Tải bản đầy đủ

BÁO CÁO VỀ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP: QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................trang 1
PHẦN I: BÁO CÁO VỀ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP. TỔNG QUAN VỀ QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH..........................................................................trang 3
1. Quá trình thực tập..............................................................................................trang 3
2. Tổng quan về Quận 6.........................................................................................trang 4
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.................................................................trang 4
2.2. Cơ cấu tổ chức, vị trí chức năng, nhiệm vụ Phòng Văn hóa và Thông tin
Quận 6...................................................................................................................trang 6
2.2.1. Cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc, vị trí chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
Phòng Văn hoá và Thông tin Quận 6...............................................................trang 6
2.2.2. Mối quan hệ Phòng Văn hóa và Thông tin với các phòng, ban khác.....trang 8
PHẦN II: BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 6, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH..........................................................................................trang 9
Chương 1: Cơ sở lý luận.....................................................................................trang 9
1.1. Khái niệm.......................................................................................................trang 9
1.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình............trang 13
1.3. Hiệu quả quản lý nhà nươc đối với công tác phòng, chống bạo lực
gia đình..................................................................................................................trang 16

1.4. Các hình thức quản lý phòng, chống bạo lực gia đình...................................trang 17
1.4.1. Ban hành và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật..............................trang 17
1.4.2. Ban hành kế hoạch, chính sách..............................................................trang 19
1.4.3. Tổ chức bộ máy quản lý.........................................................................trang 21
1.4.4. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá..................................................trang 21
Chương 2: Công tác phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn Quận 6 thành
phố Hồ Chí Minh................................................................................................trang 23
2.1. Thực trạng công tác phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn Quận 6......trang 23
2.1.1. Thực trạng công tác quản lý...................................................................trang 23
2.1.1.1. Ban hành và áp dụng văn bản pháp luật....................................trang 23
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 1
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
2.1.1.2. Công tác truyền thông, giáo dục, vận động...............................trang 24
2.1.1.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng......................................................trang 27
2.1.1.4. Tổ chức bộ máy.........................................................................trang 27
2.1.1.5. Công tác giám sát, thu thập thông tin, kiểm tra xử lý................trang 29
2.1.2. Nhận xét chung về thực trạng................................................................trang 30
2.2. Kế hoạch thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình của Quận
năm 2011..............................................................................................................trang 37
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác phòng
chống bạo lực gia đình trên địa bàn Quận 6 thành phố Hồ Chí Minh.........trang 39
3.1. Đối với các văn bản qui phạm pháp luật........................................................trang 39
3.2. Đối với công tác truyền thông, vận động.......................................................trang 40
3.2. Đối với tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống bạo lực
gia đình..................................................................................................................trang 42
3.4. Đối với mạng lưới trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình..................................trang 43
3.5. Đối với hoạt động giám sát, kiểm tra, xử lý...................................................trang 45
3.6. Các chính sách hỗ trợ phát triển gia đình.......................................................trang 45
PHỤ LỤC..............................................................................................................trang 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................trang 48
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 2
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
PHẦN I: BÁO CÁO VỀ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP. TỔNG QUAN VỀ QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Quá trình thực tập
Tuần 1: ngày 8/3 đến ngày 11/3
- Giới thiệu, làm quen với Phòng thực tập;
- Phụ giúp một số công việc chuyên môn của Phòng Văn hóa và Thông tin Quận;
- Sắp xếp hồ sơ lưu trữ;
Tuần 2&3: 14/3 đến 18/3 và 21/3 đến ngày 25/3


- Tìm hiểu các tài liệu về công tác gia đình;
- Tham gia một số hoạt động của Phòng Văn hóa và Thông tin Quận: kiểm tra liên
ngành về các hoạt động văn hóa trên địa bàn các Phường 10,11;
Tuần 4&5: 28/3 đến ngày 1/4 và 4/4 đến ngày 8/4
- Tham gia thực tế buổi hướng dẫn biểu mẫu thu thập chỉ số đánh giá về phòng chống
bạo lực gia đình theo Quyết định 238 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (20/01/2009)
tại Ủy ban nhân dân phường 1;
- Tham gia một số hoạt động của Phòng Văn hóa và Thông tin Quận: kiểm tra liên
ngành về các hoạt động văn hóa trên địa bàn các Phường 10, 12;
- Tiếp tục nghiên cứu tài liệu;
- Bước đầu hòan thiện báo cáo;
Tuần 6&7: 11/4 đến ngày 15/4 và 18/4 đến ngày 22/4
- Tham gia buổi khảo sát thực tế các địa chỉ tin cậy ở Phường 5, Quận 6;
- Thu thập chỉ số về bạo lực gia đình;
- Tiếp tục hoàn thiện báo cáo;
Tuần 8&9: 25/4 đến ngày 29/4 và 2/5 đến ngày 6/5
- Hoàn thiện báo cáo thực tập;
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 3
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
2. Tổng quan về Quận 6
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Vị trí địa lý: Quận 6 là Quận ven ngoại thành, nằm về phía Tây Nam Thành phố Hồ
Chí Minh, gồm 14 phường (74 Khu phố, 1296 tổ dân phố) với tổng diện tích tự nhiên là
7,14 km2, chiếm 0,34% tổng diện tích tự nhiên của toàn Thành phố. Chung quanh Quận
giáp liền với các Quận 5, 8, 11, quận Tân Phú và quận Bình Tân. Khi đi liền với Quận 5,
hai quận này còn được gọi chung là Chợ Lớn, một khu trung tâm thương mại lớn nhất
của người Hoa ở Việt Nam.
