Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu pháp luật về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau Hội nghị lần thứ bốn Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII, khái
niệm “xã hội hóa giáo dục” chính thức được đưa vào đời sống. Kể từ đây, các
thành phần kinh tế ngoài nhà nước đã chung tay chia sẻ với ngân sách nhà nước
gánh nặng đầu tư cho hoạt động giáo dục. Nó khơi dậy và phát huy những
nguồn lực dồi dào trong xã hội và thúc đẩy sự nghiệp giáo dục ngày càng phát
triển. Để tạo ra cơ chế đầu tư thuận lợi, bình đẳng và ổn định, khuyến khích các
nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế,
hệ thống pháp luật về hoạt động đầu tư cho giáo dục đã được hình thành và
không ngừng hoàn thiện.
Luật Đầu tư 2005 ra đời là một bước tiến lớn trong sự phát triển của pháp
luật đầu tư hướng vào việc tạo cơ sở pháp lí bình đẳng cho nhà đầu tư. Theo quy
định của Luật đầu tư 2005, “phát triển sự nghiệp giáo dục” là hoạt đông đầu tư
có điều kiện và được ưu đãi đầu tư. Luật Đầu tư 2005 đã chú trọng đến việc quy
định khung pháp lí cho hoạt động đầu tư đặc thù này. Luật Giáo dục 2005 đã tạo
cơ sở pháp lí quan trọng cho tổ chức và hoạt động giáo dục trong đó có hoạt
động đầu tư cho giáo dục. Qua nhiều năm thực hiện, Luật Đầu tư và Luật Giáo
dục đã góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục theo hướng “nhà nước và nhân
dân cùng làm”, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực. Tuy
nhiên trong quá trình thực hiện đã nảy sinh một số vấn đề chưa phù hợp với thực

tế, chưa đáp ứng được nhu cầu hội nhập, vẫn có những nội dung chưa rõ ràng,
gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật.
Hiện nay, chất lượng giáo dục là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, cả xã
hội đang cố gắng tìm mọi giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục. Trong đó,
khuyến khích đầu tư cho giáo dục thiết nghĩ là giải pháp hàng đầu, cơ bản và
quan trọng nhất. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về đầu tư trong lĩnh
vực giáo dục đang là một vấn đề vô cùng thiết thực. Với mục tiêu có được một
cái nhìn tổng quan về các quy định pháp luật, từ đó góp phần tìm ra phương
hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo
dục, người viết đã lựa chọn vấn đề: “Tìm hiểu pháp luật về hoạt động đầu tư
trong lĩnh vực giáo dục” để làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về Luật đầu tư, về các nội dung
cơ bản của Luật đầu tư, về các lĩnh vực đầu tư. Về phía luật giáo dục, vì nhu cầu
sửa đổi Luật giáo dục 2005 nên đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên
cứu. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này tập trung đề cập các khía cạnh
khác của luật Đầu tư hoặc nghiên cứu Luật Giáo dục trên phạm vi rộng. Chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện cả về lí luận và thực tiễn
các quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Hoạt động đầu tư cho giáo dục trong thực tế rất đa dạng, khóa luận tốt nghiệp
chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp sử dụng nguồn vốn ngoài
ngân sách nhà nước của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài (chủ yếu là
hoạt động đầu tư thành lập cơ sở giáo dục ngoài công lập).
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khóa luận có sự kết hợp của các phương pháp nghiên cứu: duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so
sánh pháp luật, dự báo, hệ thống hóa, khái quát, đối chiếu với thực tiễn các quy
định pháp luật để từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp hợp lý.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống
các quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, làm rõ
cơ sở lí luận, từ đó đưa ra những kiến nghị, phương hướng nhằm đưa các quy
định của pháp luật về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục phù hợp với thực
tiễn áp dụng , thu hút nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả và chất lượng cho sự nghiệp
“trồng người”.
Để đạt được những mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có những nhiệm vụ
sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm, đặc điểm, các hình thức đầu tư trong lĩnh vực
giáo dục; khái niệm, sự hình thành và phát triển pháp luật về hoạt động đầu tư
trong lĩnh vực giáo dục.
- Làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động đầu tư trong
lĩnh vực giáo dục.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt
động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của khóa luận
Khóa luận là công trình nghiên cứu sâu về pháp luật trong hoạt động đầu tư
cho giáo dục. Người viết đã cố gắng trình bày một cách đầy đủ các vấn đề liên
quan đến pháp luật về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục.
Tuy còn ít kinh nghiệm trong nghiên cứu nhưng người viết đã đưa ra một số
kiến nghị góp phần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng thống
nhất sự điều chỉnh giữa quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật về giáo
dục trong hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục.
7. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm 66 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, khóa luận có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục và pháp
luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
Chương 2: Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động đầu tư trong lĩnh vực
giáo dục.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động
đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
NỘI DUNG
Chương 1. Một số vấn đề lí luận về đầu tư trong lĩnh vực giáo
dục và pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
1.1. Lí luận về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
1.1.1. Khái niệm hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục không phải là một hoạt động đầu tư
mới mẻ tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm cụ thể và thống nhất về hoạt động
này. Việc xác định rõ khái niệm “hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục” có
vai trò vô cùng quan trọng, là cơ sở cho việc áp dụng các quy định pháp luật.
Qua việc tìm hiểu những nghiên cứu của các nhà khoa học và sự đúc rút của bản
thân, em xin trình bày về khái niệm “đầu tư” nói chung và cụ thể hóa khái niệm
“đầu tư trong lĩnh vực giáo dục”.
• Khái niệm đầu tư
“Đầu tư” không còn là khái niệm xa lạ hay trừu tượng khi mà mọi lúc mọi
nơi trên thế giới đều đang diễn ra hoạt động đầu tư như “hơi thở” của hội nhập,
như là một quy luật tất yếu của tồn vong và phát triển. Tuy vậy, trên thế giới
không có khái niệm “đầu tư” duy nhất và bất biến. WTO – Tổ chức thương mại
thế giới là mô hình tối cao của hội nhập cũng không quy định gì về vấn đề đầu
tư. Nhiều vòng đàm phán không giải quyết được bất đồng xung quanh khái niệm
“đầu tư” nên mặc dù có ý định soạn thảo Hiệp ước đa phương về vấn đề đầu tư
vào năm 1978 nhưng OECD – tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - cũng không
thành công. Pháp luật các nước trên thế giới có những cách nhìn nhận về khái
niệm “đầu tư” khác nhau, thậm chí, pháp luật một số nước không có điều khoản
nào đưa ra định nghĩa về “đầu tư” (Cambodia).
