Tải bản đầy đủ

hoạt động tuyên truyền pháp luật của các Tổ chức xã hội trên địa bàn một số địa phương

BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Đảng CSVN: Đảng cộng sản Việt Nam
Đoàn TNCSHCM: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Hội CCB : Hội Cựu Chiến Binh.
Hội LHPNVN: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Hội NDVN: Hội Nông dân Việt Nam.
MTTQVN: Mặt trận tổ quốc Việt Nam.
TCXH: Tổ chức xã hội.
.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Tuyên truyền pháp luật, nâng cao hiểu biết, ý thức pháp luật cho nhân dân,
từng bước xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật là một trong
những đòi hỏi cấp thiết của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là tiền đề quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh
hiện nay, khi Việt Nam đang từng bước hội nhập với thế giới về mọi mặt
kinh tế, văn hóa, xã hội…Đối với các TCXH, tuyên truyền pháp luật là một
trong những nội dung quan trọng trong hoạt động của các tổ chức này. Là
những tổ chức được hình thành trên cơ sở tự nguyện, thu hút đông đảo nhân
dân tham gia nên TCXH có điều kiện thuận lợi để thực hiện việc tuyên

truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho hội viên và quần chúng nhân dân,
góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật cho các đối
tượng này. Trong thời gian qua, với các quy định về hoạt động tuyên truyền
pháp luật của TCXH, hoạt động này đã đạt được những kết quả nhất định, tuy
nhiên bên cạnh đó còn những hạn chế cần khắc phục để phát huy hơn nữa vai
trò của TCXH trong lĩnh vực tuyên truyền pháp luật. Để tìm hiểu về TCXH
và vai trò của TCXH trong lĩnh vực tuyên truyền pháp luật, tác giả đã chọn
đề tài này để nghiên cứu làm khóa luận.
2. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu các quy định về hoạt động tuyên truyền pháp luật của TCXH
trong các văn bản có liên quan.
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động tuyên truyền pháp luật của các TCXH trên
địa bàn một số địa phương, qua đó rút ra những kinh nghiệm trong thực
hiện hoạt động này.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Các quy phạm pháp luật về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của TCXH trong
lĩnh vực tuyên truyền pháp luật trong các văn bản pháp luật có liên quan.
- Kết quả đạt được từ việc áp dụng các quy định về tuyên truyền pháp luật
của TCXH trên thực tế.
4. Phạm vi nghiên cứu.
- Các quy định pháp luật về hoạt động tuyên truyền pháp luật của TCXH
trong các văn bản Luật như Luật Mặt trận tổ quốc, Luật Công đoàn…,và
các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan
- Các văn bản pháp luật về các chương trình tuyên truyền pháp luật có sự
tham gia của TCXH.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Khóa luận tập trung nghiên cứu các vấn đề chung về TCXH và những quy
định hiện hành về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của TCXH trong hoạt động
tuyên truyền pháp luật được quy định tại Luật Mặt trận tổ quốc, Luật Công
đoàn và các văn bản khác có liên quan đến chương trình tuyên truyền pháp
luật có sự tham gia của các TCXH. Khóa luận đã đi sâu vào nghiên cứu vai
trò của mỗi TCXH trong lĩnh vực tuyên truyền pháp luật tại các địa bàn trên
phạm vi cả nước, qua đó rút ra những biện pháp, hình thức tuyên truyền pháp
luật có hiệu quả của mỗi loại hình TCXH. Đây là đề tài nghiên cứu mới
không chỉ giúp cho việc hiểu thêm về thực trạng hoạt động tuyên truyền pháp
luật của TCXH mà tác giả còn mong đóng góp công sức trong việc nâng cao
hơn nữa vai trò của TCXH trong lĩnh vực tuyên tuyền pháp luật bằng việc chỉ
ra những hạn chế trong hoạt động này và đưa ra những giải pháp để khắc
phục.
6. Cấu trúc của khóa luận.


Khóa luận được chia thành 3 phần lớn:
Chương I: Một số vấn đề chung về TCXH.
Chương II: Thực trạng quy định pháp luật về hoạt động tuyên truyền pháp
luật của TCXH và hoạt động tuyên truyền pháp luật của TCXH.
Chương III: Những giải pháp nâng cao vai trò của TCXH trong lĩnh vực
tuyên truyền pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TCXH
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TCXH.
1.1.1 Khái niệm
Hiện nay vẫn tồn tại một số quan niệm khác nhau về TCXH. Cụ thể :
Theo quan niệm của Khoa Luật, Đại Học Quốc Gia Hà Nội thì: “TCXH là
bộ phận của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, được hình thành theo nguyên tắc
tự nguyện và hoạt động theo nguyên tắc tự quản của những thành viên tham gia
nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng của họ, thu hút đông đảo quần chúng vào
quản lý các công việc của nhà nước và xã hội, nâng cao tính tích cực chính trị
của cá nhân công dân”.