- Tình hình kinh tế: Trong 2 năm 2008-2009, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế đã ảnh hưởng không nhỏ tình hình phát triển KT- XH của Quận. Thế nhưng, với
những sự nỗ lực của toàn Đảng bộ, nền kinh tế Quận đạt được những con số ấn tượng:
Doanh thu thương mại - dịch vụ tăng bình quân 26,2% năm, giá trị sản xuất công nghiệp
– tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 11,82% năm, tỷ trọng doanh thu thương mại –
dịch vụ chiếm 83,17%; chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đạt kết quả
tích cực.
Việc thu hút đầu tư phát triển 3 cụm trung tâm thương mại - dịch vụ Bình Tây,
Bình Phú, Phú Lâm đạt kết quả khá tốt. Đối với cụm Trung tâm - thương mại - dịch vụ
Bình Tây, dù chợ đêm Bình Tây mới được hình thành nhưng đã thu hút nhiều hoạt động
kinh doanh - thương mại - dịch vụ tài chính ngân hàng, số cơ sở kinh doanh tăng 69%
và tổng vốn kinh doanh tăng 105%, tổng thu thuế tăng đến 235% so nhiệm kỳ trước.
Tương tự, tại cụm Trung tâm thương mại - dịch vụ Bình Phú, số cơ sở kinh doanh dịch
vụ cũng tăng đến 76%, tổng số vốn kinh doanh tăng 174% so với nhiệm kỳ trước.
- Tình hình văn hoá, xã hội: Nhìn chung, so với năm 2009, hoạt động văn hóa trên địa
bàn Quận có nhiều chuyển biến rõ nét, tạo điều kiện thuận lợi trong thực hiện Kết luận
Hội nghị Trung ương 10 khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 - khóa
VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,
góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế- xã hội của
địa phương và Thành phố.
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 4
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên địa bàn Quận ngày
càng được chú trọng nâng cao chất lượng, được sự quan tâm và hưởng ứng rộng rãi của
toàn xã hội, nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí thông qua các sự kiện
chính trị, các ngày lễ trong năm được tổ chức sôi nổi, với nhiều thể loại phong phú, lành
mạnh, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, sáng tạo văn hóa của nhân dân. Đặc biệt,
năm 2010 là năm thứ 4 Thành phố phát động toàn xã hội tiếp tục thực hiện chủ đề “Năm
2010 – Năm thực hiện nếp sống văn minh – mỹ quan đô thị”. Hoạt động này gắn với
phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí”, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” đã tạo sự chuyển biến tích cực trong việc nâng cao ý thức của người dân trong
chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, xây dựng nếp sống văn
minh, làm lành mạnh môi trường đô thị trên địa bàn Quận.
Công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thông tin, dịch vụ văn hóa được
tăng cường, đảm bảo phát triển văn hóa thông tin theo đúng quy hoạch của Quận, các
loại hình kinh doanh dịch vụ văn hóa được tập trung kiểm tra và xử lý kịp thời, góp
phần ổn định tình hình trật tự xã hội trên địa bàn Quận.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi nêu trên, hoạt động của ngành VHTT Quận vẫn
còn gặp nhiều khó khăn như: tình hình khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả một số
mặt hàng thiết yếu tăng cao gây tác động không nhỏ đến đời sống nhân dân, các loại
dịch bịnh, dịch cúm heo tai xanh, tình hình ngập nước trên một số tuyến đường trọng
điểm… làm ảnh hưởng phần nào đến việc tham gia các phong trào. Việc triển khai và tổ
chức thực hiện chủ đề nếp sống văn minh đô thị tuy có đạt được những kết quả nhất
định song vẫn còn hạn chế ở một số nội dung của chủ đề nếp sống văn minh đô thị do
người dân chưa có nhận thức đầy đủ và xây dựng được thói quen về thực hiện nếp sống
văn minh đô thị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho chủ đề nếp sống văn minh đô thị
chưa đầy đủ và hoàn chỉnh.
Về tình hình dân số: hiện nay Quận có 258.444 người, mật độ bình quân 36.173
người/km2, trong đó nữ chiếm 53 %. Tổng số hộ gia đình là 46.351 hộ (năm 2010).
Về thành phần dân tộc: người Kinh chiếm 72,64%, người Hoa chiếm 27,45%,
ngoài ra còn một số khác như người Chăm, Khơme, Tày, Nùng…(Năm 2007).
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 5
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
Như vậy, tình hình chung của Quận có ảnh hưởng nhất định đến gia đình. Kinh tế
khủng hoảng, giá cả lên cao, đây cũng là nguyên nhân gây nên sự mất cân đối trong xã
hội. Nó gây ra bạo lực trong gia đình và sự bất bình đẳng, các mối quan hệ trong gia
đình bị bào mòn, quan hệ bên ngoài phần lớn lại nhầm vào lợi ích. Do Quận có mật độ
dân số tương đối đông (36.173 người/km2, đứng thứ 7 trong số tổng 24 quận, huyện),
thành phần dân tộc lại đa dạng, đặc biệt người Hoa chiếm số lượng lớn, vì vậy vấn đề
quản lý về dân số, gia đình và trẻ em đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức.