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (NXB Đà Nẵng 2003,
tr301) khái niệm đầu tư là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì,
trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế xã hội”. Trong kinh tế học, đầu tư được hiểu
là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã
hội những kết quả trong tương lai lớn hơn những nguồn lực đã sử dụng để đạt
được các kết quả đó (Giáo trình Kinh tế đầu tư – Đại học Kinh tế quốc dân).
Đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Hoạt động đầu tư do các
chủ thể khác nhau, có thể là tổ chức hoặc cá nhân tiến hành, được pháp luật quy
định cụ thể. Hoạt động đầu tư sử dụng tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động,
trí tuệ của con người để tạo ra giá trị gia tăng chính là các kết quả đầu tư. Các
kết quả của hoạt động đầu tư có thể là tài sản vật chất, có thể là tài sản trí tuệ, có
thể chính là tiền, có thể là nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng
suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Như vậy, hoạt động đầu tư
mang lại những lợi ích được xác định trước cho nền kinh tế và cho toàn xã hội.
Theo quan điểm của luật học, hoạt động đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài
sản theo các h́nh thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động
nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội khác. Hoạt động đầu tư có
thể có có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại. Trong khoa
học pháp lí cũng như thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt
động đầu tư chủ yếu đựợc đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh, với bản chất là
“sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm
lợi nhuận” – Black’s Law Dictionary, Centennital Edition Sixth Edition,
1991, page 825.
Trước khi Luật đầu tư 2005 ra đời, khái niệm đầu tư kinh doanh chưa được
định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật. Lúc bấy giờ hoạt động đầu tư
được điều chỉnh bởi Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam. Cả hai văn bản này đều không có định nghĩa về đầu tư nói
chung mà chỉ có khái niệm đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Luật Đầu tư 2005 với phạm vi điều chỉnh là hoat động đầu tư nhằm mục đích
kinh doanh đã đưa ra định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các
loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động
đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan”. Luật đầu tư thống nhất có sự phân biệt về thuật ngữ giữa đầu tư và hoạt
động đầu tư, theo đó hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của các nhà đầu tư
trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lí dự
án đầu tư.
Dưới góc độ điều chỉnh các hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, có
thể thấy hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2005 chính là một bộ
phận của hoạt động thương mại, phù hợp với khái niệm của Luật Thương mại
2005 (Khoản 1 Điều 3). Hoạt động đầu tư có những đặc điểm của hoạt động
thương mại nói chung đó chính là mục đích lợi nhuận, đồng thời hoạt động đầu
tư cũng có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động thương mại khác như mua
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại… Tuy nhiên, hoạt động đầu tư có
đặc thù riêng so với các hoạt động thương mại khác, hoạt động đầu tư là hoạt
động có tính chất tạo lập, là sự bỏ vốn, tài sản… nhằm hình thành cơ sở vật chất,
kĩ thuật cũng như các điều kiện khác để thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận.
Tóm lại, hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ ra những nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành hoạt động nào đó nhằm thu về những kết quả nhất định trong tương lai
lớn hơn những nguồn lực đã bỏ ra trong quá khứ, hoạt động đầu tư chịu sự điều
chỉnh của Luật Đầu tư 2005 và những văn bản pháp luật có liên quan.
• Khái niệm đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là một hoạt động đầu tư đặc thù, là
một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, chủ yếu chịu sự điều chỉnh của
Luật đầu tư 2005 và Luật giáo dục 2005.
Theo Luật đầu tư, “Hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trong luật khác
thì áp dụng quy định của luật đó” ( Khoản 2, Điều 5). Cũng theo Luật Đầu tư,
“Phát triển sự nghiệp giáo dục” được quy định là lĩnh vực ưu đãi đầu tư (Điều
27), và là lĩnh vực đầu tư có điều kiện (Điều 29). Theo Luật giáo dục 2005,
“phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” (Điều 9); “Đầu tư cho giáo dục là
đầu tư phát triển” (Điều 13). Giáo dục là loại hình dịch vụ đặc biệt, việc đầu tư
cho giáo dục được quy định theo hướng thống nhất, đồng bộ giữa Luật đầu tư và
Luật giáo dục, là một hoạt động chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nhưng hoạt
động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục lại được thực hiện theo quy định của hệ
thống pháp luật chuyên ngành.
Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển bền vững của đất nước là vô cùng
to lớn nên ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục không ngừng tăng. Tuy
nhiên phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ nghiên cứu hoạt động đầu tư trong
lĩnh vực giáo dục của các lực lượng xã hội ngoài nhà nước, gồm cá nhân, doanh
nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội và đầu tư nước ngoài.
Đầu tư cho giáo dục là lĩnh vực đầu tư có điều kiện và được ưu đãi đầu tư.
Hoạt động đầu tư cho giáo dục có những đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư
nói chung, đều là sự hi sinh một nguồn lực trong hiện tại để tiến hành những
hoạt động trong môi trường giáo dục nhằm thu được những kết quả trong tương
lai và kết quả thu được từ hoạt động đó phải lớn hơn những nguồn lực đã bỏ ra.
Nguồn lực phải hi sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài
chính (tiền vốn); tài sản vật chất (trường học, cơ sở vật chất phục vụ giáo
dục…); tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lí, khoa học…) và
nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong
nền sản xuất xã hội. Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả xã hội
được thụ hưởng. Chẳng hạn, một trường học được xây dựng, tài sản vật chất của
người đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời xã hội cũng được hưởng thành quả
của hoạt động đầu tư này.
Hoạt động đầu tư cho giáo dục không chỉ đem lại kết quả cho nhà đầu tư mà
còn cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng chính là đầu tư phát triển. Còn các loại
đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản chính của người đầu tư tác động gián tiếp
làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích lũy của các
hoạt động đầu tư này cho đầu tư phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư
phát triển và thúc đẩy quá trình lưu thông, phân phối các sản phẩm do kết quả
của hoạt động đầu tư phát triển tạo ra thì đó là đầu tư tài chính và đầu tư thương
mại.