Trường Đại Học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan niệm như sau: “TCXH là
hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam có chung mục đích,
hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ, không vì mục đích lợi nhuận nhằm đáp
ứng lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước,
quản lý xã hội”
Theo Nghị Định 88/2003/NĐ-CP ngày 30/07/2003, TCXH được gọi là Hội và
được hiểu như sau: “Hội được quy định trong Nghị Định này được hiểu là tổ
chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích,
cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động
có hiệu quả, góp phần và việc pháp triển kinh tế, xã hội của đất nước, được tổ
chức và hoạt động theo nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có
liên quan”.
Trên đây là những quan niệm hiện nay về TCXH ở nước ta hiện nay, qua
đó có thể thấy rằng TCXH được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Quan điểm thứ
nhất khẳng định: Các TCXH là bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị ở nước
ta, được hình thành trên cơ sở tự nguyện, hoạt động theo nguyên tắc tự quản
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về lợi ích của các thành viên, nâng cao tính tích
cực chính trị của cá nhân công dân. Quan niệm thứ hai cho rằng TCXH là những
tổ chức được hình thành trên cơ sở tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam,
là tập hợp của những người có chung đặc điểm nhất định, hoạt động theo pháp
luật và theo điều lệ, không nhằm mục đích lợi nhuận, nhằm đáp ứng lợi ích
chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Như vậy quan niệm thứ nhất và thứ hai đều khẳng định các TCXH được
hình thành trên cơ sở tự nguyện của các thành viên tham gia, hoạt động theo
nguyên tắc tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ, hoạt động không
vì mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền lợi của các thành viên và thu hút
nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Tuy nhiên hai quan
niệm này cũng có sự khác biệt nhất định: Quan niệm thứ nhất khẳng định TCXH
là bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam, còn quan
niệm thứ hai lại không nhìn nhận TCXH theo góc độ này mà đưa ra quan niệm
về TCXH dựa trên các đặc điểm chung của TCXH. Một điểm khác biệt nữa
trong hai quan niệm trên là quan niệm thứ nhất đưa ra mục đích hoạt động của
TCXH nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng của các thành viên; còn theo quan
niệm thứ hai thì không phải mọi lợi ích đều được bảo vệ mà chỉ những lợi ích
chính đáng của các thành viên mới được đáp ứng.
Đối với quan niệm thứ nhất, nếu xem xét từ góc độ TCXH là thành viên
của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cũng phải nhận thấy rằng
không phải tất cả các TCXH đều là thành viên của hệ thống chính trị, trên thực
tế chỉ có các tổ chức sau: Đảng cộng sản Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội
Cựu chiến binh Việt Nam mới là thành viên của hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Mặt khác cũng phải thấy rằng tuy TCXH hình thành chủ yếu
nhằm đáp ứng cho lợi ích của các thành viên trong tổ chức, nhưng không phải
bất cứ lợi ích nào cũng được đáp ứng mà chỉ những lợi ích “chính đáng, hợp
pháp” không xâm hại đến lợi ích chung của nhà nước, của cộng đồng mới được
đáp ứng. Do vậy quan niệm thứ nhất này không thể áp dụng chung cho tất cả các
TCXH, không thể dùng làm khái niệm chung về TCXH.
TCXH được xác định trong Nghị Định 88/2003/NĐ-CP ngày 30/07/2003
phải thỏa mãn các tiêu chí sau:
• Là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức việt Nam cùng ngành nghề,
cùng sở thích, cùng giới, cùng chung mục đích.
• Hoạt động thường xuyên không vì lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của hội viên
• Hoạt động nhằm pháp triển kinh tế - xã hội đất nước.
Một TCXH nào đó đáp ứng các tiêu chí trên mới là TCXH theo phạm vi
điều chỉnh của Nghị định này. Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 thì Nghị
định này không áp dụng với:
“ a; Mặt Trận tổ Quốc Việt Nam, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam,
Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam,
Hội Cựu Chiến Binh, Hội Nông Dân Việt Nam.
b; Các tổ chức giáo hội…”
Trong khi đó khoản 2 điều 4 Nghị Định này lại quy định “Hội được công
nhận là tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp”. NHư
vậy quy định về TCXH tại khoản 2 điều 1 và khoản 2 điều 4 mâu thuẫn với
nhau, bởi vì thực chất các tổ chức được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 là tổ
chức chính trị - xã hội như quy định tại khoản 2 Điều 4, là một bộ phận cấu
thành của hệ thống TCXH ở nước ta, vậy nhưng các TCXH này lại không được
coi là TCXH theo quy định của Nghị định này. Hơn nữa, khoản 4 điều 2 quy
định Hội được công nhận là tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội
nghề nghiệp, tuy nhiên đó là những tổ chức nào thì Nghị định lại không đưa ra
cách hiểu cụ thể sau khi đã gạt các tổ chức MTTQ, Hội LHPNVN, Hội CCBVN,
Đoàn TNCSHCM, Hội NDVN ra ngoài phạm vi điều chỉnh của Nghi định, điều
này cũng có nghĩa là theo quan niệm của Nghị định 88/2003 thì các tổ chức trên
không phải là tổ chức chính trị - xã hội. Đây là điểm bất cập của Nghị định
88/2003/NĐ-CP ngày 30/07/2003, nó làm cho quan niệm về TCXH quy định tại
Nghị định này có nội hàm hẹp, trong khi đó trên thực tế các TCXH có nội hàm
rộng và được phân loại thành tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, và các tổ chức khác…với sự góp mặt của MTTQ và các tổ
chức thành viên dưới tên gọi chung là các tổ chức chính trị - xã hội. Các tổ chức
này đều có những đặc điểm chung của TCXH như được hình thành theo nguyên
tắc tự nguyện, hoạt động tự quản vì lợi ích hợp pháp của các thành viên, không
nhằm mục đích lợi nhuận, hoạt động nhằm pháp triển kinh tế xã hội của đất
nước.