2.2. Cơ cấu tổ chức, vị trí chức năng, nhiệm vụ Phòng Văn hoá và Thông tin
Quận 6
2.2.1. Cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc, vị trí chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
Phòng Văn hoá và Thông tin Quận 6
- Cơ cấu tổ chức: Phòng Văn hóa và Thông tin tổ chức và hoạt động theo chế độ
Thủ trưởng, do Trưởng phòng phụ trách chung, giúp việc cho Trưởng phòng là các Phó
Trưởng phòng, các chuyên viên và cán sự nghiệp vụ.
Hiện nay, Phòng Văn hóa và Thông tin quận 6 gồm 08 người: 01 Trưởng phòng, 02 Phó
Trưởng phòng và 05 cán bộ, công chức. Trong đó có một cán bộ đảm nhận chuyên
ngành công tác gia đình.
- Chế độ làm việc: Trưởng phòng phụ trách, điều hành tất cả các hoạt động của
phòng và phụ trách những công việc trọng tâm. Các Phó Trưởng phòng trực tiếp giải
quyết các công việc thuộc lĩnh vực công tác được Trưởng phòng phân công.
Trong quá trình giải quyết công việc liên quan đến nhiều lĩnh vực các Phó Trưởng
phòng chủ động bàn bạc thống nhất hướng giải quyết, chỉ trình Trưởng phòng quyết
định những vấn đề chưa có sự nhất trí hoặc những vấn đề mới phát sinh mà chưa có chủ
trương, kế hoạch và biện pháp giải quyết.
Trong trường hợp Trưởng phòng yêu cầu các cán bộ, chuyên viên giải quyết công việc
thuộc phạm vi của Phó Trưởng phòng thì cán bộ, chuyên viên thực hiện yêu cầu Trưởng
phòng, đồng thời phải báo cáo cho phó Trưởng phòng phụ trách trực tiếp biết.
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 6
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
- Vị trí và chức năng:
+ Phòng Văn hoá và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
Quận 6, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân Quận quản lý nhà nước về: văn
hoá; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch và các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hoá, gia
đình, thể dục, thể thao và du lịch; báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn
thông và internet; công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng thông tin; phát thanh trên địa bàn
Quận.
+ Văn hoá và Thông tin có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng chịu
sự chỉ đạo quản lý về tổ chức biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân Quận 6, đồng
thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Văn hoá,
Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông.
- Nhiệm vụ và quyền hạn:
+ Trình Ủy ban nhân dân Quận ban hành quyết định, chỉ thị; kế hoạch dài hạn,
05 năm và hàng năm; đề án, chương trình phát triển văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao,
du lịch, thông tin và truyền thông; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện cải cách
hành chính, xã hội hoá trong lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.
+ Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Quận dự thảo các văn bản về lĩnh vực văn
hoá, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông thuộc thẩm quyền ban
hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận.
+ Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề
án, chương trình đã được phê duyệt; hướng dẫn, thông tin tuyên truyền, phổ biến giáo
dục pháp luật về quản lý, về phòng, chống bạo lực trong gia đình, hoạt động phát triển
sự nghiệp văn hoá, thể dục-thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông; chủ trương xã
hội hoá hoạt động văn hoá, thể dục-thể thao; .
+ Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn Quận thực hiện phong
trào văn hoá, văn nghệ; phong trào luyện tập thể thao thường xuyên; xây dựng nếp sống
văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào "Toàn dàn đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá"; xây dựng gia đình văn hoá, khu phố văn hoá, đơn vị văn
hoá; điểm sáng văn hóa và bảo vệ các di tích lịch sử, văn hoá trên địa bàn Quận.
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 7
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
+ Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các Trung tâm văn hoá, Trung tâm thể dục
thể thao, các thiết chế văn hoá thông tin cơ sở, các cơ sở hoạt động dịch vụ văn hoá, thể
thao, du lịch, điểm vui chơi công cộng; các đại lý bưu chính, viễn thông, internet thuộc
phạm vi quản lý của Phòng trên địa bàn quận.
+ Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hoá, gia
đình, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông đối với chức danh chuyên môn văn
hóa, xã hội thuộc Ủy ban nhân dân phường.
+ Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, thanh tra việc chấp hành
pháp luật về hoạt động văn hoá, gia đình, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông;
phối hợp với các ngành chức năng giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, đơn cứu xét của
công dân về lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông theo
quy định của pháp luật.
+ Thực hiên công tác thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình hoạt
động văn hoá, gia đình, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông với Thường trực Uỷ
ban nhân dân Quận, Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Giám đốc Sở Thông tin
và Truyền thông.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
Quận giao hoặc theo quy định của pháp luật (Cơ quan thường trực BCĐ các ngày lễ lớn;
thường trực BCĐ phòng trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; trong đó
có gắn kết việc thực hiện nếp sống văn hóa, mỹ quan đô thị; thường trực Đoàn kiểm tra
liên ngành Văn hóa – Xã hội Quận 6).
Như vậy, trong nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Phòng Văn hóa và Thông tin
có nhiệm vụ tham mưu, hướng dẫn và phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể có liên
quan thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác
gia đình. Đồng thời, Phòng còn phải tổ chức đào tạo, bồi dưỡng lực lượng hòa giải
viên, tuyên truyền viên có năng lực đảm nhận công tác gia đình; kết hợp với giáo dục
vận động và kiểm tra, giám sát các hoạt động có liên quan đến gia đình nói chung,
phòng chống bạo lực gia đình nói riêng.