Như vậy, đầu tư cho lĩnh vực giáo dục là một bộ phận của đầu tư nói chung,
đều mang lại những lợi ích tăng thêm cho nhà đầu tư và góp phần mang lại cho
xã hội những giá trị quan trọng như nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài. Hoạt động đầu tư cho lĩnh vực giáo dục phải được định
hướng rõ ràng, phải được quản lí tốt để đạt được mục đích nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và góp phần đẩy
nhanh tiến trình hội nhập quốc tế, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
• Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển
“Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư. Là việc chi dùng trong hiện
tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật
chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kĩ năng…) vì mục tiêu
phát triển” (Giáo trình kinh tế phát triển – Đại học Kinh tế quốc dân).
Đầu tư phát triển đòi hỏi lớn nhiều loại nguồn lực. Với xu hướng phát triển
hiện tại, nguồn lực đầu tư có thể đến từ nhà nước, cũng có thể do tổ chức cá
nhân trong và ngoài nước bỏ ra. Phạm vi đầu tư của các nhà đầu tư ngoài nhà
nước mở rộng theo lộ trình xã hội hóa giáo dục. Hoạt động đầu tư có hiệu quả
cao là kết quả của việc huy động tích cực nguồn lực đầu tư trong xã hội. Đa số
đầu tư nguồn lực nhằm mục đích sinh lợi, cũng có chủ thể đầu tư vì tâm huyết
với sự học, vì trách nhiệm với xã hội (nhiều cá nhân tình nguyện hiến đất đai để
xây dựng trường học).
Đối tượng của đầu trong lĩnh vực giáo dục là tập hợp các yếu tố được chủ
đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Theo quan
điểm phân công lao động xã hội thì đây là đầu tư theo ngành. Dưới góc độ đối
tượng tính chất đầu tư thì đầu tư trong lĩnh vực giáo dục nổi trội tính chất phi lợi
nhuận (mục tiêu lợi nhuận không phải là tuyệt đối). Trên góc độ xem xét sự
quan trọng, đầu tư trong lĩnh vực giáo dục có đối tượng được khuyến khích đầu
tư.
Kết quả của đầu tư cho giáo dục là sự tăng thêm về tài sản trí tuệ (trình độ
văn hóa, chuyên môn, khoa học kĩ thuật…), tài sản vật chất (trường học, trang
thiết bị…) và tài sản vô hình (phát minh, sáng chế, công trình khoa học…). Các
kết quả của hoạt động đầu tư cho giáo dục góp phần làm tăng thêm những giá trị
và chất lượng cho xã hội. Đặc thù của kết quả đầu tư cho giáo dục so với các
hoạt động đầu tư khác chính là tương quan so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội
thu được với chi phí chi ra để đạt kết quả đó. Kết quả và hiệu quả đầu tư phát
triển cần được xem xét cả trên phương diện đối với chủ đầu tư và xã hội, đảm
bảo hài hòa giữa các loại lợi ích, khuyến khích vai trò chủ động của chủ đầu tư,
vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước các cấp. Đầu tư trong
lĩnh vực giáo dục tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động
như các hoạt động đầu tư khác nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng
cuộc sống và vì mục tiêu phát triển.
Mục đích của hoạt động đầu tư cho giáo dục là vì sự phát triển bền vững, vì
lợi ích của quốc gia, cộng đồng và của nhà đầu tư.
Đầu tư cho lĩnh vực giáo dục thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất
định. Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lí đầu tư
nói chung và vốn đầu tư nói riêng. Chủ đầu tư là cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ
chức chính trị xã hội, cộng đồng dân cư, nhà đầu tư nước ngoài…
Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là một quá trình, diễn ra trong thời
kì dài và tồn tại vấn đề “độ trễ về thời gian”. “Độ trễ thời gian” là sự không
trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư. Đầu
tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai xa.
Nội dung đầu tư trong lĩnh vực giáo dục được quy định trong pháp luật về
đầu tư và pháp luật về giáo dục. Bao gồm hình thức đầu tư; điều kiện đầu tư;
quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; quy trình, thủ tục và triển khai dự án đầu tư;
đảm bảo khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lí nhà nước về đầu tư.
• Đầu tư cho giáo dục là hoạt động đầu tư đặc thù
- Thứ nhất, giáo dục là loại hình dịch vụ đặc biệt
Thực tế còn nhiều tranh luận rằng giáo dục có phải là một ngành dịch vụ hay
không bởi nhiều ý kiến cho rằng gắn giáo dục với “dịch vụ” với “kinh tế thị
trường”, với “thương mại hóa” là làm mất đi giá trị cao quý của ngành, là một
hiện tượng tiêu cực… Lâu nay, người ta vẫn coi giáo dục là sự nghiệp công ích,
là phúc lợi xã hội cần phải được bao cấp hoàn toàn; đối với các nho sĩ phong
kiến thì giáo dục là một hình thái hoạt động thanh cao, thuần tuý trau dồi hiểu
biết và đức hạnh, không liên quan gì đến những sinh hoạt vật chất như sản xuất
hàng hoá, tính toán giá cả, lưu thông trao đổi...
Thời đại của nền văn minh trí tuệ đã bật sáng những tín hiệu mới, buộc
chúng ta phải chuyển đổi quan niệm. Giáo dục không thể là một ốc đảo, đứng
ngoài nền kinh tế thị trường, đứng ngoài những yêu cầu phát triển của xã hội;
sản phẩm của giáo dục cũng phải coi là hàng hoá, dù là một thứ hàng hoá đặc
biệt. Hoạt động của giáo dục phải phù hợp với kế hoạch tổng thể của đất nước,
chịu sự chi phối trực tiếp những yêu cầu của kinh tế, xã hội.
Trong gần thập kỷ qua, trong nhiều diễn đàn ở hội thảo, trên báo chí, phát
thanh truyền hình trong nước cũng như ngoài nước, đề tài "có hay không yếu tố
thương mại trong hoạt động giáo dục" đã được đề cập đến khá sôi nổi. Ý kiến
khác nhau diễn ra kéo dài, có khi tranh luận rất gay gắt. Nhưng thực tiễn đã
nhanh chóng trở thành người trọng tài công minh; sự phát triển của nền kinh tế
mới với cuộc hành trình toàn cầu hoá của nhân loại đã cho phép chúng ta nhận
thức lại nhiều điều có ý nghĩa. Thương mại không còn chỉ là cái đuôi của sản
xuất, không còn chỉ là một thứ sinh hoạt trao đổi hàng hoá giản đơn mà nó đã
trở thành một hoạt động quan trọng có tác dụng rộng lớn đến nhiều mặt của đất
nước; nó có khả năng phát ra nhiều tín hiệu có ý nghĩa định hướng cho các hoạt
động kinh tế, xã hội. Chúng ta không nên nuôi giữ những định kiến sai lầm về
việc buôn bán, không nên nhìn thương mại qua những kẻ buôn gian, bán lậu,
đầu cơ, trốn thuế, không nên dùng từ "thương mại hoá" để chỉ những biểu hiện
cá nhân, tiêu cực, kiếm tiền bất chính trong nhà trường. Cần phân biệt những
tiêu cực trong giáo dục với việc vận dụng hợp lý những yếu tố thương mại trong
việc thực hiện xã hội hoá giáo dục. Trong xã hội mà nền kinh tế phát triển nhanh
thì yếu tố thương mại càng can thiệp vào hoạt động giáo dục mạnh. Đó là điều
hiển nhiên, không thể không thừa nhận.
