Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA MÔN TIẾNG VIỆT.

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP. PLEIKU
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP
4 THÔNG QUA MÔN TIẾNG VIỆT.
NĂM HỌC: 2012 – 2013
1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP
4 THÔNG QUA MÔN TIẾNG VIỆT.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá
nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng
trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội trong thực
tại… Kĩ năng sống đơn giản là tất cả đều cần thiết, chúng ta phải biết để có
được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc
sống. Chính vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải bảo đảm
các yếu tố như:
+ Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội.
+ Giúp học sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành
vi, thói quen ứng xử có văn hoá, hiểu biết và chấp hành pháp luật…
Tuy nhiên, giáo dục kĩ năng sống để đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu
tố chứ không phải chỉ từ các bài giảng.

Kĩ năng sống là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lồng
ghép này sẽ không dừng lại ở mức giảng dạy lý thuyết mà sẽ cụ thể hóa
thành từng trường hợp, hoàn cảnh và yêu cầu học sinh xử lý.
Trong chương trình dạy kĩ năng sống, không có khái niệm “vâng
lời”, chỉ có khái niệm “lắng nghe”, “đồng cảm”, “chia sẻ”. Mục tiêu của
giáo dục kĩ năng sống là rèn luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói
quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải nghiệm, chứ không đặt
mục đích “rèn nếp” hay “nghe lời”. Công dân toàn cầu là người biết suy
nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng sai, quyết định có làm điều
này hay điều khác và chịu trách nhiệm về điều đó, chứ không tạo ra lớp
công dân chỉ biết “biết nghe lời”. Đây là sự khác biệt cơ bản của việc giáo
dục kĩ năng sống với các môn học truyền thống như Đạo đức
Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học được Bộ
Giáo dục & Đào tạo triển khai vào năm học 2010 - 2011. Đây là môn học
2
mở, tùy điều kiện từng trường để áp dụng linh hoạt, vì không quy định tiết
học, giờ học cụ thể nên tùy thuộc vào điều kiện, năng lực giáo viên.
Dạy kĩ năng sống chủ yếu phụ thuộc vào cái tâm của giáo viên. Ngay
cả những giáo viên lớn tuổi, nếu thật sự có tâm cũng không ngần ngại, nhất
là khi tham gia các hoạt động ngoại khóa. Không ít giáo viên than khổ vì
phải thêm việc do từ trước đến nay chỉ chú trọng dạy kiến thức, hết giờ ở
lớp thì về, còn việc dạy đạo đức, kĩ năng sống được xem là của môn học
khác. Cũng có người quan niệm dạy kĩ năng sống là phải dã ngoại, đi xa
nên nếu trường hoặc phụ huynh có kinh phí tổ chức thì đi, không thì thôi.
Nội dung các bài học vốn đã nhiều, thời lượng lại ít nên khó lồng
ghép giáo dục kĩ năng sống vào. Ngoài ra, đội ngũ giáo viên cũng chưa
được đào tạo cơ bản để dạy về kĩ năng sống trong từng môn học, từng bài
giảng. Thêm vào đó, chính các em học sinh cũng chưa có nhận thức đầy đủ
và ý thức trau dồi kĩ năng sống, chưa tích cực chủ động tham gia các họat
động trải nghiệm để tạo lập, rèn luyện kĩ năng sống.
Thực hiện Quyết định số 2994/QĐ-BGD&ĐT ngày 20 tháng 7 năm
2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Giáo dục kĩ năng sống trong
một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học. Bộ đã tiến hành mở
lớp tập huấn. Dựa trên cơ sở những định hướng của đợt tập huấn “Tăng
cường giáo dục kĩ năng sống trong các môn học của Bộ cho các cấp học
trong hệ thống giáo dục phổ thông” một số nhà trường đã triển khai và chú
trọng : Rèn kĩ năng sống cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển
của người học. Giáo dục phổ thông đã và đang từng bước đổi mới theo
hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần


thiết cho các em học sinh, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của người học, phù hợp với từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc
theo nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
3
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh phổ thông nói chung, học sinh
tiểu học nói riêng
Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học nhằm đạt mục
tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù
hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh sử dụng quyền và bổn phận của mình
và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học được tập trung
chủ yếu ở 4 môn học: Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học và Tự nhiên xã hội.