2.2.2. Mối quan hệ giữa Phòng Văn hoá và Thông tin đối với các phòng, ban khác
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 8
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
- Đối với Sở, ngành thành phố: Phòng Văn hóa và Thông tin chịu sự hướng dẫn
về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền
thông, có nhiệm vụ thực hiện báo cáo chuyên ngành theo thời hạn quy định.
- Đối với Uỷ ban nhân dân Quận: Phòng Văn hóa và Thông tin chịu sự
lãnh đạo, điều hành trực tiếp và thường xuyên có thông tin, báo cáo, phản hồi
với Ủy ban Nhân dân Quận trong quá trình công tác.
- Đối với phòng, ban, đơn vị thuộc Uỷ ban nhân dân, các tổ chức chính trị xã
hội: Thực hiện mối quan hệ phối hợp, hợp tác bình đẳng trên cơ sở chức năng, nhiệm
vụ được phân công.
Phòng Văn hóa và Thông tin có trách nhiệm triển khai, hướng dẫn, kiểm tra việc
thực hiện các lĩnh vực do mình phụ trách.
Khi phối hợp với các đơn vị thực hiện nếu là thường trực phải có văn bản tham
mưu Ủy ban Nhân dân Quận ban hành các kế hoạch, công văn, thông báo về nội dung
công việc.
- Đối với Uỷ ban nhân dân 14 phường: Phòng Văn hóa và Thông tin có trách
nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ Ủy ban Nhân dân 14 phường qua việc cung cấp các văn bản
quy định, tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ và quản lý, tổ chức các hoạt động văn hóa,
thể thao, gia đình.
Định kỳ khi có sự triệu tập của Ủy ban Nhân dân Quận tham gia các đoàn kiểm tra
đánh giá kết quả hoạt động của từng phường thì phòng sẽ có ý kiến đóng góp trong
những lĩnh vực mình phụ trách trên tinh thần hướng dẫn nghiệp vụ, góp ý những thiếu
sót.
Trên đây là báo cáo sơ lược về cơ cấu, chức năng, quyền hạn của Phòng Văn
hóa và Thông tin. Như vậy, từ khi Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em giải thể, ngoài
những công việc chuyên ngành, Phòng Văn hóa và Thông tin Quận phải đảm nhận
thêm chuyên trách về công tác gia đình (năm 2008). Đây là một mảng hoạt động
hoàn toàn mới đối với ngành văn hóa. Chính vì vậy về cơ cấu và trình độ năng lực
cán bộ, công chức để đảm nhận công việc này cũng gặp nhiều khó khăn trong quá
trình thực hiện.
PHẦN II: BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 9
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 6
TP. HỒ CHÍ MINH
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1. Khái niệm:
- Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với
nhau…(Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000).
Các nhà xã hội học coi gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở các
quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó, thường
chung sống, hợp tác kinh tế để thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, tình cảm, sinh đẻ, nuôi dạy
con cái, chịu sự ràng buộc có tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, có đặc
điểm văn hóa riêng.
- Hộ gia đình được hiểu như một nhóm người sống chung trong một mái nhà
nhưng không nhất thiết phải có mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (hộ tập thể,
hộ độc thân). Mỗi hộ gia đình có sổ đăng ký hộ khẩu, người chủ hộ và quan hệ của từng
thành viên với chủ hộ. Đây là hồ sơ mang tính pháp lý để chính quyền địa phương thực
hiện vai trò quản lý nhà nước đối với gia đình.
- Sự bất bình đẳng giới:
Sự bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra bạo lực trong
gia đình. Chúng ta cần hiểu rõ thế nào là bất bình đẳng giới.
Bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò, vị trí của phụ nữ sang nam giới và
ngược lại bằng con số tuyệt đối hay 50/50. Mà bình đẳng giới là thừa nhận và coi trọng
các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Cả phụ nữ và nam giới đều
có cùng vị thế bình đẳng giới và được coi trọng như nhau. Cả nam giới và nữ giới đều
chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm trong việc thực hiện bốn vai trò: sản xuất, tái sả xuất,
chính trị và cộng đồng. Trong đó vai trò tái sản xuất là đặc biệt quan trọng.
Bình đẳng giới là tạo cơ hội như nhau cho nam giới và phụ nữ ngay từ giai đoạn
còn là trẻ em. Bình đẳng giới là tạo điều kiện cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống,
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 10
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
những bất lợi do đặc điểm giới tính và qua niệm truyền thống về vai trò của phụ nữ
trong thực tế.
Các báo cáo nghiên cứu đều khẳng định nguyên nhân sâu xa của bạo lực gia đình là:
nhận thức về vấn đề bình đẳng giới rất hạn chế, bất bình đẳng giới là gốc rễ của bạo lực
gia đình. Quan niệm về bất bình đẳng giới đã có từ rất lâu trong xã hội.
Bất bình dẳng giới là sự phân biệt của nam giới đối với phụ nữ, đẩy chị em vào vị
trí yếu thế, phụ thuộc vào nam giới trong tất cả các hoạt động: kinh tế, văn hoá, giáo
dục, chính trị và cả trong gia đình.
Như vậy, song song với vấn đề phòng chống bạo lực không thể thiếu công tác
phòng chống bất bình đẳng giới. Bất bình đẳng giới là cội nguồn của bạo lực gia đình.