Như vậy, quan niệm về TCXH theo quy định tại Nghị định 88/2003/NĐ-CP
không dành cho các tổ chức chính trị - xã hội hay các tổ chức giáo hội, mà chỉ
được dùng để chỉ một bộ phận trong hệ thống các TCXH ở nước ta. Do đó quy
định này có phạm vi hẹp và không thể áp dụng chung cho các TCXH.
Khắc phục nhược điểm đã nêu trên của Nghị Định 88/2003, dự thảo Luật
về Hội lần thứ 11 đưa ra khái niệm hội như sau:
“ Hội là tổ chức tự nguyện bao gồm những người có cùng nhu cầu, mục
đích, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của hội, hội viên và cộng đồng, góp phần phát triển đất nước vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Hội bao gồm hội có tư cách pháp nhân và hội không có tư cách pháp
nhân…”
So với Nghị định 88/2003 thì đối tượng áp dụng của Dự thảo Luật về Hội
đã được mở rộng, dự thảo cũng đưa ra các dấu hiệu để nhận diện một tổ chức có
phải là TCXH hay không, tuy nhiên với khái niệm này, một đặc điểm quan trọng
của TCXH đó là “hoạt động theo nguyên tắc tự quản” lại không được đề cập đến.
Đây là những điểm bất cập cần được quy định cụ thể.
Giáo trình Luật Hành Chính của trường Đại Học Luật Hà Nội đưa ra khái
niệm về TCXH, tuy không mới nhưng khá ngắn gọn, trình bày một cách đầy đủ,
bao quát về TCXH, giúp ta dễ dàng hình dung về TCXH với những đặc điểm
của tổ chức này.
1.1.2 Đặc điểm của TCXH
Mỗi TCXH đều có những hoạt động đặc thù phản ánh vị trí, vai trò của
mình trong hệ thống chính trị. Mặt khác các TCXH lại có những đặc điểm chung
nhất định phân biệt với các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế. Trên cơ sở khái
niệm đã nêu, ta có thể thấy rõ những đặc điểm chung nhất của TCXH, bao gồm:
Thứ nhất: Các TCXH được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện của các
thành viên cùng chung một lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, cùng sở
thích.
Đây là dấu hiệu đặc trưng thể hiện quyền tự do của công dân trong việc
tham gia hoặc không tham gia một TCXH nhất định. Bất kì TCXH nào được lập
ra đều xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của mỗi cá nhân, không ai có quyền ép
buộc người khác phải tham gia hoặc không được tham gia vào các TCXH. Ở
nước ta các TCXH chủ yếu là do nhân dân thành lập trên cơ sở tự nguyện của
các thành viên có chung một đặc điểm nào đó, ví dụ: Đảng cộng sản Việt nam là
tập hợp những người cùng chung mục đích, lý tưởng chính trị. Những ai có
chung chí hướng, mục tiêu, lý tưởng, mong muốn được đứng trong hàng ngũ của
Đảng và đáp ứng các yêu cầu khác thì có thể trở thành Đảng viên Đảng cộng sản
Việt Nam, không phân biệt thành phần xuất thân, giới tính. Yếu tố tự nguyện
còn thể hiện trong việc kết nạp hay khai trừ các thành viên của TCXH hoàn toàn
do TCXH và các thành viên quyết định. Mặc dù một số TCXH do nhà nước sáng
kiến thành lập ví dụ Đoàn Luật Sư.. nhưng nhà nước không can thiệp và cũng
không sử dụng quyền lực nhà nước để chi phối việc gia nhập, kết nạp thành viên
hay lựa chọn những người đứng đầu tổ chức, mà vấn đề này do điều lệ quy định
phù hợp với tôn chỉ, mục đích hoạt động và dấu hiệu tập hợp thành viên của
chính TCXH đó.
Mỗi TCXH là tập hợp của những thành viên có cùng chung dấu hiệu, đặc
điểm, đó có thể là cùng chung giai cấp như Hội Nông Dân, cùng giới tính như
Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam…hay cùng chung mục đích, lý tưởng như
Đảng Cộng Sản Việt Nam. Với những điểm chung đó, họ liên kết nhau lại, tìm
tiếng nói chung trong một hình thức TCXH nhất định nhằm đáp ứng và bảo vệ
những lợi ích chính đáng của họ.