Bộ Giáo dục & Đào tạo đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng
ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và
đúng đắn. Tuy nhiên, để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả
đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không chỉ từ các bài giảng. Học để tự tin, tự lập.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một nội dung được đông đảo
phụ huynh và dư luận quan tâm, bởi đây là một chương trình giáo dục hết
sức cần thiết đối với học sinh.
Nhiều ý kiến cho rằng, các trường học hiện nay đã quá nặng về dạy
kiến thức, ít quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh dẫn đến
có một bộ phận học sinh trong các trường thiếu hụt hiểu biết về môi trường
xung quanh, ứng xử cần thiết trong cuộc sống. Điều này cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hành vi, lối sống đạo đức
của nhiều học sinh. Kĩ năng sống thúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội, có
thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành
thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Giáo dục kĩ năng sống là
yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ, nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo
dục phổ thông.
Chính sự cần thiết ấy, bản thân tôi đã cố gắng thử nghiệm nhiều
biện pháp song tôi nhận thấy việc giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho
học sinh được thể hiện rõ nét nhất trong môn Tiếng Việt. Vì thế tôi đã chọn
đề tài này.
4
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Tìm hiểu nội dung giáo dục kĩ năng sống trong môn Tiếng Việt
lớp 4.
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở
học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và
giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Kĩ năng đặc thù, thể hiện ưu thế của Tiếng Việt là kĩ năng giao tiếp,
sau đó là kĩ năng nhận thức, bao gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự
nhận thức, ra quyết định…
Kĩ năng sống có thể hình thành tự nhiên, học được từ những trải
nghiệm của cuộc sống và do giáo dục mà có. Không phải đợi đến lúc được
học kĩ năng sống một con người mới có những kĩ năng sống đầu tiên.
Chính cuộc đời, những trải nghiệm, va vấp, thành công và thất bại giúp con
người có được bài học quý giá về kĩ năng sống. Tuy nhiên, nếu được dạy
dỗ từ sớm, con người sẽ rút ngắn thời gian học hỏi qua trải nghiệm, sẽ
thành công hơn.
Kĩ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ sung,
nâng cấp để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống biến động. Người
trưởng thành cũng vẫn cần học kĩ năng sống.
Ở lứa tuổi lớp 4 học sinh đang phát triển về hệ xương, hệ thần kinh,
học sinh có những nhận biết nhất định về xung quanh, biết đánh giá nhận
xét sự việc xảy ra quanh mình. Các em đã có sự phát triển về trí tuệ, tâm
hồn, thích quan sát mọi vật xung quanh. Lúc này khả năng tư duy cụ thể
nhiều hơn khả năng khái quát hoá. Về tình cảm, các em rất nhạy cảm với
vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước. Các em dễ xúc động, bắt đầu biết mơ ước
và có trí tưởng tượng phong phú, thích ghi lại các vấn đề mà mình đã quan
sát được và có thể có khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và
với xã hội, có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc
5
sống. Vì thế, để thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành tìm hiểu nội dung giáo
dục kĩ năng sống và sách giáo khoa môn Tiếng Việt cụ thể như sau:
TUẦN
MÔN
HỌC
TÊN BÀI DẠY CÁC KĨ NĂNG SỐNG CẦN ĐẠT
1
Tập đọc
Dế Mèn bênh vực kẻ
yếu
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
Tập đọc Mẹ ốm
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
2
Tập đọc
Dế Mèn bênh vực kẻ
yếu
( TT)
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
Tập làm
văn
Tả ngoại hình của
nhân vật trong bài
văn kể chuyện.
- Tìm kiếm và xử lí thông tin.
- Tư duy sáng tạo.
3
Tập đọc Thư thăm bạn
- Giao tiếp, ứng xử lịch sự trong giao
tiếp.
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
- Tư duy sáng tạo.
Tập làm
văn
Viết thư
- Giao tiếp, ứng xử lịch sự trong giao
tiếp.
- Tìm kiếm và xử lí thông tin.
- Tư duy sáng tạo.
Tập đọc Người ăn xin
- Giao tiếp, ứng xử lịch sự trong giao
tiếp.
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
4 Tập đọc
Một người chính
trực
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Tư duy phê phán.
5 Tập đọc
Những hạt thóc
giống
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Tư duy phê phán.
6
Tập đọc
Nỗi dằn vặt của An-
đrây-ca
- Ứng xử lịch sự trong giao tiếp.
- Thể hiện sự cảm thông.