Muốn bạo lực gia đình chấm dứt thì các nhà chức trách phải làm sao cho xã hội mất dần
đi bất bình đẳng giới. Biết rằng điều này là rất khó thực hiện vì đây là vấn đề nhận thức
của mỗi người. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng phải có trách nhiệm
trong vấn đề hạn chế tối đa bất bình đẳng giới.
- Bạo lực gia đình: Bạo lực là những hành vi thô bạo, ngang ngược, bất chấp công
lý, đạo lý, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương về tinh thần và thể
xác diễn ra trong xã hội. Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây
tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên
khác trong gia đình. (Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007).
Bạo lực gia đình bao gồm những loại sau:
• Bạo lực thể xác: đó là những hành vi như đá, đấm, tát... tác động trực tiếp đến
sức khỏe nạn nhân. Kiểu hành vi này hay xảy ra khi hai bên chênh lệch về sức
mạnh thể chất như giữa chồng và vợ, bố mẹ và con cái hoặc con cái và bố mẹ
già.
• Bạo lực tình dục: đó là hành động ép quan hệ tình dục khi bạn đời không muốn.
Hành vi loạn luân giữa cha và con gái, hoặc mẹ và con trai, giữa anh chị em...
cũng được xếp vào loại này.
• Bạo lực tinh thần: bao gồm các hành động chửi bới, mắng nhiếc, im lặng không
nói chuyện trong thời gian dài...gây áp lực tâm lý đối với nạn nhân.
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 11
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
• Bạo lực xã hội: là hành vi ngăn không cho nạn nhân tiếp xúc với gia đình, bạn
bè, bao vây kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng.
Theo đề tài thì cho dù bất cứ lọai bạo lực nào cũng gây ra tác hại đáng kể đối với
đời sống nạn nhân và những người có liên quan. Do đó, chúng ta phải giải quyết một
cách có hiệu quả bằng các biện pháp ngăn chặn thích hợp đối với từng loại bạo lực này.
- Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng: là một loại hình cơ sở trợ giúp nạn nhân bị bạo lực
gia đình, là nơi chăm sóc, tư vấn, tạm lánh, hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho
nạn nhân bị bạo lực gia đình. (Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007).
Địa chỉ tin cậy ở công đồng là cá nhân, tổ chức có uy tín, khả năng và tự nguyện
giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình tại cồng đồng dân cư. Các cá nhân, tổ chức phải
thông báo về việc nhận làm địa chỉ tin cậy cộng đồng với Ủy ban nhân dân cấp phường
nơi đặt địa chỉ tin cậy. Tùy theo điều kiện và khả năng thực tế, địa chỉ tin cậy ở cộng
đồng tiếp nhận nạn nhân bị bạo lực gia đình, hỗ trợ, tư vấn, bố trí nơi tạm lánh cho nạn
nhân và thông báo cho cơ quan thẩm quyền biết. Ủy ban nhân dân cấp phường lập danh
sách và công bố các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng, thực hiện việc hướng dẫn, tổ chức tập
huấn về phòng, chống bạo lực gia đình và bảo vệ địa chỉ tin cậy ở cộng đồng trong
trường hợp cần thiết. Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn và các tổ
chức thành viên có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc tuyên
truyền, vận động, xây dựng các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng.
Điều đáng lưu ý trong nội dung này là khái niệm “địa chỉ tin cậy ở cộng đồng”
theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là nơi mà các cá nhân, tổ chức có uy tín và có
khả năng, tự nguyện giúp nạn nhân bạo lực gia đình. Cái khó khăn ở đây là tính chất tự
nguyện của địa chỉ tin cậy ở cộng đồng. Vì mấy khi có cá nhân, tổ chức dám đứng ra tự
nguyện giúp nạn nhân. Điều đó làm hạn chế việc thành lập và hiệu quả hoạt động của
các địa chỉ tin cậy.
- Quản lý nhà nước đối với công tác phòng chống bạo lực gia đình
+ Quản lý Nhà nước là sự tác động mang tính quyền lực của Nhà nước đến mọi
vấn đề, đối tượng của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đảm bảo để các
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 12
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
đối tượng bị quản lý đó vận hành theo đúng mục tiêu, định hướng mà Nhà nước mong
muốn đạt đến.
+ Công tác phòng chống bạo lực gia đình là hoạt động thu thập thông tin, hỗ
trợ, giúp đỡ các cá nhân, gia đình thực hiện tốt các chức năng của mình, đồng thời có
các biện pháp ngăn chặn các hành vi bạo lực, phân biệt đối xử trong gia đình, tạo điều
kiện để cho họ thực hiện được các mục tiêu mà nhà nước đã đề ra. Hiện nay, công tác
phòng chống bạo lực gia đình là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và rất cần thiết đối với
sự phát triển xã hội đất nước.
+ Quản lý nhà nước đối với công tác phòng chống bạo lực gia đình là việc cơ
quan nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế tổ chức quản lý để
điều khiển, tác động đến các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ hỗ trợ, giáo dục,
tuyên truyền, ngăn chặn và xử lý các hành vi bạo lực trong gia đình.
Hiện nay, công tác phòng, chống bạo lực gia đình là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của quản lý nhà nước đối với công tác gia đình. Qua đó, chúng ta thấy được
vai trò to lớn của nhà nước. Nhà nước phải có các chính sách, kế hoạch cụ thể và các
biện pháp quản lý thích hợp nhằm đảm bảo công tác trên thật sự hiệu quả.