Thứ hai : Các TCXH nhân danh chính mình tham gia quản lý nhà nước, quản
lý xã hội. Chỉ trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định, TCXH mới hoạt
động nhân danh nhà nước. Xuất phát điểm của nguyên tắc này là bởi các TCXH
được thành lập và hoạt động với mục đích chủ yếu là bảo vệ lợi ích của tổ chức
và các thành viên chứ không phải hoạt động với mục đích thực hiện công vụ, vì
lợi ích của nhà nước và xã hội, hơn nữa là do địa vị của TCXH chỉ là các tổ chức
hình thành trên cơ sở tự nguyện của những người tham gia mà không phải là bộ
phận trong cơ cấu của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đây là đặc điểm phân biệt giữa TCXH và cơ quan nhà nước, khác với TCXH chỉ
nhân danh chính mình, trong trường hợp đặc biệt mới được nhân danh nhà nước,
sử dụng quyền lực nhà nước thì cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình do pháp luật quy định luôn nhân danh nhà nước, sử dụng quyền
lực nhà nước. Nhà nước thừa nhận và bảo hộ sự tồn tại của các TCXH bằng việc
cho phép TCXH được thành lập và hoạt động, quy định các quyền và nghĩa vụ
pháp lý cho các tổ chức đó. Do vậy khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý
này TCXH luôn nhân danh chính tổ chức mình. Chỉ trong một số trường hợp
nhất định được nhà nước trao quyền, cho phép thì TCXH mới được nhân danh
nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước.
Ví dụ: Tổng liên đoàn lao động Việt Nam phối hợp với Bộ lao động
-Thương binh và Xã hội ban hành văn bản liên tịch
Trong trường hợp này, quyết định của TCXH có thể có hiệu lực đối với thành
viên bên ngoài tổ chức.
Thứ ba : Các TCXH hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và điều lệ
do các thành viên trong tổ chức xây dựng.
Mô hình tổ chức tự quản được hiểu là các thành viên của TCXH tự quyết
định cách thức quản lý của tổ chức mà mình tham gia thông qua điều lệ của tổ
chức mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài. Nói cách khác là các thành
viên của TCXH tự quyết định những nội dung quản lý của tổ chức mình như:
việc kết nạp thành viên, bầu ban lãnh đạo, tôn chỉ mục đích hoạt động của tổ
chức.
Dù TCXH hoạt động theo điều lệ hay theo quy định của nhà nước thì hoạt
động của nó vẫn mang tính tự quản, nhà nước không trực tiếp can thiệp vào công
việc nội bộ của TCXH. Phần lớn các TCXH đều có điều lệ hoạt động, đó là
những quy định do các thành viên trong tổ chức xây dựng và ban hành làm cơ sở
cho việc tổ chức và hoạt động của mỗi TCXH, điều lệ này được xây dựng thông
qua đại hội đại biểu hoặc đại hội toàn thể các thành viên, và phải được cơ quan
nhà nước phê chuẩn. Điều lệ của TCXH không phải là văn bản pháp luật, các
quy định trong điều lệ không mang tính pháp lý do đó chúng chỉ điều chỉnh các
quan hệ trong nội bộ TCXH và chỉ có hiệu lực đối với các thành viên trong tổ
chức. Để quản lý các TCXH, nhà nước ban hành quy chế pháp lý hành chính của
TCXH, trong quá trình hoạt động các tổ chức này sẽ tự xử lý các công việc nội
bộ của mình, nhà nước chỉ can thiệp nếu hoạt động của TCXH trái với các quy
định của pháp luật.
Thứ tư : TCXH hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên.
Đây là đặc điểm rõ nét nhất để phân biệt TCXH với các tổ chức kinh tế
như Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay các Hợp tác xã tiểu thủ
công nghiệp, dịch vụ…Trong khi các tổ chức kinh tế luôn coi lợi nhuận là mục
tiêu hàng đầu, quyết định sự tồn tại và hoạt động thì TCXH thường hướng tới
các mục tiêu khác, không mang tính lợi nhuận như tương trợ, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các thành viên; hoạt động vì cộng đồng , vì xã hội trong các
lĩnh vực như y tế, giáo dục, môi trường. Thành viên của TCXH không tham gia
vào tổ chức với ý định tìm kiếm lợi nhuận mà hướng tới đáp ứng những nhu cầu
của cá nhân, xã hội do họ lựa chọn.
Tuy vậy cũng phải hiểu một cách đầy đủ rằng TCXH hoạt động không
nhằm mục đích lợi nhuận nhưng vẫn có thể có các hoạt động có lợi nhuận. Các
TCXH có thể làm kinh tế từ các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch hoặc kinh
doanh gây quỹ nhưng lợi nhuận thu được sẽ được sử dụng cho hoạt động của
TCXH theo điều lệ mà không chia cho bất cứ cá nhân nào trong tổ chức. Trong
quá trình hoạt động, một số hội viên đảm nhận những nhiệm vụ chuyên trách có
thể được trả tiền công nhưng đó không phải là sự phân chia lợi nhuận, và các
hoạt động trên không được coi là mục đích hoạt động chính của TCXH.
Qua những phân tích trên, có thể thấy rằng mỗi TCXH dù có vị trí, vai trò
khác nhau đối với nhà nước và xã hội nhưng đều có những điểm chung nhất định
đó là: được hình thành trên cơ sở ý chí tự nguyện của các thành viên có chung
mục đích, giai cấp, nghề nghiệp; trong hoạt động các TCXH luôn nhân danh
chính tổ chức mình, chỉ trong trường hợp được nhà nước trao quyền, cho phép
thì mới được nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước; TCXH hoạt
động tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ do các thành viên xây
dựng; các TCXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của các thành viên. Đây cũng là những dấu hiệu để nhận biết tổ
chức nào là TCXH.
