút
phần lớn số tiền có trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm; cơ số tiền và
lượng tiền cung ứng giảm, lạm phát được kiềm chế.
4.2.4.Lãi suất và tỷ giá
Lãi suất và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau. Đây là hai công cụ song
hàng quan trọng của chính sách tiền tệ, việc cải cách chính sách điều hành ngân hàng hai yếu
tố này đòi hỏi phải được tiền hành đồng thời. Trong điều kiện một nền kinh tế mở, với nguồn
được tự do vận động, nếu lãi suất trong nước tăng lên nguồn vốn nước ngoài sẽ đổ vào đẩy
cầu nội tệ lên cao, với mức cung tiền nhất định tỷ giá sẽ bị nâng lên ảnh hưởng đến hoạt
động ngoại thương của quốc gia. Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống, vốn trong nước khoác
áo ra đi làm cho cầu ngoại tệ cao tỷ giá tụt xuống.
4.2.5.Lãi suất với cầu tiền
Tiền là một loại tài sản, cũng là một cách mà mỗi người sử dụng cho việc tích sản của
mình. Nhu cầu về tiền phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó có thu nhập và lãi suất. Khi thu nhập
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×