1.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về công tác phòng, rchống bạo lực gia
đình
Thứ nhất, gia đình là hạt nhân của xã hội:
Bác Hồ nói: “…Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới
thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của
xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho
tốt”
(1)
Người ta thường nói gia đình là tế bào của xã hội, Bác gọi gia đình là hạt nhân
của xã hội, nghĩa là gia đình rất quan trọng đối với xã hội. Gia đình có được xây dựng
bền vững giàu đẹp, vẻ vang…thì xã hội mới bền vững, giàu đẹp, vẻ vang…
(1)
Hồ Chí Minh, Toàn tập – Tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, HN; 2002, trang 523.
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 13
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
Bạo lực gia đình là nguyên nhân chính dẫn đến đổ vở hạnh phúc gia đình. Đồng
thời nó cũng làm cho xã hội mất ổn định, kỷ cương. Gia đình tan vỡ tất dẫn đến mất
đoàn kết, không phát huy được tối đa sức mạnh của gia đình trong quá trình phát triển
kinh tế gia đình nói riêng và kinh tế đất nước nói chung.
Thứ hai, công tác phòng chống bạo lực gia đình góp phần duy trì và phát triển
văn hóa truyền thống của dân tộc:
Gia đình là nơi bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của cộng
đồng. Thông qua việc lưu truyền văn hóa dân tộc qua các thế hệ, các thành viên,
gia đình góp phần bảo tồn, phát triển văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Ngược
lại, nhờ sức mạnh văn hóa dân tộc mà mỗi gia đình duy trì các giá trị tinh thần, đảm bảo
cho sự phát triển bền vững.
Khi bạo lực gia đình xảy ra, rất có thể làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Vì khi đó,
các mối quan hệ ứng xử tốt đẹp trong gia đình như cha con, vợ chồng, anh em bị xáo
trộn và mất đi. Gia đình tan vỡ thì làm sao giữ vững được những truyền thống tốt đẹp.
Vả lại, truyền thống, văn hóa chỉ hình thành khi nó trải qua một thời gian lâu dài và bền
vững.
Thứ ba, công tác phòng chống bạo lực gia đình hiện nay còn nhiều yếu kém và
đang đối mặt với nhiều thách thức:
- Hiện tượng bạo lực gia đình vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Hơn 66% các vụ ly
hôn ở Việt Nam liên quan đến bạo hành gia đình. Trong 5 năm từ 2000-2005, cả nước
có 186.954 vụ ly hôn do bạo lực gia đình, hành vi đánh đập, ngược đãi chiếm 53,1%
trong các nguyên nhân dẫn tới ly hôn. Năm 2005, có tới hơn 39,7 nghìn vụ ly hôn có
nguyên nhân từ bạo hành trong tổng số gần 65 nghìn vụ án về hôn nhân và gia đình,
chiếm tỷ lệ 60,3%, cũng theo nghiên cứu đó thì: 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh
thần, 30% cặp vợ chồng xảy ra hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục.
Trong những năn gần đây, tình hình trên nói chung đã giảm đáng kể. Tuy nhiên,
bạo lực gia đình vẫn còn diễn ra hàng ngày. Trong giai đoạn 2008 -2010, cả nước giảm
70% số vụ bạo lực gia đình. Tổng số vụ bạo lực gia đình tại các xã triển khai “Mô hình
can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình” được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch triển
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 14
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
khai từ tháng 8 năm 2008 thì năm sau giảm 50% so với năm trước (từ 1.071 vụ vào năm
2008 xuống còn 525 vào năm 2009 và 283 vụ vào năm 2010). (Theo Báo cáo tóm tắt
Kết quả nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam – tháng 11
năm 2010).
Ở đồng bằng sông Cửu Long có 1.319 ca nhập viện do bạo hành gia đình, trong
đó khoảng 1.000 ca tự tử, và 30 trường hợp tử vong, 5% phụ nữ thường xuyên bị chồng
đánh đập, 82% hộ dân nông thôn và 80% hộ ở thành phố có xảy ra bạo lực, 9-10%
trường hợp nạn nhân của bạo lực gia đình là nam giới và thủ phạm chính là người vợ
(năm 2008). Như vậy, chúng ta đừng nên tuyệt đối hóa bạo lực giới một chiều: đúng là
bạo lực giới nói chung và bạo lực giới trong gia đình nói riêng phần lớn là do nam giới
gây ra với phụ nữ. Nhưng cần nhận thấy rằng cũng còn có bạo lực của phụ nữ đối với
nam giới.
Riêng trên địa bàn quận 6, thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2008 đến nay, số vụ
bạo lực gia đình là 53 vụ. Số vụ bạo lực gia đình trên địa bàn quận 6 cũng giảm từ 73 vụ
(năm 2006) xuống 56 vụ (năm 2007), 51 vụ (năm 2007), 23 vụ (năm 2008) và 4 vụ vào
quý 1 năm 1011. Tuy nhiên, số vụ bạo lực gia đình vẫn còn nhiều và vẫn còn những vụ
phải đưa ra góp ý, phê bình trước công chúng hoặc hòa giải không thành.