1.2 PHÂN LOẠI TCXH.
Hiện nay ở nước ta có nhiều TCXH thành lập và hoạt động với những
mục đích, tôn chỉ hoạt động khác nhau, do vậy việc phân loại các TCXH là rất
cần thiết để có các quy định phù hợp với từng loại TCXH. Tuy nhiên cho đến
nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định các tiêu chí cho việc phân loại
các TCXH. Do vậy, mỗi người có thể đưa ra cách phân loại khác nhau tùy theo
tiêu chí mà họ lựa chọn như: căn cứ vào phạm vi hoạt động, mục đích của
TCXH, độ tuổi … thông thường chúng ta có thể phân loại chúng dựa vào vị trí,
vai trò của TCXH đối với nhà nước và xã hội. Với tiêu chí này, TCXH được
phân loại như sau:
 Tổ chức chính trị: là tổ chức mà thành viên gồm những người cùng hoạt động
với nhau vì một khuynh hướng chính trị nhất định, theo đuổi mục tiêu chính trị,
có cương lĩnh, đường lối và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị. Tổ
chức chính trị tập trung những người tiên phong nhất đại diện cho một giai cấp
hay một lực lượng xã hội nhất định thực hiện những hoạt động có liên quan đến
mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và tầng lớp xã hội.
Ở nước ta hiện nay chỉ có một tổ chức chính trị là Đảng cộng sản Việt
Nam được Hiến pháp 1992 quy định là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội
(Điều 4).
 Tổ chức chính trị - xã hội: Đây là những tổ chức quần chúng rộng rãi có cơ
cấu tổ chức hoàn thiện được chia thành nhiều cấp để hoạt động trong phạm vi cả
nước bao gồm những cơ quan, tổ chức, hình thành từ trung ương đến địa phương
theo các đơn vị hành chính lãnh thổ và theo các ngành, lĩnh vực quản lý nhà
nước. Các tổ chức này có điều lệ hoạt động do đại hội đại biểu hoặc đại hội toàn
thể các thành viên thông qua.
Các tổ chức chính trị xã hội ở nước ta gồm: MTTQVN, Công đoàn, Đoàn
TNCSHCM, Hội LHPNVN, Hội NDVN, Hội CCBVN.
 Tổ chức xã hội nghề nghiệp: Là những tổ chức xã hội do nhà nước sáng kiến
thành lập được hình thành theo quy định của nhà nước để đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng của xã hội về phát triển việc làm, mở rộng dân chủ…Có thể nói rằng,
các tổ chức xã hội nghề nghiệp được thành lập để hỗ trợ và phối hợp cùng cơ
quan nhà nước giải quyết một số công việc xã hội, hoạt động nghề nghiệp của
các tổ chức này đặt dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy
nhiên các tổ chức này vẫn có đầy đủ những dấu hiệu chung của tổ chức xã hội:
Hoạt động mang tính tự quản; đảm bảo nguyên tắc tự nguyện khi thành lập tổ
chức; hoạt động không mang tính quyền lực nhà nước. Có thể kể đến một số tổ
chức xã hội nghề nghiệp tiêu biểu là Trung tâm trọng tài, Đoàn Luật sư,..
 Các tổ chức tự quản: được thành lập theo sáng kiến của nhà nước, hoạt động
theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện nhiệm vụ tự quản trong một phạm vi
nhất định đối với các công việc mà nhà nước không trực tiếp quản lý. Khác với
tổ chức chính trị - xã hội là những tổ chức có cơ cấu tổ chức hoàn thiện, được
hình thành từ trung ương đến địa phương để hoạt động trong phạm vi cả nước thì
các tổ chức tự quản được thành lập theo chế độ bầu cử dân chủ, không có cơ cấu
tổ chức chặt chẽ, không tạo thành hệ thống, giữa các tổ chức cùng loại không có
mối quan hệ về mặt tổ chức. Hoạt động của các tổ chức này đặt dưới sự quản lý
trực tiếp của các cơ quan nhà nước hữu quan. Ví dụ: tổ chức thanh tra nhân dân,
tổ dân phố.
 Các hội được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp, sở thích hoặc dấu hiệu
khác: Đây là loại tổ chức xã hội có số lượng nhiều nhất so với các loại tổ chức
xã hội khác, với nhiều tên gọi khác nhau như: Liên hiệp hội, Tổng hội, Liên
đoàn, Câu lạc bộ,.. có thể hoạt động trong phạm vi cả nước hoặc liên tỉnh, trong
phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc trong phạm vi quận, huyện,
xã, phường. Khi thành lập hội phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
phải có điều lệ được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập phê chuẩn. Ví
dụ: Hội được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp như Hiệp hội thủy sản; Hội
nhà văn; Hội nhà báo. Các hội được thành lập theo dấu hiệu khác: Hội người
mù; Hội người khuyết tật; hội đồng hương…
Với cách phân loại như trên, chúng ta có thể dễ dàng phân loại từng hình
thức TCXH cũng như phạm vi hoạt động của chúng, đặc điểm nổi bật của từng
loại hình TCXH. Qua đó giúp cho việc tìm hiểu nghiên cứu về chúng dễ dàng
nhanh chóng hơn.