Nguyên nhân để nhiều ý kiến cho rằng giáo dục không phải là một loại hình
dịch vụ cũng bởi khái niệm “dịch vụ” còn được hiểu khá hẹp trong khi bản chất
thật của nó thì rất phức tạp, đa dạng và vô hình. Cuốn từ điển Bách khoa toàn
thư (tr 167) giải thích: “dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những
nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”. Sự giải thích này còn chung chung
và chưa làm rõ được bản chất của “dịch vụ”, chưa làm rõ được nội hàm của
“dịch vụ” – là kết tinh sức lao động con người trong các sản phẩm vô hình và
đáp ứng nhu cầu của con người. Sự giải thích này còn làm hẹp đi khái niệm dịch
vụ, rằng chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trong khi nhu cầu
của con người ngày càng vô hạn. Trong Hiệp định thương mại dịch vụ GATS,
WTO không cố gắng đưa ra một giải thích nào cho khái niệm dịch vụ, thay vào
đó đã liệt kê 12 ngành lớn, trong mỗi ngành lớn lại bao gồm các phân ngành,
tổng cộng 155 phân ngành với 4 phương thức cung cấp dịch vụ. Theo đó, WTO
đã thừa nhận “giáo dục là một dịch vụ thương mại”. Cơ sở để WTO công nhận
giáo dục là một loại hình dịch vụ bởi dịch vụ giáo dục đáp ứng nhu cầu không
thể thiếu của con người, nhu cầu được học hành, nhu cầu được đào tạo bài bản
và chất lượng cao. Dịch vụ giáo dục cũng có đầy đủ những thuộc tính của dịch
vụ nói chung như: tính vô hình, quá trình cung ứng và tiêu dung xảy ra đồng
thời; và tính không đồng nhất của chất lượng dịch vụ (chất lượng dịch vụ phụ
thuộc vào khả năng của chủ thể cung ứng dịch vụ).
Có thể thấy rằng quan điểm “giáo dục là một ngành dịch vụ” cần được chấp
nhận rộng rãi, chúng ta không nên gắn cho cụm từ ấy cái nhìn thiếu thiện cảm
trong khi điều quan trọng là chúng ta vận dụng nó và ứng xử với nó như thế nào.
Nếu nó tồn tại thì chúng ta không nên phủ nhận, không nên lảng tránh chỉ vì nó
trái với quan niệm cổ điển.
Nói giáo dục là một dịch vụ không hề hạ thấp vai trò và tính cao đẹp của giáo
dục. Coi giáo dục là một loại dịch vụ đào tạo nguồn lực cho đất nước có nghĩa là
đã đặt giáo dục vào vị trí hàng đầu, vị trí tạo tiền đề, tạo động lực cho mọi sự
phát triển. Trên thực tế, không có một ngành hoạt động nào mà không cần đến
nhân lực, không thừa hưởng kết quả đào tạo của giáo dục. Một kết quả của giáo
dục nhất là giáo dục bậc đại học, cao đẳng thường sẽ đi liền với kết quả cộng
hưởng của những ngành kinh tế, xã hội. Một xã hội đi lên bằng những chương
trình được hoạch định một cách khoa học, phù hợp với nhu cầu khách quan của
cuộc sống, phù hợp với xu thế của thời đại thì giáo dục phải là một bộ phận
khăng khít hữu cơ, phải là hoạt động tiền đề của mọi hoạt động.
Giáo dục vừa là một ngành hoàn chỉnh, hoạt động với tinh thần chủ động
sáng tạo theo mục tiêu nhiệm vụ của chính phủ giao cho nhưng cũng lại vừa là
một bộ phận chủ chốt trong hệ thống tổng thể của đất nước với tư cách là một
loại dịch vụ quan trọng, hoạt động theo cơ chế thị trường.
Theo quan niệm của WTO - Tổ chức thương mại thế giới (WTO), giáo
dục là dịch vụ thương mại. Trong lần đàm phán với chúng ta, WTO đã đề cập
nhiều đến giáo dục. Trong hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng có điều khoản
nêu rõ giáo dục phải chịu sự điều chỉnh một phần của hoạt động thương mại. Rõ
ràng ngày nay, thương mại có một tầm hoạt động và tác dụng rộng lớn, có tính
xã hội rất cao. Nhiều nước ở Châu Âu xác định nền kinh tế xã hội hiện nay gồm
3 loại: kinh tế khai thác, kinh tế chế biến và kinh tế dịch vụ. Người ta phân giáo
dục vào loại kinh tế 3. Vậy tại sao chúng ta có chủ trương hội nhập sâu rộng và
chủ trương xã hội hóa giáo dục mà còn ngần ngại khi cho rằng giáo dục là một
loại hình dịch vụ?
Quan điểm này còn được nhấn mạnh trong bản Dự thảo Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật giáo dục năm 2005 (Hồ sơ Dự án Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật giáo dục do Chính phủ trình quốc hội). Trong bản
thuyết minh dự thảo Chính phủ trình Quốc hội, đề nghị sửa đổi Điều 13, đã
khẳng định rằng “Giáo dục là loại hình dịch vụ đặc biệt”.