- Song song đó, hiện tượng tảo hôn, bất bình đẳng giới, tệ nạn xã hội vẫn còn tồn
tại. Chiến lược nam nữ thanh niên trước khi kết hôn có chứng chỉ được trang bị kiến
thức tiền hôn nhân, gia đình được trang bị kiến thức về Luật bình đẳng giới, Luật hôn
nhân và gia đình, phòng ngừa tệ nạn xã hội xâm nhập gia đình vẫn chưa đạt hiệu quả
cao. Tình trạng ly hôn, ly thân, chung sống không kết hôn, quan hệ tình dục và nạo phá
thai trước hôn nhân gia tăng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với
gia đình và xã hội. Việc đối xử phân biệt giới tính vẫn diễn ra hàng ngày. Tệ nạn xã hội
như ma túy, cờ bạc, rượu chè bê tha, mại dâm và nạn dịch HIV/AIDS đang thâm nhập
vào các gia đình. Tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em phải
lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật đang có xu hướng phát triển.
 Hậu quả : Ảnh hưởng của bạo hành gia đình chúng ta đều biết rõ. Nó trải rộng
từ tâm lý cho đến thể chất của nạn nhân. Thực tế, nhiều trường hợp hành vi bạo lực dẫn
đến thương tật suốt đời thậm chí tử vong. Bạo lực gia đình thường là nguyên nhân khởi
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 15
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
phát trầm cảm và rối loạn stress sau sang chấn sau này, đặc biệt là ở trẻ em - đối tượng
nhạy cảm hơn. Những trẻ gái sống trong môi trường bạo lực, khi trưởng thành khó đặt
niềm tin vào những người đàn ông khác và thường gặp trắc trở trong tình yêu. Họ có
niềm hoài nghi quá mức với đối tượng khác giới, lý do bắt nguồn tự việc chứng kiến
hành vi bạo lực của cha đối với mẹ hoặc với bản thân mình. Các trẻ trai về sau này có
thể bắt chước các hành vi bạo lực với người vợ trong tương lai. Hơn nữa, bạo lực gia
đình một trong những nguyên nhân dẫn đến suy đoài đạo đức, suy giảm kinh tế gia đình
nói riêng, kinh tế đất nước nói chung, làm mất trật tự kỷ cương xã hội.
Bài học và những cơ sở pháp lý cũng như lý luận đã được đề cập ở trên cho thấy
sự cần thiết tất yếu phải có sự quản lý nhà nước đối với công tác gia đình nói chung và
phòng chống bạo lực gia đình nói riêng.
1.3. Hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác phòng chống bạo lực gia đình
“Hiệu quả” được các nhà kinh tế học quan niệm là tỷ lệ giữa kết quả đạt được và
chi phí bỏ ra. Hiệu quả càng cao khi chi phí đầu tư giảm đi hay kết quả tăng thêm trong
điều kiện đại lượng kia không đổi. Do có ý nghĩa thực tiễn cao nên khái niệm “hiệu quả”
thường được sử dụng rộng rãi trong tất cả các ngành cần so sánh giữa chi phí và kết quả
đầu ra với mục tiêu hầu như không đổi: kết quả ngày càng cao trong khi chi phí ngày
càng giảm trong khả năng có thể.
Trong việc quản lý, việc đánh giá hiệu quả tuy có khó khăn hơn so với các lĩnh vực
khác do quyết định quản lý có tính sáng tạo cao. Song theo xu hướng chung, người ta
thường cố gắng lượng hóa các giá trị đo được ở mức có thể như chi phí quản lý (gồm:
trả lương, chi phụ cấp, chế độ, văn phòng phẩm…) và cố gắng đo hiệu quả quản lý
thông qua các giá trị do quyết định quản lý mang lại (như: số sản phẩm tăng thêm, tính
thời cơ,…). Nhiều người đã thành công với phương pháp này, từ đó tiêu chí “hiệu quả”
được áp dụng ngày càng phổ biến hơn.
Tóm lại, hiệu quả trong quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng là đạt
được mục tiêu đề ra với chi phí thấp nhất.
Trên cơ sở chọn lọc những tiêu chí chung về hiệu quả và đặc thù lĩnh vực công tác
gia đình, trong đó có công tác phòng chống bạo lực gia đình, dề tài xin đưa ra những
tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước như sau:
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 16
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
- Hệ thống thể chế pháp luật: trong thẩm quyền của chính quyền quận – huyện là
sự đồng bộ và chặt chẽ của hệ thống quy hoạch xây dựng và các quy định pháp luật về
quy trình, thủ tục, tổ chức, bộ máy mà địa phương quản lý.
- Hiệu lực thực thi pháp luật trong thực tế.
- Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nuớc về công tác phòng chống
bạo lực gia đình.
- Hiệu quả công tác tuyên truyền pháp luật và hướng dẫn người dân thực hiện
pháp luật, thể hiện thông qua: số vụ vi phạm, lỗi chủ yếu, nguyên nhân của các lỗi đó,
nhận thức của người dân về pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật.
- Hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác phòng chống bạo lực gia đình.
Trên đây là một số tiêu chí cơ bản để đánh giá hiệu quả quản lý của các cơ quan
nhà nước. Các tiêu chí trên có thể giúp chúng ta dễ hình dung về những mặt làm được
và còn hạn chế của cơ quan về lĩnh vực chuyên trách của mình.