1.3 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA TCXH TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ.
Cùng với sự phát triển của đất nước, số lượng các TCXH không ngừng
tăng lên cho thấy chúng có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị
nước ta, góp phần tích cực tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội ngày càng
hiệu quả hơn.
Có thể hiểu hệ thống chính trị là liên minh các thiết chế chính trị xã hội có
liên hệ mật thiết với nhau tồn tại và hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của toàn xã hội đồng thời bảo vệ lợi ích, thực hiện những mục đích của giai
cấp thống trị trong xã hội. Ở nước ta, hệ thống chính trị là chỉnh thể các thiết chế
chính trị xã hội có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau nhằm đảm bảo và thực
thi quyền lực của nhân dân. Hiện nay ở nước ta có nhiều loại hình TCXH, mỗi
TCXH có vị trí khác nhau trong hệ thống chính trị:
• ĐCSVN là một bộ phận cấu thành và là hạt nhân chính trị lãnh đạo của hệ
thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với hệ thống chính trị
và đối với xã hội là một nguyên lý xã hội chủ nghĩa nói chung và của
nước ta nói riêng. Củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
nhà nước và hệ hống chính trị là yếu tố quyết định đối với thắng lợi của
công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Từ khi giành được chính quyền đến nay, qua các giai đoạn lịch sử khác
nhau, Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo chính quyền và các tổ chức trong
hệ thống chính trị. Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế thì việc phát huy vai
trò hạt nhân chính trị và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ
thống chính trị ngày càng quan trọng. Nội dung sự lãnh đạo của Đảng đối
với nhà nước và xã hội đã được Đại hội VI của Đảng đề ra một cách cụ
thể và được các Đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X tiếp tục khẳng định và
phát triển bao gồm:
- Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn định hướng cho sự
phát triển của toàn xã hội trong từng thời kì phát triển, trên tất cả các
lĩnh vực;
- Đảng vạch ra những phương hướng và nguyên tắc cơ bản làm cơ sở
cho việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước, củng cố và phát triển hệ
thống chính trị, thiết lập chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động.
- Đảng đề ra những quy định và chính sách về công tác cán bộ; phát
hiện lựa chọn, bồi dưỡng những đảng viên ưu tú và những người ngoài
Đảng có phẩm chất và năng lực giới thiệu với cơ quan nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội thông qua cơ chế bầu cử, tuyển chọn để bố trí
vào làm việc trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã
hội.
Về thực chất, sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội là
lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để nhà nước và các
tổ chức thành viên của hệ thống chính trị có cơ sở để chủ động sáng tạo
trong tổ chức và hoạt động bằng những công cụ, phương pháp và biện
pháp cụ thể của mình.
• MTTQVN là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ
chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu
trong các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài. Với tính chất đó MTTQVN có vai trò hết sức quan trọng
trong hệ thống chính trị. Điều 9 Hiến pháp 1992 đã sửa đổi, bổ sung 2001
ghi nhận “Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở
chính trị của chính quyền nhân dân”. Mục tiêu và nhiệm vụ chính trị của
Mặt trận là pháp huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự thống
nhất về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng
cố chính quyền nhân dân, cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ quyền lợi
chính đáng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ
và viên chức nhà nước.
• Công Đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, là thành viên của hệ thống
chính trị của xã hội chủ nghĩa và là trường học của người lao động. Trong
phạm vi chức năng của mình, Công đoàn tham gia quản lý nhà nước và xã
hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động
khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc; cùng với cơ quan nhà nước chăm lo và
bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân viên chức và những người lao
động.
• Hội Nông Dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông
dân Việt Nam, là thành viên hệ thống chính trị. Trong quá trình hoạt động,
Hội Nông Dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra,
giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; đoàn kết,
giáo dục, nâng cao ý thức và năng lực làm chủ của nông dân; cùng với cơ
quan nhà nước, tổ chức kinh tế tổ chức chăm lo và bảo vệ quyền lợi của
nông dân, kiến nghị với nhà nước những vấn đề cần thiết trong chính sách
phát triển nông nghiệp nông thôn.
• Đoàn TNCSHCM là tổ chức chính trị - xã hội, liên minh tự nguyện của
thanh niên Việt Nam, là đội hậu bị và cánh tay đắc lực của Đảng cộng sản
Việt Nam, là thành viên có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống chính
trị. Trong chức năng, nhiệm vụ của mình Đoàn TNCSHCM tập hợp, đoàn
kết, giáo dục và và rèn luyện thế hệ trẻ, tham gia tích cực vào các hoạt
động của nhà nước và xã hội; phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế và các đoàn thể quần chúng
khác chăm lo và bảo vệ quyền lợi của thế hệ trẻ, đề xuất với Đảng và nhà
nước các chính sách, quan đểm phát huy năng lực và tạo điều kiện cho thế
hệ trẻ Việt Nam phát triển toàn diện.
