Tải bản đầy đủ

Vài nét về thực trạng, nguyên nhân và cách thức giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài

Lê Thị Nguyệt Ánh – KT33H003
MỤC LỤC
Danh mục tài liệu tham khảo
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, với sự thay đổi về kinh tế - xã hội, nền kinh tế thị
trường cùng với sự hội nhập kinh tế và thế giới được thiết lập và phát triển mạnh mẽ.
Thực tế đó đã đem lại sự chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội nói chung và nói riêng. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế cũng làm cho nhiều
quan hệ xã hội bị tác động mạnh mẽ trong đó có quan hệ gia đình. Trong đó nổi cộm lên
là vấn đề ly hôn. Đặc biệt trong quá trình nước ta hội nhập và toàn cầu hóa, việc giao
lưu với nước ngoài là việc rất tự nhiên và bình thường.
Trong quá trình đó vấn đề kết hôn với người nước ngoài xảy ra rất phổ biến và tất
yếu sẽ xảy ra vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Đây là một đề tài khá mới và nóng
bỏng hiện nay. Tìm hiểu “Vài nét về thực trạng, nguyên nhân và cách thức giải quyết
việc ly hôn có yếu tố nước ngoài” sẽ giúp ta hiểu hơn về vấn đề này. Do hiểu biết cũng
như các nguồn tham khảo còn hạn hẹp, em mong các thầy cô sẽ giúp đỡ để đề tài của
em sẽ hoàn chỉnh hơn.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- Một số khái niệm chung
Với chính sách “hòa bình hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các
nước trên thế giới”, ở nước ta các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Việc điều chỉnh
các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trở thành một yêu cầu cấp bách,
quan trọng nhằm làm ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế, đồng thời bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các nước có liên quan. Chính vì thế mà Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã giành hẳn 1 chương để quy định về vấn đề này.
Theo quy định tại khoản 14 Điều 8:
14. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và
gia đình:
Luật Hôn Nhân và gia đình Việt Nam 2010
1
Lê Thị Nguyệt Ánh – KT33H003
a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài.
Theo khoản 8 điều 8 thì: Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công
nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;
Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân. Nếu kết hôn là một hiện tượng bình
thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt
trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự
tan vỡ. Trong trường hợp đó ly hôn và việc cần thiết cho cả vợ chồng và xã hội, vì nó
giải phóng cho tất cả mọi người, cho cả vợ chồng các con cũng như các thành viên khác
trong gia đình thoát khỏi xung đột, bế tắc.
Pháp luật nước ta công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không
thể cấm hoặc không thể đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly
hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả hành vi có ý chí của vợ chồng
khi thực hiện quyền ly hôn của mình..
Kết hợp khái niệm ly hôn như đã nói ở trên và quan hệ hôn nhân gia đình có yếu
tố nước ngoài định nghĩa tại khoản 14 điều 8 ta có thể hiểu được ly hôn có yếu tố nước
ngoài là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu
của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng mà là giữa công dân Việt Nam và người
nước ngoài; Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; Giữa công dân
Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
II- Thực trạng của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
1. Thực trạng về số lượng vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
Trước khi nói đến tình trạng án ly hôn với người nước ngoài, có một thực tế
không thể phủ nhận là hiện nay các vụ án ly hôn nói chung ở trong nước cũng như ở
nước ngoài có chiều hướng gia tăng nhanh chóng. Theo Tổng cục Thống kê, số cặp vợ
chồng xin ly hôn ở Việt Nam năm 2000 là 51.000 vụ; năm 2004 con số này đã tăng lên
60.000 vụ, năm 2006 đã lên tới gần 70.000 vụ
và gần đây nhất năm 2009 là 94.710 vụ. Tòa án
nhân dân lúc nào cũng trong tình trạng bận rộn
bởi án ly hôn chiếm tới 50% các án về dân sự
nói chung. Tỷ lệ ly hôn ở Việt Nam chiếm 31 -
Luật Hôn Nhân và gia đình Việt Nam 2010
2
Lê Thị Nguyệt Ánh – KT33H003
40%, tức là cứ ba cặp kết hôn lại có một cặp ly hôn. Con số khó tin, nhưng đó là sự
thực.
1
Có tới cả “một nghìn lẻ một” nguyên nhân khiến tan vỡ hạnh phúc gia đình dẫn
đến ly hôn: sự thiếu hòa hợp về tình cảm, va chạm kinh tế, ngoại tình, bạo hành…Cho
dù là nguyên nhân nào đi nữa thì con số này đã ở tình trạng đáng báo động, nguy hiểm
hơn, gia đình trẻ chiếm tỷ lệ cao. Tỉ lệ ly hôn ở gia đình trẻ (độ tuổi từ 20 - 30) chiếm
đến trên 60% đó là kết quả nghiên cứu xã hội học về thực trạng ly hôn ở nước ta của
tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa - Trường ĐH KHXHNV Tp.HCM.