Giáo dục đào tạo là một lĩnh vực đặc thù, khác với lĩnh vực kinh tế, trong
đó đối tượng là con người chứ không phải là hàng hóa hay lợi nhuận, do đó cần
phải khẳng định một số quan điểm và phải có những giải pháp hết sức cụ thể. Sẽ
còn rất nhiều tranh cãi vì đây là vấn đề rất nhạy cảm nhưng cũng phải thống nhất
rằng “Giáo dục không phải là thị trường nhưng giáo dục có nhiệm vụ cung ứng
dịch vụ học tập cho xã hội”, bản thân nó cũng có tính cạnh tranh, có sự đầu tư
để đạt được những lợi ích cho cả nhà đầu tư và cho toàn xã hội. Bởi lẽ đó chúng
ta không nên né tránh khía cạnh dịch vụ trong giáo dục đào tạo mà nên coi đó là
cơ hội để nâng cao chất lượng giáo dục, mang lại những giá trị cao quý cho xã
hội, giá trị cao quý nhất là con người được đào tạo bài bản và có tri thức. Theo
quan điểm chính thống, giáo dục đào tạo vẫn phải là sự nghiệp của nhà nước
chăm lo cho nhân dân chứ không được hiểu xã hội hóa giáo dục là chuyển tất cả
các hoạt động giáo dục dào tạo cho các thành phần “phi nhà nước” tổ chức và
quản lý. Vai trò của xã hội hóa là chấm dứt một số hoạt động bao cấp không cần
thiết trong giáo dục, cung cấp các tiện nghi tốt hơn cho một bộ phận nhân dân có
điều kiện tài chính cao hơn, làm nhẹ gánh ngân sách nhà nước để tập trung
nguồn lực cho đại bộ phận người dân còn khó khăn.
Cá nhân em đồng tình với quan điểm coi giáo dục là một ngành dịch vụ đặc
thù nên hoạt động đầu tư cho lĩnh vực giáo dục cũng có những điểm đặc thù so
với đầu tư vào những lĩnh vực khác. Điểm đặc thù không chỉ ở chỗ giáo dục là
một lĩnh vực đặc biệt mà còn ở chỗ đầu tư cho giáo dục là đầu tư có điều kiện và
được ưu đãi đầu tư.
- Thứ hai, đầu tư cho giáo dục là hoạt động đầu tư có điều kiện và được
ưu đãi đầu tư
Theo Luật đầu tư 2005, “Phát triển sự nghiệp giáo dục” được quy định là
lĩnh vực ưu đãi đầu tư (Điều 27), và là lĩnh vực đầu tư có điều kiện (Điều 29).
Về ưu đãi đầu tư, Giáo dục được coi là lĩnh vực tiên phong, là ngành nghề
được khuyến khích trên cơ sở có chọn lọc giữa các ngành trong toàn xã hội. Nhà
nước dành cho giáo dục một cơ chế ưu tiên, tạo điều kiện để thu hút và sử dụng
hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Những quy định về ưu đãi đầu tư được ghi nhận cả trong pháp luật về đầu tư và
pháp luật về giáo dục, tạo nên một khung pháp lí chung cho các nhà đầu tư trên
cơ sở không phân biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Nội dung
của ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực giáo dục gồm ưu đãi về tài chính, về đất đai cho
xây dựng trường học, ưu đãi về thuế thu nhập; đảm bảo cân đối ngoại tệ đối với
cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài.
Về điều kiện đầu tư, gồm điều kiện đối với chủ thể đầu tư, điều kiện thành
lập và hoạt động của cơ sở giáo dục, điều kiện về vốn đầu tư và cơ sở vật chất...
Tuy trên thực tế chúng ta hướng tới mục đích đảm bảo đối xử công bằng giữa
nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài nhưng trong lĩnh vực giáo dục là
lĩnh vực đầu tư đặc biệt, vẫn có sự phân biệt nhất định giữa hai loại chủ thể đầu
tư này.
Cụ thể các quy định của pháp luật về ưu đãi đầu tư và điều kiện đầu tư trong
lĩnh vực giáo dục sẽ được trình bày ở Chương 2.
1.1.3. Các hình thức đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
Hình thức đầu tư là cách tiến hành hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư theo
quy định của pháp luật. Trong điều kiện, và môi trường giáo dục, hình thức đầu
tư là cách thức mà pháp luật cho phép các nhà đầu tư sử dụng nguồn lực đầu tư,
liên kết và thụ hưởng kết quả đầu tư. Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện mà mình
có thể đáp ứng, các nhà đầu tư có thể lựa chọn những hình thức đầu tư trên cơ sở
luật định.
Theo quy định của Luật Đầu tư 2005, hình thức đầu tư mà nhà đầu tư được
phép tiến hành bao gồm hình thức đầu tư trực tiếp (Khoản 2 Điều 3 LĐT) và
hình thức đầu tư gián tiếp (Khoản 3 Điều 3 LĐT 2005). Luật đầu tư 2005 quy
định hai loại hình thức đầu tư cơ bản tuy nhiên trong từng lĩnh vực lại có những
quy định về hình thức đầu tư cụ thể dựa trên hai hình thức cơ bản đó. Trong
phạm vi khóa luận chủ yếu nghiên cứu hình thức đầu tư trực tiếp của các nhà
đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.
• Đối với nhà đầu tư trong nước:
- Đầu tư góp vốn thành lập cơ sở giáo dục đào tạo ngoài công lập theo hình
thức dân lập, tư thục ở mọi bậc học, cấp học.
- Các doanh nghiệp mở lớp đạo tạo tại doanh nghiệp, phối hợp đào tạo với
cơ sở đào tạo, cử người đi đào tạo…
- Đầu tư xây dựng công trình phục vụ cho giáo dục; phát triển sự nghiệp
giáo dục (mở thư viện, trung tâm tin học…).
• Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: Cơ sở giáo dục nước ngoài; Tổ chức kinh
tế, cá nhân nước ngoài; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Hình thức đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đào tạo gồm:
- Thành lập các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài theo hình thức
100% vốn nước ngoài (gọi tắt là cơ sở giáo dục 100% vốn đầu tư nước ngoài).
Cơ sở này thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tự quản và tự chịu trách
nhiệm về kết quả thực hiện hoạt động giáo dục đao tạo.
- Thành lập cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài theo hình thức liên
doanh trên cơ sở hợp đồng liên doanh kí giữa hai bên hoặc nhiều bên để đầu tư
thực hiện các hoạt động giáo dục đào tạo tại Việt Nam (gọi tắt là cơ sở giáo dục
đào tạo liên doanh).
- Hợp tác giáo dục trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh được kí giữa hai
bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư thực hiện hoạt động giáo dục – đào tạo
tại Việt Nam, trong đó quy trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho
mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.
Các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo theo
một trong các hình thức đầu tư nêu trên.
Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép thành lập cơ sở giáo dục, hợp
tác giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học và trình độ đào tạo. Theo quy định
pháp luật, theo những cam kết quốc tế thì hạn chế nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
xây dựng cơ sở giáo dục ở bậc học mầm non, tiểu học và trung học. Đối với xây
dựng cơ sở đào tạo cho người nước ngoài đang sống và làm việc tại Việt Nam
thì được phép ở mọi cấp học. Đối với cơ sở giáo dục cho người Việt Nam có
vốn đầu tư nước ngoài thì có ở bậc trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học,
sau đại học. Khuyến khích mở các lớp đào tạo ngắn hạn, đào tạo ngoại ngữ, đại
học và sau đại học. Theo lộ trình cam kết gia nhập WTO thì từ 01/01/2009, sẽ
chính thức cho phép thành lập trường đại học 100% vốn đầu tư nước ngoài. Thí
điểm thành lập các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài theo hình thức liên
doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
để thực hiện hoạt động giáo dục trung học phổ thông cho người nước ngoài và
người Việt Nam.
1.2. Lí luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trong lĩnh vực
giáo dục
1.2.1. Khái niệm pháp luật về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
Pháp luật về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bao gồm những quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức
và thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục. Quan hệ đầu tư này vừa
chịu sự điều chỉnh của pháp luật về đầu tư vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật
về giáo dục.
Bản thân Luật đầu tư theo nghĩa rộng là một lĩnh vực pháp luật bao gồm các
quy phạm, các chế định được quy định trong các văn bản pháp luật thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau (như luật hiến pháp, luật doanh nghiệp, luật thương mại, luật
đầu tư…) điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và
thực hiện hoạt động đầu tư. Luật đầu tư chỉ quy định chung về hoạt động đầu tư
còn việc nhà đầu tư chọn lĩnh vực đầu tư nào thì hoạt động đầu tư cụ thể đó sẽ
do pháp luật của lĩnh vực đầu tư đó cùng điều chỉnh và quy định cụ thể.
Pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là sự giao thoa của hai lĩnh vực
pháp luật, đó là pháp luật về đầu tư và pháp luật về giáo dục, điều chỉnh các
quan hệ đầu tư kinh doanh phát sinh khi nhà đầu tư bỏ vốn tạo lập cơ sở, tiến
hành các hoạt động đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục. Trong đó luật đầu tư
quy định các vấn đề pháp lí, quy định về mặt thủ tục cho các hoạt động chuẩn bị,
thực hiện và quản lí dự án đầu tư, còn luật giáo dục quy định cụ thể chủ thể nào,
được đầu tư dưới hình thức nào, điều kiện đầu tư ra sao và được hưởng những
ưu đãi nào…
1.2.2. Sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu
tư trong lĩnh vực giáo dục
• Quan hệ giữa luật đầu tư và luật giáo dục:
Dưới góc độ là hai lĩnh vực trong hệ thống pháp luật, luật đầu tư và luật giáo
dục có tính chất, nội dung và phạm vi khác nhau, được xây dựng dựa trên đối
tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của mỗi ngành. Mỗi lĩnh vực điều
chỉnh những nhóm quan hệ nhất định trong đời sống xã hội. Tuy nhiên các mối
quan hệ xã hội có sự liên kết, tương tác lẫn nhau, không có quan hệ biệt lập nên
pháp luật được xây dựng để điều chỉnh chúng cũng có tính chất tương tự, cũng
có mối quan hệ qua lại với nhau tạo thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật.
Luật đầu tư và Luật giáo dục cùng nằm trong một hệ thống đồng bộ nên giữa
hai lĩnh vực pháp luật phải có sự phù hợp, phải được xây dựng trên cơ sở thống
nhất từ văn bản luật đến văn bản dưới luật theo hướng: đầu tư trong lĩnh vực
giáo dục thực hiện theo quy định của hệ thống pháp luật chuyên ngành. Tức là,
Luật đầu tư đưa ra những quy định khung, còn hoạt động đầu tư cụ thể thì chiểu
theo quy định của Luật giáo dục. Pháp luật về giáo dục trong phạm vi điều chỉnh
của mình, quy định cụ thể điều kiện, hình thức, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của
nhà đầu tư khi thực hiện một dự án đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục.
Như vậy, Luật Đầu tư và Luật Giáo dục có quan hệ tương hỗ, gắn bó khăng
khít với nhau, chứa đựng những quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một quan
hệ xã hội. Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục vừa chịu sự điều chỉnh
khung của luật đầu tư vừa chịu sự điều chỉnh chi tiết của các quy phạm pháp luật
trong lĩnh vực giáo dục.
• Sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư
trong lĩnh vực giáo dục:
Pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục chỉ “thực sự” được xây dựng sau
khi hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII (họp từ ngày
22 đến ngày 29 tháng 12 năm 1997) chính thức đưa “xã hội hóa giáo dục” vào
đời sống. Theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thức VIII của
Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997
về phương hướng xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và Nghị định
số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 về chính sách khuyến khích xã
hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao.
Sau khi đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 90 và Nghị định 73, Chính phủ
đã quyết định ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh và nâng cao
chất lượng xã hội hóa trong các lĩnh vực nói trên trong đó có giáo dục nhằm
thống nhất hơn nữa về nhận thức và chủ trương, có cơ chế, chính sách cụ thể, có
giải pháp và bước đi thích hợp đến năm 2010. Luật Giáo dục số 11/1998/QH10
(đã hết hiệu lực), đã ghi nhận “xã hội hóa giáo dục” tại Điều 10; và đến nay,
Luật Giáo dục 2005 hiện hành quy định về “xã hội hóa sự nghiệp giáo dục” tại
Điều 12; coi phát triển giáo dục là sự nghiệp của nhà nước và toàn dân. Như
vậy chủ trương xã hội hóa giáo dục đã dần đi vào đời sống, được pháp luật ghi
nhận và đã trở thành một khái niệm quen thuộc. Theo cách hiểu chung nhất thì
xã hội hóa giáo dục chính là khuyến khích sự tham gia rộng rãi của nhân dân,
của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp giáo dục, mở rộng các nguồn đầu tư,
khai thác tiềm năng, nhân lực vật lực, tài lực trong và ngoài nước, phát huy và
sử dụng hiệu quả những nguồn lực này để phát triển giáo dục. Thực hiện xã hội
hoá nhằm hai mục tiêu lớn: thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất
trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục; thứ hai là tạo
điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được
thụ hưởng thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao.
Xã hội hóa giáo dục có ý nghĩa là nhà nước phải tạo ra không gian xã hội,
luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy ai
cũng có quyền đóng góp vì sự nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chất
lượng giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội.
Tuy còn nhiều cách hiểu khác nhau về chủ trương này nhưng đây thực sự là
nền tảng cho các quy định của pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục phát
triển và hoàn thiện.