• Hội LHPNVN là tổ chức chính trị - xã hội của phụ nữ Việt Nam, là thành
viên có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị. Hội LHPNVN tập hợp,
đoàn kết, động viên, giáo dục các tầng lớp phụ nữ tham gia tích cực vào
các công việc nhà nước và xã hội, các quá trình phát triển kinh tế, văn hóa,
giáo dục, thực hiện bình đẳng giới, phát huy vai trò đặc biệt của phụ nữ
trong việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, giáo dục các
thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam.
• Hội CCB Việt Nam là thành viên của MTTQ, một tổ chức thành viên của
hệ thống chính trị. Trong phạm vi hoạt động của mình, Hội CCB tập hợp,
đoàn kết, bồi dưỡng và động viên cựu chiến binh phấn đấu giữ vững bản
chất cách mạng, tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền, phát huy dân
chủ góp phần giữ ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh; tham
gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; góp phần
tích cực vào việc giáo dục thế hệ trẻ và tham gia vào hoạt động đối ngoại
của Đảng và nhà nước.
Sự tồn tại và phát triển của các tổ chức xã hội mang ý nghĩa chính trị quan
trọng, các tổ chức xã hội là chỗ dựa của chính quyền nhân dân, với vai trò hội tụ
sức mạnh toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị. TCXH góp phần ổn định
chính trị từ trung ương đến địa phương tạo điều kiện để nhà nước thực hiện việc
quản lý xã hội. TCXH đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt
Nam, thay mặt quần chúng nhân dân thực hiện quyền lực chính trị đồng thời
giúp cho từng cá nhân phát huy tính tích cực chính trị thông qua việc tuyên
truyền giáo dục nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của
Đảng, pháp luật của nhà nước, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước và
quản lý xã hội. Là bộ phận của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội đã góp
phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân lao động.
00_________________****________________00
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG
TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT CỦA TCXH VÀ HOẠT ĐỘNG TUYÊN
TRUYỀN PHÁP LUẬT CỦA TCXH.
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG TUYÊN
TRUYỀN PHÁP LUẬT CỦA TCXH.
Qua hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, các TCXH luôn thu hút đông đảo số
lượng thành viên tham gia với nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau, đây chính là
điều kiện thuận lợi để TCXH tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà nước đến các thành viên trong tổ chức cũng như ngoài tổ chức.
Tuy nhiên các tổ chức này không được nhân danh quyền lực nhà nước, do vậy
để hoạt động tuyên truyền pháp luật của TCXH đạt hiệu quả cao, cần một khung
pháp lý hỗ trợ, đó là những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành hoặc thừa nhận quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm
của TCXH trong lĩnh vực tuyên truyền pháp luật. Cụ thể như sau:
Luật MTTQ quy định về quyền và trách nhiệm của MTTQVN trong lĩnh vực
tuyên truyền pháp luật:
“MTTQVN tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi hành
chính sách, pháp luật với các nội dung sau đây:
1- Tham gia tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
2- Phối hợp, tham gia với cơ quan nhà nước tổ chức các cuộc vận động, các
phong trào thi đua yêu nước, vận động nhân dân đoàn kết, giúp đỡ nhau
phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, giải quyết các vấn đề xã hội,
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an
toàn xã hội.
3- Tham gia với Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân cùng cấp tổ chức các
cuộc vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, hướng dẫn nhân dân
thực hiện hương ước, quy ước về nếp sống tự quản ở thôn, làng, ấp, bản, tổ
dân phố, cộng đồng dân cư khác ở cơ sở phù hợp với pháp luật, góp phần
xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân.
4- Tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở ” (Điều 7)
Nghị định 59/2001/NĐ-CP ngày 16/08/2001 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật MTTQ cũng nêu rõ trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước trong việc phối hợp với Ủy ban MTTQVN, các thành viên của
Mặt trận cùng cấp xây dựng chương trình tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân
dân thực hiện pháp luật.
Luật Công Đoàn năm 1990 cũng quy định “Công đoàn có trách nhiệm
tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật, giáo dục người lao động ý thức chấp hành
và tham gia đấu tranh bảo vệ pháp luật”
Tương tự, Nghị định 88/2003/NĐ-CP ngày 30/07/2003 quy định tại khoản
5 Điều 22 “TCXH có quyền phổ biến, huấn luyện kiến thức cho hội viên; cung
cấp thông tin cần thiết cho hội viên theo quy định của pháp luật”
Trên cơ sở pháp luật quy định về tuyên truyền, giáo dục pháp luật, một số
TCXH trong đó có Hội Luật Gia đã cụ thể hóa nội dung này trong điều lệ của
mình, cụ thể: “Hội Luật gia Việt Nam có nhiệm vụ, qyền hạn tham gia tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho
hội viên, cán bộ, công chức và nhân dân, Tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn
phí cho người nghèo và các đối tượng chính sách; thành lập các trung tâm tư vấn
pháp luật” (Điều 3). Các hội viên của Hội Luật Gia được cung cấp thông tin về
pháp luật, được bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp luật đồng thời cũng có nghĩa
vụ tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật theo chương trình của
hội.