Thời gian gần đây, do rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau,
những trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài khá cao. Theo một số nghiên cứu của
các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Con người (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam),
trong 10 năm trở lại đây, tình trạng hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam gia tăng
đột biến. Và cùng với quá trình vận động tất yếu của nó thì tình trạng ly hôn có yếu tố
nước ngoài ngày càng cao, tăng nhanh, năm sau cao hơn năm trước rất nhiều.
Năm 2009, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 3.622 vụ án có yếu
tố nước ngoài trong đó án dân sự là 1.367 vụ, hôn nhân gia đình với việc li hôn với
người nước ngoài là 1.106 vụ, chiếm 31% tổng số các vụ án tòa thụ lý.
2
Như vậy trung
bình mỗi tháng TAND TPHCM xử 92 vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài. Có một thực
tế là những cuộc hôn nhân này đám cưới luôn rình rang, đông người nhưng những phiên
tòa xử ly hôn luôn thiếu vắng bóng dáng những người chồng hoặc người vợ nước ngoài.
Lý giải tại sao án ly hôn có yếu tố nước ngoài lại cao như vậy ở tòa TP.HCM thì
theo tôi, trong những án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì đa phần là người phụ nữ đứng
đơn ly hôn với người chồng ngoại quốc. Mà theo thực tế ghi nhận thì tại khu vực phía
Nam, đặc biệt là vùng ĐB sông Cửu Long tình trạng các cô gái lấy chồng nước ngoài,
cụ thể là Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc rất đông, nhiều nơi đã hình thành nên trào
lưu. Mục đích cũng như nguyên nhân của những cuộc hôn nhân này tôi sẽ đề cập ở phần
sau nhưng chỉ nói ở đây là nếu trường hợp họ ly hôn thì tòa TP.HCM sẽ thụ lý giải
quyết.
2. Thực trạng về pháp luật điều chỉnh việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
2.1. Một số điểm thuận lợi
Vấn đề ly hôn trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay được xem
là một quyền dân sự của các bên trong quan hệ hôn nhân đó và được pháp luật bảo hộ
và hoàn toàn không có bất cứ một trở ngại nào. Đấy là trên cơ sở tinh thần chung của
Luật. Chúng ta đã có một chương trong Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về vấn đề
hôn nhân có yếu tố nước ngoài và Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành
1
http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=87857&ChannelID=2
2
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nhung-cuoc-hon-nhan-ngoai-nhin-tu-nhung-phien-toa/20035827/157/
Luật Hôn Nhân và gia đình Việt Nam 2010
3
Lê Thị Nguyệt Ánh – KT33H003
một số điều của LHN&GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để
điều chỉnh vấn đề này. Ngoài ra Việt Nam đã có hệ thống các cơ quan ngoại giao, lãnh
sự rộng khắp trên toàn thế giới cũng là một điểm thuận lợi để giải quyết và xử lý các
trường hợp có liên quan đến nước ngoài. Và một điểm quan trọng là chúng ta đã kí một
số Hiệp định tương trợ Tư pháp song phương với một số quốc gia. Đây là một điểm rất
thuận lợi là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài trong đó có vấn đề ly hôn.
2.2. Một số điểm hạn chế
Thứ nhất, trên thực tế, mặc dù đã có văn bản hướng dẫn thi hành 1 số điều của
Luật hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng có thể nói các quy định về ly hôn
còn rất ít. Điều này thể hiện tương đối rõ trong Nghị định 68. Theo Nghị định này vấn
đề kết hôn được quy định khá cụ thể tại chương II ( kết hôn 7 điều, từ điều 13 đến điều
19, về hoạt động hỗ trợ kết hôn với 7 điều, từ điều 21 đến điều 27) trong đó vấn đề ly
hôn có yếu tố nước ngoài chỉ được ghi nhận tại khoản 2 điều 20 khi đề cập đến trường
hợp công nhận việc ly hôn được tiến hành ở nước ngoài.
Thứ hai là thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài khá rườm rà, rắc rối và
không hiệu quả. Tại sao lại có thể khẳng định như vậy thì theo tìm hiểu của cá nhân em
thấy việc ly hôn đa số do công dân Việt Nam đứng nguyên đơn. Phần lớn là xét xử vắng
mặt một bên. Nội dung giải quyết phần lớn chỉ là quan hệ hôn nhân, các quan hệ khác
như quyền nuôi con, tài sản… thường không có hoặc đã được thỏa thuận từ trước. Khi
giải quyết quan hệ hôn nhân, việc xác định tình trạng hôn nhân đã có mâu thuẫn trầm
trọng, nguyên nhân ly hôn thường rất phức tạp. Việc điều tra đối với bên ở nước ngoài
thường không có kết quả.