- Xác định giá trị.
Tập đọc Chị em tôi
- Tự nhận thức về bản thân.
- Thể hiện sự cảm thông.
- Xác định giá trị.
- Lắng nghe tích cực.
7 Tập đọc Trung thu độc lập - Xác định giá trị.
-Đảm nhận trách nhiệm (xác định
nhiệm vụ của bản thân).
6
Tập làm
văn
Luyện tập phát triển
câu chuyện
- Tư duy sáng tạo, phân tích, phán
đoán.
- Thể hiện sự tự tin.
- Hợp tác.
8
Tập làm
văn
Luyện tập phát triển
câu chuyện
- Tư duy sáng tạo, phân tích, phán
đoán.
- Thể hiện sự tự tin.
- Xác định giá trị.
9
Tập đọc Thưa chuyện với mẹ
- Lắng nghe tích cực.
- Giao tiếp.
- Thương lượng.
Kể chuyện
Kể chuyện được
chứng kiến hoặc
tham gia
- Thể hiện sự tự tin.
- Lắng nghe tích cực.
- Đặt mục tiêu.
- Kiên định.
Tập làm
văn
Luyện tập trao đổi ý
kiến với người thân
- Thể hiện sự tự tin.
- Lắng nghe tích cực.
- Thương lượng.`
- Đặt mục tiêu, kiên định.
11
Tập đọc Có chí thì nên
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Lắng nghe tích cực.
Tập làm
văn
Luyện tập trao đổi ý
kiến với người thân
- Thể hiện sự tự tin.
- Lắng nghe tích cực.
- Giao tiếp.
- Thể hiện sự cảm thông.
12 Tập đọc
Vua tàu thủy Bạch
Thái Bưởi
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Đặt mục tiêu.
13 Tập đọc Văn hay chữ tốt
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Đặt mục tiêu.
- Kiên định.
14
Tập đọc Chú Đất Nung
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Thể hiện sự tự tin.
Tập đọc Chú Đất Nung (tt)
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Thể hiện sự tự tin.
Luyện từ
& câu
Dùng câu hỏi vào
mục đích khác
- Thể hiện thái độ lịch sự trong giao
tiếp.
- Lắng nghe tích cực.
15
Luyện từ
& câu
Giữ phép lịch sự khi
đặt câu hỏi
- Thể hiện thái độ lịch sự trong giao
tiếp.
- Lắng nghe tích cực.
16
Tập làm
văn
Luyện tập giới thiệu
địa phương
- Tìm kiếm và xử lí thông tin.
- Thể hiện sự tự tin.
- Giao tiếp.
7
19 Tập đọc Bốn anh tài
- Tự nhận thức, xác định giá trị cá
nhân.
- Hợp tác.
- Đảm nhận trách nhiệm.
20
Tập đọc Bốn anh tài (tt)
- Tự nhận thức, xác định giá trị cá
nhân.
- Hợp tác -Đảm nhận trách nhiệm.
Tập làm
văn
Luyện tập giới thiệu
địa phương
- Thu thập, xử lí thông tin (về địa
phương cần giới thiệu).
- Thể hiện sự tự tin.
- Lắng nghe tích cực, cảm nhận, chia
sẻ, bình luận (về bài giới thiệu).
21
Tập đọc
Anh hùng lao động
Trần Đại Nghĩa
- Tự nhận thức, xác định giá trị cá
nhân.
- Tư duy sáng tạo.
Kể chuyện
Kể chuyện được
chứng kiến hoặc
tham gia
- Giao tiếp.
- Thể hiện sự tự tin.
- Ra quyết định.
- Tư duy sáng tạo.
23 Tập đọc
Khúc hát ru những
em bé trên lưng mẹ
- Giao tiếp.
- Đảm nhận trách nhiệm phù hợp với
lứa tuổi.
- Lắng nghe tích cực.
24
Tập đọc
Vẽ về cuộc sống an
toàn
- Tự nhận thức xác định giá trị cá
nhân.
- Tuy duy sáng tạo.
- Đảm nhận trách nhiệm.
Kể chuyện
Kể chuyện được
chứng kiến hoặc
tham gia
- Giao tiếp.
- Thể hiện sự tự tin.
- Ra quyết định.
- Tư duy sáng tạo.
25 Tập đọc
Khuất phục tên cướp
biển
- Tự nhận thức: xác định giá trị cá
nhân.
- Ra quyết định.