Có thể thấy những quy định trên khẳng định việc tuyên truyền đường lối,
chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến với mọi tầng lớp
nhân dân có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội, là một trong những nhiệm vụ
quan trọng trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Để những quy định đó đi vào thực tiễn cuộc sống và phát huy được giá
trị, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật cụ thể hóa chúng:
 Chính phủ ban hành Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004
Phê duyệt chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật
và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã,
phường, thị trấn từ năm 2005 đến 2010. Mục tiêu của chương trình là đẩy
mạnh phổ biến, hướng dẫn thực hiện những quy định pháp luật gắn trực
tiếp đến cuộc sống người dân, phù hợp với đối tượng, đặc thù kinh tế, xã
hội và tình hình thi hành pháp luật ở từng địa bàn; từng bước ngăn chặn và
hạn chế vi phạm pháp luật ở khu vực dân cư; xây dựng môi trường sống
lành mạnh trong từng gia đình; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chấp hành
pháp luật trong các lĩnh vực đất đai, khiếu nại tố cáo, an toàn giao thông,
phòng chống tệ nạn xã hội…
 Để thực hiện chương trình hành động này, ngày 28/01/2006 Thủ tướng
Chính phủ ban hành quyết định số 28/2006/QĐ-TTg Phê duyệt các đề án
của chương trình, trong đó đề án thứ 2 với nội dung Xây dựng và đẩy
mạnh công tác tuyên truyền vận động chấp hành pháp luật trong cộng
đồng dân cư do Ủy ban Trung ương MTTQVN chủ trì với sự phối hợp của
Hội NDVN, Hội CCBVN, Trung ương Hội LHPNVN, Trung ương Đoàn
TNCSHCM với mục tiêu cụ thể là nâng cao kỹ năng tập hợp, tuyên truyền
nhận thức pháp luật và vận động nhân dân chấp hành pháp luật của Ủy
ban MTTQ, các tổ chức đoàn thể nhân dân, ban công tác Mặt trận và các
tổ chức thành viên ở cộng đồng dân cư. Phấn đấu đến hết 2010 các đối
tượng: Ban thường trực Ủy ban MTTQ cấp xã, người đứng đầu các tổ
chức thành viên của Mặt trận cấp xã được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức
pháp luật. Xây dựng điểm sáng trong chấp hành pháp luật tại các cơ sở xã,
phường, thị trấn, mỗi xã, phường, thị trấn trong cả nước xây dựng được
một “nhóm nòng cốt”, “câu lạc bộ pháp luật” ở khu dân cư hoạt động có
hiệu quả. Để đạt được các mục tiêu trên, đề án đưa ra các giải pháp thực
hiện trong đó MTTQVN các cấp giữ vai trò chủ đạo xây dựng chương
trình, kế hoạch chung về phong trào tuyên truyền và vận động chấp hành
pháp luật, theo đó các tổ chức thành viên của MTTQ phát động phong trào
chấp hành pháp luật theo từng đối tượng đoàn viên, hội viên và các tầng
lớp nhân dân. Đề án phân công rõ trách nhiệm của MTTQ và các thành
viên, trong đó:
• Ủy ban Trung ương MTTQVN có trách nhiệm xây dựng kế hoạch,
chương trình theo từng thời gian cụ thể; hướng dẫn, kiểm tra các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai thực hiện đề án tại
cộng đồng dân cư.
• Hội NDVN phối hợp với các cơ quan tham gia đề án lồng ghép việc
tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong hội viên nông dân
với phong trào nông dân sản xuất giỏi, hoạt động của câu lạc bộ
nông dân.
• Trung ương Đoàn TNCSHCM tăng cường phổ biến giáo dục pháp
luật trong đoàn viên thanh niên; phát huy vai trò nòng cốt của thanh
niên trong công tác phòng, chống ma túy, tệ nạn xã hội, bảo vệ môi
trường, thực hiện Luật hôn nhân và gia đình, luật nghĩa vụ quân sự..
gắn với việc thực hiện đề án với phong trào “thi đua tình nguyện
xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
 Với tầm quan trọng của vấn đề tuyên truyền pháp luật, nhất là trong giai
đoạn hiện nay, ngày 12/03/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 37/2008/QĐ-TTg Phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp
luật từ năm 2008 đến 2012, theo đó đến hết năm 2012, công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật phấn đấu đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
• Từ 80% đến 90% người dân trên toàn quốc được tuyên truyền pháp
luật chung và các văn bản luật chuyên ngành liên quan đến từng
nhóm dân cư theo các địa bàn và đối tượng khác nhau;
• Từ 95% cán bộ, công chức, viên chức trở lên được trang bị kiến
thức pháp luật thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của
mình;
• 95% người sử dụng lao động được tuyên truyền, phổ biến các quy
định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp; 70% người lao động
được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công
dân và người lao động;
• 100% cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân được trang
bị kiến thức pháp luật về an ninh, quốc phòng và các quy định khác
liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ;
• 95% thanh thiếu niên được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật liên quan trực tiếp đến đối tượng này;

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×