Trước khi có chủ trương xã hội hóa giáo dục, hoạt động đầu tư cho giáo dục
không có sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân, chi cho hoạt động này chỉ có
ngân sách nhà nước. Đến nay, hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là sự
nghiệp của toàn dân, có sự đóng góp của toàn xã hội, là quan điểm chủ đạo để
ban hành các quy định pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thu hút
và sử dụng hiệu quả các nguồn đầu tư phát triển giáo dục.
Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của
Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định tại Điều 36 như sau:
“Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu,
chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử
và hệ thống văn bằng.
Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục
phổ thông, giáo dục nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo
dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập
và các hình thức giáo dục khác.
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư
khác…”
Trong pháp luật đầu tư, “phát triển sự nghiệp giáo dục” được quy định là lĩnh
vực được ưu đãi đầu tư từ rất sớm (Khoản 2, Điều 15 Luật Khuyến khích đầu tư
trong nước – sửa đổi năm 1998 – đã hết hiệu lực). Cùng thời điểm đó, Luật Giáo
dục số 11/1998/QH10 quy định về xã hội hóa giáo dục và đầu tư cho giáo dục
trên cơ sở phù hợp với chủ trương của Đảng và pháp luật về đầu tư.
Điều 12 Luật giáo dục 1998 quy định: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát
triển.
Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo
dục.
Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho
giáo dục”.
Có thể thấy, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực đầu tư và pháp luật về giáo
dục đã bước đầu quy định về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt
động quan trọng và được khuyến khích, ưu đãi.
Luật đầu tư 2005 ra đời là kết quả của quá trình phát triển các quy định pháp
luật về đầu tư. Luật đầu tư 2005 thay thế Luật khuyến khích đầu tư trong nước
và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo Luật đầu tư 2005 thì “phát triển
sự nghiệp giáo dục đào tạo” là Lĩnh vực ưu đãi đầu tư (Khoản 6 - Điều 27), và là
Lĩnh vực đầu tư có điều kiện (Điểm h – Khoản 1 – Điều 29). Cùng năm 2005,
Luật Giáo dục mới ra đời, quán triệt tinh thần “phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu” (Điều 9), Luật Giáo dục 2005 quy định về đầu tư cho giáo dục tại
Điều 13 như sau: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nhà nước ưu tiên
đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá
nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục. Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ
yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục ”.
Thêm nữa, Mục 2, Chương VII Luật Giáo dục 2005 cũng quy định về Đầu tư
cho giáo dục, các điều từ Điều 101 đến Điều 106. Các quy định này thể hiện
chính sách phát triển giáo dục là ưu tiên hàng đầu, huy động nguồn lực từ ngân
sách nhà nước, từ sự đóng góp, đầu tư từ những tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước cùng chung tay vì sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Mục 3, Chương VII Luật giáo dục 2005 (các điều từ Điều 107 đến Điều 110)
quy định về hợp tác quốc tế về giáo dục, với tinh thần mở rộng, phát triển hợp
tác quốc tế về giáo dục theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia,
bình đẳng và các bên cùng có lợi. Theo quy định của mục này thì tổ chức, cá
nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được
Nhà nước Việt Nam khuyến khích, tạo điều kiện đầu tư về giáo dục ở Việt Nam,
được bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam,
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trong Luật Đầu tư và Luật Giáo dục đều căn cứ vào vai trò, chức năng của
Chính phủ, giao cho Chính phủ việc quy định chi tiết các vấn đề về hợp tác đầu
tư trong lĩnh vực giáo dục của các nhà đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam. Thời gian
qua, Chính phủ với nhiệm vụ của mình, đã có những hoạt động tích cực, hiệu
quả trong việc ban hành những văn bản dưới luật, hướng dẫn cụ thể việc thực
hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục. Trong hệ thống các văn bản dưới
luật, cũng có rất nhiều văn bản do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư ban hành, cụ thể hóa quy định về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục trong Luật
Đầu tư 2005 và Luật giáo dục 2005. Đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài, các
văn bản quan trọng như:
- Nghị định của Chính phủ số 06/2000 ngày 06/3/2000 về việc hợp tác đầu
tư nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu
khoa học.
- Thông tư liên tịch bộ giáo dục và Đào tạo – Bộ Kế hoạch và đầu tư số
14/2005/TTLT – BGD&ĐT – BKH&ĐT ngày 14 tháng 4 năm 2005 hướng dẫn
một số điều của Nghị định số 06/2000/NĐ-CP ngày 06/03/2000 của Chính phủ
về việc hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục
đào tạo, nghiên cứu khoa học.
Đối với việc thu hút đầu tư trong nước, Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành
những văn bản quy định về quy chế tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục
ngoài quốc dân. Việc tổ chức và thành lập các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư
ngoài ngân sách nhà nước này hoạt động theo quy chế riêng, theo điều lệ tương
ứng với từng cấp học và bậc học. Ví dụ trong hệ thống các cơ sở giáo dục mầm
non, có các văn bản:
- Quyết định của Bộ Giáo dục và đào tạo số 14/2008/QQD-BGD&ĐT ngày
07/4/2008 Ban hành điều lệ trường mầm non;
- Quyết định của Bộ Giáo dục và đào tạo số 41/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày
25/7/2008 Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động trường Mầm non tư thục…
Như vậy, hoạt động đầu tư góp vốn thành lập các cơ sở giáo dục của các nhà
đầu tư trong nước chủ yếu được quy định chi tiết ở các bản quy chế, điều lệ
tương ứng với từng cấp học, bậc học. Hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước
ngoài chủ yếu chịu sự điều chỉnh của các quy định về hợp tác quốc tế trong Luật
Giáo dục và các văn bản hướng dẫn.
Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động đầu tư trong
lĩnh vực giáo dục, không thể không kể đến những Điều ước quốc tế, những bản
cam kết mà Việt Nam đã gia nhập. Tiêu biểu nhất là Biểu cam kết cụ thể về
thương mại dịch vụ - là kết quả đàm phán quan trọng giữa Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam với các thành viên WTO và là phụ lục của Nghị định thư gia
nhập WTO của Việt Nam. Biểu cam kết dịch vụ gồm 3 phần: cam kết chung,
cam kết cụ thể và danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc (MFN).
Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của Ban Thư ký WTO, có tất cả 11
ngành
1
và 155 phân ngành
2
dịch vụ được các Thành viên WTO tiến hành đàm
phán trong đó có dịch vụ giáo dục.