Trong khi đó, Luật Hôn nhân có điều khoản quy định: “Nếu bị đơn ở nước ngoài
không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải
quyết vụ án theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp huyện
nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích, tuyên bố chết ”. Theo quy định của luật tố
tụng dân sự, việc thông báo đến bị đơn được thông qua các phương tiện truyền thông
đại chúng tại Việt Nam, niêm yết việc xét xử tại nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên
bố mất tích, chết. Trên thực tế, thủ tục được quy định như vậy là chưa hợp lý và chặt
chẽ. Cần có hình thức nào khác để người ở nước ngoài có thể biết được việc thông báo
này thì mới bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của họ.
Những vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài mà nước đó chưa ký hiệp định tương
trợ tư pháp với Việt Nam về lĩnh vực này thì dù các đương sự đã ly hôn ở nước ngoài,
có bản án hay quyết định có hiệu lực của tòa án cơ quan có thẩm quyền thì tòa án Việt
Nam cũng chỉ coi đây là văn bản có giá trị tham khảo, không có hiệu lực thi hành. Điều
Luật Hôn Nhân và gia đình Việt Nam 2010
4
Lê Thị Nguyệt Ánh – KT33H003
này đã làm cho việc giải quyết ly hôn tốn rất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến quyền lợi
chính đáng của các bên.
Thứ ba là việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài như thế này đôi khi phải áp
dụng luật pháp của quốc gia khác mà đương sự có liên quan, trong khi đó trình độ hiểu
biết luật pháp quốc tế của Thẩm phán Việt Nam còn hạn chế, vốn tiếng anh còn kém
nên việc áp dụng pháp luật nước họ sẽ gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, việc cập nhật, phổ
biến các hiệp định tương trợ tư pháp đã ký với các nước cũng rất hạn chế, dù chỉ là
trong ngành tư pháp, tòa án. Phần lớn các thẩm phán không có đủ các văn bản để nghiên
cứu, áp dụng trong khi xét xử.
Cuối cùng là rất nhiều các án ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay còn tồn đọng
do hoạt động ủy thác tư pháp không có kết quả, việc tống đạt các giấy tờ liên quan
không nhận được sự trả lời của đương sự có liên quan.
Trong nhiều vụ kiện ly hôn với người nước ngoài, chúng ta nên “mềm hóa” các
quy định pháp luật. Ví dụ người phụ nữ bỏ trốn về Việt Nam có biên bản làm việc của
cơ quan chức năng hoặc có chứng cứ chứng minh bị chồng, gia đình chồng lường gạt,
đánh đập, được chính quyền địa phương xác nhận đã về quê nhiều năm, không qua
nước ngoài và không liên hệ được với bên chồng… thì tòa án nên giải quyết để họ có
thể bắt đầu cuộc sống mới.
III- Nguyên nhân của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
Gia đình là nền tảng, là nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến sự
trưởng thành, phát triển toàn diện của thế hệ trẻ. Thế nhưng trong nhiều năm qua, đi
cùng với sự phát triển của đất, đời sống người dân thay đổi, từng bước được cải thiện,
cuộc sống ngày càng hiện đại thì số liệu các vụ ly hôn trong cả nước cũng như nước
ngoài gia tăng. Giá trị gia đình truyền thống trên nhiều khía cạnh đang bị lung lay và rạn
nứt. Hệ lụy của các vụ ly hôn để lại làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội, nhất
là phụ nữ và trẻ em. Tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng này là một trong những chiếc
chìa khóa giúp ta giảm thiểu được tình trạng ly hôn này trong tương lai.
1. Nguyên nhân chủ quan
1.1. Phần lớn các trường hợp kết hôn với người nước ngoài và sau đó ly
hôn thời gian gần đây từ một thực tế, hôn nhân không xuất phát từ tình yêu.
Hiện nay có một số lượng rất đông các trường hợp phụ nữ Việt Nam kết hôn với
người nước ngoài. Hôn nhân thì từ trước tới nay theo quy luật bình thường là hai bên
nam nữ tự do tìm hiểu, nảy sinh tình yêu và đi đến
hôn nhân, đó là kết quả của một tình yêu thăng hoa.
Nhưng ngày nay, họ kết hôn với nhau không phải vì
tình yêu mà là vì những lợi ích vật chất hay những
Luật Hôn Nhân và gia đình Việt Nam 2010
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×