- Ứng phó, thương lượng.
- Tư duy sáng tạo: bình luận, phân
tích.
26 Tập đọc Thắng biển
- Giao tiếp: thể hiện sự cảm thông.
- Ra quyết định, ứng phó.
- Đảm nhận trách nhiệm.
29
Tập đọc
Ga-vrốt ngoài chiến
lũy
- Tự nhận thức: xác định giá trị bản
thân.
- Đảm nhận trách nhiệm.
- Ra quyết định.
Luyện từ
& câu
Giữ phép lịch sự khi
yêu cầu đề nghị
- Giao tiếp: ứng xử, thể hiện sự cảm
thông.
- Thương lượng.
- Đặt mục tiêu.
8
30
Tập đọc
Hơn một nghìn ngày
vòng quanh trái đất
- Tự nhận thức,xác định giá trị bản
thân.
- Giao tiếp:Trình bày suy nghĩ, ý
tưởng.
Tập làm
văn
Điền vào giấy tờ in
sẵn
- Thu thập, xử lí thông tin.
- Đảm nhận trách nhiệm công dân.
31 Kể chuyện Khát vọng sống
- Tự nhận thức: xác định giá trị bản
thân.
- Tư duy sáng tạo: bình luận, nhận xét.
- Làm chủ bản thân: đảm nhận trách
nhiệm.
34 Tập đọc
Tiếng cười là liều
thuốc bổ
- Kiểm soát.
- Ra quyết định: tìm kiếm các lựa
chọn.
- Tư duy sáng tạo: nhận xét, bình luận.
2. Thực trạng:
- Quan điểm học sinh: Kĩ năng sống là một cái gì mơ hồ, không thiết
thực, chưa có ý thức trau dồi kĩ năng sống.
- Quan điểm giáo viên: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là ở phân
môn Đạo đức, là công việc của người khác, giáo viên chỉ lo trang bị kiến
thức cho học sinh.
- Quan điểm của phụ huynh: Nhiều phụ huynh cho rằng việc giáo
dục con em chủ yếu là ở nhà trường, nhà trường dạy như thế nào thì các em
sẽ như thế đó phụ huynh không nhất thiết phải quan tâm nhiều.
Thế nhưng Giáo dục kĩ năng sống trong trường học là một việc làm
cần thiết, không thể thiếu, bên cạnh đó việc khắc sâu và tạo thành kĩ năng
thuần thục cho học sinh là việc làm thường xuyên không ai hết chính là
những người gần gũi học sinh nhất đó là giáo viên và phụ huynh học sinh.
Bên cạnh việc học tập là một nhu cầu thường trực của con người
trong mọi thời đại. Học tập không chỉ dừng lại ở các tri thức khoa học
thuần túy mà còn được hiểu là mọi tri thức về thế giới trong đó có cả những
mối quan hệ, cách thức ứng xử với môi trường sống xung quanh. Kĩ năng
sống là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá
trình tồn tại và phát triển. Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều
9
chỉ trích do quá nặng về kiến thức hàn lâm trong khi những tri thức vận
dụng cho đời sống hàng ngày bị thiếu vắng. Hơn nữa, người học đang chịu
nhiều áp lực về học tập khiến cho không còn nhiều thời gian cho các hoạt
động ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này đã dẫn đến sự “xung đột”
giữa nhận thức, thái độ và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc
sống.
3. Nguyên nhân:
Những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội đã và đang tác động
mạnh mẽ đến đời sống của con người. Nếu như trong xã hội truyền thống,
các giá trị xã hội vốn được coi trọng và được các cá nhân tuân thủ một cách
nghiêm túc thì nay đang dần bị mờ nhạt và thay vào đó là những giá trị mới
được hình thành trên cơ sở giao thoa giữa các nền văn hóa, văn minh khác
nhau. Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó, đặc biệt là các địa phương
có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng.
Những thay đổi nói trên còn ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục con
cái của gia đình cũng có những biến đổi nhất định. Cha mẹ ít có thời gian
quan tâm đến con cái hơn là một thực tế không thể phủ nhận, thay vào đó là
các hoạt động kinh tế, tìm kiếm thu nhập. Trong nhà trường, hiện tượng
quá tải với các môn học cũng đang gây nhiều áp lực đối với người học.