1.4. Các hình thức quản lý phòng chống bạo lực gia đình
Căn cứ vào tình hình và sự cần thiết của việc phòng chống bạo lực gia đình hiện
nay cả nước nói chung và mỗi địa phương nói riêng, nhà nước ta đã áp dụng các hình
thức quản lý nhằm phát huy hiệu quả trong công tác này bao gồm:
1.4.1. Ban hành và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật
Với mục tiêu hướng tới việc xây dựng đời sống gia đình văn hóa, ấm no, hạnh
phúc, không có bạo lực, không có sự bất bình đẳng giới, Nhà nước đã ra sức ban hành
hệ thống pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho công tác quản lý gia đình nói chung và
công tác phòng chống bạo lực gia đình nói riêng. Các văn bản điều chỉnh trong lĩnh vực
này bao gồm:
a. Các văn bản của Đảng
− Chỉ thị số 49 – CT/TW ngày 21/2/2005 của Ban bí thư về xây dựng gia đình
thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước;
b. Các văn bản pháp luật của Nhà nước
− Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009);
− Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004;
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 17
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
− Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
− Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007;
− Luật Bình đẳng giới 2009;
− Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 2002; Pháp lệnh sữa đổi bổ sung một số
điều của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 2008;
− Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009 quy định xử phạt vi phạm
hành chính về bình đẳng giới;
− Nghị định 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình;
− Nghị định số 08/2009/NĐ-CP, ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia
đình;
− Nghị định số 70/2008/NĐ-CP, ngày 4 tháng 6 năm 2008 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới;
− Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg, ngày 30/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tổ chức triển khai thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;
− Quyết định số 106/2005/QĐ-TTg ngày 16/5/2005 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 và
chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 do chủ nhiệm Ủy
ban Dân số, Gia đình và Trẻ em ban hành;
− Quyết định số 4415/QĐ-BVHTTDL, ngày 16/10/2008 của Bộ Văn hóa -
Thể thao và Du lịch về việc ban hành Kế hoạch hành động Phòng, chống bạo lực
gia đình giai đoạn 2008-2015;
− Quyết định số 238/2009/QĐ-BVHTTDL của Bộ VHTT&DL về việc ban
hành tạm thời bộ chỉ số đánh giá phòng chống bạo lực gia đình;
− Quyết định số 34/2009/QĐ-UBND, ngày 06/05/2009 của ủy ban nhân dân
Thành phố về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch;
Như vậy, ngoài những văn bản quy định, điều chỉnh những nội dung cơ bản trong
hoạt động phòng chống bạo lực gia đình còn có những văn bản quy định, hướng dẫn
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 18
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
việc xử lý trong các trường hợp vi phạm. Điều đó đã góp phần hoàn thiện cơ chế quản
lý, thanh tra, kiểm tra của Nhà nước đối với lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình.
Bất kỳ một mảng hoạt động nào trong xã hội, nếu không có hành lang pháp lý sẽ
dẫn đến việc thực hiện không hiệu quả. Các văn bản trên đây chính là cơ sở để nhà
nước thực hiện tốt công tác quản lý về gia đình. Đây cũng là những cơ sở để chính
quyền địa phương các cấp ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác phòng
chống bạo lực gia đình. Vì vậy, không những ở Trung ương mà ngay cả các cơ quan địa
phương đều phải coi trọng khâu ban hành, hướng dẫn và áp dụng văn bản luật vào
trong thực tế.
1.4.2. Ban hành kế hoạch, chính sách
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống bạo lực gia đình, Nhà nước ta đã có
các chủ trương, chính sách như sau:
a) Các chương trình, kế hoạch phòng, chống bạo lực gia đình:
- Đánh giá thực trạng bạo lực gia đình và công tác phòng, chống bạo lực gia đình;
- Xác định mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của chương trình, kế hoạch
phòng, chống bạo lực gia đình;
- Xác định các giải pháp và nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu phòng, chống bạo lực
gia đình phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của cả nước hoặc của địa phương;
- Phân công trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phòng, chống
bạo lực gia đình;
- Thống kê số liệu về phòng, chống bạo lực gia đình;
- Dự toán kinh phí cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
b) Các chính sách về công tác phòng chống bạo lực gia đình:
+ Nguồn kinh phí thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình:
Nguồn kinh phí thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm ngân
sách nhà nước và tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
Việc bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công tác phòng, chống bạo lực
gia đình được quy định như sau:
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 19
Công tác phòng chống bạo lực gia đình GVHD: Thân Thị Ngọc Phúc
- Hàng năm, Nhà nước bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công tác phòng,
chống bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình của các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị
- xã hội được bố trí trong dự toán chi ngân sách thường xuyên hàng năm của các cơ
quan, tổ chức này.
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình của các địa phương
do ngân sách địa phương bảo đảm và được bố trí trong dự toán chi ngân sách thường
xuyên hàng năm của các cấp ngân sách ở địa phương.
+ Khuyến khích các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình
Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia
đình hoặc các mô hình khác về phòng ngừa bạo lực gia đình và hỗ trợ nạn nhân bạo lực
gia đình ngoài công lập được thành lập và có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được hưởng chính sách khuyến khích xã hội hóa
như đối với các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn
hóa, thể thao, môi trường theo quy định hiện hành.
Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, sáng tác, công bố, phổ
biến đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị và chất lượng cao về phòng,
chống bạo lực gia đình.
+ Chính sách đối với người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình
Người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình mà có thành tích thì
được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng;
Người có hành vi dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân
khi trực tiếp thực hiện việc ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình, nếu bị chết thì được
xem xét để công nhận là liệt sĩ, nếu bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21%
trở lên thì được xem xét để được hưởng chính sách như thương binh theo quy định của
pháp luật;
SVTH: Nguyễn Thanh Toàn 20

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×