Trong Biểu cam kết, nội dung cam kết đối với dịch vụ giáo dục thể hiện mức
độ mở cửa thị trường đối với dịch vụ này và mức độ đối xử quốc gia dành cho
nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Trong đó có một vài điểm chú ý như: - Không
1
11 ngành dịch vụ được phân loại theo GATS gồm: 1) dịch vụ kinh doanh; 2) dịch vụ thông tin; 3) dịch vụ xây
dựng; 4) dịch vụ phân phối; 5) dịch vụ giáo dục; 6) dịch vụ môi trường; 7) dịch vụ tài chính; 8) dịch vụ y tế; 9)
dịch vụ du lịch; 10) dịch vụ văn hoá giải trí; 11) dịch vụ vận tải.
2
Mỗi ngành trong số 11 ngành dịch vụ chia nhỏ thành các hoạt động dịch vụ cấu thành được gọi là các phân
ngành dịch vụ. Phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm của mình, mỗi ngành dịch vụ có thể có ít hay nhiều phân
ngành dịch vụ.
hạn chế trong tiếp cận thị trường đối với phương thức cung cấp dịch vụ thương
mại qua hiện diện của thể nhân, ngoại trừ: Kể từ ngày gia nhập WTO chỉ cho
phép thành lập liên doanh; Cho phép phía nước ngoài sở hữu đa số vốn trong
liên doanh; Kể từ 01/01/2009 cho phép thành lập cơ sở 100% vốn nhà đầu tư
nước ngoài; Sau 3 năm gia nhập không hạn chế tiếp cận thị trường. - Không hạn
chế đối xử quốc gia đối với phương thức cung cấp dịch vụ thương mại qua hiện
diện của thể nhân, ngoại trừ : Giáo viên nước ngoài làm việc tại cơ sở đào tạo có
vốn đầu tư nước ngoài phải có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm giảng dạy và phải
được Bộ giáo dục và đào tạo của Việt Nam công nhận.
Với những thỏa thuận như vậy, thể hiện chủ trương hội nhập sâu rộng của
Việt Nam đối với thị trường thế giới trong lĩnh vực giáo dục. Mục tiêu của
chúng ta chính là để chất lượng giáo dục được nâng cao ngang tầm với khu vực
và thế giới, kết quả của giáo dục đào tạo phải được quốc tế công nhận. ngoài ra
còn là sự tiếp thu, vận dụng thành tựu giáo dục của nước ngoài, mang lại những
lợi ích lâu dài và vô giá cho đất nước.
Từ quan điểm quản lí kinh tế bằng pháp luật, đáp ứng yêu cầu đảm bảo
quyền tự do và bình đẳng trong đầu tư kinh doanh, mở rộng quyền đầu tư cho
các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế, pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực
giáo dục không ngừng phát triển và hoàn thiện. Luật đầu tư 2005 ra đời và việc
ban hành Giáo dục 2005 là một bước tiến lớn sự phát triển của pháp luật đầu tư
trong lĩnh vực giáo dục, tạo lập cơ sở pháp lí bình đẳng, thống nhất trong
khuyến khích và bảo đảm đầu tư ở Việt Nam, thu hẹp khoảng cách với thông lệ
và pháp luật thế giới.
Chương 2. Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động đầu tư
trong lĩnh vực giáo dục
1.3. Chủ thể của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
Quan hệ đầu tư nói chung cũng như quan hệ đầu tư trong lĩnh vực giáo dục
đều có tính xác định về cơ cấu chủ thể. Pháp luật quy định những chủ thể được
tham gia quan hệ pháp luật đầu tư trong lĩnh vực giáo dục xuất phát từ tính chất
của hoạt động đầu tư, để bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức và của toàn xã hội.
Các chủ thể đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia quan
hệ đầu tư được coi là có năng lực pháp luật chủ thể pháp luật đầu tư. Hai nhóm
chủ thể cơ bản của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục gồm nhà đầu tư và
cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư.
1.3.1. Nhà đầu tư
Theo quy định chung về đầu tư, trước đây chủ thể của quan hệ đầu tư được
quy định khác nhau giữa đầu tư trong nước và đầu nước ngoài, đồng thời chủ thể
của quan hệ đầu tư được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau. Khi Luật
đầu tư 2005 ra đời đã mở rộng chủ thể của quan hệ đầu tư và quy định thống
nhất về chủ thể của quan hệ đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Theo
khoản 4 Điều 3 Luật đầu tư 2005, nhà đầu tư được hiểu là tổ chức cá nhân,thực
hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm: Doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp; hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã; doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật đầu tư có hiệu lực; hộ kinh doanh,
cá nhân; tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
người nước ngoài thường trú ở Việt Nam và các tổ chức khác theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
Quy định về nhà đầu tư theo Luật đầu tư năm 2005 thể hiện quan điểm không
phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư thuộc các hình thức sở hữu, các thành phần
kinh tế khác nhau, không phân biệt quốc tịch của nhà đầu tư. Đây là cơ sở quan
trọng đảm bảo quyền tự do và bình đẳng giữa các nhà đầu tư, đáp ứng yêu cầu
bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Điều 13 Luật giáo dục quy định: “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục,
khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong
nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư
cho giáo dục”. Đó là những quy định chung nhất trong Luật giáo dục, cho chúng
ta một cái nhìn tổng quát về các nhà đầu tư. Cùng với đó, tại Mục 2, Chương VII
– Đầu tư cho giáo dục, Luật Giáo dục cũng quy định về đầu tư cho giáo dục của
tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Văn bản Luật chỉ dừng lại ở quy
định chung chung, chưa chỉ rõ tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài gồm
những đối tượng cụ thể nào. Trong các văn bản dưới luật, đã chỉ rõ phạm vi chủ
thể, chỉ rõ đối tượng là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Theo
Thông tư 14/2005/TT-BGD&ĐT-BKH&ĐT hướng dẫn Nghị định 06/2000/NĐ-
CP về việc hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo
dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, phạm vi nhà đầu tư được quy định như
sau:
- Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: Cơ sở giáo dục nước ngoài; tổ chức
kinh tế, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trong đó có
thể hiểu như sau:
+ Cơ sở giáo dục nước ngoài là cơ sở giáo dục được thành lập theo pháp luật
nước ngoài;
+ Tổ chức kinh tế nước ngoài là tổ chức kinh tế được thành lập theo pháp
luật nước ngoài;
+ Cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người
có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch;
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam và
người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài (Điều 3
– Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ
Luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài).

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×