Cùng với đó là những tác động nhiều chiều của các nguồn thông tin khác
nhau từ xã hội khiến cho giới trẻ, đặc biệt là học sinh và sinh viên đang
đứng trước nhiều thách thức khi hòa nhập xã hội. Các kĩ năng sống đã bị
xem nhẹ trong một thời gian dài.
Sự hướng dẫn của thầy cô giáo, nhà trường về kĩ năng sống cho học
sinh chưa thật cụ thể, chưa dễ hiểu.
Giáo viên chưa chuẩn bị chu đáo, hướng dẫn học sinh thực hành rèn
kĩ năng sống chưa kỹ.
Học sinh thiếu sự quan tâm, ít trau dồi về kĩ năng sống.
10
Những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng không ít đến quá trình hình
thành kĩ năng sống cho học sinh.
Qua thực tế giảng dạy lớp 4, tôi thấy kĩ năng sống của học sinh
chưa cao. Chỉ một số học sinh có hành vi, thói quen, kĩ năng tốt. Còn phần
lớn các em có nhận xét đánh giá về sự việc nhưng chưa có thái độ và cách
ứng xử, cách xưng hô chuẩn mực.
Qua tiến hành khảo sát học sinh lớp tôi đầu năm học với chủ đề: “Kĩ
năng của em”; Kết quả như sau:
Số bài
kiểm tra
Kỹ năng Tốt Có hình thành kỹ năng Kỹ năng chưa tốt
SL TLệ SL TLệ SL TLệ
28 4 14,3 % 7 25 % 17 60,7 %
*Nội dung mức độ kĩ năng cần đạt được:
Nhóm kĩ năng nhận thức:
Nhận thức bản thân.
Xây dựng kế hoạch.
Xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân.
Khắc phục khó khăn để đạt mục tiêu.
Tư duy tích cực và tư duy sáng tạo.
Nhóm kĩ năng xã hội:
Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Kĩ năng giao tiếp không lời.
Kĩ năng thuyết trình và nói được trước đám đông.
Kĩ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi.
Kĩ năng từ chối.
Kĩ năng hợp tác.
Kĩ năng làm việc nhóm.
Kĩ năng vận động và gây ảnh hưởng.
Kĩ năng ra quyết định.
Nhóm kĩ năng quản lý bản thân:
11
Kĩ năng làm chủ cảm xúc.
Phòng chống stress.
Vượt qua lo lắng, sợ hãi.
Khắc phục sự tức giận.
Quản lý thời gian.
Nghỉ ngơi tích cực.
Giải trí lành mạnh.
Thực tế học sinh đã học, đã thực hành và thu được kết quả gì
qua giờ học:
- Học sinh thể hiện kĩ năng còn đại khái, chưa mạnh dạn thể hiện kĩ
năng bản thân.
- Học sinh ngại nói, ngại viết, khả năng tự học, tự tìm tòi của học
sinh còn hạn chế.
4. Biện pháp thực hiện:
Từ những thực trạng và nguyên nhân trên để giúp cho học sinh có
hứng thú học tập, phát hiện ra kĩ năng cần có, bản tôi mạnh dạn đề ra một
số giải pháp sau đây:
a. Người giáo viên phải xác định rõ nhiệm vụ của môn học và
nhiệm vụ giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn học.
Chúng ta phải xác định dạy học sinh học môn Tập làm văn là giúp
cho các em nói viết lưu loát. Học sinh phát triển vốn từ ngữ, bồi dưỡng cảm
xúc tình cảm lành mạnh trong sáng, khả năng lựa chọn sắp xếp ý rõ ràng.
Rèn khả năng tư duy, trí tưởng tượng phong phú. Qua đó vốn sống của các
em được tăng lên giúp các em tự tin, có khả năng ứng xử sinh hoạt trong
cuộc sống.
b. Những việc cần làm:
- Chọn những kĩ năng cần thiết phù hợp địa phương:
Chọn những kĩ năng phù hợp, gần gũi với học sinh. Các em có khả
năng trực tiếp thực hành kĩ năng sau khi tiếp cận.
12
Ví dụ: Thực hành kĩ năng: Giao tiếp, ứng xử lịch sự, xưng hô đúng
mực trong giao tiếp với bạn.
- Học sinh dự đoán các kĩ năng, yêu cầu của các kĩ năng cần đạt
được sau khi học tiết học này:
Đây là khâu chuẩn bị rất quan trọng đối với giáo viên và học sinh.
Học sinh đọc nội dung bài học, yêu cầu bài.
- Gợi ý học sinh nêu các kĩ năng thông qua bài học:
Giáo viên cho học sinh nêu các yêu cầu, kĩ năng sau khi đọc trước
bài học.
- Hướng dẫn học sinh nắm được yêu cầu cần đạt sau bài học. Từ đó
xác định các kĩ năng cần đạt:
Tạo ra hứng thú, cảm xúc, lưu ý đó phải là cảm xúc riêng, thật, phải
có sự liên tưởng từ đó xác định những yêu cầu của kĩ năng cần đạt.
Giáo viên phải chuẩn bị các câu hỏi gợi ý hướng dẫn học sinh tự
xác định các kĩ năng sống cần đạt:
Ví dụ: Bài yêu cầu gì ?
+ Theo em cần phải làm gì để đạt được điều đó gì?
+ Trọng tâm bài ở chỗ nào?
+ Em cần có kĩ năng gì để thực hiện các vấn đề đó?
+ Sau khi học xong bài này em rút ra điều gì?
+ Em sẽ ứng dụng như thế nào, làm gì trong cuộc sống hàng
ngày khi gặp trường hợp như trong bài?
Giáo viên cần chuẩn bị một giáo án lồng ghép thật cẩn thận (có nêu
ra cụ thể các kĩ năng học sinh cần đạt sau khi học bài này; các kĩ thuật dạy
học sử dụng trong bài dạy; các phương tiện cần thiết phục vụ cho tiết
dạy…)
c. Tổ chức cho học sinh thực hành kĩ năng sống vừa được học:
Tuỳ theo bài, giáo viên tổ chức cho các em hoạt động ngay tại lớp
với tình huống tương tự bài học để học sinh tự tìm ra hướng giải quyết vấn
13
đề, sau đó học sinh tự nêu các kĩ năng mà em đã ứng dụng để giải quyết
vấn đề đó.
Nếu không thể tổ chức thực hành được thì giáo viên hướng dẫn học
sinh tự tìm hiểu các tình huống tương tự mà các em đã gặp ở cuộc sống
thường ngày, ghi chép lại và nêu cách giải quyết của bản thân để hôm sau
trình bày trước lớp cho các bạn nghe và bổ sung chọn cách giải quyết tốt
nhất.
d. Quy trình lên lớp với các tiết có nội dung lồng ghép Giáo dục
kỹ năng sống:
I/ Ổn định tổ chức
II/ Kiểm tra (Giáo viên kiểm tra phần chuẩn bị của học sinh.)
III/ Bài mới
1. Giới thiệu bài, viết đề tài lên bảng (Khám phá)
2. Phát triển bài:
3. Áp dụng
4. Củng cố, dặn dò
* Ví dụ cụ thể:
Trong phạm vi đề tài tôi xin chọn Bài dạy:
LUYỆN TẬP TRAO ĐỔI Ý KIẾN VỚI NGƯỜI THÂN (1 tiết)
Môn Tập làm văn – Tiếng Việt 4 tuần 9
A. MỤC TIÊU: Sau khi học bài này, học sinh cần đạt:
* Về kiến thức:
- Xác định được mục đích trao đổi, vai trong trao đổi.
- Lập được ý trao đổi đạt mục đích đề ra.
- Diễn đạt rõ ràng nội dung trao đổi, có thái độ cử chỉ phù hợp vai trao
đổi.
* Các kĩ năng sống cơ bản được hình thành:
- Kĩ năng đặt mục tiêu.
- Kĩ năng kiên định.
14
- Kĩ năng trình bày suy nghĩ ý tưởng.
- Kĩ năng trao đổi thảo luận.
- Kĩ năng lắng nghe, thông cảm, chia sẻ.
* Các phương pháp và kĩ thuật sử dụng trong bài:
- Phương pháp: Thảo luận nhóm, đóng vai
- Kĩ thuật: Động não, trình bày 01 phút
B. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
* Các phương tiện cần có:
- Tranh ảnh về các môn năng khiếu (nhạc, hoạ, võ thuật…)
- Bảng phụ ghi đề bài tập làm văn.
C. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC:
1/ Kiểm tra bài cũ:
2/ Học bài mới:
a/ Giới thiệu bài: (khám phá)
Giáo viên đưa ra tình huống trong bài tập đọc đầu tuần 9, Cương
thuyết phục mẹ cho học nghề rèn bằng cách đưa ra những lý lẽ thuyết phục.
Giáo viên nêu các câu hỏi để HS trả lời:
+ Em đã bao giờ đạt được nguyện vọng, mong muốn gì với người
thân chưa? Nguyện vọng mong muốn của em là gì?
+ Người thân có ý kiến gì khi nghe em truyền đạt?
+ Kết quả việc trao đổi giữa em và người thân như thế nào?
+ Nếu thực hiện lại cuộc trao đổi đó, em có thay đổi gì trong cách
thuyết phục người thân của em không?
2/ Phát triển bài:
a. Phân tích đề:
Học sinh đọc đề (không đọc phần gợi ý), lớp đọc thầm, giáo viên
gạch chân những từ ngữ quan trọng trong đề bài (đã chép ở bảng phụ)
15
Đề bài: Em có nguyện vọng học thêm một môn năng khiếu( nhạc,
hoạ, võ thuật…). Trước khi nói với bố mẹ, em muốn trao đổi với anh (chị)
để anh (chị) hiểu và ủng hộ nguyện vọng của em.
Hãy cùng bạn đóng vai em và anh chị thực hiện cuộc trao đổi.
Giáo viên nêu câu hỏi để học sinh trọng tâm đề:
+ Nội dung trao đổi là gì? (nguyện vọng muốn học môn năng
khiếu)
+ Đối tượng trao đổi? (Anh hoặc chị của em)
+ Mục đích trao đổi là gì? (Làm cho anh hoặc chị hiểu rõ nguyện
vọng của em để anh chị ủng hộ nguyện vọng của em)
+ Hình thức thực hiện cuộc trao đổi là gì? (em và bạn trao đổi, bạn
đóng vai anh hoặc chị của em)
Giáo viên dành thời gian cho học sinh suy nghĩ chọn môn năng
khiếu mình yêu thích nhất và nêu trước lớp.
b. Lập dàn ý để trao đổi:
Học sinh đọc phần gợi ý, cả lớp đọc thầm.
Học sinh làm việc theo cặp. Cùng trao đổi để viết nháp ra giấy dàn
ý cuộc trao đổi (cần hình dung ra những thắc mắc, khó khăn mà anh chị
nêu ra để tìm cách giải đáp).
Giáo viên hướng dẫn, hỗ trợ các em yếu.
c. Thực hành trao đổi:
Sau khi đã chuẩn bị xong kịch bản cho học sinh trao đổi theo cặp,
lúc đầu cho HS nhìn vào giấy nháp, sau thuộc lòng lời trình bày kết hợp cử
chỉ, nét mặt, điệu bộ phù hợp khi thực hiện cuộc trao đổi.
(Hai HS đóng vai trao đổi xong rồi đổi cho nhau)
Giáo viên theo dõi hướng dẫn cho từng cặp trao đổi sau đó chọn
một số cặp tiêu biểu trình bày trước lớp.
Sau mỗi cặp trình bày giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét theo
các tiêu chí (được ghi trước trên bảng đen):
16
- Nội dung trao đổi có đúng đề tài không?
- Cuộc trao đổi như thế có đạt mục đích không?
- Lời nói, cử chỉ hai bạn có phù hợp không? Theo em thì nên thế
nào?
Cả lớp bình chọn cặp trao đổi:
- Cặp trao đổi lí lẽ thuyết phục nhất.
- Cặp trao đổi tự nhiên nhất.
- Cặp trao đổi vui vẻ, dí dỏm, hài hước nhất….
d/ Áp dụng, củng cố dặn dò:
Giáo viên cho học sinh lựa chọn một trong các cách làm sau đây:
- Thực hiện lại kịch bản đã viết với người thân.
- Sưu tầm tư liệu và trình bày trên giấy khổ lớn về những điều thú
vị của môn năng khiếu em muốn theo học.
Sau bài học này đa số HS đạt được một số kĩ năng như đã nêu trong
yêu cầu, song bên cạnh có một số học sinh chưa đạt sự đồng đều về kĩ
năng, có một số học sinh chưa kiên định khi gặp trường hợp người đóng
vai anh chị nêu và phân tích ưu nhược điểm của môn năng khiếu ấy thì học
sinh chuyển sở thích.
Rút kinh nghiệm tiết dạy: Giáo viên cần hướng cho học sinh nhiều
trường hợp có thể xảy ra khi trao đổi.
5. Kết quả đạt được:
Qua việc tiến hành soạn giảng, kết hợp các biện pháp đề xuất thực
tế, kết quả giảng dạy giáo dục rèn kĩ năng sống cho học sinh của tôi tốt hơn
nhiều. Điều đáng mừng là trong các tiết học này HS hào hứng hơn, tích cực
hoạt động hơn. Học sinh biết chăm chú lắng nghe, thực hành một cách
tương đối chính xác. Mạnh dạn, tự tin trình bày trước lớp. Đặc biệt học
sinh tự tin cố gắng vươn lên trong học tập, rất nhiều học sinh tiến bộ, số
học sinh giỏi khá tăng rõ rệt.
Kết quả chất lượng học tập lớp 4 (lớp tôi phụ trách) như sau:
17
Số bài
kiểm tra
Kỹ năng Tốt Có hình thành kỹ năng Kỹ năng chưa tốt
SL TLệ SL TLệ SL TLệ
28 15 53,6% 10 35,7 % 3 10,7%
III. Kết luận:
Qua nghiên cứu đề tài, tôi thấy việc giáo dục và rèn kĩ năng sống
cho học sinh tiểu học là một việc làm rất khó. Tuy vậy, tôi cũng tự rút ra
cho mình bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá:
Giáo viên cần nắm được phương pháp đặc trưng việc giáo dục và
rèn kĩ năng sống cho học sinh, biết lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học
phù hợp, kết hợp hình thức dạy học hợp lý nhằm phát huy tính chủ động
của học sinh sẽ giúp các em phát huy cao độ trí tuệ, cảm xúc, năng động,
sáng tạo trong học tập và giao tiếp.
Tôi thấy đây cũng là cơ sở bước đầu khẳng định rằng: Để tổ chức
giờ học dạy lồng ghép giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, đòi
hỏi người giáo viên phải vận dụng tri thức, kĩ năng nghiệp vụ sư phạm một
cách hợp lý. Đồng thời đưa ra áp dụng là hoàn toàn có cơ sở khoa học và
phù hợp với thực tế giảng dạy hiện nay.
Cuộc sống luôn biến đổi, do vậy không thể có một giáo trình cứng
nhắc về kĩ năng sống. Một trong những yêu cầu quan trọng để thực hiện
việc lồng ghép giáo dục kĩ năng vào bài học trên lớp là giáo viên phải tìm
ra được mối liên hệ giữa các kỹ thuật dạy học với nội dung rèn luyện kĩ
năng sống. Chẳng hạn, với học sinh tiểu học, để hình thành nhóm kĩ năng
nhận thức bao gồm: nhận thức bản thân, xây dựng kế hoạch, xác định điểm
mạnh, điểm yếu của bản thân, khắc phục khó khăn để đạt mục tiêu, tư duy
tích cực và tư duy sáng tạo… giáo viên cần sáng tạo rất nhiều tình huống
trong bài học để học sinh qua đó tự hình thành các kĩ năng này. Để làm tốt
nhiệm vụ này, đòi hỏi ở giáo viên phải có một tinh thần trách nhiệm và khả
năng sáng tạo rất cao.
18
Giáo dục kĩ năng sống chỉ thật sự có hiệu quả khi người thầy có tâm
huyết, sự kiên nhẫn và nhất là phải có thời gian. Giáo dục kĩ năng sống
không phải chỉ là công việc của giáo viên, nhà trường mà của cả xã hội,
cộng đồng. Phải kết hợp cả gia đình, nhà trường và xã hội mới mong đào
tạo được những học sinh phát triển toàn diện.
Nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh phổ thông trong các nhà trường chính là các thầy cô giáo. Đối
với cộng đồng thì đó là các bậc phụ huynh, ông bà, họ hàng thân thích,
những người lớn tuổi, …
Để dạy kĩ năng sống đòi hỏi người giáo viên có tâm, có phương
pháp sinh động, dạy vừa đủ vừa thấm, không dư không thiếu.
Chắc chắn đây chưa phải là giải pháp hay nhất, mẫu mực nhất
nhưng nó sẽ giúp cho giáo viên một số kinh nghiệm để giáo dục và rèn
luyện kĩ năng sống cho học sinh.
Vì khả năng bản thân có hạn nên đề tài rất khó tránh khỏi thiếu sót.
Tôi kính mong các đồng nghiệp, Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Giáo
dục và Đào tạo, các cấp lãnh đạo góp ý thêm để đề tài tôi được hoàn thiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
19

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×